63 Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 3.1 Định hướng đề xuất các bi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Ở QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Mã số : 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Trần Thị Tuyết Oanh
HÀ NỘI - 2008
Trang 3LỜI CẢM ƠN Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin châ n thà nh cả m ơn PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh, ngườ i đã tậ n tâ m hướ ng dẫ n, giúp
đỡ, động viên em trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Để hoàn thành luận văn này, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện rất nhiều từ:
Các thầy, cô giáo trong khoa Sư phạm, phòng quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học thuộc khoa Sư phạm, trường Đại học Quốc gia Hà Nội;
Phòng Giáo dục Tiểu học thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng;
Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng;
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu 7
1.2.1 Quản lý và quản lý trường học 7
1.2.2 Đội ngũ cán bộ quản lý 14
1.2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học 17
1.2.4 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học 21
1.3.Yêu cầu về đổi mới giáo dục tiểu học hiện nay 24
1.3.1 Giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân 24
1.3.2 Yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học 28
1.4 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay 31
1.4.1.Nhiệm vụ trường tiểu học 31
1.4.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ quản lý trường tiểu học 31
1.4.3 Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học 34
1.4.4 Một số vấn đề dự báo trong việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học 38
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY 2.1.Khái quát về giáo dục tiểu học quận Hồng Bàng 40
2.1.1.Sơ lược về kinh tế – xã hội của quận Hồng Bàng 40
2.1.2.Giáo dục tiểu học quận Hồng Bàng 42
2.2.Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học quận Hồng Bàng 43
2.2.1.Thực trạng về số lượng 43
Trang 62.2.2 Thực trạng phẩm chất năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học quận Hồng Bàng 50 2.3 Thực trạng về công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học 59 2.3.1 Nhận thức về công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường
tiểu học quận Hồng Bàng hiện nay 59 2.3.2 Thực trạng các biện pháp đã được thực hiện để phát triển đội ngũ
CBQL trường tiểu học quận Hồng Bàng 60 2.3.3 Đánh giá chung về đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học quận
Hồng Bàng hiện nay 63
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN
LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY
3.1 Định hướng đề xuất các biện pháp 68 3.1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục 68 3.1.2 Mục tiêu giáo dục tiểu học quận Hồng Bàng 69 3.1.3 Yêu cầu về đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học ở quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng 70 3.2 Các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học quận Hồng Bàng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay 71 3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức tầm quan trọng của việc
phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học cho lãnh đạo phòng
Giáo dục và Đào tạo, cán bộ quản lý trường tiểu học 71 3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức đánh giá định kỳ hàng năm đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học trong quận 73
Trang 73.2.3 Biện pháp 3: Lập kế hoạch qui hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản
lý trường tiểu học cho từng giai đoạn cụ thể, đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo
dục hiện nay 76
3.2.4 Biện pháp 4: Đa dạng hoá các hình thức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý trường tiểu học 80
3.2.5 Biện pháp 5: Tuyển chọn, sử dụng hợp lí năng lực sở trường của cán bộ quản lý trường tiểu học phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể 83
3.2.6 Biện pháp 6: Xây dựng môi trường công tác, tạo động lực phát triển cho cán bộ quản lý trường tiểu học để phát huy khả năng, sở trường trong việc xây dựng, phát triển nhà trường, nâng cao chất lượng giáo dục 87
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 90
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Khuyến nghị 97
TÀI KIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Luật Giáo dục năm 2005 qui định mục tiêu giáo dục phổ thông như sau:
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở” [6]
Sự quan trọng của giáo dục tiểu học đã được xác định rõ làm cơ sở ban đầu, là nền móng của giáo dục phổ thông Đội ngũ CBQL, giáo viên tiểu học cần phải được đào tạo, bồi dưỡng bài bản, thường xuyên để đảm nhận trách
nhiệm cao cả của mình Nhưng hiện nay, “Công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả”[16,tr.14] “Một bộ phận các cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt, yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiên phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ hoàn thành nhiệm vụ”[28,tr.66] Để khắc phục
những yếu kém về QLGD và về chất lượng đội ngũ, ngày 15/6/2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Chỉ thị số 40-CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan
trọng”[1] Chỉ thị cũng đã nêu: ”Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và
Trang 909/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010 [17]
Mới đây, ngày 10-1-2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số: 07/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo đến năm 2010 [18] Chương trình bao gồm 7 dự án với kinh phí thực hiện khoảng 20.270 tỷ đồng với mục tiêu hỗ trợ ngành Giáo dục thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về GD&ĐT và hoàn thành những nhiệm vụ đề ra trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, góp phần tạo điều kiện để giáo dục tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, thiết thực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước
QLGD luôn là khâu quan trọng, có tính quyết định đến chất lượng giáo dục và các hoạt động xã hội Cho nên công tác quản lý của các cơ quan QLGD sẽ góp phần chủ yếu vào việc phát triển đội ngũ CBQL giáo dục của các trường học
Trong những năm qua, Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng đã có bước phát triển tích cực về quy mô và chất lượng các ngành học, cấp học, bậc học Thành phố và các địa phương rất chú trọng và có kế hoạch đầu tư chương trình, CSVC - kỹ thuật cho các trường học đặc biệt các trường tiểu học, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả rõ rệt Đội ngũ CBQL được quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Nhưng chất lượng giáo dục nhìn chung vẫn còn thấp, hiệu quả giáo dục chưa cao Một trong những nguyên nhân của sự hạn chế đó là do chất lượng của đội ngũ CBQL giáo dục
Trang 103
tại các cơ sở giáo dục trong thành phố nói chung và CBQL giáo dục các trường tiểu học nói riêng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển giáo dục Cùng với các đơn vị giáo dục khác trong thành phố, GD&ĐT quận Hồng Bàng cũng đang khẩn trương tìm những giải pháp quản lý để phát triển đội ngũ CBQL giáo dục của quận, trong đó có CBQL giáo dục các trường tiểu học
Chính vì lý do đó, đề tài quan tâm đến biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, trọng tâm nghiên cứu ở quận Hồng Bàng, nhằm góp phần vào sự nghiệp đổi mới giáo dục của thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học quận Hồng Bàng hiện nay và đưa ra một số biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học thành phố, đáp ứng được các yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ
quản lý trường tiểu học
3.2 Nghiên cứu thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu
học quận Hồng Bàng hiện nay
3.3 Đề ra những biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu
học quận Hồng Bàng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của
quận, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay của thành phố
Trang 114
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ CBQL trường tiểu học
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu
học quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
5 Giả thuyết khoa học
Với việc thực hiện các giải pháp đổi mới QLGD, nhìn chung chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục các trường tiểu học quận Hồng Bàng đã được nâng cao, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Xác định và thực hiện được hệ thống các biện pháp theo hướng nâng cao nhận thức tầm quan trọng của việc phát triển đội ngũ CBQL, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ CBQL, lập kế hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học cho từng giai đoạn cụ thể, đào tạo bồi dưỡng CBQL, tuyển chọn, sử dụng hợp lý năng lực sở trường và xây dựng môi trường, tạo động lực phát triển như trong đề tài sẽ phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học quận Hồng Bàng đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay của thành phố Hải Phòng
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau :
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trang 125
Nghiên cứu các văn bản lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước, các công trình khoa học đã có và các tài liệu liện quan đến đề tài để chỉ ra cơ sở lý luận về công tác quản lý với việc phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát
Tiếp cận thực tiến để xem xét hoạt động của CBQL trường tiểu học và hoạt động quản lý của phòng GD&ĐT, nhằm tìm hiểu thực trạng chất lượng CBQL trường tiểu học và thực trạng quản lý của phòng GD&ĐT quận đối với việc phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Chủ yếu thu thập số liệu điều tra nhằm chứng minh thực trạng chất lượng CBQL trường tiểu học và công tác quản lý của phòng GD&ĐT quận trong việc phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học
Phương pháp phỏng vấn
Lấy ý kiến của một số CBQL và giáo viên bằng cách gặp gỡ, hỏi trực tiếp một số câu hỏi nhằm phục vụ cho kết quả nghiên cứu
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tìm hiểu kinh nghiệm phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học của các quận huyện và tỉnh khác để khẳng định thêm sự cần thiết của các giải pháp
mà chúng tôi đề xuất trong đề tài
Phương pháp chuyên gia
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số thuật toán và phần mềm tin học, các phương pháp này được
sử dụng với mục đích xử lý số liệu điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và phát triển đội ngũ cán
bộ quản lý trường tiểu học quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng hiện nay
Trang 136
Chương 3: Các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học
quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
Trang 147
Chương1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Ngay từ những ngày đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác Hồ đã rất quan tâm đến phát triển sự nghiệp giáo dục, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo Việt Nam
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969) về công tác cán bộ: “Cán
bộ là cái gốc của mọi công việc", "Mọi thành công hoặc thất bại đều do cán
bộ tốt hay kém", " Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong"[47]
Trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam từ nay đến 2010, Ngành GD&DT đã rất coi trọng đến công tác phát triển đội ngũ CBQL ở các cấp học, bậc học Gần đây đã có nhiều bài viết của nhiều tác giả bàn về vấn đề xây dựng đội và phát triển đội ngũ nhà giáo nói chung, đội ngũ CBQL nói riêng Trong các bài viết đó các tác giả đã đề cập đến vai trò của đội ngũ nhà giáo, đội ngũ CBQL, đến yêu cầu về chất lượng của đội ngũ trong công tác đào tạo thế hệ trẻ và đã đưa ra một số giải pháp để thực hiện công tác phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL
Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã chắt lọc những vấn đề tinh túy nhất của các công trình khoa học về quản lý của nước ngoài để thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình về những vấn đề đội ngũ CBQL Họ đã tiếp cận quản lý trường học chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận giáo dục học hoặc
đề cập tới thành tố lực lượng giáo dục, giới thiệu khái quát về chất lượng và phương thức nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó có CBQL trường học Một số công trình tiêu biểu như: Bản chất và tính qui luật của quá trình giáo dục của Hà Thế Ngữ [40]; Giáo dục học đại cương của Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê [34]; Kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Nguyễn Đức Chính (chủ biên) [15]; Lý thuyết quản lý của Đỗ Hoàng Toàn[46]; Bên cạnh đó đã có những tác giả của các luận văn thạc sỹ chuyên ngành QLGD
Trang 158
như: Nguyễn Minh Quang, Võ Hào, Lê Quốc Băng, Phan Quang Vinh, Trần Văn Hạnh , đã đề cập đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL trong các trường phổ thông đến cao đẳng, đại học Song các đề tài khoa học của các tác giả nói trên đều mang tính đặc thù ở từng địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục ở những thời điểm, thời gian nhất định Riêng ở thành phố Hải Phòng cho đến nay theo những tài liệu mà chúng tôi theo dõi được vẫn chưa có tác giả nào đề cập đến công tác phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học để đáp ứng sự nghiệp đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay một cách đầy đủ và có hệ thống Do vậy, trong luận văn này chúng tôi mong muốn đưa ra các biện pháp phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương trong công tác phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học ở quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng trước yêu cầu và nhiệm vụ mới
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu
1.2.1 Quản lý và quản lý trường học
1.2.1.1 Quản lý
Quản lý là từ Hán Việt được ghép giữa từ “quản” và từ “lý” Quản là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định Lý là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển Như vậy, quản lý là trông coi, chăm sóc, sửa
sang làm cho nó ổn định và phát triển
Theo nhiều cách trình bày về khái niệm quản lý của các nhà khoa học:
- W.Taylor thì cho rằng quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và
rẻ nhất
- PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí viết: "Quản
lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho
tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức"[11]
Trang 169
- GS.TS Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự
Các khái niệm trên đây, tuy khác nhau về cách diễn đạt, song chúng có chung những nét đặc trưng cơ bản chủ yếu sau đây:
- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
- Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích
- Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
Qua các cách giải thích về quản lý như trên, chúng ta thấy:
- Trong quản lý có người chỉ huy, điều khiển và có người, đồ vật hoặc sự việc bị chỉ huy, bị điều khiển Hai đối tượng này tác động qua lại và quy định lẫn nhau
- Trong quản lý phải có mục đích, nhiệm vụ hoạt động chung Có thể nói, tính mục đích là thuộc tính vốn có trong hoạt động xã hội, đặc biệt là trong hoạt động quản lý Khi thực hiện nhiệm vụ quản lý, chủ thể quản lý luôn luôn hướng theo mục đích xác định và lôi cuốn đối tượng bị quản lý thực hiện mục tiêu của tổ chức
Trang 1710
Qua các khái niệm trên, chúng ta thấy khái niệm quản lý bao gồm các nội hàm chủ yếu: quản lý là hoạt động được tiến hành trong một tổ chức; với các tác động có tính hướng đích của chủ thể quản lý, nhằm phối hợp nỗ lực của các cá nhân để thực hiện mục tiêu của tổ chức
Như vậy, quản lý một tổ chức là sự tác động có định hướng, có chủ đích
của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu đề ra
Tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể nói rằng:
Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể quản
lý để đạt đến mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động
Như vậy, khái niệm quản lý bao hàm các khía cạnh:
Hệ thống quản lý gồm 2 hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý Khi chỉ ra chủ thể quản lý thì phải chỉ ra đối tượng quản lý và ngược lại
- Trả lời được câu hỏi: Ai quản lý? Thì đó là chủ thể quản lý Do đó, chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức do người cụ thể lập nên Cá nhân làm chủ thể quản lý được gọi chung là CBQL Ví dụ ở bình diện vĩ mô toàn cầu là Tổng thư ký Liên hợp quốc; ở trong một nước là Tổng thống hoặc Thủ tướng; ở trong một ngành là Bộ trưởng ở bình diện vi mô
một doanh nghiệp là giám đốc; ở một nhà trường là hiệu trưởng
- Trả lời được câu hỏi: Quản lý ai? Quản lý cái gì? Quản lý sự việc gì?
thì đó là đối tượng quản lý Do đó, đối tượng quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức hoặc có thể là một vật thể (cỗ máy, kho tàng ) hoặc có thể là sự việc (luật lệ, quy chế ) Khi đối tượng quản lý là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức được con người đại diện có thể trở thành
Trang 1811
chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn theo hệ thống cấp bậc Ví dụ: Chủ tịch quận là đối tượng quản lý của chủ tịch thành phố nhưng chủ tịch quận lại là chủ thể quản lý của chủ tịch phường Điều đó có nghĩa là khi nói chủ thể hay đối tượng quản lý là người hoặc tổ chức được con người đại diện phải đặt trong mối quan hệ tổ chức cụ thể
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại tương hỗ nhau Chủ thể quản lý nẩy sinh các động lực quản lý, còn khách thể quản lý thì làm nẩy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý
Công cụ quản lý là các phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác động đến đối tượng quản lý như các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, chương trình,
kế hoạch
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý Phương pháp quản lý rất phong phú và đa dạng: Phương pháp thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính-tổ chức, phương pháp tâm lý-giáo dục ; tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau
Mục tiêu của quản lý là tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích của con người Như vậy, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành, tập hợp con người, công cụ, phương tiện, tài chính , để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một
định hướng của quản lý thì phải tạo ra được “Quyền uy” buộc đối tượng phải
tuân thủ Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể khẳng định thêm rằng quản lý không
Trang 1912
chỉ là khoa học, nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội mà còn đòi hỏi sự khôn
khéo, linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo, nhạy cảm và tinh tế rất cao; phải biết
“Cương” và “Nhu”; phải có “Tài”, “Tầm” và “Tâm” Với tư cách là yếu tố
quan trọng không thể thiếu được trong việc duy trì và phát triển một tổ chức
Chức năng thứ nhất: Kế hoạch hóa là khởi điểm của một quá trình quản
lý Kế hoạch hóa là quá trình vạch ra các mục tiêu và quy định phương thức đạt được mục tiêu (đó là con đường, cách thức, biện pháp cho hoạt động trong tương lai)
Chức năng thứ hai: Tổ chức là một quá trình phân công và phối hợp các
nhiệm vụ, sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã được vạch ra
Để thực hiện vấn đề phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực, chức năng tổ chức thực hiện những nội dung sau:
- Xác định cấu trúc của tổ chức
- Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực (gồm quy hoạch đội ngũ, tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng, thẩm định, thuyên chuyển, đề bạt, sa thải )
- Xác định cơ chế hoạt động, các mối quan hệ của tổ chức
- Tổ chức lao động một cách khoa học của người quản lý
Lê Nin- người thầy của cách mạng vô sản đã từng nói: Hãy cho chúng
tôi một tổ chức những người cách mạng, chúng tôi sẽ đảo lộn cả nước Nga
Câu nói bất hủ đó của Người chúng ta đã hiểu rõ tổ chức và vai trò tổ chức trong bất kỳ một hệ thống chính trị nào
Trang 2013
Chức năng thứ ba: Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý nhằm điều khiển tổ chức vận hành theo đúng kế
hoạch để đạt được mục đích, mục tiêu đề ra
Chức năng thứ tư: Hoạt động kiểm tra bao gồm việc kiểm tra, giám sát,
theo dõi, phát hiện, xử lý tình huống Kết quả hoạt động kiểm tra cũng là một quá trình tự điều khiển
Các chức năng này liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chu trình quản
lý Ngoài 4 chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lý còn có thêm 2 vấn đề quan trọng là: thông tin quản lý và quyết định quản lý
Thông tin quản lý là dữ liệu về việc thực hiện các nhiệm vụ đã được xử
lý giúp cho người quản lý hiểu được về đối tượng quản lý mà họ đang quan tâm để phục vụ cho việc đưa ra các quyết định quản lý cần thiết trong quá trình quản lý Do đó thông tin quản lý không những là tiền đề của quản lý mà còn là huyết mạch quan trọng để duy trì (nuôi dưỡng) quá trình quản lý Thông tin quản lý là cơ sở để người quản lý đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời và có hiệu quả
Quyết định quản lý là sản phẩm của người quản lý trong quá trình thực
hiện các chức năng quản lý
Quá trình quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 2114
1.2.1.2 Quản lý trường học
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước-xã hội, là nơi tác động qua lại với môi trường đó GS.VS.Phạm Minh Hạc đã đưa ra định nghĩa quản lý nhà trường là: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [30]
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD&ĐT, đối với thế hệ trẻ và với từng học sinh, việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy và học, làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này đến trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu đào tạo" [41]
Mặc dù từng tác giả có nêu lên những định nghĩa khác nhau, nhưng vẫn nổi bật lên cái bản chất của quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý làm cho nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng để thực hiện thắng lợi mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục giao phó cho nhà trường
Vì vậy, quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện Đó là:
- Quản lý đội ngũ nhà giáo
- Quản lý học sinh
- Quản lý quá trình dạy học-giáo dục
- Quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường học
- Quản lý tài chính trường học
- Quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng
Trang 22Từ đó, ta có thể hiểu: Nhà trường là một thiết chế xã hội thực hiện chức
năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội, thiết chế chuyên biệt này hoạt động trong tính quy định của xã hội và theo những dấu hiệu phân biệt nói trên
Theo quan điểm trên, chúng tôi thấy bản chất của quản lý trường học là quản lý những tổ chức có chức năng tổ chức và thực hiện các họat động giáo dục nhằm đạt tới mục đích giáo dục và được hiểu trên hai phương diện:
- Quản lý của các cơ quan chính quyền và cơ quan QLGD đối với các nhà truờng (bao gồm ý nghĩa quản lý các hệ con của hệ thống giáo dục)
- Quản lý của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đối với các hoạt động giáo dục trong nhà trường (bao gồm ý nghĩa QLGD ở cấp vi mô)
Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà trường là những tác động hợp qui luật của chủ thể quản lý nhà truờng (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà
Trang 23Đội ngũ là khái niệm chỉ một tổ chức gồm nhiều người, tập hợp thành
một lực lượng cùng một chức năng, nghề nghiệp ”Nói cách khác, đội ngũ là một nhóm người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hay không, nhưng đều cùng một mục đích nhất định” [38,tr.29]
Từ điển Tiếng Việt giải thích: “Đội ngũ là tập hợp một số đông người, cùng chức năng nghề nghiệp thành một lực lượng” [43,tr.328]
Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng rãi như: Đội ngũ tri thức, đội ngũ thanh niên xung phong, đội ngũ giáo viên Các khái niệm đó đều xuất phát theo cách hiểu thuật ngữ quân sự về đội ngũ, đó là gồm nhiều người, tập hợp thành một lực lượng, hàng ngũ chỉnh tề Tuy nhiên ở một nghĩa chung nhất chúng ta hiểu: Đội ngũ là tập hợp một
số đông người, hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhưng có chung mục đích xác định; họ làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về lợi ích vật chất và tinh thần cụ thể
Như vậy, khái niệm về đội ngũ có thể diễn đạt nhiều cách khác nhau,
nhưng đều thống nhất: Đó là một nhóm người, một tổ chức, tập hợp thành một lực lượng để thực hiện mục đích nhất định Do đó, người quản lý nhà trường phải xây dựng, gắn kết các thành viên tạo ra đội ngũ, trong đó mỗi người có thể có phong cách riêng, nhưng phải có sự thống nhất cao về mục tiêu
cần đạt tới
Trang 2417
1.2.2.2 Cán bộ
Cán bộ là một khái niệm, tên gọi người có chức vụ trong một tổ chức, một cơ quan; người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong một tổ chức, một cơ quan Khái niệm cán bộ xuất hiện trong đời sống chính trị của nước ta
từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Trong từ điển Tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa như sau:
- Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể
- Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ
Cho đến nay, từ cán bộ đã được dùng với rất nhiều nghĩa khác nhau:
- Trong tổ chức đảng và đoàn thể, từ cán bộ được dùng với 2 nghĩa: một
là, để chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đến Trung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đoàn viên hay hội viên; hai là, những người làm công tác chuyên trách có hưởng lương trong các tổ chức đảng và đoàn thể
- Trong quân đội là những chỉ huy từ tiểu đội trở lên (cán bộ tiểu đội, trung đội ) và là sĩ quan từ cấp uý trở lên
- Trong hệ thống Nhà nước, từ cán bộ được hiểu cơ bản là trùng với từ công chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan Nhà nước thuộc ngành hành chính, tư pháp, kinh tế, văn hóa và xã hội Đồng thời, từ cán bộ cũng được hiểu là những người có chức vụ chỉ huy, phụ trách, lãnh đạo
Dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp, các lĩnh vực cụ thể có khác nhau, nhưng về cơ bản, từ cán bộ bao hàm nghĩa chính của nó là bộ khung, là
nòng cốt, là chỉ huy Như vậy, có thể quan niệm một cách chung nhất: Cán bộ
là một khái niệm để chỉ những người có chức vụ, có nghiệp vụ chuyên môn, có vai trò cương vị nòng cốt trong một tổ chức, một cơ quan, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức, cơ quan và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ
Trang 2518
huy, quản lý, điều hành góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức Cán bộ tốt sẽ góp phần xây dựng tổ chức, cơ quan tốt và ngược lại tổ chức, cơ quan tốt lại là môi trường để cán bộ tu dưỡng, rèn luyện tiến bộ
1.2.2.3 Cán bộ quản lý và đội ngũ cán bộ quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt, CBQL là: “ Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” [43,tr.105]
CBQL là chủ thể quản lý gồm những người giữ vai trò tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý CBQL là người chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức Người quản lý vừa là người lãnh đạo, quản lý cơ quan đó vừa chịu sự lãnh đạo, quản lý của cấp trên
CBQL có thể là trưởng hoặc phó của một tổ chức được cơ quan cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính Nhà nước Cấp phó giúp việc cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về công việc được phân công
CBQL được phân ra nhiều cấp bậc khác nhau: CBQL cấp trung ương,
CBQL cấp địa phương, CBQL cấp cơ sở
Tóm lại, CBQL là chủ thể quản lý, là người có chức vụ trong tổ chức được cấp trên ra quyết định bổ nhiệm; người có vai trò dẫn dắt, tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu của đơn vị Người CBQL phải có phẩm chất và năng lực nổi trội hơn người khác, là tấm gương cho mọi người trong đơn vị noi theo
Từ khái niệm đội ngũ, cán bộ, CBQL nói trên, chúng ta hiểu: Đội ngũ CBQL nhà trường chính là những người đứng đầu nhà trường hoặc các tổ chức của nhà trường, được tập hợp lại thành một lực lượng
1.2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học
Theo điều lệ trường Tiểu học (Ban hành kèm theo Quyết định số 51/2007/QĐ-BGDĐT ngày 31 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo) [7], CBQL trường tiểu học gồm có hiệu trưởng và các phó hiệu
Trang 2619
trưởng Hiệu trưởng trường tiểu học là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản
lý các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường Hiệu trưởng do Chủ tịch UBND cấp quận(huyện) bổ nhiệm đối với trường tiểu học công lập Phó Hiệu trưởng là người giúp việc cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng Phó Hiệu trưởng do Chủ tịch UBND cấp quận (huyện) bổ nhiệm đối với trường công lập
1.2.3.1 Nhân cách của cán bộ quản lý trường tiểu học
Nhân cách gắn liền với mỗi con người, mỗi cá nhân cụ thể được sống và làm việc trong một giai đoạn lịch sử nhất định Theo từ Hán-Việt, khái niệm nhân cách
được hiểu theo nghĩa ghép của hai từ “nhân“ và từ “cách“ Từ “nhân“ cũng có nhiều nghĩa, nhưng ở đây ta chỉ dừng lại ở nghĩa “người“ (hiểu những gì tốt đẹp nhất của con người), còn từ “cách“ có thể hiểu là “tư cách“, “phong cách“ Bản thân của từ “cách“ là cách ứng xử, hành vi của con người trong các quan hệ xã
hội, là phẩm chất tâm lý, đặc điểm cá nhân
“Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm tâm lý và các kiểu hành vi, hoạt động của mỗi người được hình thành, phát triển và chịu sự chi phối của các mối quan hệ xã hội, là chủ thể hoạt động tích cực thúc đẩy xã hội phát triển“ [43]
Như vậy, nói đến nhân cách là nói đến con người với tư cách là một thành viên của xã hội, một chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động Với tư cách đó, nhân cách bao gồm tất cả những đặc điểm, phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con người Những thuộc tính này được hình thành trong quá trình tác động qua lại giữa người đó với những người khác trong xã hội
Nhân cách được hình thành và phát triển dưới nhiều ảnh hưởng của những nhân tố di truyền, môi trường, giáo dục và hoạt động cá nhân Trong đó, mỗi nhân
tố có vai trò riêng của nó Nhân tố bẩm sinh, di truyền tạo ra tiền đề cho sự phát triển Nhân tố môi trường đóng vai trò điều kiện, chi phối sự hình thành và phát triển Nhân tố giáo dục luôn giữ vai trò chủ đạo Còn nhân tố hoạt động, rèn luyện,
Trang 27là trong bối cảnh thang giá trị xã hội đang có sự biến động do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường hiện nay
1.2.3.2 Chất lượng cán bộ quản lý trường tiểu học
Theo triết học: "Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của
sự vật, phân biệt nó với sự vật khác" [48,tr.419]
Trong thực tiễn thuật ngữ chất lượng và đánh giá chất lượng được các nhà khoa học sử dụng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Ví dụ:
- “Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn quy định; chất lượng là
sự phù hợp với mục đích; chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích; chất lượng là sự đáp ứng của nhu cầu khách hàng” [15,tr.28-31]
- "Một định nghĩa về chất lượng được hầu hết các nhà phân tích và hoạch định giáo dục đại học chấp nhận là: sự trùng hợp với mục đích"
[46,tr.81]
Từ một số quan điểm và cách dùng thuật ngữ chất lượng nêu trên, chúng tôi thấy chất lượng được hiểu theo tính tương đối của nó khi gắn với một thực thể (đối tượng) nhằm trả lời những câu hỏi như: chất lượng của cái gì? (nói về vật thể), chất lượng của việc gì? (nói về hoạt động), chất lượng của ai? (nói về người) Cụ thể:
- Chất lượng vật thể (sản phẩm lao động sản xuất) được hiểu là các chuẩn mực về giá trị vật thể (tri thức, qui trình công nghệ, văn hóa, thẩm mỹ,
Trang 28- Chất lượng con người hiểu là nhân cách được biểu hiện ở các chuẩn mực về phẩm chất (tâm lý, trí tuệ, ý chí, sức khỏe thể chất và tâm tri, ) và về năng lực (khả năng hoàn thành nhiệm vụ và chức năng) của con người một cách phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn hoặc từng thời kỳ lịch sử cụ thể Nhìn chung, chất lượng con người được
thể hiện trên hai lĩnh vực tiêu chí chủ yếu là "hồng" và "chuyên" mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ giáo khi Người nói đến yêu cầu của cán bộ cách mạng
Chất lượng CBQL trường tiểu học
Theo cách tiếp cận trên về chất lượng thì chất lượng CBQL trường tiểu học được xem là nhân cách của họ Nhân cách đó được biểu hiện ở các chuẩn mực về phẩm chất (tâm lý, trí tuệ, ý chí, sức khỏe, thể chất và tâm chí, ) và
về năng lực (khả năng hoàn thành nhiệm vụ và chức năng ) của CBQL trường tiểu học
- Phẩm chất CBQL trường tiểu hoc
Phẩm chất CBQL trường tiểu học được thể hiện qua các mặt như tâm lý, trí tuệ, ý chí, sức khỏe thể chất và tâm trí của CBQL trường tiểu học Cụ thể:
Trang 2922
+ "Phẩm chất tâm lý là những đặc điểm thuộc tính tâm lý nói lên mặt đức ( theo nghĩa rộng) của một nhân cách" [48,tr.427] Đối với CBQL trường
tiểu học thì phẩm chất tâm lý biểu hiện qua các chuẩn mực đạo đức của họ
+ "Phẩm chất trí tuệ là những đặc điểm đảm bảo cho hoạt động nhận thức của một con người đạt kết quả tốt, bao gồm phẩm chất trí giác ( óc quan sát), trí nhớ (nhớ nhanh, chính xác, ), tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ và chú ý“[48,tr.427] Đối với CBQL trường tiểu học thì phẩm chất trí tuệ biểu hiện
qua các chuẩn mực về thế giới quan, hay nói rõ hơn là sự nhạy bén và chính xác khi nhìn nhận một vấn đề cụ thể; đồng thời có tầm nhìn chiến lược đối với
sự phát triển của trường học
+ "Phẩm chất ý chí là mặt quan trọng trong nhân cách bao gồm những đặc điểm nói lên một người có ý chí tốt: có chí hướng, có tính mục đích, quyết đoán, đấu tranh bản thân cao, có tinh thần vượt khó, " [48,tr.427] Đối với
CBQL trường tiểu học thì phẩm chất ý chí thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, kiên định với mục đích, tính tự chủ,
+ Ngoài ra, trong thực tiễn phát triển xã hội hiện nay, các nhà khoa học còn đề cập đến phẩm chất sức khỏe thể chất và tâm trí của con người; nó bao gồm các mặt rèn luyện sức khỏe, tránh và khắc phục những ảnh hưởng của một số bệnh lý mang tính rào cản cho hoạt động của con người
- Năng lực CBQL trường tiểu học
Trước hết, " Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một
số dạng hoạt động nào đó"[48,tr.41]
Năng lực gắn liền với phẩm chất tâm lý, phẩm chất trí tuệ, phẩm chất ý chí và phẩm chất sức khỏe thể chất và tâm trí của cá nhân Năng lực có thể được phát triển trên cơ sở kết quả hoạt động của con người và kết quả phát triển của xã hội (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân, )
Trang 301.2.4 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học
1.2.4.1 Khái niệm phát triển
Phát triển là sự vận động tiến triển theo chiều hướng tăng lên; là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, là sự vận động từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp [43], theo đó cái mới, cái tiến bộ sẽ hình thành và thay thế cho cái cũ, cái lạc hậu Nét đặc trưng của phát triển là hình thức xoáy trôn ốc
và theo các chu kỳ Việc hoàn thành một chu kỳ phát triển lại là cố hữu, nền tảng cho một chu kỳ mới, chu kỳ mới có sự lặp lại một số đặc điểm của chu
kỳ trước đó "Phát triển là một quá trình nội tại; bước chuyển từ thấp lên cao xẩy ra vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng nền tảng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển" [43]
Phát triển là nói xu thế đi lên của sự vật, hiện tượng ngày càng hoàn thiện hơn Phát triển còn là sự biểu hiện hàng loạt sự biến đổi kế tiếp của sự vật và hiện tượng qua các giai đoạn khác nhau, từ khi bắt đầu đến khi sự kết thúc sự biến đổi Quá trình đó cũng chính là quá trình thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất, cấu trúc của sự vật, hiện tượng
Trang 3124
1.2.4.2 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học
Phát triển đội ngũ CBQL là công việc quan trọng của các cấp quản lí, nó được thực hiện hiệu quả, khoa học khi qui hoạch xây dựng đôi ngũ CBQL theo một kế hoạch dài hơi Trong đó qui hoạch đội ngũ CBQL là việc làm dựa trên các quan điểm, mục tiêu, tiêu chuẩn, những nhiệm vụ và giải pháp lớn về công tác cán bộ trong từng thời kì, dựa trên hệ thống tổ chức hiện có, dựa trên chức năng và nhiệm vụ của tổ chức, dựa trên tiêu chuẩn cán bộ, để dự báo được nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu tuổi, cơ cấu giới, trình độ cho tổ chức hiện tại và trong các giai đoạn tiếp theo
Qui hoạch đội ngũ CBQL nhằm bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, có thế chủ động đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của tổ chức Mặt khác qui hoạch và phát triển đội ngũ CBQL giúp cho tổ chức có đủ về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn hoá về trình độ, đồng thời tạo thế chủ động nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu của phát triển tổ chức trong từng giai đoạn phát triển KT-XH của đất nước, địa phương
Như vậy, việc qui hoạch xây dựng phát triển đội ngũ CBQL sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng CBQL Nói cách khác, muốn nâng cao chất lượng CBQL trường tiểu học thì phòng Giáo dục và Đào tạo, UBND quận cần phải làm tốt khâu qui hoạch phát triển đội ngũ này
Yêu cầu của việc phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học là xây dựng
đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, tạo nên sự đồng bộ và đồng thuận trong quá trình lãnh đạo và điều hành Ở đây đòi hỏi tính vừa đủ trên cả hai phương diện số lượng và chất lượng
Như vậy, việc phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học trước hết phải tạo ra được một đội ngũ CBQL, từ đó phát triển đội ngũ này cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu tổ chức (độ tuổi, giới tính ) Quá trình đó là làm cho số lượng và chất lượng vận động theo hướng đi lên, tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau tạo nên thế ổn định bền vững của đội ngũ CBQL Phát triển
Trang 3225
đội ngũ CBQL trường tiểu học là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện,
thậm chí "cách mạng hóa" tình hình, tạo nên một đội ngũ CBQL trường tiểu
học theo kịp sự phát triển của nhiệm vụ đào tạo và giáo dục ở nhà trường Trong công tác phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học trước hết phải tiến hành quy hoạch đội ngũ CBQL Quy hoạch đội ngũ CBQL trường tiểu học là bản luận chứng khoa học về phát triển đội ngũ CBQL đó để góp phần thực hiện các định hướng của thành phố, Sở GD&ĐT, của các quận, huyện và các phòng GD&ĐT về công tác tổ chức nhân sự, phục vụ cho việc xây dựng
kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, đồng thời làm nhiệm vụ điều khiển, điều chỉnh trong công tác quản lý, chỉ đạo của các cấp quản lý Lập quy hoạch đội ngũ CBQL trường tiểu học và đầu tư phát triển về số lượng, chất lượng,
cơ cấu của đội ngũ CBQL đó cho từng giai đoạn là một công việc cần thiết trong công tác quản lý Quá trình lập quy hoạch đội ngũ CBQL trường tiểu học cần lưu ý: một mặt phải đáp ứng yêu cầu trước mắt, mặt khác phải chuẩn
bị tốt một đội ngũ CBQL trường tiểu học kế cận để có một đội ngũ CBQL đủ
về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ và hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới
Ngoài việc lập quy hoạch đội ngũ, công tác phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học cần phải có kế hoạch sử dụng hợp lý đội ngũ CBQL trường tiểu học hiện có Bởi vì, sử dụng không hợp lý sẽ làm cho việc phát huy khả năng của đội ngũ CBQL trường tiểu học trở nên kém hiệu quả, sẽ không phát huy được sức mạnh vốn có, những khả năng tiềm ẩn của từng CBQL trường tiểu học
Tuy nhiên, việc phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học cần phải tuân
theo một quy trình nhất định Theo chúng tôi, quy trình đó gồm các bước sau:
Bước 1: Định hướng, tiền dự báo
Bước 2: Thu thập dữ liệu, thông tin có liên quan tới dự báo
Bước 3: Xây dựng được mô hình xuất phát, xác định hệ thống chuẩn mực
Trang 3326
Bước 4: Tiến hành xây dựng kế hoạch, quy hoạch cán bộ
Bước 5: Đánh giá mức độ chắc chắn, tính chính xác của mô hình quy hoạch qua ý kiến các chuyên gia
Bước 6: Tổ chức thức hiện
1.3 Yêu cầu về đổi mới giáo dục tiểu học hiện nay
1.3.1 Giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1.1 Vị trí vai trò của giáo dục tiểu học
Điều 2 của Luật phổ cập giáo dục tiểu học qui định: ” Giáo dục tiểu học
là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và thể chất của các em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người
Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [42]
Điều 2 của Điều lệ trường tiểu học (Ban hành kèm theo Quyết định số 51/2007/QĐ-BGDĐTngày 31 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo) đã xác định vị trí của trường tiểu học là: “Trường tiểu học là cơ
sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân,
có tài khoản và con dấu riêng” [8]
Trường tiểu học được tổ chức theo hai loại hình : công lập và tư thục
- Trường tiểu học công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng CSVC, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;
- Trường tiểu học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước
Lớp tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học và trường chuyên biệt, gồm :
- Lớp tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học;
- Lớp tiểu học trong trường phổ thông dân tộc bán trú;
- Lớp tiểu học trong trường dành cho trẻ em tàn tật, khuyết tật;
Trang 341.3.1.2 Mục tiêu giáo dục tiểu học
Điểm 2, điều 27 của Luật Giáo dục (2005) quy định: "Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở" [6]
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 khẳng định giáo dục phổ thông như sau: "Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ Cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống"[16] Đối với cấp tiểu học: "Phát triển những đặc tính tự nhiên tốt đẹp của trẻ em, hình thành ở học sinh lòng ham hiểu biết và những đức tính, kỹ năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú học tập và học tập tốt Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước Tăng tỷ lệ huy động học sinh trong
độ tuổi đến trường từ 95% năm 2000 lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010" [16]
Từ mục tiêu giáo dục tiểu học trong luật giáo dục 2005 và mục tiêu phát triển giáo dục cấp tiểu học trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, chúng tôi thấy có một số đặc trưng sau:
+ Đổi mới quản lý và tăng cường hiệu lực các chủ trương chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước
Trang 3528
Đặc trưng này thể hiện từ định hướng "Đối mới quản lý giáo dục, tạo cơ
sở pháp lý và phát huy nội lực phát triển giáo dục"[16]; "Đổi mới cơ bản về tư duy và phương thức QLGD theo hướng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phân cấp mạnh mẽ nhằm phát huy tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các địa phương, các cơ sở giáo dục, giải quyết một cách có hiệu quả các vấn
đề bức xúc, ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực hiện nay" [16]
+ Xây dựng và nâng cao chất lượng nhà giáo và CBQL, xây dựng thái
độ, phương pháp học tập và năng lực người học
Đặc trưng này thể hiện từ chủ trương "Phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng qui mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới
phương pháp dạy-học" [16]; "Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương
pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống"[16]
+ Đặc trưng chuẩn hóa, hiện đại hóa, phù hợp thực tiễn Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu phát triển KT-XH của cộng đồng, của đất nước
Đặc trưng này thể hiện là "Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển KT-XH của đất nước; của từng vùng, từng địa phương" [16]
+ Đặc trưng phát huy nội lực và tăng cường xã hội hóa giáo dục
Đặc trưng này thể hiện trong chủ trương "Đổi mới quản lý giáo dục tạo
cơ sở pháp lý và phát huy nội lực phát triển giáo dục" [16] và "Hướng tới một
xã hội hoc tập" [16]
+ Đặc trưng đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp theo hướng giáo dục toàn diện, hệ thống, phổ thông và cơ bản
Đặc trưng này thể hiện trong chủ trương "Đổi mới mục tiêu, nội dung,
phương pháp, chương trình giáo dục các cấp bậc học và trình độ đào tạo"
Trang 361.3.1.3 Kế hoạch, chương trình giáo dục tiểu học
Kế hoạch giáo dục tiểu học là văn bản được ban hành cùng với chương trình tiểu học, trong đó qui định:
- Các môn học và thời lượng để dạy học từng môn học trong tuần lễ và trong mỗi năm học
- Các hoạt động giáo dục khác và thời lượng cần thiết cho mỗi hoạt động, phù hợp với đặc điểm của từng loại trường và từng địa phương
- Phân chia thời lượng trong mỗi buổi học, ngày học ở trường tiểu học
- Phương thức, cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở tiểu học
- Khả năng vận dụng thực hiện chương trình tiểu học cho các vùng miền khác nhau, các đối tượng khác nhau
Chương trình giáo dục tiểu học mới đã được soạn thảo theo năm định hướng:
(1) Chăm lo giáo dục toàn diện, đảm bảo sự phát triển hài hoà về đức, trí, thể mỹ, hình thành các kỹ năng cơ bản
(2) Nội dung chương trình cơ bản, hiện đại, tinh giản, thiết thực và cập nhật sự phát triển của KH-CN
(3) Góp phần đẩy mạnh phương pháp dạy học
(4) Chương trình và SGK có tính thống nhất cao và chuẩn hoá
(5) Chương trình thực sự là một kế hoạch hành động sự phạm
Để thực hiện tốt chương trình, Bộ Giáo dục và Đào tạo khuyến khích tổ chức dạy học và quản lý học sinh ở nhà trường cả ngày (hoặc 2 buổi/ ngày)
Trang 3730
Những lớp học 2 buổi/ngày có điều kiện tổ chức giáo dục góp phần phát triển năng lực của học sinh, trong đó có dạy học tự chọn về ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh) và tin học
1.3.2 Yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học
1.3.2.1 Đổi mới chương trình, sách giáo khoa
Chủ trương đã được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội IX của Đảng:
“Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ chương
trình và sách giáo khoa phổ thông, phù hợp với yêu cầu phát triển mới” [27]
Mục tiêu giáo dục thực hiện như trong mục tiêu giáo dục của Luật Giáo dục Song quá trình thực hiện giáo dục, cần phát triển tính sáng tạo, khả năng độc lập giải quyết vấn đề
Nội dung giáo dục: “Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kĩ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mĩ thuật” [6]
Nội dung SGK và trình độ chuẩn các môn học Nội dung học giảm tính
lý thuyết, tính hàn lâm, tăng tính thực hành trong nội dung chương trình và tài liệu học tập, SGK
Điều kiện đầu tiên của việc đổi mới đó là có chương trình và SGK mới Chương trình, chuẩn kiến thức, SGK chính là công cụ, là cơ sở, là chất liệu để giáo viên thực hiện nhiệm vụ day học Sách giáo viên là tài liệu để giáo viên tham khảo, nghiên cứu nội dung, phương pháp dạy học vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với học sinh của mình Sách đọc thêm cần thiết phần lớn được giành cho giáo viên Giáo viên đọc nhiều thì việc soạn giáo án sẽ hiệu quả và chất lượng dạy học sẽ cao hơn
Trang 3831
1.3.2.2 Đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học; khẳ năng làm việc theo nhóm, rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh chủ động trong học tập, tự khám phá để chiếm lĩnh tri thức trong học tập Việc đổi mới cách dạy và học được qui định khá rõ ràng trong công văn
số 896/BGD&ĐT-GDTH ngày 13/2/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đội ngũ CBQL và giáo viên luôn ý thức được rằng đây là việc cần làm và phải làm thường xuyên Khó khăn lớn nhất mà CBQL và giáo viên gặp phải là thực hiện công việc này có lẽ là thói quen quản lý chuyên môn theo cách hành chính cứng nhắc ngự trị từ lâu, mặt khác laị thiếu đồng bộ trong công tác chỉ đạo Nội dung hướng dẫn trong văn bản 896 chính là hành lang pháp lý, một
sự bảo đảm cho sự đồng bộ hoá quá trình chỉ đạo đổi mới giáo dục, để những nhà giáo và CBQL tâm huyết có thể mạnh dạn thực hiện sự đổi mới thực sự mang lại hiệu quả về mặt học tập cho chính học sinh của mình chứ không phải là một lối dạy học trình diễn trước CBQL hoặc người dự giờ hay cán bộ thanh tra, kiểm tra Chúng ta phải cải tiến cách soạn giáo án, giao quyền tự chủ cho giáo viên trong quá trình giảng dạy trong đó quyền tự chủ của giáo viên phải được kiểm soát bằng sự chỉ đạo vĩ mô
1.3.2.3 Đổi mới phương pháp quản lý giáo dục
Quan điểm về đổi mới quản lý giáo dục
Trong văn kiện Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương khoá IX
đã đưa ra các giải pháp để tiếp tục đổi mới giáo dục, trong đó giải pháp thứ nhất là: “Đổi mới mạnh mẽ quản lý giáo dục” [26] Trong giải pháp này đã
Trang 3932
nêu: “Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về giáo dục Triệt để khắc phục cách quản lý giáo dục theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, phân cấp mạnh
mẽ Giải quyết có hiệu quả các vấn đề bức xúc, tăng cường trật tự kỉ cương
trong các trường học và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân” [26]
Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 có nêu: ”Đổi mới cơ bản tư duy về phương thức quản lý giáo dục theo hướng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phân cấp mạnh mẽ nhằm phát huy tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các địa phương, của các cơ sở giáo dục, giải quyết một cách hiệu quả các
vấn đề bức xúc, ngăn chặn và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực hiện nay” [16] Nội dung đổi mới quản lý giáo dục bao gồm:
Đổi mới cơ chế và phương thức QLGD:
- Tăng cường chất lượng của công tác dự báo và lấp kế hoạch giáo dục
- Thực hiện phân cấp quản lý mạnh mẽ
- Thực hiện cải cách hành chính trong ngành giáo dục
- Đổi mới cơ bản công tác thi cử, kiểm tra, đánh giá
- Xây dựng và chuẩn hoá đội ngũ CBQL giáo dục
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục
Biện pháp đổi mới quản lý trường tiểu học
- Thực hiện dân chủ hoá các hoạt động của nhà trường
- Thực hiện phân cẩp trong quản lý nhà trường và quản lý chuyên môn Phát huy vai trò trách nhiệm của tổ chức trong nhà trường tham gia thực hiện đổi mới giáo dục tiểu học
Trang 4033
- Tạo động lực cho CBGV, học sinh thực hiện tốt chương trình giáo dục tiểu học mới bằng các qui định, các chế độ và các biện pháp quản lý tạo nên những động lực mới để thực hiện đổi mới giáo dục tiểu học
- Thực hiện cải cách hành chính trong nhà trường từ bộ máy đến thực hiện các hoạt động và sử dụng các phương tiện thiết bị công nghệ thông tin trong quản lý hành chính
1.4 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
1.4.1 Nhiệm vụ trường tiểu học
Trong điều lệ truờng tiểu học có ghi rõ [7]
- Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em tàn tật, khuyết tật, trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng Nhận bảo trợ và quản lý các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo
sự phân công của cấp có thẩm quyền Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học của học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn quản lý của trường
- Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
- Quản lý, sử dụng đất đai, CSVC, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
- Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục
- Tổ chức cho CBQL, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng