Phương pháp luận Đề tài nghiên cứu quán triệt phương pháp luận tiếp cận hệ thống – nhân cách hoạt động xã hội, phương pháp luận giải quyết vấn đề giáo dục đạo đức được đặt trong sự chế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2MỤC LỤC
Đề mục Số trang
Lời cảm ơn
1 Mục lục 2
Kí hiệu viết tắt 3
Mở đầu 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
4 Giả thuyết khoa học 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 7
7 Phương pháp nghiên cứu 7
8 Kế hoạch và tiến độ nghiên cứu 8
9 Cấu trúc luận văn 8
Chương1: Những cơ sở lí luận về giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay 9
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
1.2 Một số khái niệm và công cụ nghiên cứu đề tài 12
1.3.Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình GDĐĐHS trong giai đoạn hiện nay.27 Chương 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức các trường THPT trên địa bàn thành phố Bắc Giang 46
2.1 Những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Bắc Giang có ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục cho học sinh
Trang 32.2 Đặc điểm của các trường THPT Thành phố Bắc
Giang 47
2.3 Thực trạng nhận thức của các lực lượng xã hội về CTGDĐĐ HS 52
2.4 Thực trạng các hoạt động GDĐĐ HS các trường THPT trên địa bàn thành phố Bắc Giang 59
2.5 Thực trạng về CTGDĐĐ của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ HS các trường THPT trên địa bàn thành phố Bắc Giang 73
Chương 3: những giải pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn mới 81
3.1 Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống giải pháp 81
3.2 Những giải pháp quản lý chủ yếu của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ học sinh trung học phổ thông 81
3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả GDĐĐ học sinh THPT 108
3.4 Thử nghiệm tính khả thi của các giải pháp 109
Kết luận - đề xuất 111
Tài liệu tham khảo 115
Phụ lục 117
Trang 4KÍ HIỆU VIẾT TẮT
ngoài giờ lên lớp
dục ngoài giờ lên lớp
Trung tâm tin học ngoại ngữ
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với sự phát triển và hưng thịnh của mỗi quốc gia, yếu tố con người luôn giữ vai trò quyết định Trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta hết sức trú trọng đến nguồn lực con người, luôn xác định con người là mục tiêu của sự phát triển xã hội,vì vậy rất coi trọng vai trò của giáo dục - đào tạo Giáo dục và đào tạo con người có đạo đức, tri thức, kỹ năng được coi là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Giáo dục có chức năng quan trọng: nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực
và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Chỉ có giáo dục mới có thể phát huy tiềm năng của con người và phát triển con người, việc phát triển và khai thác tốt tài nguyên “ người ” là đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn thịnh của mỗi quốc gia Chúng ta biết, tương lai của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nền học vấn của người dân nước đó Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai của Ban chấp hành
trung ương Đảng Cộng sản Việt nam khoá VIII đã khẳng định: “ Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ tha thiết gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện
Trang 6lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam ”, “ Thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế – xã hội ” [10] Đây thực sự là một chiến lược đòi
hỏi các nhà quản lý đất nước, các nhà quản lý giáo dục cần phải quan tâm và có những giải pháp cụ thể, hiệu quả mới đáp ứng sự phát triển của giáo dục, phát triển đất nước
Học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng trong giai đoạn hiện nay với những thách thức mới như áp lực toàn cầu hoá, việc sử dụng sự tăng trưởng
và tự do của công nghệ thông tin, những ảnh hưởng có lợi, có hại của sự đô thị hoá, nền kinh tế thị trường cùng với những mặt trái của nó cũng đang len lỏi tấn công các nhà trường Giáo dục đạo đức là một công việc của toàn xã hội, song giáo dục đạo đức, nhà trường phải giữ vai trò chủ đạo, định hướng, gia đình là môi trường, phương tiện giáo dục thường xuyên Quá trình hình thành và phát triển nhân cách nói chung, phát triển các phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị nói riêng luôn bị chế ước bởi những điều kiện khách quan tác động (bên ngoài)
và chủ quan (nhân tố bên trong) Việc ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực vào thế hệ trẻ là nhiệm vụ cấp bách không phải chỉ của gia đình, các tổ chức xã hội
mà còn là nhiệm vụ chính của các nhà trường
Trong chiến lược giáo dục, nếu chỉ chú trọng thiên về con người kinh tế, con người kỹ thuật sẽ tạo ra sự chệch hướng về chính trị một cách nhanh chóng,
vì vậy chúng ta cần quan tâm tới việc xây dựng con người về phương diện chính trị - đạo đức Vấn đề nhân cách của học sinh – học sinh THPT phải được đặt vào
vị trí trung tâm của chiến lược giáo dục trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ:
- Vai trò và quá trình giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách học sinh trong giai đoạn hiện nay
Trang 7- Vai trò định hướng giáo dục của nhà trường phổ thông, cụ thể đó là vai trò tổ chức quản lý của Hiệu trưởng nâng cao chất lượng giáo dục dục đạo đức cho học sinh
- Thực trạng tổ chức quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT của các trường còn nhiều hạn chế
Tôi xin chọn đề tài nghiên cứu: Một số giải pháp quản lý của Hiệu trưởng
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông (Nghiên cứu tại địa bàn thành phố Bắc Giang)
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định một số giải pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Bắc Giang
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu:
Quá trình quản lý của hiệu trưởng về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Đối tượng nghiên cứu:
Giải pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
4 Giả thuyết khoa học
Giáo dục đạo đức cho học sinh bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Chất lượng và hiệu giáo dục đạo đức của học sinh các trường THPT đòi hỏi phải kết hợp nhiều biện pháp tổ chức, quản lý một cách khoa học, đồng
bộ, triệt để đặc biệt là sự tham gia trực tiếp của cán bộ quản lý trong nhà trường mà người đứng đầu là Hiệu trưởng các trường THPT Nếu xây dựng được các giải pháp quản lý khoa học, cụ thể phù hợp với xu thế phát triển chung của
xã hội sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh, góp phần
Trang 8thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho học sinh trong giai đoạn hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định cơ sở lý luận của vấn đề quản lý chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trong hoàn cảnh hiện nay
- Đánh giá thực trạng công tác giáo dục đạo đức của các trường THPT trên địa bàn thành phố Bắc Giang trong những năm gần đây
- Đề xuất một số giải pháp quản lý của Hiệu trưởng trường THPT nhằm nâng cao chất lượng nâng cao giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài
Do điều kiện, khả năng và thời gian có hạn chúng tôi chỉ nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục đạo đức và một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức của các trường trong địa bàn thành phố Bắc Giang, cụ thể: Trường THPT Ngô Sỹ Liên; Trường THPT Chuyên Bắc Giang; Trường THPT Thái Thuận; Trường THPT dân lập Nguyên Hồng trong những năm gần đây
Đề xuất một số giải pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT trong địa bàn thành phố
7 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu quán triệt phương pháp luận tiếp cận hệ thống – nhân cách hoạt động xã hội, phương pháp luận giải quyết vấn đề giáo dục đạo đức được đặt trong sự chế ước chi phối logic biện chứng của các yếu tố xã hội, trong sự phát triển xã hội, giáo dục Giáo dục đạo đức là một quá trình và quá trình đó phải góp phần hình thành phát triển nhân cách của một thời kỳ lịch sử nhất định và ngày nay giáo dục đạo đức phải góp phần phát triển những phẩm chất của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trang 9- Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Đọc và phân tích các tài liệu, các tác phẩm trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài Phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá các nội dung về lý luận giáo dục đạo đức trong nhà trường phổ thông Nghiên cứu các văn bản pháp qui, những qui định của ngành có liên quan đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Xây dựng lý luận cho việc nghiên cứu đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát: Phương pháp này được thể hiện bằng cách tiếp cận xem xét thu thập dữ liệu từ những hoạt động thực tế của công tác tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
+ Phương pháp điều tra: Xây dựng các phiếu điều tra, bằng hệ thống câu hỏi để khảo sát các đối tượng Cán bộ quản lý, Giáo viên, Học sinh THPT, Cha
mẹ học sinh và một số đối tượng có liên quan
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm tổ chức, phối hợp hoạt động của các trường có những biện pháp giáo dục đạo đức tốt cho học sinh
+ Phương pháp chuyên gia
+ Phương pháp xử lý thông tin
8 Kế hoạch và tiến độ nghiên cứu
Đề tài dự kiến tiến hành nghiên cứu trong 1 năm cụ thể:
- Từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 7 năm 2006: Thực hiện nghiên cứu các vấn đề cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức và những vấn đề có liên quan
- Từ tháng 8 năm 2006 đến tháng 11 năm 2006: Hoàn thiện luận văn
9 Cấu trúc nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương1: Cơ sở lí luận về giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức
Trang 10- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức trong các
trường THPT địa bàn thành phố Bắc Giang
- Chương 3: Những giải pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao
hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn mới
Trang 11Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, QUẢN LÝ GIÁO
DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch
sử loài người Nó được hoàn thiện, phát triển trên cơ sở các chế độ kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, đỉnh cao của nó là đạo đức XHCN, đạo đức cộng sản, chúng ta đang phấn đấu thực hiện
Vai trò động lực tinh thần to lớn của đạo đức đối với sự phát triển, tiến bộ
xã hội đã được nhiều nhà khoa học thừa nhận và được các quốc gia quan tâm sâu sắc ở nước ta, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội hiện thực đang tác động mạnh mẽ, thường xuyên đến các quan hệ ứng xử giữa người và người, cá nhân và xã hội nhằm hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ, chống cái ác, cái xấu, cái giả, đưa xã hội ta đạt mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Với ý nghĩa và vai trò, nhiệm vụ, chức năng quan trọng riêng của nó, đạo đức học Mác-LêNin, một khoa học đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và thế hệ trẻ nước ta say mê học tập Từ lâu đã có nhiều giáo trình Đạo đức học được biên soạn, góp phần đáng kể cho việc định hướng giáo dục đạo đức cho học sinh Đầu tiên phải kể đến đó là giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – năm 2003) đã dành chương IX trình bày tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức Trong chương này đã nêu rõ những phẩm chất đạo đức
cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới, đó là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần quốc tế trong sáng Ngoài ra còn chỉ ra những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới Cuộc sống đang đòi hỏi phải xây dựng nền đạo đức Việt Nam ngang tầm với những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vẫn soi sáng cho Đảng và nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp vẻ vang đó
Trang 12Hiện nay ở Việt Nam đã có một số tác giả nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh Chẳng hạn, trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Trung Thanh quan tâm đến thực trạng đạo đức của học sinh THCS Và khi điều tra trên một số lượng lớn học sinh THCS ở Hải Hưng, tác giả đưa ra một
số kết quả khả quan: Đa số học sinh hiện nay đều có tính hướng thiện, cầu tiến
Số học sinh yếu kém về đạo đức không nhiều Dựa trên cơ sở đó tác giả đưa ra
10 kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay cũng như việc yêu cầu các nhà giáo, các nhà quản lý giáo dục phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình công việc, tổ chức đa dạng các hoạt động thu hút học sinh vào việc giáo dục rèn luyện đạo đức
Cũng nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, tác giả Lê Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang đề nghị cần phải đổi mới hoạt động giáo dục đạo đức theo nguyên tắc phù hợp với sự phát triển mới của xã hội, có hệ thống, tiếp cận phức hợp xuất phát từ học sinh
Trong cuốn “ đạo đức học ” giáo trình đạo tạo giáo viên trung học cơ sở hệ cao đẳng sư phạm của tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998) đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức để trang bị cho giáo viên sau này làm cơ sở để dạy cho học sinh Các tác giả đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức ở các phạm trù như đạo đức trong gia đình, đạo đức trong tình bạn, đạo đức trong tình yêu, đạo đức trong học tập, đạo đức trong giao tiếp, đạo đức trong truyền thống của dân tộc Trong các phạm trù đó mỗi vấn đề đạo đức từ cổ xưa đến những vấn đề bức xúc hiện nay đã được đề cập nhằm cung cấp những vốn kiến thức cho giáo viên làm cơ sở cho việc giảng dạy và GDĐĐ cho học sinh
Tác giả Đặng Vũ Hoạt lại quan tâm đến vai trò của giáo viên chủ nhiệm, tác giả khẳng định vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong quy trình giáo dục đạo đức
Trang 13cho học sinh và đưa ra các định hướng cho giáo viên chủ nhiệm trong việc đổi mới nội dung và cải tiến phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông
Nghiên cứu quan điểm giáo dục toàn diện, một quan điểm đặc biệt quan trọng trong tư tưởng giáo dục đào tạo, phát triển con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Hữu Công đã phân tích rất sâu sắc - đó là giáo dục con người Việt Nam thành những con người có lý tưởng cách mạng vững vàng, đạo đức trong sáng, có kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật và kỹ năng lao động cao, có sức khỏe dồi dào, có ý chí vươn tới cái hay, cái đẹp, cái cao cả, đó là những con người tài đức vẹn toàn, vừa hồng vừa chuyên
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận gắn với khảo sát thực tiễn tình hình đang diễn biến trong nước và trên thế giới, tác giả Huỳnh Khái Vinh đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức; chuẩn giá trị xã hội, mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với sự phát triển văn hóa của con người Sự tác động của các nhân
tố chính trị- kinh tế - xã hội tới lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị truyền thống và cách mạng những kinh nghiệm và bài học về xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội của một số nước, thực trạng, phương hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống đạo đức chuẩn giá trị xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Một công trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước có định hướng giáo dục nhân cách con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH đất nước, đó là tác phẩm “
về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH” do GS.VS Phạm Minh Hạc chủ nhiệm chương trình làm chủ biên (NXB chính trị Quốc gia 2001) đã giành cả chương 7 (từ trang 153-178) nêu lên nhằm định hướng xây dựng đạo đức con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH Trong chương 7 đã trình bày khái quát thực trạng đạo đức của học sinh THPT và sinh viên, chỉ ra những nguyên nhân chưa lành mạnh về đạo đức trong cuộc sống hiện nay Điều quan trọng là
Trang 14công trình nghiên cứu đã phân tích mục tiêu GDĐĐ, chỉ ra những nguyên tắc xây dựng hệ thống chuẩn mực đạo đức, xác định trên 40 giá trị của con người Việt Nam thể hiện ở 5 quan hệ (với bản thân, với người khác, với công việc, với môi sinh và với lý tưởng của dân tộc)
Trong công trình nghiên cứu trên đã xác định 15 nguyên nhân dẫn tới việc GDĐĐ chưa tốt trong đó có: gia đình buông lỏng GDĐĐ; chưa có giải pháp phối hợp đồng bộ toàn XH; nhiều đoàn thể XH chưa quan tâm tới GDĐĐ; tổ chức quản lý GDĐĐ chưa đồng bộ
Về giải pháp: Công trình nghiên cứu đã đề xuất: xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn XH về GDĐĐ; củng cố tăng cường giáo dục gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc GDĐĐ cho mọi người Trong giai đoạn đổi mới GD hiện nay, đó là công trình đề xuất giải pháp GDĐĐ ở tầm vĩ mô, định hướng cho việc nghiên cứu các biện pháp
GD cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của công tác GDĐĐ
Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ từ đó hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa do đó có công tác GDĐĐ, đặc biệt là GDĐĐ học sinh ở các thành phố là rất quan trọng Bởi vì trong trong các thành phố quan hệ xã hội tương đối phức tạp, bị ảnh hưởng trực tiếp của nền kinh tế thị trường và những tiêu cực, mặt trái của xã hội
Qua một số những nghiên cứu trên đây tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT còn ít và chưa cụ thể, đặc biệt là việc quản lý giáo dục đạo đức của các nhà quản lý giáo dục mà cụ thể là
hiệu trưởng của các trường THPT còn quá ít Chính vì vậy tôi chọn đề tài: Một
số giải pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
1.2 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài
Trang 151.2.1 Nhân cách
1.2.1.1 Khái niệm nhân cách:
“Nhân cách là bộ mặt tâm lý đặc trưng của một cá nhân, với tổ hợp những phẩm chất phù hợp với những giá trị và chuẩn mực xã hội, được xã hội thừa nhận” [ 33,Tr29]
1.2.1.2 Sự phát triển của nhân cách
Mỗi người sinh ra trước hết là một thực thể tự nhiên, một sản phẩm của thiên nhiên, một bộ phận của vũ trụ Con người bị sự chi phối của các qui luật tự nhiên phức tạp
Mỗi người lại sống trong một xã hội, là sản phẩm của lịch sử của xã hội, là sản phẩm của nền văn minh Sự phát triển của con người bị chi phối bởi những qui luật xã hội Cho nên khi là một thành viên của xã hội thì con người là một cá nhân, khi là chủ thể hoạt động con người trở thành một nhân cách
Từ một con người tự nhiên phát triển thành một nhân cách, con người phải chịu hàng loạt những tác động, chi phối của yếu tố chủ quan và khách quan, theo cả qui luật tự nhiên, qui luật xã hội và qui luật sự phát triển con người Sự phát triển của con người là sự trưởng thành cả về thể chất và tinh thần Sự phát triển thể chất gắn liền với sự phát triển về tinh thần, theo sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi, đó là sự biến đổi về số lượng, chất lượng và sự chuyển hoá chúng cho nhau, là bước phát triển nhảy vọt của từng cá nhân về năng lực và phẩm chất phù hợp với lịch sử xã hội và thời đại Sự phát triển đó tạo nên nhân cách của con người
1.2.1.3 Các yếu tố tác động đến sự phát triển nhân cách
- Yếu tố sinh học: Di truyền học đã chứng minh, các thế hệ con người có thể truyền lại cho nhau những đặc điểm về cấu tạo cơ thể , về các loại hình thần kinh về các chức năng hoạt động của chúng tạo ra sức sống tự nhiên của con người Sức sống tự nhiên là tiền đề vật chất có vai trò cực kỳ quan trọng trong
Trang 16quá trình phát triển nhân cách Phải thừa nhận, ở mỗi con người ít nhiều có những khả năng bẩm sinh nào đó Nếu khả năng này phù với một loại hoạt động thì nó giúp con người thực hiện công việc ấy một cách dễ dàng và có hiệu quả ở những người đặc biệt mà có những năng khiếu bẩm sinh biểu hiện dưới dạng tư chất , nếu biết phát hiện và bồi dưỡng thì họ có thể trở thành nhân tài cho đất nước như vậy cần đánh giá đúng vai trò của yếu tố sinh học để tránh những sai lầm trong nhận thức cũng như trong các hoạt động giáo dục và đặc biệt đó là giáo dục đạo đức cho học sinh
- Yếu tố môi trường: Bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá
xã hội Môi trường tự nhiên là điều kiện địa lý – sinh thái Môi trường sinh thái
có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thể chất Vị trí địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế tốt tạo điều kiện cho cuộc sống và hoạt động của con người Gia đình là môi trường sống kết hợp môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá xã hội đầu tiên của đứa trẻ Mức sống, trình độ học vấn, thói quen, nếp sống, mối quan hệ tình cảm của các thành viên, tính mẫu mực của người lớn phương pháp giáo dục gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách, ảnh hưởng tới đạo đức của đứa trẻ Ngoài ra tập thể, nhóm bạn bè cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của trẻ em Trong sinh hoạt tập thể, trẻ
em thường chọn lọc những gì phù hợp với sở trường, xu hướng, năng lực của mình để hoạt động Các nhà giáo dục cần coi tập thể vừa là môi trường đồng thời đây cũng chính là phương tiện để giáo dục, giáo dục đạo đức cho học sinh
- Yếu tố hoạt động: Con người sống luôn luôn hoạt động, hoạt động là phương thức tồn tại và cũng là con đường hình thành và phát triển nhân cách Thông qua hoạt động con người tiếp thu, phát triển kinh nghiệm tri thức của loài người biến thành kiến thức của cá nhân Nội dung, phương thức hoạt động, mục đích và ý thức của mỗi cá nhân trong hoạt động tạo nên những nét tính cách riêng của từng người.Con người hoạt động như thế nào thì nhân cách con người phát triển như thế ấy
Trang 17Trẻ em trong quá trình tham gia tích cực vào các loại hình hoạt động, các mối quan hệ đa dạng trong xã hội, các giá trị văn hoá của loài người, từ đó các phẩm chất, tính cách , năng lực được hình thành Hoạt động của trẻ em bao gồm: học tập , vui chơi, văn nghệ, thể dục thể thao, lao động và hoạt động tập thể trong hoạt động tạo nên tích cực, sáng tạo, cũng như ý chí và tình cảm của trẻ em phát triển
-Yếu tố giáo dục: Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng, định hướng cho sự phát
triển nhân cách là chính là giáo dục Giáo dục là sự dẫn dắt theo mục đích, có kế hoạch, có phương pháp Giáo dục là con đường ngắn nhất giúp thế hệ trẻ phát triển, bỏ qua những mò mẫm, vấp váp không cần thiết trong cuộc đời một con người
Trong các loại giáo dục: giáo dục gia đình, xã hội và nhà trường thì giáo dục nhà trường có vai trò quan trọng nhất
+ Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, có đội ngũ các nhà sư phạm được đào tạo, nội dung chương trình được chọn lọc, phương pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi , có các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục Mục đích giáo dục nhà trường phù hợp với xu thế phát triển xã hội và thời đại Giáo dục nhà trường bằng kiến thức và phương pháp khoa học , bằng tổ chức các hoạt động, giao lưu trong thực tiễn làm cho nhân cách học sinh được hình thành Giáo dục tạo nên bộ mặt tâm lý cá nhân phù hợp với những tiêu chuẩn, giá trị xã hội và thời đại
+ Giáo dục gia đình được tiến hành trong cả cuộc đời mỗi con người Với đặc điểm chủ yếu là quan hệ tình yêu, pháp lý và huyết thống, giáo dục gia đình được xây dựng trên cơ sở tình cảm bền chặt, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của mỗi con người Ngày nay Giáo dục học đã thừa nhận nề nếp gia phong
Trang 18truyền thống gia đình như một yếu tố giáo dục cực kỳ quan trọng không thể coi thường
+ Giáo dục xã hội là giáo dục của toàn xã hội, với thể chế chính trị, pháp luật, với truyền thống văn hoá, đạo đức được thực hiện qua hệ thống tổ chức nhà nước , qua bộ máy tuyên truyền thông tin đại chúng Qua dư luận xã hội, qua hoạt động giáo dục của các đoàn thể quần chúng góp phần quan trọng cho sự phát triển nhân cách
Gia đình, nhà trường và xã hội là ba lực lượng giáo dục to lớn, nếu được phối hợp chặt chẽ, cùng thống nhất một mục đích, một yêu cầu và cùng một phương thức giáo dục sẽ đem lại kết quả giáo dục tốt đẹp
+ Giáo dục ngoài việc bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp của con người, còn có thể giúp sửa chữa những lệch lạc trong ý thức đạo đức và hành vi của con người (giáo dục lại) và hơn thế nữa giáo dục còn có thể giúp khắc phục cả những khuyết tật của cơ thể, tinh thần do bẩm sinh hoặc rủi ro bệnh tật (giáo dục người
có tật, thiểu năng bẩm sinh) giúp con người hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng
+ Giáo dục còn bao gồm cả tự giác dục, tự giáo dục là bước tiếp theo, nhưng quyết định kết quả của toàn bộ quá trình giáo dục Tự giáo dục, tự tu dưỡng là hoạt động có ý thức là giai đoạn phát triển cao của nhân cách Như vậy, giáo dục là yếu tố chủ đạo trong quá trình phát triển nhân cách Một nền giáo dục mạnh, được tổ chức tốt, bằng các hình thức hoạt động và giao lưu phong phú đa dạng, với những phương pháp tốt có thể làm cho con người đạt tới sự phát triển toàn diện phù hợp với sự phát triển của thời đại
Tóm lại sự phát triển của con người là toàn bộ sự phát triển, hoàn thiện về thể chất và tinh thần, nó bị chi phối bởi hàng loạt những yếu tố chủ quan và khách quan Nhân cách con người là tổ hợp những phẩm chất tâm lý cá nhân Sự phát triển của nhân cách được thực hiện dưới ảnh hưởng của hệ thống các quan
hệ xã hội mà con người sống, hoạt động và giao lưu Giáo dục với tư cách là một hoạt động đặc biệt có vai trò chủ đạo, có ảnh hưởng quyết định trong sự phát
Trang 19triển nhân cách Một nhân cách tốt đẹp không thể phát triển ngoài giáo dục và
một nền giáo dục tiên tiến không thể tạo ra những con người hư hỏng
1.2.2 Đạo đức
1.2.2.1 Khái niệm đạo đức: Đạo đức là một hiện tượng xã hội phức tạp Để hiểu
rõ khái niệm này có thể tiếp cận trên nhiều góc độ khác nhau
Dưới góc độ Triết học: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của
ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực, điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan
niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ và danh dự …” [26, tr.45] Dưới góc độ Đạo đức học: “ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội ” [22, tr.12]
Dưới góc độ Giáo dục học: “ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người ” [34, tr.170, 171]
Bàn về đạo đức không thể không nói đến các quan niệm đạo đức của Hồ Chủ Tịch Người quan niệm đạo đức là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm Đó là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, đạo đức vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của lòng người Theo Người, đức là sự thống nhất tư tưởng và phong cách sống
Từ những định nghĩa về đạo đức nêu trên, có thể khái quát chung về đạo
đức như sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Như vậy, về bản chất đạo đức là những nguyên tắc chuẩn mực trong quan hệ xã hội được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác
Trang 20Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực được hình thành trên cơ sở kinh tế Vì vậy mỗi hình thái kinh tế, xã hội hay mỗi giai đoạn lịch sử đều định hình những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng
Đạo đức biểu hiện ở hành vi, thói quen, tập quán sống nên nó thường xuyên biến đổi theo tiến trình phát triển của nhân loại trên 2 phương diện lịch sử và đồng đại Có những giá trị trước đây được coi là chuẩn mực đạo đức XH như có con trai, có nhiều con là nhiều của song ngày nay có thể bị coi là phản giá trị hay phi đạo đức Hoặc ở dân tộc này, giai tầng này được coi là giá trị đạo đức chính thống quan niệm, song ở dân tộc khác, giai tầng khác lại quan niệm ngược lại
Do đó, đạo đức có tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại
1.2.2.2 Chức năng của đạo đức:
Đạo đức có 3 chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi, trong
đó điều chỉnh hành vi là chức năng hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Chức năng nhận thức: Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức xã hội
về mặt đạo đức, các quan điểm đạo đức, nguyên tắc chuẩn mực đạo đức là kết quả của phản ánh tồn tại xã hội, được con người đánh giá, thừa nhận và khái quát thành những khuôn mẫu đạo đức, các giá trị đạo đức
Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức đạo đức, chức năng giáo dục giúp con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thống định hướng giá trị và các chuẩn mực đạo đức, điều chỉnh ý thức, hành vi đạo đức Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Cùng với chức năng giáo dục, chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức có tác dụng làm cho hành vi hoạt động của con người phù hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng Chức năng này được thể hiện bằng 2 hình thức chủ yếu, trước hết là bản thân chủ thể đạo đức phải tự giác, điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức xã hội, thứ hai, tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến khích đánh giá hoặc phê
Trang 21phán những biểu hiện cụ thể của hành vi đạo đức trên cơ sở những chuẩn mực giá trị đạo đức Đây là chức năng xã hội cơ bản, hết sức quan trọng của đạo đức cho học sinh trung học phổ thông, là bước quan trọng trong hình thành nhân cách con người cho xã hội sau này
1.2.3 Giáo dục đạo đức
1.2.3.1 Khái niệm giáo dục đạo đức: “Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới
người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin, hành vi, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức ” [33, tr.172]
Giáo dục đạo đức về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân, thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục
Giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị tư tưởng vì giáo dục chính trị tư tưởng có tác dụng xây dựng cơ sở thế giới quan Mác-Lênin
và định hướng chính trị xã hội theo quan điểm và đường lối của Đảng cộng sản, cho ý thức và hành động đạo đức
Giáo dục đạo đức còn gắn bó chặt chẽ với việc giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật có nhiệm vụ giới thiệu cho người học các chuẩn mực về luật pháp của Nhà nước, các quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam, do đó có tác dụng củng cố phương thức luận cứ các chuẩn mực đạo đức và thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức
1.2.3.2 Mục tiêu của giáo dục đạo đức:
Giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ xã hội và phồn vinh của đất nước Trong đó mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục đạo đức là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức
1.2.3.3 Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức:
Trang 22Giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận cực kỳ quan trọng của quá trình sư phạm Để giáo dục những phẩm chất đạo đức, cần giải quyết đồng
bộ nhiều vấn đề nhằm giúp người được giáo dục có ý thức về phẩm chất đó, có thái độ đúng đắn tích cực và có thói quen, hành vi tương ứng Giáo dục đạo đức
có nhiệm vụ:
Giáo dục ý thức đạo đức: Giáo dục ý thức đạo đức là cung cấp cho người được giáo dục những tri thức cơ bản về phẩm chất đạo đức và các chuẩn mực đạo đức trên cơ sở đó giúp họ hình thành niềm tin đạo đức
Giáo dục tình cảm niềm tin đạo đức: Giáo dục tình cảm đạo đức là khơi dậy
ở người được giáo dục những rung động, xúc cảm đối với hiện thực xung quanh, biết yêu, ghét rõ ràng, có thái độ và hành vi ứng xử đúng đắn đối với các tình huống thường gặp cuộc sống, trong sinh hoạt tập thể
Giáo dục hành vi thói quen đạo đức: Giáo dục hành vi thói quen đạo đức là một quá trình tổ chức luyện tập, rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt
và trong cuộc sống nhằm tạo được hành vi đạo đức đúng đắn, trở thành phẩm chất của nhân cách và từ đó có thói quen đạo đức bền vững
1.2.3.4 Nội dung giáo dục đạo đức: Nội dung của giáo dục đạo đức bao gồm:
Phát triển ý thức đạo đức: Trang bị cho người học những hiểu biết và các niềm tin về các chuẩn mực và quy tắc đạo đức như giáo dục ý thức về mục đích cuộc sống của bản thân; giáo dục ý thức về lối sống cá nhân; giáo dục ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập thể và ngoài xã hôi; giáo dục ý thức về cuộc sống lao động sáng tạo; giáo dục về nghĩa vụ lao động và bảo vệ Tổ quốc Giáo dục tình cảm đạo đức: Hình thành nhu cầu, động cơ, tình cảm đạo đức phù hợp với nền đạo đức mới
Giáo dục hành vi đạo đức: Nội dung hành vi và thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực của xã hội, ý chí đạo đức vững vàng
1.2.3.5 Phương pháp giáo dục đạo đức:
Trang 23Phương pháp giáo dục đạo đức là cách thức tác động của các nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất cần thiết Về cơ bản, các phương pháp giáo dục đạo đức được phân thành 3 nhóm chính:
Nhóm phương pháp thuyết phục: Thuyết phục là các nhóm phương pháp tác động vào mặt nhận thức và tình cảm của con người để hình thành cho họ ý thức thái độ tốt đẹp đối với cuộc sống Nhóm này bao gồm các phương pháp khuyên giải, tranh luận, nêu gương
Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động: đây là nhóm phương pháp đưa con người vào hoạt động thực tiễn để tập dượt, rèn luyện tạo nên các hành vi thói quen Nhóm này bao gồm các phương pháp tập luyện, rèn luyện
Nhóm các phương pháp kích thích hành vi: Đây là nhóm phương pháp tác động vào mặt tình cảm của các đối tượng được giáo dục nhằm tạo ra những phấn chấn, thúc đẩy tích cực hoạt động đồng thời giúp cho những người có khuyết điểm nhận ra và khắc phục những sai lầm Nhóm này gồm các phương pháp: khen thưởng, trách phạt, thi đua
Cần chú ý: Trong thực tiễn không nên tách bạch hoàn toàn như vậy, vì mỗi biện pháp, hình thức hoạt động đều có thể đem lại hiệu quả tổng hợp, một buổi thăm quan di tích lịch sử, tham gia một phong trào nhân đạo từ thiện vừa nâng cao được nhận thức trách nhiệm, vừa phát triển lòng yêu thương con người vì vậy cần kết hợp nhiều phương pháp GDĐĐ và cần xác định mục tiêu cho mỗi phương pháp, hình thức hoạt động GDĐĐ
Phương pháp giáo dục đạo đức rất đa dạng: Nhà giáo dục cần phải vận dụng linh hoạt chúng cho phù hợp với mục đích, đối tượng giáo dục, với từng tình huống cụ thể Chính vì thế mà người ta nói rằng phương pháp giáo dục là nghệ thuật giáo dục
1.2.3.6 Hình thức tổ chức giáo dục đạo đức:
Trang 24Giáo dục đạo đức là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, nó được tiến hành với những con đường và phương thức sau đây:
Thông qua việc dạy các môn học làm cho người được giáo dục tự giác chiếm lĩnh một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, giúp họ định hướng đúng những hiện tượng xã hội để lựa chọn cách thích ứng đúng đắn trong các tình huống đạo đức
Các môn khoa học xã hội và nhân văn có tiềm năng to lớn trong việc giáo dục đạo đức cho người học Những kiến thức trong các môn học này có liên quan đến giá trị thái độ và cách cư xử, hành vi đạo đức trong xã hội
Các môn khoa học tự nhiên cũng góp phần vào việc giáo dục đạo đức Nó
có tác dụng giúp người học hình thành những phẩm chất xã hội như tư duy hợp
lý, thái độ coi trọng nhân quả, ý thức nâng cao kiến thức xã hội
Các môn nghệ thuật và thể dục tạo cơ hội để người học phát triển óc sáng tạo, thể hiện được sự xúc cảm và trải nghiệm của mình
Môn GDCD có một vị trí quan trọng đối với việc trang bị cho người học những hiểu biết cơ bản về những phẩm chất và bổn phận đạo đức của người công dân
Thông qua việc lao động và các hoạt động xã hội, sinh hoạt đoàn thể để giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, ý thức pháp luật
Bằng con đường tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự giáo dục để hình thành các thói quen đạo đức
1.2.4 Tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức
1.2.4.1 Mục tiêu hoạt động giáo dục: Hoạt động giáo dục đạo đức trong xã hội
ta hiện nay nói chung và trong nhà trường nói riêng là hướng tới việc thực hiện phát triển toàn diện nhân cách cho người học
1.2.4.2 Mục tiêu của hoạt động giáo dục đạo đức: là làm cho quá trình giáo dục
đạo đức vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức Mục tiêu hoạt động giáo dục đạo đức bao gồm: ở giai đoạn này phải thực hiện
Trang 25các hoạt động sau: Thông báo kế hoạch, chương trình hành động đến các thành viên trong trường, xác định cơ cấu bộ máy, bố trí các bộ phận và các cá nhân cho đúng người, đúng việc, quy định chức năng, quyền hạn trách nhiệm cho từng người, từng bộ phận, tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy, xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận và các thành viên
Chỉ huy điều hành: Là việc xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, là huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch và điều hành nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra trong
kỷ cương, trật tự
Nội dung của việc chỉ đạo bao gồm: Chỉ huy, ra lệnh, động viên, khuyến khích thường xuyên và kịp thời theo dõi và giám sát, điều chỉnh, sửa chữa, bù đắp, chỉnh lý
Kiểm tra: Chức năng này diễn ra ở mọi giai đoạn của quá trình quản lý nhưng thực hiện tập trung cao nhất ở giai đoạn cuối cùng của quá trình quản lý Nội dung của việc kiểm tra bao gồm: Đánh giá tiến độ, tốc độ, nhịp độ của quá trình quản lý so với kế hoạch, xác định chính xác mức độ đạt được so với các mục tiêu đã đặt ra, phát hiện những lệch lạc, sai sót cũng như những nguyên nhân của chúng, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn cần tiếp tục giải quyết, rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc quản lý tiếp theo
1.2.4.3 Nội dung hoạt động giáo dục đạo đức:
Chỉ đạo công tác xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức, đảm bảo sao cho kế hoạch phải vừa bao quát vừa cụ thể phù hợp với từng đối tượng khác nhau, kế hoạch phải khả thi
Triển khai chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch theo đúng nội dung yêu cầu và tiến độ, thường xuyên kiểm tra uốn nắn những lệch lạc, bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình cụ thể
Trang 26Tổng kết, đánh giá, khen thưởng, trích phạt kịp thời nhằm động viên các lực lượng tham gia quản lý và tổ chức giáo dục đạo đức
Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cụ thể được lựa chọn tùy theo mục tiêu
đề ra và được thực hiện theo kế hoạch đã định
Các phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức:
Phương pháp quản lý giáo dục đạo đức là cách thức mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu quản lý đã đề ra Các phương pháp quản lý giáo dục đạo đức bao gồm:
- Phương pháp tổ chức hành chính: là phương pháp tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính dứt khoát, bắt buộc như nghị định, nghị quyết, văn bản, quy chế, quy định …
Phương pháp tổ chức hành chính là tối cần thiết trong công tác quản lý Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp này cần chú ý nếu lạm dụng nó thì sẽ dẫn đến tình trạng quan liêu, mệnh lệnh
- Phương pháp kinh tế: Đây là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động gián tiếp đến đối tượng quản lý dựa trên các lợi ích vật chất và các đòn bẩy kinh
tế để làm cho đối tượng quản lý suy nghĩ đến lợi ích của mình, tự giác thực hiện bổn phận và trách nhiệm một cách tốt nhất mà không phải đôn đốc nhắc nhở nhiều về mặt hành chính mệnh lệnh của chủ thể quản lý
- Phương pháp tâm lý - xã hội: Đặc điểm của phương pháp này là sự kích thích đối tượng quản lý sao cho họ luôn toàn tâm, toàn ý cho công việc, coi những mục tiêu, nhiệm vụ quản lý như là những mục tiêu và công việc của chính
họ, hơn nữa họ luôn cố gắng học hỏi, tích lũy kinh nghiệm để ngày càng tốt hơn, đoàn kết giúp đỡ nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ
- Phương pháp giáo dục: Là phương pháp tác động vào nhận thức của đối tượng quản lý giúp họ phát huy những phẩm chất cần thiết, hình thành phương
Trang 27pháp làm việc khoa học, nhận thức về trách nhiệm đối với công việc, tự giác, chủ động xây dựng kế hoạch để hoàn thành quá trình rèn luyện nhân cách
1.2.5 Giải pháp quản lý giáo dục đạo đức
1.2.5.1 Giải pháp: “Toàn bộ những điều quyết định cần thực hiện để thanh toán
những khó khăn có thể dẫn tới tình trạng bế tắc” [Từ điển TV, NXB từ điển BK năm 2005]
1.2.5.2 Quản lý: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của
chủ thể lên khách thể về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và tạo điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện, tài chính để kết hợp các yếu tố với nhau nhằm đạt được mục tiêu định trước Như vậy có thể khái quát: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích
đề ra Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội nhân văn khác như toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý học, xã hội học và nó còn là một “ nghệ thuật ”, đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để
đạt tới mục đích
1.2.5.3 Quản lý giáo dục:
“ Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất [32,tr.85]
Trang 281.2.5.4 Quản lý giáo dục đạo đức:
Từ khái niệm quản lý và giáo dục đạo đức trên, theo tôi có thể định nghĩa khái niệm quản lý giáo dục đạo đức như sau: Quản lý giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất
Về bản chất, quản lý giáo dục đạo đức là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục đạo đức nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức
Như vậy, quản lý giáo dục đạo đức là hoạt động điều hành công tác giáo dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của nền giáo dục
Quản lý giáo dục đạo đức có những biện pháp sau:
- Nâng cao nhận thức cho mọi người, trước hết là nâng cao nhận thức cho các thế hệ lớn tuổi, cán bộ, đảng viên, đội ngũ làm công tác quản lý giáo dục Việc làm cho mọi người, mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức thấy được trách nhiệm của mình trong việc góp phần cùng các cơ quan chức năng quản lý giáo dục đạo đức là biện pháp kiên quyết trong việc quản lý giáo dục đạo đức Đây là điều kiện cần thiết ở đây là phải làm cho mọi người nhận thức sâu sắc đầy đủ rằng, việc rèn luyện nhân cách cũng như học tập nâng cao trình độ học vấn là việc làm suốt đời của mọi người, từ lúc lọt lòng đến lúc chết
- Xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về quản lý giáo dục đạo đức là biện pháp then chốt, là đòn bẩy quyết định hiệu quả, chất lượng của hoạt động quản lý giáo dục đạo đức Trước hết cần có bộ máy quản lý
và chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức, phụ trách thống nhất từ Trung ương đến cơ
sở dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền Xác định rõ mục đích, nội dung, chức năng quản lý giáo dục đạo đức cho các cơ quan chức năng chuyên trách
- Củng cố tăng cường việc quản lý ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với quản lý của nhà trường với các đoàn thể trong việc quản lý và giáo dục đạo đức cho mọi người
Trang 29Thực hiện nghiêm minh luật pháp, tăng cường công tác quản lý xã hội là biện pháp trực tiếp góp phần vào việc giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho toàn xã hội
1.2.5.5 Kết quả quản lý giáo dục đạo đức :
Việc quản lý giáo dục đạo đức làm cho mọi người, mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, tính cấp thiết của công tác quản lý giáo dục đạo đức trong xã hội
Nắm vững những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước ta
Hăng hái nhiệt tình tham gia công tác quản lý giáo dục đạo đức trong xã hội, ủng hộ những việc làm tốt, bày tỏ phản ứng trước những việc làm xấu, trái pháp luật, trái quy định của xã hội Có thái độ đúng đắn với hành vi của bản thân đối với công tác quản lý giáo dục đạo đức
Tích cực tham gia quản lý và tổ chức việc giáo dục đạo đức, hoạt động tập thể, hoạt động xã hội
Tự giác thực hiện, có thói quen chấp hành những quy định của pháp luật, các quy định, quy chế của tổ chức Tích cực rèn luyện, tự tu dưỡng, tự hoàn thiện nhân cách
Kết quả quan trọng nhất của việc quản lý giáo dục đạo đức là làm sao cho quá trình giáo dục đạo đức tác động tới mọi người để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức cụ thể được biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày
1.2.6 Chất lượng giáo dục đạo đức
1.2.6.1 Khái niệm chất lượng
Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng
đó khả nặng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn (TCVN ISO 1994)
Chất lượng, đó là “ cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự
vật hiện tượng ” [Từ điển T V, Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng năm 2002]
Trang 301.2.6.2 Chất lượng giáo dục:
Theo Phạm Minh Hạc: Chất lượng giáo dục là kết quả tổng hợp phản ánh
mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình GD-ĐT ở từng học sinh (học viên), ở từng lớp, từng trường, từng địa phương và cả nước có được sự phát triển bền vững Con người phát triển bền vững là trọng điểm của chất lượng GD-ĐT
1.2.6.3 Chất lượng giáo dục đạo đức: Từ hai khái niệm nêu trên ta có thể định
nghĩa chất lượng giáo dục đạo đức: là kết quả tổng hợp phản ánh mức độ thực hiện mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh (học viên) hướng tới sự phát triển toàn diện con người
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay
1.3.1 Mục tiêu giáo dục THPT – Yếu tố chi phối hoạt động giáo dục cho học sinh hiện nay
- “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.[Luật GD]
Mục tiêu GDĐĐ cho học sinh :
Về nhận thức : Hiểu bản chất của đạo đức, các nguyên tắc, nội dung, chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam thời kỳ CNXH, HĐH đất nước Hiểu sự cần thiết phải rèn luyện mình theo yêu cầu của các chuẩn mực đạo đức để trở thành những công dân có lối sống tốt, có tình cảm đẹp, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước
Trang 31“Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước Nắm vững quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước nhà Có nhân sinh quan trọng sáng, có quan điểm rõ ràng về lối sống thích ứng với những yêu cầu của giai đoạn mới” [16, tr.323]
Về thái độ, tình cảm: “có thái độ tình cảm đạo đức đúng đắn, trong sáng trong các mối quan hệ xã hội với mọi người và với môi trường sống Có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh đã hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc Có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức chính trị trong xã hội, ủng hộ những việc làm tốt, hợp đạo lý, bày tỏ phản ứng trước những hành vi sai trái” [16, tr.324]
Về hành vi và kỹ năng: “Tích cực học tập và rèn luyện trong lao động, hoạt động tập thể, hoạt động xã hội Có thói quen thường xuyên rèn luyện hành vi đạo đức trong ứng xử, trong các vấn đề của các lĩnh vực hoạt động và quan hệ xã hội
Tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức, luật pháp, văn hoá và chấp hành pháp luật Biết sống lành mạnh, trong sáng, thể hiện được tư cách của người học sinh Tích cực đấu tranh với những biểu hiện của lối sống sa đoạ, đồi truỵ, chỉ biết hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, theo chủ nghĩa thực dụng, thờ ơ với các vấn
đề của cuộc sống, không nghĩ đến sự hy sinh mất mát của các thế hệ cha anh Thường xuyên tích cực rèn luyện trong học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, hoạt động xã hội để chuẩn bị cho “ ngày mai lập nghiệp ” được vững vàng” [16, tr.324]
1.3.2 Đặc điểm của học sinh THPT– Chủ thể của hình thành đạo đức
1.3.2.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
Học sinh THPT là lứa tuổi đầu tuổi thanh niên, ở giai đoạn phát triển của trẻ
em từ 15 - 19 tuổi Đến cuối thời kỳ này học sinh đã trưởng thành về thể chất, đã
Trang 32trưởng thành về cả tinh thần và tư tưởng đủ để sống độc lập, tự quyết định, tham gia tích cực vào cuộc sống xã hội
Học sinh THPT đang ở trong giai đoạn chuẩn bị để đi vào cuộc sống Đây
là lứa tuổi phát triển êm đềm, không có tính chất đột biến như lứa tuổi thiếu niên Tính chất chủ định của mọi quá trình tâm lý được thể hiện rõ rệt Đây là lứa tuổi
ý thức phát triển mạnh, nhân sinh quan trọng và thế giới quan hình thành và phát triển, chi phối sự phát triển nhân cách của các em
Ở nhà trường, Học sinh cấp THPT được vận dụng và tiếp thu những kiến thức, kỹ năng cao hơn cấp THCS Như vậy học sinh THPT có trình độ, có năng lực tư duy trừu tượng, khả năng phân tích, phán đoán dựa trên sự hiểu biết quy luật của tự, xã hội Vì vậy những thuộc tính, những phẩm chất tâm lý tương đối bền vững Những quan niệm về cuộc sống, về bạn bè, về lý tưởng sống, về tự nhiên đã có định hướng cho cá nhân
Tuổi học sinh THPT là tuổi lãng mạn, dám nghĩ, dám làm, tuổi có nhiều ước mơ, muốn cống hiến sức mình cho sự nghiệp lớn lao nào đó, tuổi giầu sức sáng tạo Họ có tình cảm phong phú và đa dạng, có thái độ xúc cảm đối với các mặt khác nhau của đời sống, có năng lực nhận xét, biết cảm thụ và yêu mến cái đẹp trong tự nhiên, trong nghệ thuật và trong đời sống xã hội Mặt khác óc phê phán, phân tích trong tư duy vốn có của học sinh THPT, khát vọng muốn được độc lập, khát vọng tự khẳng định, tự biểu hiện cá tính của mình, nhu cầu có những thị hiếu, những ý kiến riêng đôi khi được thể hiện ở nguyện vọng làm cho mình trở thành nên độc đáo, khiến người khác chú ý tới bản thân mình
Các em mong muốn người giáo viên phải có phẩm chất cao, hiểu rất rõ mặt yếu của giáo viên, nhận xét và phê phán những thiếu sót trong kiến thức, đề cao giáo viên giỏi, quý mến họ sẵn sàng làm theo những lời hướng dẫn chỉ bảo của
họ Các em có xu hướng cảm phục những giáo viên ưu tú có biệt tài giảng dạy,
có phẩm chất nhân cách cao quý và luôn tự hào về các giáo viên đó Điều đó thể hiện sự nhạy bén với nhân cách của những người xung quanh là đặc điểm tâm lý
Trang 33sống sôi động của các em phần lớn chịu sự chi phối của những mối liên hệ đạo đức với con người
Một nét tiêu biểu ở các em học sinh THPT là rất thích hoạt động văn nghệ, TDTT, thích hát những bài hát trữ tình, một số ca khúc theo dòng nhạc mới, ngoài giờ học các em còn say sưa hát một các liên khúc trong các buổi liên hoan, giao lưu Cảnh tượng đó kéo dài hàng giờ làm cho mọi người ngạc nhiên là không hiểu do đâu mà các em lại biết được nhiều điều đến thế, những âm điệu, lời ca mà không ai dạy chúng cả Sự thích thú sáng tạo nghệ thuật, làm thơ, nghe nhạc, xây dựng những điệu nhảy tập thể, các loại sách báo, tạp chí, thông tin trên Internet đều được các em say sưa khám phá, thể hiện
Có thể nói ở lứa tuổi học sinh THPT thì trình độ trí lực và tư chất đặc biệt hoàn toàn khác nhau, ta vẫn thấy các em có khả năng tham gia hoạt động trong nhiều lĩnh vực : văn hoá, văn nghệ, TDTT
Khả năng suy nghĩ độc lập của các em ngày càng tăng, tinh thần sẵn sàng tham gia những hoạt động tập thể một cách có ý thức, khả năng kích thích tinh thần trách nhiệm đạo đức với nhau thành một tổng thể độc đáo Mức độ trưởng thành mới của phẩm chất nhân cách cá nhân, thái độ luôn luôn sẵn sàng phát huy sáng kiến, óc sáng tạo dựa trên những động cơ đạo đức - chính đó là đặc điểm riêng của học sinh THPT
Trong gia đình : Học sinh THPT có một vị trí nhất định, các em được gia đình xem như một thành viên tích cực, được tôn trọng, được góp ý kiến những công việc gia đình, tuy nhiên các em vẫn phụ thuộc vào kinh tế, sinh hoạt của cha, mẹ và gia đình Chính sự phụ thuộc ấy dẫn đến những mâu thuẫn ở các em :
về tâm lý muốn tự khẳng định, muốn tự quyết định nhưng còn lệ thuộc gia đình
Vì thế, đôi khi xảy ra những bất hoà trong gia đình mà trong đó có lý do nảy sinh
Trang 34học sinh THPT cho rằng gia đình mình có những quan niệm không hợp lý, lỗi thời từ cuộc sống gò bó chật hẹp của gia đình mình
Ngoài xã hội: Những yêu cầu đối với học sinh THPT có cao hơn và phong phú hơn trước đây Ví dụ, HS được giao nhiều nhiệm vụ như tham gia tổ chức bầu cử, tuyên truyền cổ động, làm công tác đoàn, phụ trách thiếu niên, xung kích, tình nguyện Họ được nhìn nhận như một công dân dự bị được làm chứng minh nhân dân từ năm 17 tuổi, ngoài ra với tư cách là Đoàn viên thanh niên, cương vị của HS còn mang ý nghĩa xã hội nhiều hơn, tuy nhiên HS THPT vẫn chưa thực sự là người lớn Được vào Đoàn từ năm 14 tuổi và 18 tuổi được quyền
đi bầu cử và làm nghĩa vụ quân sự
Về chủ quan, học sinh còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, chưa có nghề nghiệp và lao động thực sự để trực tiếp góp phần làm cho xã hội tồn tại và phát triển Về khách quan luật pháp chưa công nhận HS THPT là một công dân có đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn như đã quy định trong hiến pháp
Do cuộc sống của học sinh THPT ở nhà trường, gia đình, xã hội đã thay đổi, vị trí, vai trò của các em ở nhà trường, gia đình, xã hội đã khác, nên tâm lý, nhân cách của các em đã hình thành và phát triển Điều đó làm cho học sinh THPT trưởng thành nhiều, các em có nhiều đức tính của người lớn và chuẩn bị làm người lớn thực sự những năm sau này
Trong lứa tuổi học sinh lớn, những sức mạnh đạo đức của con người được phát triển mạnh mẽ, bộ mặt tinh thần được hình thành, những nét tính cách được xác định và thế giới quan được hình thành [35, tr 8]
1.3.2.2 Đặc điểm về thế giới quan và nhân sinh quan
Thế giới quan và nhân sinh quan là hệ thống các quan điểm của cá nhân về
tự nhiên, xã hội và về bản thân Thế giới quan của mỗi người đều hình thành
Trang 35trong quá trình hoạt động chịu sự chế ước của những điều kiện xã hội và lịch sử, chịu sự tác động của môi trường sống và các quan hệ của người đó trong xã hội Thế giới quan và nhân sinh quan quyết định xu hướng của nhân cách con người cách mạng : tiến bộ hay lạc hậu, phản động Đối với học sinh THPT là lúc thế giới quan của các em vẫn còn đang hình thành và tiến tới hoàn chỉnh Ở cấp THCS các em tiếp thu những tri thức về quy luật tự nhiên và xã hội, do đó tầm mắt mở rộng, ý thức bản ngã phát triển Các em có nhu cầu muốn được giải đáp nhiều vấn đề mà các em quan tâm Ở cấp học THPT bắt đầu bước vào lứa tuổi đầu thanh niên, hệ thống kiến thức của các em được hình thành, năng lực trí tuệ phát triển Các em có trình độ hiểu biết sâu, có khả năng phê phán những vấn đề
lý luận và thực tiễn, có khả năng đi sâu vào bản chất sự vật, tìm hiểu mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng xã hội, phân tích, tổng hợp, khái quát để nắm bắt các quy luật Riêng với học sinh lớp 12 đã đến tuổi được đặt gần như ngang hàng với người lớn và các em đang đứng trước những cửa của cuộc đời nên đều có uy nghĩ về nghề nghiệp tương lại, về cuộc sống Đối với các em việc xây dựng thế giới quan là điều rất cần thiết Các môn học, nhất là môn giáo dục công dân và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường đều có tác dụng xây dựng thế giới quan Mác - Lênin cho học sinh Nhờ vậy, khi học hết THPT, bước vào đời các
em xác định được chỗ đứng vững vàng, trở thành người lao động kiểu mới và có
lý tưởng XHCN
Lý tưởng của học sinh THPT: “ lý tưởng của mỗi người chính là mục tiêu cao đẹp mà con người có khát vọng, vươn tới và phấn đấu suốt đời mình để đạt tới Lý tưởng là sự phản ánh hiện thực ngày mai trong đầu óc con người, là hình ảnh tương lai tốt đẹp của cuộc sống Hình thức lý tưởng đặc trưng cho học sinh lớn là những hình ảnh khái quát những phẩm chất tốt đẹp nhất của nhân cách theo quan điểm của học sinh ” [36, tr.13]
Trang 36Mức độ lý tưởng đạo đức cao là nét đặc trưng cho học sinh chúng ta Đạo đức học sinh THPT là khát vọng vươn tới lý tưởng Đặc điểm ấy có tác dụng thúc đẩy sự tu dưỡng, động viên nghị lực của thanh nhiên và là nguồn cảm hứng trong mọi hoạt động Được sự giáo dục của nhà trường và đoàn thanh niên, tiếp thu những những tư tưởng tiên tiến, học sinh THPT thấy rõ phương hướng, có ý thức học tập tu dưỡng rèn luyện trở thành những người công dân có ích hăng hái tham gia lao động và công tác trong mọi lĩnh vực Tuy nhiên ở một số học sinh, việc xác định mục đích, thái độ, động cơ học tập chưa rõ ràng, còn những biểu hiện của tư tưởng tự bằng lòng, một số thích danh lợi, địa vị trong chọn nghề Trong hoàn cảnh chưa có lý tưởng kiên định, dễ bị dao động trước ảnh hưởng không tốt của mặt trái cơ chế thị trường gây nên Phần nào, các em còn chịu ảnh hưởng của xã hội bên ngoài một cách tự phát Trong điều kiện này các em dễ tiếp thu cái xấu hơn là cái tốt Chỉ khi nào các giải đáp được một cách cơ bản câu hỏi “ sống để làm gì?” thì lúc đó các em mới có thể xác định cho mình một lý tưởng sống đúng đắn Lứa tuổi các em với nhiều ước mơ đẹp đẽ, bước đầu vào đời thuận lợi, còn xa với cuộc sống thực tiễn, dễ nhìn thấy thuận lợi, chưa lường hết khó khăn, nhiều khi chỉ hướng về tương lai mà không nhìn thẳng vào hiện tại Các em chưa chuẩn bị cho mình có đủ nghị lực để chịu đựng mọi khó khăn, nên dễ bị dao động khi tiếp xúc với cuộc sống và ngành nghề mà sau này các em đảm nhiệm
1.3.2.3 Đặc điểm về tình cảm
Tình cảm: “ đặc điểm của lứa tuổi học sinh lớn là có tình cảm phong phú và
đa dạng, có thái độ xúc cảm đối với các mặt khác nhau của đời sống ” [38, tr.31] Tuổi đầu thanh niên là lứa tuổi phát triển về tình bạn, tình đồng chí và cả tình yêu nữa Tình bạn là giai đoạn cao nhất của quan hệ đồng chí ở tuổi thanh nhiên thường có tình bạn “ đồng cảm ” hay tình bạn “ thơ mộng ” họ cần bạn bè
Trang 37để chia sẻ cảm xúc, thổ lộ tâm tình Một trong những nguồn gốc quan trọng của tình bạn là sự gắn bó trong một hoạt động hấp dẫn Có khi nó nảy nở trong sự đồng cảm, hoà hợp về một số điểm nào đó như cùng hoạt động một câu lạc bộ, trong cuộc thi văn nghệ, thi thể thao hoặc một buổi dã ngoại, một cuộc chuẩn bị liên hoan các em chọn bạn theo hứng thú, sở thích, tính cách giống nhau Những học sinh có xu hướng xã hội : tế nhị, vị tha, có tâm hồn phong phú thường có quan hệ bạn bè rộng rãi Nhà trường là một tập thể để có thể xây dựng mối quan hệ bạn bè, quan hệ đồng chí tốt đẹp, các điều kiện giúp các em xây dựng tình bạn chân chính, giúp đỡ nhau học tập, tu dưỡng tiến bộ Tránh quan điểm sai trong tình bạn như che giấu lỗi lầm, tha thứ cho nhau hành vi trái đạo đức Vì vậy dễ làm cho quan hệ tình bạn tan vỡ Một tình bạn thân thiết khác giới dễ chuyển sang tình yêu Nam nữ thanh niên trong lứa tuổi này thường mến nhau vì cùng chung lý tưởng, xu hướng và hứng thú Họ thích nhau vì vẻ đẹp con người, vì tài năng, đức hạnh Tình yêu ban đầu của nam nữ thanh niên mới lớn thường được xây dựng trên sự mến phục, quý trọng nhau trong học tập và hoạt động Mối tình đầu đầy thơ mộng, một thứ tình cảm lành mạnh, thuần khiết, tinh bạch, sâu sắc và thường để lại dấu vết không bao giời phai mờ trong tâm lý con người Tình yêu đương - bạn bè chứa đựng tâm trạng phức tạp khó hiểu Họ thường gắn bó như bạn bè, nhưng có lúc lại có cảm xúc khác thường, họ thấy ngượng nghịu không hồn nhiên vô tư như bình thường Tình yêu đến với họ là một sự việc hoàn toàn mới mẻ Họ chưa có hiểu biết sâu sắc Tình yêu bồng bột, không chín chắn, thiếu suy nghĩ sâu sắc của lứa tuổi các em dễ đi đến tan vỡ, gây cho các em những tổn thương về tình cảm rất có hại Trong thực tế ta thấy tình yêu đó chẳng giúp ích gì cho các em mà thường làm cho các em phân tán tư tưởng, lãng phí thời giờ, ảnh hưởng xấu đến việc học tập rèn luyện Vì thế nên khuyên nhủ các em ngăn ngừa trước khi tình yêu nam nữ phát sinh, khuyến khích các em phát triển tình bạn một cách lành mạnh, trong sáng, một tình bạn
Trang 38như thế sẽ là sức mạnh thúc đẩy các em học tập, rèn luyện và tiến bộ nhanh chóng
Xuất phát từ những đặc điểm riêng của học sinh cấp THPT, giáo dục đạo đức cho học sinh trong các nhà trường THPT có một ý nghĩa, có một vai trò rất quan trọng, các giáo viên chủ nhiệm, các bậc phụ huynh học sinh và các nhà quản lý giáo dục trong các nhà trường cần hiểu rõ vấn đề này để có những phương pháp thích hợp trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, đặc biệt đối với những học sinh cá biệt, học sinh có những hoàn cảnh gia đình đặc biệt
1.3.3 Các phương thức hoạt động GDĐĐ học sinh ở trường THPT:
Hoạt động GDĐĐ ở trường THPT được thông qua các hoạt động cụ thể:
1.3.3.1 Thông qua hoạt động học tập:
“Tính chất và nội dung học tập của học sinh THPT khác rất nhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên Vấn đề không chỉ ở chỗ nội dung học tập ngày càng sâu sắc và có thêm những môn học mới mà là hoạt động học tập của học sinh THPT đề ra những yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và tính độc lập của các em Muốn nắm sâu sắc toàn bộ chương trình thì cần phát triển tư duy lý luận Những khó khăn học sinh THPT thường gặp trong quá trình học tập trước hết là do các em không biết cách học tập trong điều kiện mới” [36, tr.43]
Học sinh thường coi nhiệm vụ cơ bản của mình là hiểu và nhờ những điều
đã nói trong sách giáo khoa và những điều giáo viên đã giảng để sau đó trả lời được bài Nhà giáo dục Xô Viết nổi tiếng V A Xukhômlixki nhận xét rằng nguyên nhân của những khó khăn trong học tập của một số học sinh lớp lớn là do
các em không biết “ sử dụng những khái niệm đã khái quát để nhận thức hiện thực xung quanh, mà sự không biết đó lại do những khái niệm, những kết luận, những suy lý đã khái quát không được hình thành bằng cách nghiên cứu các hiện tượng và sự kiện, mà chỉ là học thuộc”[36, tr.45]
Trang 39Chính học sinh cho rằng, có sự gián đoạn rất lớn giữa nội dung và phương thức học tập từ lớp 9 trở về trước Các em chưa có kỹ năng độc lập làm việc với các tài liệu học tập Mâu thuẫn trong hoạt động học tập là động lực của sự phát triển trí tuệ của học sinh lớn Mâu thuẫn này được giải quyết dần dần cùng với bước chuyển học sinh lớn lên một trình độ hoạt động học tập mới cao hơn, gắn liền với sự phát triển của tư duy lý luận, của kỹ năng tự học Thái độ học tập của học sinh lớn cũng thay đổi Học sinh càng trưởng thành, kinh nghiệm của các em cũng ngày một phong phú Các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời Thái độ tự giác của các em đến việc học tập càng tăng lên Việc học tập mang ý nghĩa trực tiếp Học sinh lớn đã hiểu được rằng điều kiện cần thiết để tạo nên cuộc sống tương lai là vốn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, là kỹ năng độc lập trau dồi vốn hiểu biết, những kỹ năng tự học mà các em tiếp thu được trong những năm học tập ở nhà trường Nhu cầu tri thức là một trong những nét đặc trưng của học sinh THPT ngày nay Các em có thái độ lựa chọn đối với các môn học Rất hiếm thấy một thái độ chung chung, tích cực như nhau đối với tất cả các môn học, nguyên nhân quan trọng, hứng thú môn học gắn liền với xu hướng thi vào đại học và nghề nghiệp sau này Phần lớn học sinh thích các môn toán, lý, hoá, văn, sinh Bởi nhịp độ phát triển của các khoa học nói trên
và phạm vi ứng dụng rộng rãi của các khoa học đó vào các khoa học khác trong đời sống của đất nước, vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Ta cũng thấy thể hiện những thiếu sót trong thái độ học tập của một số học sinh, một số em các em không có hứng thú trực tiếp đối với các giờ học (ngay cả trong giờ học của giáo viên giỏi), các em chưa có thật đầy đủ ý thức trách nhiệm
và chưa hiểu sự cần thiết phải thực hiện những yêu cầu học tập, để lãng phí nhiều thời gian Bên cạnh những biểu hiện thờ ở đối với kết quả học tập của một
số học sinh phải thừa nhận đại đa số học sinh THPT có khả năng tìm tòi suy
Trang 40nghĩ ngày càng lớn, những khả năng mới về tư duy, về suy luận đã khẳng định năng lực học tập của các em
Hoạt động học tập mang tính độc lập trí tuệ cao, trong đó mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động tập thể, hoạt động thực tiễn, hoạt động tự rèn luyện của HS
1.3.3.2 Thông qua các loại hình hoạt động lao động: Không thể không nói tới
vai trò của lao động công ích trong sự hình thành nhân cách của học sinh THPT Mặc dù hoạt động chủ đạo của các em là học tập nhưng cần phải lợi dụng mọi khả năng để lôi cuốn vào lao động công ích Lao động của học sinh là quan trọng không chỉ vì tạo ra của cải vật chất mà còn góp phần hình thành những phẩm chất nhân cách như tinh thần tập thể lòng yêu lao động vì lợi ích chung, óc sáng tạo, tính mục đích, tính kiên trì khi tham gia lao động chung, học sinh sẽ bồi dưỡng được tình cảm tôn trọng lao động và người lao động, ở chúng sẽ hình thành nhu cầu và nguyện vọng lao động Trong quá trình lao động ở học sinh sẽ nảy nở những tình cảm mới - niềm vui về kết quả lao động của mình, lòng tự hào
về những cái đã làm được hài lòng với những thắng lợi sau những nỗ lực kiên trì Các em nhiệt tình tham gia xây dựng bãi tập thể dục thể thao của nhà trường, làm vườn hoa, chăm cây cảnh, vệ sinh hòn non bộ, làm sạch đường đẹp phố trong những ngày tình nguyện Những hình thức tổ chức lao động tập thể cho phép học sinh tiếp thu được những kinh nghiệm kiểm tra lẫn nhau, giáo dục thái
độ quan tâm của cá nhân tới kết quả lao động chung, thói quen phục tùng những lợi ích của tập thể
1.3.3.3 Thông qua hoạt động chính trị xã hội: Hoạt động chính trị xã hội của
học sinh được tiến hành qua nhiều hình thức đa dạng và phong phú từ tổ chức phong trào thi đua của học sinh, tổ chức đoàn thanh nhiên ở trường học, cũng như ở địa phương Trong hoạt động đó, học sinh hiểu sâu thêm vốn tri thức lý luận đã được tiếp thu đem vận dụng vào thực tiễn và thực tiễn kiểm nghiệm,