LỜI CẢM ƠN Với tấm lòng chân thành và biết ơn sâu sắc của học viên, tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo Trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà N
Trang 1đại học quốc gia hà nội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN ĐỨC HIỂN
BIỆN PHÁP QUẢN Lí HỌC TẬP CỦA HỌC VIấN
CÁC LỚP LIấN KẾT ĐÀO TẠO HỆ KHễNG CHÍNH QUY
Ở TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG TẠI CHỨC TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN Lí GIÁO DỤC Chuyờn ngành: QUẢN Lí GIÁO DỤC
Mó số: 601405
HÀ NỘI 2010
Trang 2đại học quốc gia hà nội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN ĐỨC HIỂN
BIỆN PHÁP QUẢN Lí HỌC TẬP CỦA HỌC VIấN CÁC LỚP LIấN KẾT ĐÀO TẠO HỆ KHễNG CHÍNH QUY
Ở TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG TẠI CHỨC TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN Lí GIÁO DỤC Chuyờn ngành: QUẢN Lí GIÁO DỤC
Mó số: 601405
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Chõu
HÀ NỘI - 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng chân thành và biết ơn sâu sắc của học viên, tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo Trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội đã trực tiếp và gián tiếp giúp đỡ tác giả hoàn
thành chương trình học tập và luận văn nghiên cứu khoa học: “Biện pháp quản
lý học tập của học viên các lớp liên kết đào tạo hệ không chính quy ở Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định”
Đặc biệt, tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
GS.TS.Nguyễn Hữu Châu - người đã trực tiếp định hướng đề tài, tận tình chỉ
bảo, giúp đỡ và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ tận tình của Ban Giám đốc, Lãnh đạo phòng Đào tạo, lãnh đạo các phòng chuyên môn khác, các thầy
cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và các anh chị em học viên học tại Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định
Mặc dù đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, bản thân tác giả đã có nhiều
cố gắng song trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, nhưng sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy giáo, cô giáo trong Hội đồng đánh giá luận văn chỉ bảo, các bạn đồng nghiệp góp ý kiến, giúp tác giả tiếp tục bổ sung cho luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4
CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Viết tắt Đọc đầy đủ
HTTX, HTSĐ Học tập thường xuyên, học tập suốt đời
UNESCO United Nations Educational, scientific and
Cultural organization
Trang 5MỤC LỤC
Trang
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Khách thể nghiên cứu 5
4 Đối tượng nghiên cứu 5
5 Giả thuyết nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu 5
8 Phương pháp nghiên cứu: 6
9 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN HỆ KHÔNG CHÍNH QUY 7
1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 13
1.3 Đào tạo hệ không chính quy và quản lý đào tạo hệ không chính quy 28
1.4 Học viên hệ không chính quy, giáo dục người lớn và đặc điểm học tập của người lớn 35
1.5 Ý nhĩa, vai trò việc quản lý học tập của học viên hệ không chính quy 41
1.6 Nội dung, nhiệm vụ của cơ sở liên kết đào tạo tại địa phương về quản lý học tập của học viên các lớp liên kết đào tạo hệ không chính quy 43
1.7 Cơ sở liên kết đào tạo hệ không chính quy ở địa phương 48
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN HỆ KHÔNG CHÍNH QUY Ở TRUNG TÂM ĐTBD TẠI CHỨC TỈNH NAM ĐỊNH 51
2.1 Giới thiệu khái quát về Trung tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định
Trang 62.1.1 Sự hình thành và phát triển 51 2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ được giao của Trung tâm đào tạo bồi
dưỡng tại chức tỉnh Nam Định 51 2.1.3 Công tác đào tạo, liên kết đào tạo của Trung tâm ĐTBD tại chức
tỉnh Nam Định 53 2.1.4 Công tác quản lý đào tạo 58 2.1.5 Tình hình tổ chức bộ máy hành chính, cơ sở vật chất phục vụ
đào tạo và liên kết đào tạo hệ không chính quy của Trung tâm đào tạo
bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định 59 2.1.6 Đánh giá chung tình hình phát triển của Trung tâm ĐTBD tại
chức tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay 61 2.2 Thực trạng công tác quản lý học tập của học viên hệ không chính
quy ở Trung tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định 63 2.2.1 Hoàn cảnh xã hội địa phương và đặc điểm của người học hệ
không chính quy ở tỉnh Nam Định 64 2.2.2 Thực trạng quản lý quá trình học tập của học viên hệ không
chính quy của Trung tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định
trong giai đoạn hiện nay 67 2.2.3 Đánh giá kết quả đạt được công tác quản lí đào tạo và quản lí
học tập 73 2.2.4 Những vấn đề đặt ra 80
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỌC TẬP CỦA
HỌC VIÊN HỆ KHÔNG CHÍNH QUY Ở TRUNG TÂM ĐTBD
TẠI CHỨC TỈNH NAM ĐỊNH 81
.3.1 Cơ sở và các nguyên tắc xây dựng các biện pháp quản lý quá trình
học tập của học viên hệ không chính quy ở Trung tâm ĐTBD tại chức
tỉnh Nam Định 81 3.2 Đề xuất một số biện pháp quản lý học tập của học viên hệ không
chính quy ở Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định trong giai đoạn
hiện nay 84 3.2.1 Biện pháp 1: Đổi mới việc xây dựng và hoàn chỉnh quy chế công
Trang 7tác quản lý học tập học viên các lớp hệ không chính quy của Trung
tâm từ khi bắt đầu (đầu vào) đến khi kết thúc (đầu ra)
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch quản lý học tập của học viên cho từng lớp (khoá) hệ đào tạo hệ không chính quy 87
3.2.3 Nhóm biện pháp 3: Tăng cường chấn chỉnh nề nếp dạy và học, nâng cao vai trò trách nhiệm của giáo viên trên lớp, hoàn thiện hệ thống các hồ sơ, sổ sách, các công cụ, phương tiện cho việc kiểm tra, giám sát hoạt động học tập của học viên trên lớp và ngoài giờ trên lớp 90
3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy- học, nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy - học 95
3.2.5 Biện pháp 5: Đề xuất với trường liên kết đào tạo đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tự giác học của học viên 97
3.3 Thăm dò tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103
1 Kết luận 103
2 Khuyến nghị 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang thực hiện đổi mới trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế xã hội: Chúng ta đã là thành viên của Tổ chức thương mại thể giới WTO và đang hoà mình vào thế giới; Cả nước đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu mục tiêu đưa nước ta từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước có nền kinh tế công nghiệp
Trước vận hội của đất nước đã đặt ra cho giáo dục những cơ hội, thách thức to lớn và những nhiệm vụ cũng rất nặng nề Bên cạnh cơ hội là khả năng
để chúng ta tranh thủ tiếp thu những thành tựu khoa học và công nghệ giáo dục của các nước tiên tiến để đổi mới phát triển căn bản nền giáo dục nước nhà, thì một trọng trách cũng hết sức to lớn và nặng nề đặt ra là phải đào tạo ra được một nguồn nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng đáp ứng được nhu cầu về lao động của đất nước trong thời đại công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập toàn cầu này
Sự nghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước đặt ra nhiệm vụ cho giáo dục phải đào tạo ra những con người có sức khoẻ, có đạo đức, có tri thức
và trình độ chuyên môn, có năng lực học tập thường xuyên và học tập suốt đời, năng động, sáng tạo để thực hiện tốt công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến vị trí và vai trò của giáo dục
và luôn xác định là quốc sách hàng đầu Phát triển nguồn nhân lực luôn được coi là nhiệm vụ đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và là nhiệm
vụ trung tâm của chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo ở nước ta Điều 2
Mục tiêu giáo dục (Luật Giáo dục 2005) ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trang 9Trên thực tế, chúng ta đã có nhiều giải pháp phát triển giáo dục về cả nội dung đào tạo, phương thức đào tạo để đáp ứng đòi hỏi của xã hội về nguồn nhân lực, đồng thời cũng tạo cơ hội cho mọi người đều được học tập và học tập suốt đời, tiến tới xây dựng một xã hội học tập Một trong các giải pháp đã được sử dụng là các hoạt động liên kết đào tạo (LKĐT) hệ không chính quy (KCQ) giữa các địa phương với các trường ĐH, CĐ và TC đã diễn ra mạnh
mẽ, đa dạng trong nhiều năm qua
Hoạt động LKĐT hệ KCQ là tất yếu và có một vai trò to lớn đối với công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, đặc biệt là các chương trình phát triển kinh tế xã hội các địa phương vùng sâu, vùng xa, các địa phương khó khăn về mọi mặt và đang thiếu trầm trọng nguồn nhân lực LKĐT hệ KCQ tại địa phương (trong đó có hệ VLVH và hệ từ xa là phổ biến) được xem như lời giải cho bài toán về đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế- xã hội hiện nay
Đào tạo KCQ đã tạo cơ hội học tập và học tập suốt đời cho mọi người, góp phần xây dựng xã hội học tập theo chủ trương của Nhà nước Đồng thời cũng đáp ứng được đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho các địa phương trong khi số lượng được đào tạo chính quy là rất hạn chế ngay cả ở những vùng trung tâm và các thành phố lớn Hơn nữa, đào tạo KCQ phù hợp với hoàn cảnh của phần đông những người đang làm việc, vì thời gian học “mềm dẻo”, linh hoạt, gắn nhiều với thực hành ngay chính công việc của họ Chương trình không quá nặng về lý thuyết, kỹ năng thực hành và liên hệ thực tế được tăng cường, được người học vận dụng ngay vào chính công việc đang làm của họ
Vì vậy, người học có hứng thú, thấy được sự thiết thực của việc học, nội dung
và chất lượng đào tạo phần nào đã đáp ứng được cho người học
Ngày 18/5/2005, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 112/2005/QĐ phê duyệt đề án “Xây dựng xã hội học tập” Quyết định của Thủ tướng là căn cứ pháp lý cho mọi người được hưởng quyền lợi về học tập và học tập suốt đời Đây cũng là căn cứ và cơ sở thuận lợi cho các hình thức tổ
Trang 10chức giáo dục đào tạo KCQ tiếp tục phát triển, hoàn thiện, đổi mới và không ngừng nâng cao chất lượng
Xuất phát từ thực tiễn trên, ở nước ta trong nhiều năm qua hoạt động LKĐT hệ KCQ giữa các trường ĐH, CĐ, TCCN với các địa phương đã diễn
ra phổ biến Hoạt động này đã đóng góp một vai trò to lớn đối với việc đào tạo
ra nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu về lao động, góp phần phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương nói riêng và đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung trong thời gian qua, hiện nay và cũng như cả về tương lai Nguồn nhân lực mà hoạt động LKĐT đã và đang bổ sung tích cực đáng kể vào số lượng lao động cần có mà đào tạo chính quy và các loại hình đào tạo khác chưa đáp ứng được và đã giải quyết được cho một số lượng lớn người trong độ tuổi lao động ở các địa phương có cơ hội tìm kiếm được việc làm, thay đổi việc làm, giảm số người thất nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn tay nghề cho lao động tại chỗ
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, LKĐT hệ KCQ giữa các địa phương với các trường ĐH cũng vẫn còn bộc lộ những yếu kém, bất cập của thực tiễn chất lượng đào tạo hiện nay so với đòi hỏi và yêu cầu đặt ra như:
tổ chức và quản lí đào tạo nói chung, quản lí quá trình học tập của người học nói riêng chưa chặt chẽ, buông lỏng quản lí, đào tạo ồ ạt, chất lượng đào tạo thấp, chưa được đảm bảo, chưa đáp ứng được yêu cầu và mong đợi của xã hội, còn để gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội…
Từ thực tiễn trên, vấn đề đặt ra là bằng cách nào để khắc phục được những hạn chế, yếu kém hiện nay và đồng thời cũng là để đáp ứng quản lý trước sự phát triển nhanh chóng về quy mô của hoạt động LKĐT Chúng ta cần phải cải thiện và nâng cao chất lượng đào tạo hệ KCQ Một trong những biện pháp cơ bản phải làm ngay đó là sử dụng những biện pháp quản lí hoạt động học tập của người học một cách khoa học, phù hợp với đặc thù đối tượng người học, phù hợp với đặc thù ngành học và yêu cầu mục tiêu đào tạo đề ra,
Trang 11phát huy tính chủ động sáng tạo của người học Để làm được điều này, ngành
và các cơ sở giáo dục đào tạo đã đề ra nhiều văn bản quy định và nhiều giải pháp mang tính chất đồng bộ, triệt để trong khâu quản lý hoạt động dạy và học
hệ KCQ: Quyết định 36/2007/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 06 năm 2007 về
việc “ Ban hành Quy chế đào tạo ĐH và CĐ hình thức VLVH”; Quyết định
Số 42/2008/ QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 7 năm 2008 về việc ban hành “Quy định về LKĐT trình độ TC chuyên nghiệp, CĐ, ĐH”
Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định là một trong những cơ sở đào tạo và LKĐT nguồn nhân lực lớn cho tỉnh Nam Định và các tỉnh nam đồng bằng Sông Hồng Hoạt động LKĐT hệ KCQ của Trung tâm trong những năm qua đã diễn ra mạnh mẽ Hiện nay Trung tâm đang liên kết với 17 trường ĐH,
4 trường CĐ và THCN, mỗi năm đào tạo hàng ngàn học viên bậc ĐH, CĐ, THCN hệ KCQ Trong những năm qua, Trung tâm đã triển khai thực hiện một
số biện pháp quản lý đào tạo, trong đó chú trọng vào quản lý hoạt động học tập của học viên Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn còn bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục, cần đổi mới để cho chất lượng đào tạo được nâng cao bằng mục tiêu đề ra Tìm ra các biện pháp quản lý học tập của học viên hệ KCQ là
để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, nghĩa là đồng thời vừa để đảm bảo việc thực hiện quy chế đào tạo, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người học, những biện pháp này vừa phải phù hợp với yêu cầu của chương trình đào tạo
và vừa phải phù hợp với đặc thù của đối tượng người học
Xuất phát từ thực tiễn đòi hỏi hoàn cảnh trên và công việc bản thân đang là người trực tiếp làm công tác quản lý đào tạo ở Trung tâm, tác giả thấy cần phải xây dựng những biện pháp quản lý quá trình học tập của học viên hệ
đào tạo KCQ nên đã chọn đề tài “Biện pháp quản lý học tập của học viên các
lớp LKĐT hệ KCQ ở Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định” làm đề tài
Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý học tập của học viên góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động LKĐT và cải thiện chất lượng đào tạo hệ KCQ của Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho tỉnh Nam Định
3 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động học tập của học viên các lớp LKĐT hệ KCQ ở Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý học tập của học viên các lớp LKĐT hệ KCQ ở Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay
5 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay công tác quản lý học viên các lớp liên kết hệ KCQ ở Trung tâm ĐTBD tậi chức tỉnh Nam Định chưa toàn diện và đồng bộ, điều này ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo và việc thực hiện các mục tiêu phát triển của Trung tâm Nếu thực hiện các biện pháp quản lý học viên một cách đồng bộ, khoa học, phù hợp với đòi hỏi của chương trình đào tạo và với đặc thù đối tượng người học thì chất lượng và hiệu quả đào tạo của Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định sẽ có những cải thiện rõ rệt
6 Phạm vi nghiên cứu
Công tác quản lý đào tạo, công tác quản lý LKĐT, quản lý học tập của học viên ở Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay
7 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu
-Tìm hiểu một số vấn đề lý luận liên quan tới quá trình học và quản lý việc học tập của học viên hệ KCQ
-Điều tra và đánh giá thực trạng công tác quản lý học tập của học viên các lớp LKĐT hệ KCQ ở Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay
Trang 13-Đề xuất một số biện pháp quản lý quá trình học tập của học viên hệ KCQ ở Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích, tổng
hợp và hệ thống các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, Luật Giáo dục, các văn bảnmang tính chất quy phạm pháp luật của Nhà nước; các tài liệu lý luận về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý đào tạo hệ KCQ
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng các phương pháp lấy
mẫu điều tra bằng phiếu hỏi; Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại với giảng viên các trường ĐH, học viên, cán bộ Trung tâm để thu thập thông tin và đánh giá thực trạng tổ chức quản lý học viên hệ KCQ ở Trung tâm ĐTBD tại chức tỉnh Nam Định; Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát quá trình dạy và học của giảng viên, học viên
8.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu chuyên gia: trao đổi, phỏng vấn, trưng
cầu ý kiến cán bộ quản lý của nhà trường và các cơ sở LKĐT
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương1: Một số vấn đề lý luận về quản lý học tập của học viên hệ
không chính quy
Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý học tập của học viên hệ
không chính quy ở Trung tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định
Chương 3: Một số biện pháp quản lý học tập của học viên hệ không
chính quy ở Trung tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định
Trang 14Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỌC TẬP
CỦA HỌC VIÊN HỆ KHÔNG CHÍNH QUY
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Giáo dục không chính quy (KCQ) trong lịch sử qua những tên gọi như Bình dân học vụ (1945 - 1959), Bổ túc văn hóa (1959 - 1990), Giáo dục bổ túc
và tại chức (1990 - 1994) và Giáo dục thường xuyên (1994 đến nay) Ở bất cứ giai đoạn nào, với tên gọi nào giáo dục KCQ cũng mang đặc thù chung của ngành học và luôn có những nét riêng biệt
Ngày nay, giáo dục KCQ đáp ứng xu thế học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho tất cả mọi người Đây là một đặc trưng mới của xã hội hiện đại - thời đại đặc trưng bởi sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, thời đại của bùng nổ thông tin, thời đại của xu thế toàn cầu hoá và được đặc trưng bởi kinh tế tri thức, bởi nền văn minh trí tuệ…Kiến thức một người học trong nhà trường chính quy, kể cả học ĐH, sau ĐH trở nên ít ỏi, nhanh chóng lạc hậu và không đủ dùng trong suốt cuộc đời Để tồn tại trong thời đại ngày nay, mỗi người phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời (HTTX, HTSĐ) dưới nhiều hình thức, phương thức khác nhau Học tập không chỉ dành riêng cho trẻ em, cho một độ tuổi nào đó, mà học tập còn dành cho người lớn, cho tất cả mọi người Học tập không chỉ diễn ra một lần mà diễn ra suốt đời Người ta học văn hoá, học kĩ năng sống, học không chỉ để biết, mà học để làm việc, học để tồn tại và cùng nhau chung sống Học diễn ra mọi lúc, mọi nơi, với mọi nội dung, mọi hình thức khác nhau, học không chỉ diễn ra ở lớp, học trong sách vở mà học ngoài trường, ngoài cuộc sống, qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua mạng internet, qua giáo dục từ xa…
Sự chuyển dịch từ một hệ thống giáo dục chủ yếu dành cho trẻ em, cho một độ tuổi nhất định sang một hệ thống giáo dục hướng tới “giáo dục cho mọi người”, “giáo dục suốt đời” và xã hội học tập là xu thế tất yếu để đáp ứng nhu cầu HTTX, HTSĐ ngày càng tăng, ngày càng đa dạng của mọi người dân
Trang 15Từ thực tế trên dẫn đến sự bùng nổ của mô hình đào tạo KCQ cho người lớn Có thể thấy qua những con số: Nếu như năm 1997 chỉ có 242.000 học viên theo học KCQ, thì đến năm 2007 đã lên tới gần 359.000 học viên Đến đầu năm 2007 đã có tới 200 (trong tổng số 357 trường ĐH, CĐ) có tổ chức đào tạo KCQ
Đào tạo KCQ đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giáo dục của nước nhà, cung cấp bổ sung trực tiếp nguồn nhân lực tại chỗ cho các địa phương Tuy nhiên chất lượng đào tạo của hệ KCQ vẫn chưa được đảm bảo, chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội đặt ra, đặc biệt là chất lượng giáo dục của các lớp KCQ ở các địa phương Nguyên nhân có thể chỉ ra là:
- Trình độ quản lý đào tạo, quản lí học tập của học viên còn yếu kém và lỏng lẻo
- Tâm lý coi trọng bằng cấp làm cho người học chạy theo bằng cấp
- Sự yếu kém, thiếu thốn về cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học
Sự yếu kém về chất lượng này đã được nhiều dư luận xã hội và báo chí quan tâm Bộ Giáo dục và đào tạo vẫn thường xuyên tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đào tạo hệ KCQ Đã có rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng Nhiều ý kiến phản đối yêu cầu giảm thiểu đáng kể tiến tới loại bỏ hoàn toàn loại hình đào tạo này Bên cạnh đó là đại đa số ý kiến ủng hộ chủ trương của Bộ Giáo dục và đào tạo tiếp tục cho đào tạo và phát triển loại hình đào tạo này được đưa ra Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã kết luận rằng chưa thể dừng hẳn loại hình đào tạo này vì như vậy sẽ đi ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước Chúng ta cần thảo luận theo hướng tích cực để tìm ra giải pháp hữu hiệu quản lý chặt chẽ, nâng cao chất lượng đào tạo
Theo báo cáo của Vụ ĐH & Sau ĐH (Bộ GD&ĐT) tại Hội nghị tổng kết đào tạo ĐH – CĐ hệ KCQ được tổ chức ngày 21/2/2008, hiện cả nước có
Trang 16200 trường tổ chức đào tạo KCQ (vừa học, vừa làm hay còn gọi là hệ tại chức; đào tạo từ xa và đào tạo chuyên tu cũ) Trong số này, có 106 trường ĐH và 94 trường CĐ
Số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT cho thấy, rất nhiều trường đã tuyển sinh vượt nhiều lần so với chỉ tiêu được giao Hệ tại chức của ĐH Kinh tế Quốc dân tuyển vượt 137,2%, hệ chuyên tu của trường này cũng vượt tới 142,8% so với chỉ tiêu của Bộ
Cũng tại hội nghị Tổng kết Công tác đào tạo KCQ giai đoạn 2003 -
2007 do Bộ GDĐT tổ chức sáng 21/2/2008 tại Hà Nội, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh yêu cầu "thời gian tới, phải làm sao để
cả người học lẫn nhà trường, gia đình cùng quan tâm tới vấn đề chất lượng của
hệ đào tạo KCQ", các cơ sở đào tạo phải khuyến khích người học đạt năng lực thực sự, học không phải vì mảnh bằng: "Người ta không có trình độ ĐH mà giao cho những việc đòi hỏi trình độ ĐH là gây nguy hại cho xã hội, thiết kế máy thì máy chạy không được, thiết kế cầu thì cầu không an toàn "
Lấy danh nghĩa là đa dạng hóa giáo dục, nhiều trường ĐH, CĐ lại tập trung vào đào tạo hệ KCQ, cả nước có khoảng 900.000 học viên KCQ, chiếm 50% số học viên ĐH, CĐ, thậm chí có trường số học viên KCQ lên đến 65% Những con số trên thật sự đáng báo động về chất lượng giáo dục ĐH”
Để "chỉnh đốn" lại hệ đào tạo này, ông Đỗ Văn Xê - Phó Hiệu trưởng
ĐH Cần Thơ kiến nghị Bộ quy định việc tuyển sinh hệ KCQ của các trường bằng hình thức trắc nghiệm khách quan để tránh tình trạng gian lận, nhờ vả, chạy chọt Lãnh đạo Trường ĐH Bách khoa TP Hồ Chí Minh đề xuất việc tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ thay cho việc học theo niên chế cứng nhắc Ông Lê Ngọc Nghinh - Giám đốc Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa kiến nghị
bộ phải có những thể chế quy định không cho phép mở lớp LKĐT đối với các
cơ sở LKĐT không đảm bảo cơ sở vật chất, thiếu nhân lực quản lý, thiếu tư cách pháp nhân Bộ GDĐT cũng đưa ra một loạt giải pháp đối với cấp quản lý
Trang 17nhà nước, đối với nhà trường và địa phương nhằm đưa công tác đào tạo KCQ
"đi vào nền nếp và có chất lượng"
Chất lượng chung của đào tạo KCQ chưa đảm bảo, chưa nhận được tin tưởng của người sử dụng" là nhận xét của chính Bộ GD-ĐT về công tác đào tạo KCQ 5 năm qua - hệ đào tạo có nhiều điều tiếng hiện nay
Chất lượng không tương xứng với tấm bằng Nhận định thẳng thắn này của ông Phạm Văn Thể - Trưởng khoa ĐH Tại chức, ĐH Bách khoa Hà Nội
có thể coi là đánh giá chính xác về tình hình đào tạo KCQ hiện nay
Tuy nói rằng kỹ sư hệ tại chức ĐH Bách khoa HN được đánh giá cao so với các trường khác, nhưng so với yêu cầu thì còn nhiều điểm chưa đáp ứng được Kỹ
sư ra trường tuy đa số có bằng khá nhưng chất lượng không tương xứng
Nhu cầu học lớn, nhiều trường ĐH, CĐ xem đào tạo KCQ là một nguồn thu đáng kể (được ví như nồi cơm của các trường ĐH), hệ quả là việc mất cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo khi khối kinh tế chiếm tới 37%, khối sư phạm chiếm 26,3% những khối kỹ thuật - công nghệ chỉ chiếm 15,68%, khối y - dược 1,27%
Một trong những nguyên nhân cơ bản là ý thức của nhiều người học chưa cao, dễ thoả hiệp theo những tiêu cực trong đào tạo như cắt xén thời lượng, giảm bớt giờ học Một số học viên trẻ thường chỉ vào học hệ tại chức khi không thi đỗ vào hệ chính quy nên tinh thần, ý thức học tập yếu Kiến thức thực tế yếu còn là tình trạng phổ biến của các sinh viên tuy đã có việc làm nhưng khi học lại học trái ngành nghề mình đang làm việc
Một bộ phận không yêu thích công việc của mình đang làm, xin học ngành khác để có cơ hội chuyển sang làm việc khác Tuy nhiên, "nhân vật" chính góp phần làm cho "chất lượng chung của đào tạo KCQ chưa đảm bảo", chính là do các cơ sở đào tạo, nhất là ở các địa phương chưa chấp hành, thậm chí vi phạm các quy định trong lĩnh vực đào tạo, nhất là việc quản lý quá trình học tập của học viên
Trang 18Điều kiện học tập không bảo đảm, thời gian, chương trình đào tạo bị cắt xén nhiều Ngay cả những trường ĐH đã tổ chức tuyển sinh và đào tạo chính quy rất nghiêm túc và được đánh giá có chất lượng cao như Trường ĐH Ngoại thương, Trường ĐH Tài chính kế toán, ĐH Hồng Đức, ĐH Hải Phòng nhưng khi tổ chức thi tuyển sinh VLVH đã thực hiện việc ra đề thi và coi thi chưa nghiêm túc
Không chỉ bất tuân “luật lệ”, nhiều trường vì chạy theo số lượng mà chưa chú ý đến chất lượng đào tạo Báo cáo của Bộ GD&ĐT cũng cho biết, hầu hết lớp LKĐT tại chức xa trường, học theo hình thức cuốn chiếu, thời khoá biểu quá tải (10 tiết/ngày, có nơi 15 tiết /ngày) Một số trường không cung cấp chương trình đào tạo toàn khoá cho bên liên kết và người học để cùng phối hợp giám sát, quản lý như quy định
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Đình Cúc - Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền nhận định, chất lượng đào tạo hệ tại chức nói riêng và KCQ nói chung, hiện có nhiều vấn đề, như: Thi đầu vào ở nhiều nơi chưa đảm bảo, ảnh hưởng đến chất lượng Đó là chưa nói đến thực trạng ở hệ chính quy, hàng chục, thậm chí hàng trăm người mới lấy một, nhưng tỷ lệ ấy ở tại chức rất thấp (hơn 100 người, lấy đến 80 người)
Giám đốc Học viện Báo chí & Tuyên truyền cho biết, những năm học qua, tỷ lệ học viên hệ tại chức tốt nghiệp của trường trung bình đạt trên 50%, lớp cao nhất đạt 70% Nếu làm cẩn thận, nghiêm túc, khách quan thì kết quả tốt nghiệp hệ tại chức ở các trường cũng không thể cao như hiện nay
Cùng băn khoăn về chất lượng đào tạo, ông Phạm Ngọc Trúc - Phó Chánh Thanh tra, Bộ GD&ĐT khẳng định: Một số đơn vị triển khai đồng thời quá nhiều lớp LKĐT, số lượng học viên quá đông như ĐH Kinh tế Quốc dân, Trung tâm GDTX tỉnh Phú Yên, Trung tâm Tại chức Cần Thơ…, dẫn đến khó khăn trong quản lý, không đảm bảo chất lượng đào tạo
Trang 19Đề cập đến vấn đề này, ông Nguyễn Thành Độ, Phó hiệu trưởng ĐH Kinh tế Quốc dân cho rằng, chưa thể rút ngắn được khoảng cách giữa đào tạo chính quy và đào tạo KCQ trong thời gian ngắn Số lượng học viên tăng nhanh, trong khi tỷ lệ giáo viên hầu như không đổi, dẫn đến thực trạng tỷ lệ học viên/giảng viên lớn hơn quy định của Bộ GD&ĐT rất nhiều
Trước thực trạng trên, Bộ GD&ĐT đã đề ra một số giải pháp khắc phục Theo đó, ở khâu tuyển sinh, đề thi hệ tại chức của các trường ĐH, CĐ phải được lấy từ ngân hàng đề của Cục Khảo thí & Kiểm định chất lượng giáo dục của Bộ Riêng đề thi kết thúc học phần, kết thúc môn học, các trường thống nhất dùng ngân hàng đề thi hệ chính quy của trường Đề thi này do Bộ kiểm tra, thẩm định, quy định điểm sàn tối thiểu để các trường quyết định điểm tuyển… Cùng với đó, các địa phương phải có trách nhiệm điều tra nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội, năng lực thực tế
và điều kiện của các cơ sở đào tạo để mở các ngành nghề hợp lý
Học chỉ lấy bằng cấp là lãng phí Ý kiến của Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân cho rằng gần đây dư luận xã hội rất bức xúc về chất lượng học viên tốt nghiệp hệ KCQ Có môn học viên viên hệ này chỉ học trong một tuần, thầy giáo rút về thành phố là xong, trong khi học viên chính quy phải học suốt một học kỳ mới đủ thông hiểu và có khả năng vận dụng vào thực tế
Như vậy chất lượng yếu kém của chất lượng đào tạo KCQ là có thật Chúng ta đã tìm ra nhiều nguyên nhân, song một trong các nguyên nhân cơ bản là chưa có những biện pháp quản lý đào tạo hiệu quả, phù hợp, trong đó quản lý người học là mắt xích quan trọng quyết định đến chất lượng hệ đào tạo KCQ này Chính vì vậy, hơn lúc nào hết đối với loại hình đào tạo hệ KCQ là phải tìm ra giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt này Những đặc điểm rất nhạy cảm về loại hình đào tạo này bao gồm: sàng lọc yếu, không đủ quỹ thời gian để chuyển tải nội dung, học viên lại
Trang 20thường xuyên bận rộn công việc, không đầu tư cho việc học, tỷ lệ tốt nghiệp khá nhưng xã hội và chính học viên chưa hài lòng Như vậy, các trường đang đối diện với một thách thức là hướng về chất lượng hay vẫn là tiếp tục đào tạo theo kiểu “phổ cập” như hiện nay Rất nhiều các cơ sở liên kết chưa thật sự hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình là phối hợp cùng với các trường ĐH, CĐ trong khâu tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo, hoạt động dạy và học Các cơ sở liên kết đó mới chỉ chú trọng tới việc thu lợi nhuận mà quên mất trách nhiệm của mình
Yêu cầu trước mắt là cần có các biện pháp quản lý toàn diện quá trình hoạt động học tập của học viên từ phía các cơ sở liên kết để hiệu quả và chất lượng đào tạo hệ KCQ được cải thiện Quản lý người học đảm bảo suốt quá trình học và thật chặt và nghiêm túc từ khâu xét duyệt hồ sơ dự thi, thi tuyển sinh, quá trình dạy và học, thi kiểm tra và thi tốt nghiệp
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.1.1 Quản lý
* Khái niệm quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội, là một dạng hoạt động đặc thù của con người, là sản phẩm và là yếu tố gắn chặt với hợp tác lao động Quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng hơn tầm quốc gia, quốc tế thì đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó
C Mác đã viết: “Tất cả các lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự
Trang 21chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát học từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc tì cần phải có nhạc trưởng” để nêu bật
sự tất yếu và vô cùng quan trọng của hoạt động quản lí trong quá trình phát triển của xã hội loài người
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên rất phổ biến và được sự quan tâm đặc biệt, Khoa học quản lý được coi là chìa khoá vàng cho những thành công của cá nhân hay tổ chức Có thể nói hoạtt động quản lí vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, nó điều khiển một hệ thống xã hội ở tầm vĩ môcũng như vĩ mô, vì vậy quản lí được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau:
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoà/i tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến.” [18,tr.15]
Theo Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định.” [22,tr.8]
Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.” [2,tr.17]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “ Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [9, tr.3]
Trang 22Qua những định nghĩa trên, ta thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau:
- Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể và khách thể quản lý
- Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương
hỗ nhau, chủ thể làm nảy học các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy học các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý
Do đó: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm khai thác có hiệu quả những tiềm năng và cơ hội tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức đặt ra Quá trình tác động này được vận hành trong một môi trường xác định
Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua
sự nỗ lực của người khác Cũng có ý kiến cho rằng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích
đã định Tuy vậy, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người Quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Dù được hiểu theo cách nào về quản lý cũng cần quan tâm một số điểm sau:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận của chủ thể quản lý và khách thể quản lý, là quan hệ không đồng cấp, có tính bắt buộc
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin
Trang 23Tóm lại: Con người là độc đáo và phức tạp, họ có thể hoặc là đóng góp cho sự tiến bộ của tổ chức hay là nguyên nhân làm cho tổ chức bị tiêu huỷ Do
đó, quản lý vừa là một khoa học vừa có tính nghệ thuật, nó đóng một vai trò
vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động của đời sống con người Quản lý là
sự chi phối và dẫn dắt mọi hoạt động của cá nhân, tổ chức đi đến một đích nhất định trong từng giai đoạn, hay xuyên suốt thời gian – không gian và ở đó tồn tại những đối tượng điều khiển được và cả những đối tượng không điều khiển được
* Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý Chức năng quản lý có chức năng cơ bản, chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau bao gồm:
(a), Lập kế hoạch (hoạch định chiến lược): Phán đoán trước toàn bộ quá
trình và các hiện tượng mà tương lai có thể xảy ra mang tính định hướng, chuẩn bị các giải pháp thực hiện hoạt động mong muốn này bằng cách xác định rõ:
- Hoạt động nào mà tổ chức muốn thực hiện
- Cách thực hiện các hoạt động này được thực hiện như thế nào, khi nào thì thực hiện
- Ai sẽ là người thực hiện, nguồn lực nào cần có để thực hiện các hoạt động đó (tiền bạc, thiết bị, con người)
- Các hoạt động này được thực hiện ở đâu, khi nào kết thúc
Việc lập kế hoạch sẽ kết nối khoảng trống giữa vị trí hiện tại với mục tiêu mà tổ chức mong muốn đạt đến trong tương lai Chức năng này được coi
là chức năng cơ bản nhất của tất cả các chức năng quản lý Nhà quản lý lập kế
Trang 24hoạch bao gồm cả việc tuyển chọn nhân viên, tổ chức các nguồn lực, kiểm tra
và phối hợp con người và các hoạt động để đảm bảo đạt được các mục tiêu
(b), Tổ chức: Tổ chức là đảm bảo tất các các hoạt động và các tiến trình
được sắp xếp, giúp cho một tổ chức có thể đạt được các mục tiêu đề ra Nội dung quan trọng nhất của tổ chức là tìm được đúng người, đúng việc, xác định được trách nhiệm của họ, thiết kết một tổ chức và cơ cấu đảm bảo các nhân viên đều hiểu rõ họ làm việc gì, ở đâu và với ai hay báo cáo cho ai, phải rõ ràng quyền lực, trách nhiệm để tránh tình trạng hỗn loạn Đảm bảo một môi trường làm việc lành mạnh, tích cực và khuyến khích làm việc hiệu quả
Tiến trình tổ chức gồm 5 bước:
- Xem xét các kế hoạch và mục tiêu
- Xác định các hoạt động
- Phân loại và nhóm các hoạt động
- Phân bổ công việc và các hoạt động
- Đánh giá kết quả để quyết định xem có cần những thay đổi hay điều chỉnh nào không
(c), Lãnh đạo điều khiển (phối hợp): Các nhà quản lý phải là những
người lãnh đạo hiệu quả, họ phải học cách làm việc với người khác, cách chi phối và động viên người khác để đảm bảo công việc được thực hiện Các công nhân, nhân viên trong mỗi tổ chức đều có cách suy nghĩ riêng và cũng sẽ làm những việc họ muốn nếu họ không thích những mệnh lệnh hoặc các chỉ dẫn của các nhà quản lý đưa ra
Chức năng quản lý điều khiển của cán bộ bao gồm:
(d), Kiểm tra: Trong tất cả các tổ chức phải có một mức độ kiểm tra
nhất định đối với con người, tài chính, thời gian và các hoạt động Thường các nhà quản lý hay nhầm lẫn phối hợp với kiểm tra Phối hợp hàm ý là một cách
Trang 25tiếp cận mềm dẻo để kiểm tra và kiểm tra ngụ ý là các hoạt động được giám sát để đảm bảo sự tuân thủ các luật và quy định
Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý Để cho chức năng này có hiệu quả, nhà quản lý phải thiết lập được các tiêu chuẩn, quy trình kiểm tra, đo lường và phân tích các kết quả các nhà quản lý xác định được là tổ chức có đạt được các mục tiêu đề ra hay không, và có được liên kết chặt chẽ với việc lập kế hoạch hay không, và nếu không đạt được thì phải cải thiện việc thực hiện nhằm tăng cơ hội đạt được mục đích
Đạt được các mục tiêu của tổ chức có hiệu quả
Nguồn lực con người
Nguồn lực tài chính
Nguồn lực vật chất
Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý cơ bản
Qua việc nghiên cứu về các chức năng cơ bản của quản lý, sau khi tìm hiểu và nắm bắt được nội dung cơ bản về các chức năng quản lý, chúng ta còn thấy được mối quan hệ mật thiết giữa các chức năng cơ bản của quản lý giáo dục Các chức năng này gắn bó mật thiết với nhau, đan xen lẫn nhau, khi thực hiện chức năng này thường cũng có mặt các chức năng khác ở các mức độ
Trang 26khác nhau Trong mọi hoạt động quản lý giáo dục, thông tin quản lý giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như là “mạch máu” của hoạt động quản lý giáo dục, điều này được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý giáo dục 1.2.1.2 Quản lý giáo dục và Quản lý nhà trường
a) Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của bộ máy quản lý giáo dục đến hoạt động giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt đến kết quả mong đợi Quan hệ căn bản của hoạt động quản lý giáo dục là quan hệ của người quản lý với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục Các mối quan
hệ khác biểu hiện trong mối quan hệ giữa các cấp bậc quản lý, giữa người với người (giảng viên - học viên), giữa con người với cơ sở vật chất và điều kiện
Lập kế hoạch
Thông tin quản lý
Chỉ đạo
Tổ chức Kiểm tra đánh giá
Môi trường bên ngoài
Trang 27phục vụ giáo dục Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung
Quản lý giáo dục (QLGD) là sự vận dụng khoa học quản lý vào hoạt động giáo dục để thực hiện mục tiêu giáo dục như mong muốn Quan niệm về QLGD cũng được hiểu theo nhiều hướng khác nhau:
- Theo Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển GDTX, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân.” [2, tr.31]
- Theo Đỗ Hoàng Toàn: “QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính … nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng.” [24, tr.29]
Có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Trong hoạt động giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm, họ vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý Mọi tác động của quản lý giáo dục đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ Do đó, một lần nữa phải khẳng định rằng, con người là nhân tố quan trọng nhất trong quản
lý giáo dục
b) Quản lý nhà trường
Nhà trường với tư cách là một thể chế nhà nước – xã hội, là nơi trực tiếp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ và giáo dục đào tạo lại cho nhiều đối tượng có nhu cầu trong xã hội Tuỳ thuộc vào hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia mà quy định cấp bậc học và phạm vi, quy mô cũng như các cách thức hoạt động của mỗi nhà trường
Trang 28Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt đặc thù của xã hội, được hình thành từ nhu cầu mang tính tất yếu khách quan của xã hội nhằm thực hiện chức năng truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội để đạt mục tiêu tồn tại và phát triển của cá nhân, phát triển của cộng đồng
Quản lý xã hội lấy tiêu điểm là QLGD thì QLGD phải coi nhà trường là nút bấm và quản lý nhà trường phải lấy quản lý việc dạy và học là khâu cơ bản, việc dạy học xuất phát và hướng vào người học
Theo điều 48 của Luật giáo dục năm 2005: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nằm phát triển sự nghiệp giáo dục.” [12, tr.21]
- Quản lý nhà trường bao gồm hai loại:
+ Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường
+ Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường
- Quản lý nhà trường cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên hệ trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó
- Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động: quản lý giảng viên; quản lý học viên; quản lý quá trình dạy học – giáo dục; quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường học; quản lý tài chính trường học; quản lý lớp học xem như nhiệm vụ của giảng viên quản lý
- Quản lý trường học là giữ ổn định và tìm cách đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực phục vụ cho việc tăng cường chất lượng và hiệu quả giáo dục
c) Mục tiêu quản lý trường học
Trang 29Mục tiêu quản lý trường học là nhằm đạt được chỉ tiêu cho mọi hoạt động của nhà trường được dự kiến trước khi triển khai công việc đó Mục tiêu quản lý trường học thường được cụ thể hoá trong kế hoạch năm học của nhà trường
Trong quản lý cần xác định các mục tiêu, bộ phận chính xác để từ đó có các biện pháp quản lý tốt hơn và cũng là thực hiện phát huy tốt công tác kiểm tra hoạt động chuyên môn ở nhà trường
Mục tiêu bộ phận bao gồm:
* Quản lý đảm bảo hiệu lực pháp chế về GDĐT
Đảm bảo sao cho các quy định trong hệ thống pháp chế, các quy định pháp luật được thực hiện đầy đủ và đúng đắn trong dạy học, trước hết là trong khâu thiết kế chương trình, soạn bài giảng, giảng bài và đánh giá kết quả dạy học của giảng viên
* Phát huy và điều hành có hiệu quả bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học
Nâng cao được trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ giảng viên, nhằm tạo cho họ có đủ điều kiện thích ứng với việc cải tiến phương pháp dạy học Thiết lập được cơ cấu tổ chức của trường một cách phù hợp và xây dựng được cơ chế vận hành hợp lý cho nhà trường, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho từng bộ phận, từng cá nhân dễ dàng liên hệ, phối hợp và hỗ trợ sư phạm cho nhau khi chuẩn bị bài giảng, giảng bài và đánh giá kết quả dạy học
* Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn tài lực và vật lực dạy học
Thực hiện chính sách xã hội hoá giáo dục nhằm huy động tối đa tài lực
và vật lực từ cộng đồng và toàn thể xã hội, các tổ chức nước ngoài, các nguồn vốn vay ưu đãi, các nguồn vốn tài trợ khác bổ trợ thêm cho nguồn và ngân sách Nhà nước cấp, nguồn học phí cho các nhà trường
Tận dụng khoa học, triệt để công suất, năng lực cơ sở vật chất và thiết bị dạy học Sử dụng nguồn tài lực, vật lực đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm
Trang 30* Nâng cao chất lượng thông tin và môi trường quản lý dạy học
Xây dựng hệ thống thông tin quản lý dạy học có chất lượng, đồng thời giải quyết các mối quan hệ giữa nhà trường – xã hội, nhằm tạo môi trường dạy học thuận lợi nhất trong đó chú trọng tới việc tranh thủ các cơ hội thuận lợi từ cộng đồng và xã hội Giải quyết sự cạnh tranh, thực hiện tự vệ hay phòng ngừa những tác động bất lợi của thiên nhiên, xã hội và các yếu tố khác đối với hoạt động dạy học trong nhà trường
1.2.2 Quản lý nhà nước về giáo dục
1.2.2.1 Khái niệm
Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với giáo dục Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước về giáo dục được đặt trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý
1.2.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục
Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục;
- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác;
- Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản,
in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ
- Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục;
Trang 31- Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;
- Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;
- Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;
- Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục;
- Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
- Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục
1.2.2.3 Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền
và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; hằng năm báo cáo Quốc hội
về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục
- Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản
và hiệu quả giáo dục tại địa phương
Trang 321.2.3 Quá trình đào tạo và quản lí quá trình đào tạo
1.2.3.1 Quá trình đào tạo
a) Khái niệm về đào tạo
Đào tạo thường được hiểu là cung cấp, rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp, khoa học kĩ thuật, công nghệ là việc tạo nguồn nhân lực để giải quyết một vấn đề, làm một việc gì đó để đạt kết quả Đó có thể là một nhiệm
vụ đơn giản, một hệ thống nhiều nhiệm vụ, có thể là một nghề, có thể là một
dự án
Hai nhiệm vụ chính của quá trình đào tạo là:
- Cung cấp tiềm năng, tiềm lực cho người học;
- Cung cấp khả năng vận dụng những tiềm năng đó thành kĩ năng riêng của mình trong thực tiễn
Các nhóm loại hình đào tạo:
- Đào tạo gắn với một vấn đề, một kĩ năng hoặc một dự án cụ thể
- Đào tạo dạy nghề để nâng cao một tay nghề cụ thể nào đó hoặc những hành động, thao tác cụ thể để làm một việc cụ thể
- Đào tạo chung để nâng cao trình độ
a) Khái niệm về quá trình đào tạo:
Quá trình đào tạo được hiểu theo nghĩa hẹp, là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt động của nhà trường Do đó, quản lí quá trình đào tạo là bộ phận chủ yếu nhất trong toàn bộ công tác quản lí của nhà trường
Sự phân hoá của quá trình đào tạo trong nhà trường chính là nền tảng để phân hoá chức năng, xác định cơ chế tổ chức quản lí và tổ chức chỉ đạo hoạt động đào tạo trong nhà trường
Quá trình đào tạo do nhà trường quản lí nhưng có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức đào tạo khác hoặc các tổ chức, cơ quan khác mà học viên có điều kiện tham gia hoạt động
Trang 33Quản lí quá trình đào tạo có nhiệm vụ quản lí sự hoạt động của cán
bộ, giảng viên, học viên, Vì vậy, có thể xem quản lí đào tạo về thực chất đó
là quản lí các hoạt động của giảng viên, học viên trong việc thực hiện kế hoạch và nội dung chương trình đào tạo của nhà trường
Quá trình đào tạo có thể xem là một hệ thống xã hội bao gồm các thành tố chính sau đây: mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, đánh giá chương trình đào tạo
Nếu xét theo tính chất công việc thì quá trình đào tạo bao gồm các công việc sau: Tuyển sinh, đào tạo, thực tập thi tốt nghiệp, theo dõi sau đào tạo Trong đó, mỗi giai đoạn lại bao gồm những công việc nhất định, cụ thể là:
- Giai đoạn tuyển sinh bao gồm: Thông báo tuyển sinh; Thu nhận hồ
sơ tuyển sinh; Lập Hội đồng tuyển sinh (Danh sách Hội đồng, ban đề thi, ban coi thi, ban chấm thi, ban thư kí ); Thi tuyển sinh, Chấm thi tuyển sinh; Xét điểm chuẩn, Công nhận danh sách trúng tuyển; Gửi giấy báo trúng tuyển; Nhập học
- Giai đoạn đào tạo bao gồm: Kế hoạch tiến độ đào tạo, kế hoạch giảng dạy, thi học kì hàng năm; Thực hiện việc giảng dạy, thi kiểm tra các học phần, thực tập tốt nghiệp, xét lên lớp, ngưng học củng cố kiến thức, buộc thôi học; Xét điều kiện thi tốt nghiệp, đồ án, khoá luận, thi tốt nghiệp, công nhận kết quả thi tốt nghiệp, tổng kết phát bằng tốt nghiệp
- Giai đoạn sau đào tạo (Theo dõi hiệu quả sử dụng học viên, học viên sau khi tốt nghiệp):
+ Sử dụng đúng chuyên môn đào tạo (Hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ, chưa hoàn thành nhiệm vụ)
+ Sử dụng khác chuyên môn đào tạo (Hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ, chưa hoàn thành nhiệm vụ)
+ Được đề bạt
+ Đào tạo sau ĐH
Trang 34Mỗi giai đoạn kể trên có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình đào tạo Nếu chất lượng tuyển sinh tốt, có sự sàng lọc cao, điểm chuẩn cao thì giai đoạn đào tạo sẽ thuận lợi, kết quả đào tạo cao và học viên tốt nghiệp có nhiều
cơ hội làm việc tốt Giai đoạn đào tạo là quan trọng nhất Thực tiễn cho thấy rằng nếu đầu vào (tuyển sinh) ở mức độ nhất định nhưng quá trình đào tạo tốt (thầy dạy tốt, quản lí đào tạo tốt) thì kết quả đào tạo cũng rất cao được xã hội ghi nhận Giai đoạn sau đào tạo cũng có vị trí quan trọng, các thông tin về tình hình sử dụng cán bộ sau đào tạo sẽ giúp nhà trường bổ sung, điều chỉnh những vấn đề cần thiết trong các giai đoạn tuyển sinh, đào tạo
Mối quan hệ trên được thể hiện ở sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.3: Quá trình đào tạo
1.2.3.2 Quản lí quá trình đào tạo
Quản lí quá trình đào tạo bao gồm các công việc chủ yếu sau:
- Quản lí mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo: Là quản lí việc xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình giảng dạy, quản lí quá trình giảng dạy thực tế của giảng viên và học viên sao cho các kế hoạch đào tạo, nội dung chương trình giảng dạy được thực hiện một cách đầy đủ và quán triệt được yêu cầu của mục tiêu đào tạo
- Quản lí hoạt động giảng dạy của giảng viên: Là quản lí việc thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ giảng viên trong quá trình đào tạo
- Quản lí học tập của sinh viên, học viên: Là quản lí việc thực hiện các
đào tạo Tuyển sinh
Liªn hÖ ng-îc
Trang 35nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của sinh viên, học viên
- Quản lí chất lượng đào tạo: Là việc phát hiện kịp thời các nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém, đề ra các biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo được chất lượng theo yêu cầu
Quản lí quá trình đào tạo đòi hỏi các cán bội quản lí nói chung, cán
bộ quản lí đào tạo nói riên và giảng viên phải có sự hiểu biết đúng đắn và đầy
đủ các vấn đề về bản chất nêu trên của quá trình đào tạo, cũng như phải hiểu
rõ cơ chế, các mối quan hệ cơ bản của quá trình đào tạo trong sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan tác động lên quá trình đó
1.3 Đào tạo hệ KCQ và quản lý đào tạo hệ KCQ
1.3.1 Giáo dục thường xuyên và đào tạo hệ không chính quy
1.3.1.1 Giáo dục thường xuyên
Để hiểu về đào tạo không chính quy, chúng ta cần tìm hiểu thuật ngữ
“Giáo dục thường xuyên”
Thuật ngữ “Giáo dục thường xuyên” (GDTX) được nhiều người nói tới
hằng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng Người đọc và nghe dường như không còn xa lạ với thuật ngữ này Song, nếu đi sâu vào nội hàm và ngoại diên của nó - tức là xem xét nó như một khái niệm - thì mới vỡ lẽ ra rằng trong quan niệm của con người, cho đến nay người ta vẫn chưa thống nhất về định nghĩa thế nào là “Giáo dục thường xuyên”
Ở nhiều quốc gia, người ta hiểu rằng, công việc giáo dục phải được tiến hành đối với mọi lứa tuổi, từ lúc lọt lòng cho đến lúc kết thúc cuộc sống Quá trình giáo dục đó, không phân biệt học trong nhà trường hay học ngoài xã hội hoặc tại gia đình, học có mục đích hay học ngẫu nhiên, học theo hệ thống tri thức và kỹ năng hoặc cần gì học nấy - đều phải được quan tâm và phải có sự quản lý từ phía Nhà nước được hiểu là GDTX Với cách hiểu này, GDTX là một chính sách xã hội của một xã hội hiện đại, trong đó học tập là quyền của con người Như vậy, nếu phân chia hệ thống giáo dục ra làm 2 hệ nhỏ thành
Trang 36phần là hệ thống giáo dục ban đầu và hệ thống giáo dục tiếp tục, thì sự liên kết, liên thông, kết nối và được tiến hành không đứt đoạn nhờ sự đan xen và liên tục của sự học ở mỗi con người được gọi là GDTX
Ở một số nước, trong đó có Việt Nam, lại gộp các loại hình học tập KCQ vào khái niệm GDTX Từ cách hiểu này, chúng ta sẽ thấy lôgíc hình thức trong nhận thức về nền GDTX ở nước ta như sau:
- GDTX là một hệ thống gồm các loại hình học tập thuộc phạm vi giáo dục tiếp tục Do vậy, GDTX không bao hàm các hình thức giáo dục chính quy trong hệ giáo dục ban đầu Nói đến GDTX, người ta hiểu rằng đó là giáo dục tiếp tục
- Theo quy định của luật giáo dục 2005, giáo dục tiếp tục bao gồm mọi loại hình giáo dục KCQ Do tính chất bắc cầu trong quan niệm nói trên nên nói đến GDTX là ai cũng hiểu rằng đó là giáo dục KCQ
Cách biểu hiện trên được quy định trong Luật Giáo dục 2005 của nước ta Điều 44: GDTX giúp mọi người vừa học vừa làm, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội
Nhà nước có chính sách phát triển GDTX, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập
Điều 45: Yêu cầu về chương trình, nội dung, phương pháp GDTX
1 Nội dung GDTX được thể hiện trong các chương trình sau:
a) Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;
b) Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học: cập nhật kiến thức,
kỹ năng, chuyển giao công nghệ;
c) Chương trình đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ;
Trang 37d) Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Vừa học vừa làm; Học từ xa; Tự học có hướng dẫn.[12,tr 46]
1.3.1.2 Đào tạo hệ KCQ
Đào tạo KCQ bao gồm các hoạt động đào tạo hệ VLVH (tại chức cũ), đào tạo văn bằng 2, tự học có hướng dẫn, đào tạo từ xa, đào tạo và bồi dưỡng ngắn hạn theo các chuyên đề, LKĐT theo phương thức KCQ Trong đó, hình thức đào tạo VLVH (tại chức cũ) và đào tạo từ xa là chủ yếu
* Hệ đào tạo vừa làm vừa học
Trước đây hình thức "vừa làm vừa học" (VLVH) thường được gọi là " đào tạo tại chức" Sau này được chuyển thành "Vừa học vừa làm" và gần đây nhất được chuyển thành tên gọi như hiện nay là hệ "Vừa làm vừa học" Đây là
khái niệm dùng cho những người đang đi làm việc muốn nâng cao trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ hoặc những người không có khả năng tài chính, thời gian, đặc biệt là vốn kiến thức để theo đuổi học hệ ĐH chính quy
Đặc điểm hệ VLVH: Với đặc thù là loại hình đào tạo dành cho những người đang đi làm việc muốn nâng cao trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ hoặc những người không có khả năng tài chính, điều kiện thời gian, đặc biệt là vốn kiến thức để theo đuổi học hệ chính quy, nên việc quản lý đào tạo hệ này cũng sẽ có những khác biệt so với các hệ đào tạo chính quy, tập trung khác như: Quản lý chất lượng ngay từ đầu vào đã khác thì chương trình đào tạo về cơ bản cũng giống như đào tạo chính quy nhưng được xây dựng mềm dẻo hơn; thời gian đào tạo kéo dài hơn, đầu ra cũng được quản lý mềm mỏng hơn
* Giáo dục từ xa, đào tạo từ xa
Theo Quy chế 40/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục từ xa,
Điều 1 đã ghi: “Hình thức Giáo dục Từ xa thuộc phương thức giáo dục KCQ
trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục từ xa (GDTXa) là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự giãn cách giữa người dạy và người học về
Trang 38mặt không gian và thời gian Người học theo hình thức GDTXa chủ yếu là tự học qua học liệu như giáo trình, băng hình, băng tiếng, đĩa CD-ROM, phần mềm vi tính, bằng việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn cá nhân, phát thanh, truyền hình, các tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng Internet dưới sự tổ chức, trợ giúp của nhà trường GDTXa lấy tự học là chính, đòi hỏi người học phải tự giác, kiên trì và quyết tâm cao để hoàn thành công việc của mình” [6, tr 9] GDTXa có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo cơ hội học tập cho mọi người, nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đối tượng của GDTXa
là mọi người có nhu cầu học tập, đặc biệt là người lao động và nhân dân ở những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn như vùng núi, vùng sâu, vùng xa
1.3.1.3 Chức năng của giáo dục và đào tạo KCQ
- Chức năng thay thế: Thực hiện chức năng này, giáo dục KCQ tạo cơ hội học tập thứ hai cho những ai chưa bao giờ đi học, từ đó góp phần vào việc mang lại công bằng xã hội và bình đẳng trong giáo dục
- Chức năng nối tiếp: Với những người bỏ học giữa chừng vì lý do nào
đó, giáo dục KCQ nối lại sự đứt đoạn trong quá trình học tập của họ, làm cho việc học tập lại được thực hiện tiếp tục, liền mạch
- Chức năng bổ sung: Những người đã được cung ứng những tri thức và
kỹ năng nhờ quá trình giáo dục chính quy hoặc KCQ thường luôn luôn thấy bản thân còn thiếu hụt những kiến thức, những kỹ năng nào đó trong quá trình lao động, giao lưu xã hội… Sự thiếu hụt này làm cho họ khó thích nghi, khó phát triển trong điều kiện xã hội thay đổi nhanh chóng về các phương diện sản xuất, kinh doanh, quan hệ đối ngoại v.v… Thực tiễn đó yêu cầu con người phải cập nhật những hiểu biết, những phương pháp làm việc… cần thiết mà cuộc sống đòi hỏi
Trang 39- Chức năng hoàn thiện: Với chức năng này, giáo dục KCQ mang lại cơ hội học tập mà qua đó con người làm cho vốn kinh nghiệm của mình đầy đủ hơn, năng lực hoạt động được nâng cao, sức khoẻ được tăng cường, những phẩm chất nhân cách được phát triển hài hoà và hoàn chỉnh hơn
- Giáo dục chính quy và GDTX đều có tầm quan trọng như nhau đối với
sự phát triển tài nguyên con người;
1.3.2 Vai trò giáo dục đào tạo KCQ
- Giáo dục chính quy và giáo dục KCQ bổ sung cho nhau và vì vậy, các chương trình giáo dục tương đương cần phải được khuyến khích;
- Cả giáo dục chính quy lẫn GDTX đều có đối tượng riêng của mình;
- Giáo dục KCQ là một phần tiếp tục của giáo dục chính quy, vì vậy cả hai loại chương trình này cần được tiến hành song song với nhau;
- Giáo dục KCQ cần phải có những tài liệu học tập tốt mang tính đặc thù, đều phải có giáo viên chuyên trách và sự trợ giúp về tài chính;
- Giáo thường xuyên cần được tổ chức một cách hệ thống;
- Bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho giáo viên và người học đều cần thiết đối với cả giáo dục chính quy và giáo dục KCQ, nhất là phải thường xuyên tổ chức các khoá huấn luyện về đổi mới phương pháp dạy học cho người dạy;
- Việc nghiên cứu lý luận và biên soạn giáo trình, học liệu phù hợp với các chương trình giáo dục chính quy và giáo dục KCQ là rất cần thiết;
- GDTX cần đến sự tham gia của cộng đồng nhiều hơn so với giáo dục chính quy;
- Chất lượng và hiệu quả của chương trình giáo dục KCQ phụ thuộc vào mức độ đáp ứng nhu cầu của con người dân ở từng cộng đồng;
- Giáo dục chính quy và giáo dục KCQ đều phải hướng tới sự phát triển của các kỹ năng hành dụng “Học đi đôi với hành” Đó là điều hết sức quan trọng đối với giáo dục chính quy và giáo dục KCQ;
Trang 40- Việc quản lý, điều hành và đánh giá giáo dục chính quy và giáo dục KCQ phải được thiết lập một cách có tổ chức;
- Mặc dù cả giáo dục chính quy và giáo dục KCQ đều được cấu trúc theo chương chình chuẩn, nhưng chương trình của giáo dục KCQ mang tính mềm dẻo hơn
1.3.3 Quan điểm Nhà nước về phát triển giáo dục hệ KCQ
Nhận thức được vai trò giáo dục KCQ (còn gọi là GDTX) đối với việc đáp ứng nhu cầu GDTX, học tập suốt đời ngày càng cao càng đa dạng của mọi người dân, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương phát triển giáo dục KCQ Nghị quyết TW2, Khoá VIII (1997) đã phát động phong trào rộng khắp toàn dân học tập “học ở trường lớp và tự học suốt đời” và chủ trương “Tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình” và “Mở rộng các hình thức giáo dục, đặc biệt là giáo dục từ xa ” Nghị quyết Đại hội IX (năm 2000) đã khẳng định “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và giáo dục KCQ, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập” Kết luận của Hội nghị TW6, Khoá IX (7/2002) về phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2010 đã chủ trương “Phát triển giáo dục KCQ, các hình thức học tập cộng đồng ở xã, phường gắn với nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế -xã hội, tạo điều kiện cho mọi người có chỗ học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập” Hội nghị TW7, khoá IX (3/2003) đã quyết định tiến hành cuộc vận động lớn toàn dân xây dựng phong trào “Cả nước trở thành một xã hội học tập” –
“Học tập suốt đời” Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 chủ trương
“Phát triển giáo dục KCQ như là một hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội học tập cho mọi người, ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi nơi có thể học tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực