LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Sau khi được học tập nghiên cứu những vấn đề lý luận về trong GD-ĐT; qua thực tế công tác nhiều năm ở Phòng GD rồi Sở GD&ĐT, tác giả đã nhận thấy: QL GD-ĐT trước yêu cầ
Trang 1NGUYỄN THÀNH TUẤN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
(NGHIÊN CỨU THỰC TẾ TẠI SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI PHÒNG )
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2004
Trang 2(NGHIÊN CỨU THỰC TẾ TẠI SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI PHÒNG )
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẶNG XUÂN HẢI
HÀ NỘI – 2004
Trang 3KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
23 NQTW2 khóa VIII Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII
24 NQTW6 khóa IX Nghị quyết Trung ƣơng 6 khóa IX
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN 2
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬ N 5
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 8
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 8
IV KHÁ CH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 8
V GIẢ THIẾT KHOA HỌC 8
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
VII PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 9
VIII CẤU TRÖC LUẬN VĂN 9
PHẦN 2: NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤ N ĐỀ NGHIÊN CỨU 10
1.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA VẤN ĐỀ 10
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤ N ĐỀ NGHIÊN CỨU 10
1.2.1.KHÁI NIỆM QUẢ N LÝ: 10
1.2.2 QUẢN LÝ GIÁ O DỤC 16
1.2.3.MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢ N VỀ QUẢ N LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 19
1.3 QUẢ N LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GD-ĐT 31
1.3.1 VAI TRÕ, VỊ TRÍ CỦA GD-ĐT ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 31
1.3.2 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG CHÍNH SÁCH VÀ MỤC TIÊU CỦA NHÀ NƯỚC VỀ GD -ĐT 34
1.3.3 NỘI DUNG QLNN VỀ GD-ĐT 38
1.4 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ HIỆU LỰC, HIỆU LỰC QLHCNN VÀ HIỆU LỰC QLNN VỀ GD&ĐT 42
1.4.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 42
1.4.2 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢ N ĐỂ NÂNG CAO HIỆU LỰC QLHCNN: 44
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠ NG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI PHÕNG 46
2.1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 46
2.1.1.VỊ TRÍ ĐỊA LÝ - CÁ C MẶT KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG 46
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GD-ĐT HẢI PHÕNG TỪ KHI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 2 KHOÁ VIII ĐẾN NA Y 47
2.2.1 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA GD HẢI PHÕNG TỪ NĂM HỌC 1999 – 2000 ĐẾN NA Y 47
(TỪ 2.2 - 2.4, NGUỒN: BÁO CÁO TỔNG KẾT NĂM HỌC SỞ GD&ĐT HẢI PHÒNG) 50
2.3- TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN GD - ĐT HẢI PHÕNG 50
2.3.1 NHỮNG KẾT QUẢ NỔI BẬT 50
2.3.2 NHỮNG MẶT CÕN HẠN CHẾ 53
2.4 DỰ BÁO PHÁT TRIỂN GD - ĐT HẢI PHÕNG ĐẾN NĂM 2010 54
(NGUỒN: QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GD-ĐT HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2001-2010) 59
2.5 THỰC TRẠNG QLNN VỀ GD CỦA SỞ GD&ĐT HẢI PHÕNG 59
2.5.1 CƠ SỞ THỰC HIỆN QLNN VỀ GD CỦA SỞ GD&ĐT HẢI PHÕNG 59
2.5.2 THỰC TRẠNG VỀ QLNN VỀ GD CỦA SỞ GD&ĐT HẢ I PHÕNG 61
(NGUỒN: PHÒNG KHTV-CSVC SỞ GD&ĐT HẢI PHÒNG) 73
2.6 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂ N 73
2.6.1 NHỮNG THUẬN LỢI 73
2.6.2 NHỮNG KHÓ KHĂN 75
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC CỦA SỞ GIÁ O DỤC VÀ ĐÀO TẠO 77
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁ C GIẢI PHÁP 77
3.1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 77
3.1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 80
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂ NG CAO HIỆU LỰC QUẢ N LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ O DỤC CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀ O TẠO 82
Trang 53.2.1 QUÁ N TRIỆT VÀ NÂ NG CA O NHẬ N THỨC CHO TOÀ N THỂ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN TRONG BỘ MÁ Y QLGD CỦA SỞ NÓI RIÊNG, CỦA TOÀN NGÀ NH GD&ĐT TRONG
TỈNH NÓI CHUNG VỀ CÁ C VĂ N BẢN CHỈ ĐẠO ĐỔI MỚI QLNN VỀ GD&ĐT 82
3.2.2.BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC QLHCNN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP SỞ NÂNG CAO TÍNH KHOA HỌC CỦA QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH QL VÀ THỰC HIỆN QUY TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN VĂN BẢN PHÁP QUY THEO ĐÖNG QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC 83
3.2.3 TĂ NG CƯỜNG SỰ LÃ NH ĐẠ O CỦA ĐẢNG NHẰM THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM “NHÀ NƯỚC LÀ TRUNG TÂM QUYỀN LỰC HÀNH CHÍNH” 83
3.2.4 THỰC HIỆN CẢI CÁ CH HÀ NH CHÍNH THEO CHƯƠNG TRÌNH TỔNG THỂ VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 87
3.2.5 TĂ NG CƯỜNG CÔNG TÁ C KIỂM TRA NỘI BỘ CƠ QUAN, NHÀ TRƯỜNG VÀ THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA GD 90
3.2.6 ĐẨ Y MẠNH QUÁ TRÌNH TIN HỌC HÓA ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG CÔNG TÁC QUẢ N LÝ 92
3.3 KIỂM CHỨNG SỰ NHẬN THỨC VỀ TÍNH CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA GIẢI PHÁP 95
1 KẾT LUẬ N 97
2 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 98
Trang 6PHẦN THỨ NHẤT
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sau khi được học tập nghiên cứu những vấn đề lý luận về trong GD-ĐT; qua thực tế công tác nhiều năm ở Phòng GD rồi Sở GD&ĐT, tác giả đã nhận thấy:
QL GD-ĐT trước yêu cầu đổi mới của đất nước là QL một lĩnh vực có ý nghĩa
"Quốc sách hàng đầu" và là hoạt động QL chuyên ngành quan trọng trong hoạt
động QL, điều hành các lĩnh vực về phát triển GD của từng địa phương và đất nước Đó là hoạt động mang lại kết quả và thực hiện các mục tiêu đặt ra cho GD
trước yêu cầu phải giải quyết đồng thời "Nâng cao dân trí - ĐT nhân lực - Bồi dưỡng nhân tài" và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ Từ nhận thức đó và từ
thực tiễn chúng tôi lựa chọn một vấn đề cụ thể trong công tác QLGD để nghiên
cứu, đó là: Đề xuất "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực QLNN của Sở GD&ĐT" (nghiên cứu thực tế tại Sở GD&ĐT Hải Phòng) với mong muốn góp
phần nhỏ bé của mình có tác dụng tích cực vào phát triển sự nghiệp GD của địa phương nói riêng và sự nghiệp GD - ĐT của đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH
1.1 Cơ sở lý luận
GD-ĐT là hoạt động mang tính xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến lợi ích, quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân, mọi thành phần kinh tế - xã hội; đồng thời là yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia Như vậy, GD-
ĐT ở bất cứ quốc gia nào cũng phải đi trước một bước, phải coi đầu tư cho GD là đầu tư cho sự phát triển Một khâu quan trọng trong việc quan tâm đến phát triển
GD là QLGD mà trước hết phải là QLNN về GD Bởi lẽ, chỉ có thông qua QLNN
về GD mới thực hiện được các chủ trương, chính sách của Quốc gia, mới xây dựng được qui hoạch chiến lược phát triển, mới thực hiện được các mục tiêu GD Như vậy QLNN về GD-ĐT có thể coi là khâu then chốt để thực hiện thắng lợi mọi hoạt động GD Tuy nhiên, chúng ta nhận thức được rằng trong QLNN về GD-ĐT phụ thuộc vào đường lối chính trị và cơ chế, chính sách của Nhà nước, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, về hệ thống cũng như thể chế QL của quốc gia, về trình độ và nhận thức của đội ngũ CBQL,về sự tiến bộ của khoa học và công nghệ
Trang 7Đất nước Việt Nam, với truyền thống hiếu học, tôn sư - trọng đạo, nền GD-ĐT đã phát triển khá sớm và đạt được những thành tựu vô cùng to lớn mà lịch sử phát triển đất nước ta đã khẳng định Đặc biệt bắt đầu từ thời kỳ đổi mới của đất nước, Đảng ta đã có hệ thống quan điểm đổi mới tư duy GD-ĐT
và tổ chức thực hiện GD-ĐT phù hợp với yêu cầu đổi mới toàn diện của đất nước; xoay chuyển tình hình GD-ĐT theo hướng sớm chấm dứt tình trạng suy thoái, đi vào ổn định và tạo thế cho phát triển
Nghị quyết 2 BCH TW Đảng khóa VIII về "Định hướng chiến lược phát triển GD-ĐT trong thời kỳ CNH - HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000" đã khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân ta dành ưu tiên cao nhất cho sự phát triển GD-ĐT và KHCN, đảm bảo cho GD-ĐT và KHCN thực sự là Quốc sách hàng đầu; thực sự coi phát triển GD-ĐT gắn với nhu cầu phát triển kinh tế -
xã hội Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, tiếp tục khẳng định về cơ bản, các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục phát triển; ghi nhận nền GD-ĐT đang có những bước phát triển mới phù hợp với yêu cầu đổi mới của đất nước Từ những quan điểm chỉ đạo của Đảng và thực tiễn về đổi mới GD- ĐT, QLNN về GD-
ĐT phải đảm bảo: Chuyển từ tư tưởng QL chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính sang QL chủ yếu bằng pháp luật (Luật Giáo dục - Quốc hội thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998) Chuyển từ cơ chế QL tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế QL phân câp, dân chủ và tự chịu trách nhiệm
đa dạng, phong phú có đủ các loại hình trường: Bán công - dân lập - tư thục
Trang 8và công lập, đảm bảo đủ nhu cầu học tập của con em nhân dân từ Mầm non đến Đại học Chất lượng GD luôn là đơn vị trong tốp dẫn đầu cả nước, có nhiều HS đạt giải trong các kỳ thi HS giỏi quốc gia, quốc tế, tỷ lệ HS thi đỗ vào các trường Cao đẳng, Đại học cao; đã hoàn thành phổ cập Tiểu học và Xóa mù chữ năm 1990, Phổ cập Trung học cơ sở năm 2001, đang thực hiện
đề án phổ cập Trung học và Nghề; tỉ lệ lao động qua ĐT cao (30%) Tuy nhiên, qua tổng kết đánh giá bản thân ngành GD-ĐT Hải Phòng, mà đặc biệt
là Sở GD&ĐT cũng nhận thấy công tác QLGD cũng còn nhiều bất cập: Việc qui hoạch và xây dựng kế hoạch phát triển chưa đồng bộ và chưa tương xứng với phát triển của đô thị loại I - Trung tâm cấp quốc gia, đầu tư của thành phố cho GD chưa thực sự coi GD-ĐT là quốc sách hàng đầu; công tác huy động mọi lực lượng xã hội và toàn dân chăm lo cho sự nghiệp GD còn hạn chế; chất lượng GD ở các địa phương còn có sự chênh lệch, đặc biệt là giữa thành thị và miền núi, hải đảo Việc đa dạng hóa các loại hình trường lớp chưa đồng đều ở các cấp học, bậc học Mà nguyên nhân chính là: Đội ngũ cán bộ QL chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới; phân công - phân cấp QL chưa rõ ràng, còn chồng chéo; các cơ chế chính sách về GD-ĐT chưa được hợp lý và chưa được triển khai thực hiện triệt để; chưa mạnh dạn đưa khoa học - công nghệ vào QL và phục vụ nhiệm vụ chính trị
Để thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội Đảng thành phố lần thứ XII với mục tiêu chủ yếu là " Xây dựng Hải Phòng thành thành phố Cảng văn minh, hiện đại, cửa chính ra biển, trung tâm công nghiệp, dịch vụ, thuỷ sản ở miền Bắc, có kinh tế, văn hóa, GD-ĐT, khoa học - công nghệ, cơ sở hạ tầng phát triển, quốc phòng - an ninh vững chắc, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân" mà nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu là khẳng định GD-ĐT là "Quốc sách hàng đầu", là khâu đột phá của Hải Phòng phát triển với tốc độ cao Điều cốt yếu ở đây là phát triển sự nghiệp GD-ĐT theo hướng đổi mới, chủ động hội nhập với khu vực và quốc tế Trước tiên, theo tác giả phải đổi mới khâu quan trọng là QLNN về GD-ĐT, mà đại diện là các vấn đề QLNN của Sở GD-ĐT phải đạt hiệu lực, hiệu quả cao
Trang 9II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực QLNN về GD-ĐT của Sở GD&ĐT nhằm góp phần chuyển biến cơ bản trong QLNN về GD-ĐT trong giai đoạn CNH - HĐH của địa phương và đất nước
- Xác lập luận cứ của các giải pháp đó, thăm dò tính khả thi của các giải pháp trong CB QLGD ở địa phương và một số tỉnh lân cận
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu: đó là hiệu lực QLNN về GD-ĐT
- Khảo sát, đánh giá thực trạng về QLNN của Sở GD-ĐT trên cơ sở thực tế của Sở GD&ĐT Hải Phòng
- Đề xuất một số giải pháp về QLNN của Sở GD-ĐT Hải Phòng từ đó
có thể áp dụng khả thi ở các Sở GD&ĐT
IV KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4.1 Khách thể nghiên cứu
QLNN về GD ở một số Sở GD&ĐT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Những giải pháp tăng cường hiệu lực QL năm về GD đối với Sở GD&ĐT Hải Phòng
V GIẢ THIẾT KHOA HỌC
Phát hiện đúng thực trạng và nguyên nhân, đề ra được các giải pháp hữu hiệu sẽ góp phần nâng cao hiệu lực QLNN về GD nói chung và ở Sở GD&ĐT nói riêng (cụ thể hóa cho Hải Phòng) sẽ góp phần thực hiện tốt hơn chức năng QLNN về GD ở địa phương
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập các văn bản, các tài liệu khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu Phân tích, tổng hợp, đánh giá và đúc kết được các vấn đề lý luận
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 10Khảo sát, điều tra xã hội học thông qua các hoạt động QL của Sở GD&ĐT, qua phiếu hỏi, qua tọa đàm, phỏng vấn, qua phân tích số liệu thông tin
6.3 Nhóm phương pháp ngoại suy: So sánh, thống kê toán học
VII PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
VIII CẤU TRÚC LUẬN VĂN
LUẬN VĂN GỒM BA PHẦN :
Phần mở đầu: Đề cập một số vấn đề chung của đề tài
Phần kết quả nghiên cứu: được chia thành 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận của Vấn đề nghiên cứu
Chương II: Thực trạng QLNN về GD-ĐT ở Sở GD&ĐT Hải Phòng Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực QLNN của
Sở GD&ĐT
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 11PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu của vấn đề
Trong vài năm gần đây vấn đề QLNN về GD&ĐT (QLNN về GD&ĐT) được đông đảo giới khoa học quan tâm nghiên cứu Một nghiên cứu mang tính hệ thống và tầm cỡ nhà nước được nhóm đề tài của viện chiến lược và phát triển GD (cũ) do PGS, TS Đặng Bá Lãm làm chủ nhiệm
đã tập hợp được rất nhiều lực lượng và giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến đổi mới QLNN về GD&ĐT Tại trường cán bộ QLGD&ĐT trung ương
1 từ 2000 - 2002 TS Đặng Xuân Hải cũng triển khai một đề tài liên quan đề đổi mới QLNN về GD&ĐT thông qua một đề tài cấp bộ là “Vai trò của nhà nước trong việc nâng cao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học” Tuy nhiên vấn đề đổi mới QLNN về GD ở cấp sở chúng tôi chưa tìm thấy một công trình cụ thể nào
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1.Khái niệm Quản lý:
a Khái niệm chung
Khái niệm QL đã hình thành rất lâu và ngay từ khi xã hội loài người
xuất hiện thì nhu cầu QL cũng được hình thành; khái niệm QL ngày càng được hoàn thiện Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, mọi hoạt động của xã hội đều cần tới QL, QL vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội ở cả tầm vĩ mô và vi mô; chính vì lẽ đó trình
độ tổ chức, điều hành cũng được nâng lên và phát triển
C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần tìm đến một sự chỉ đạo
để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một nghệ sĩ độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [40, tr 21]
Trang 12Hoạt động QL bắt nguồn từ sự phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt được mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn Đó chính là hoạt động giúp cho con người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Có nhiều khái niệm về QL theo các quan điểm khác nhau [56]
- Theo quan điểm triết học, QL được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan để đạt mục tiêu nào đó
- Theo quan đ iểm kinh tế của F.Taylor (1956 – 1915): “QL là cải tạo mối quan hệ giữa người với người, giữa người với máy móc” và “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất”.[56, tr 13]
- Theo quan điểm chính trị xã hội : “QL là sự tác động liên tục có tổ chức,
có định hướng của chủ thể (người QL, người tổ chức QL) lên khách thể (đối tượng QL) về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [55, tr 19]
- Theo quan điểm của hệ thống: Toàn thể thế giới vật chất đang tồn tại, mọi sự vật, hiện tượng là một chỉnh thể, một hệ thống Trong công tác điều hành
xã hội thì QL cũng vậy, cũng là một hệ thống Theo quan điểm này thì QL là một đơn vị với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đề ra trong quá trình hoạt động
“QL là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống
để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi môi trường” [44, tr 38]
- Theo Henry Fayol (1941 – 1925) – nhà kinh tế học và chỉ đạo thực tiễn, trong quyển “QL chung và QL công nghiệp”: QL hành chính là dự đoán
và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp kiểm tra [56, tr 15]
- Còn một vài quan điểm thường gặp khác như :
Trang 13+ QL là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy
họ đã hoàn thành công việc như thế nào? đánh giá
+ QL là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức, nhóm để đạt được mục tiêu
+ QL là quá trình cùng làm việc của các cá nhân để hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức, nhóm
+ QL là nghệ thuật đạt mục tiêu đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, chỉ huy hoạt động của người khác
- Qua những định nghĩa trên, ta có thể hiểu:
+ QL là sự tác động có tổ chức, có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt đến mục đích đúng với ý chí của nhà QL phù hợp với yêu cầu khách quan
Chủ thể QL và khách thể QL:
+ Chủ thể QL là người hoặc tổ chức-bộ máy
+ Khách thể QL có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật thể cụ thể như: đoàn xe, môi trường, thiên nhiên, vừa có thể là sự việc: Các quá trình, các hoạt động
Giữa chủ thể và khách thể QL có mối quan hệ tác động qua lại, tương
hỗ nhau Chủ thể làm nảy sinh các tác động QL, còn khách thể thì nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể QL
Trong QL, chủ thể QL phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp lý các tác động nhằm đạt mục tiêu Do đó QL phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức và lao động Xét dưới góc độ điều khiển học, hành động QL chính là quá trình điều khiển, sắp xếp, tác động làm cho đối tượng QL thay đổi trạng thái (từ lộn xộn thành trật tự theo ý chí và mục tiêu của nhà QL)
Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng QL (đặc biệt là con người) thì phải có cơ chế QL đúng
Cơ chế QL là phương thức vận hành hệ thống hoạt động QL mà nhờ đó
QL được diễn ra, chỉ đạo quan hệ tương tác giữa chủ thể và khách thể QL
Trang 14được thực hiện (vận hành và phát triển)
Để thực hiện quá trình QL phải có các điều kiện, phương tiện QL Đó không chỉ là máy móc, kỹ thuật mà còn là nhân cách của nhà QL (phẩm chất, năng lực)
Kết quả QL là sản phẩm kép, nghĩa là quá trình QL, đối tượng QL phát triển và phẩm chất năng lực của nhà QL cũng phát triển
Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa chủ thể và khách thể QL
b Bản chất của các hoạt động QL và các chức năng QL
Bản chất của hoạt động quản lý
+ Từ khi con người biết hợp tác với nhau để tự vệ và mưu sinh cuộc sống thì nó xuất hiện những yếu tố khách quan, những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều hành… để thực hiện mục tiêu Sự phối hợp này tạo nên sức mạnh giúp cho con người đạt được những mục tiêu cần thiết Như vậy trong quá trình vận động, phát triển của xã hội và QL không thể tách rời nhau, khi lao động đạt tới một trình độ nhất định, có sự phân công xã hội thì QL là một chức năng, đó là tất yếu khách quan
+ Trong tổ chức nhóm, cộng đồng, chủ thể QL tác động có định hướng,
có chủ đích đến khách thể QL nhằm đạt được mục đích Những tác động qua lại có tác động lan toả rộng rãi Trong xã hội có giai cấp thì hoạt động QL phục vụ quyền lợi của giai cấp rõ rệt
+ Hoạt động QL mang tính khoa học cao, bởi tác động giữa chủ thể QL đến khách thể QL thông qua công cụ, phương tiện, phương pháp phù hợp với qui luật khách quan thì mới đạt hiệu quả
Chủ thể quản lý
Đối tượng quản lý
Trang 15+ QL được coi là một nghề Những kỹ năng nghề nghiệp của người QL
để thực hiện công việc đòi hỏi mang tính kỹ thuật, thể hiện ở những thao tác nghề nghiệp của người QL
+ Hoạt động QL vừa mang tính khoa học vừa có tính nghệ thuật Tính nghệ thuật của hoạt động QL thể hiện ở những tác động hợp qui luật, hoàn cảnh
Vậy, hoạt động QL có tính khách quan vừa có tính chủ quan thực hiện bởi người QL Mặt khác, nó vừa có tính giai cấp vừa có tính kỹ thuật, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật Nhà nước lại vừa
có tính xã hội rộng rãi; chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất
Đó là biện chứng, là bản chất của hoạt động QL
Chức năng quản lý
Henry Fayol coi “Chức năng QL là nhóm hoạt động để hoàn thành QL”,
“Chức năng QL là loại hình đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc QL” [56, tr 15]
Chức năng QL là những nội duSở Giáo dục & Đào tạong và phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ đó chủ thể QL tác động đến đối tượng QL trong quá trình QL, nhằm thực hiện mục tiêu QL
Tổ hợp tất cả các chức năng QL tạo nên nội dung của quá trình QL Chức năng QL được qui định một cách khách quan bởi hoạt động của khách thể QL
Có nhiều cách phân loại các chức năng QL [54]:
+ Henry Fayol đã đưa ra 5 chức năng sau đây mà người ta gọi là 5 yếu tố của HenryFayol: Kế hoạch hoá, tổ chức, ra lệnh, phối hợp, kiểm tra và đánh giá
+ Trong quyển “Cơ sở của khoa học QL” của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, xuất bản năm 1997, có nêu các chức năng cơ bản của QL gồm:
Kế hoạch hoá
Tổ chức
Phối hợp
Điều chỉnh, kích thích
Trang 16 Kiểm tra, hạch toán
+ Gần đây sau khi gộp một số chức năng lại, người ta cho rằng QL có 4 chức năng cơ bản là 4 khâu có liên quan mật thiết với nhau, đó là:
Kế hoạch hoá: là việc xác định mục tiêu, mục đích, xác định các hoạt động và những biện pháp trong thời gian xác định nhằm đạt mục tiêu dự định
Tổ chức: Là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, bộ phận nhằm đạt mục tiêu kế hoạch Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người QL có thể phối hợp, điều phối nguồn lực, vật lực, nhân lực
Chỉ đạo: Đó chính là phương thức tác động của chủ thể QL Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành để đạt mục tiêu của tổ chức
Kiểm tra: Thông qua một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực
tế, theo dõi giám sát thành quả lao động, tiến hành uốn nắn, sửa chữa những hoạt động sai Đây chính là quá trình tự điều chỉnh của hoạt động QL
Với những chức năng đó, QL có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội Nó nâng cao hiệu quả của hoạt động, đảm bảo trật tự, kỷ cương trong bộ máy và nó là nhân tố tất yếu của sự phát triển
c Mục tiêu quản lý
Mục tiêu QL là thể hiện ý chí của nhà QL (chủ thể) đồng thời phải phù hợp với sự vận động và phát triển của các yếu tố có liên quan Các yếu tố có liên quan đến QL là:
Yếu tố xã hội - môi trường: Là yếu tố con người cùng hoàn cảnh của
họ Trong QL phải nắm đặc điểm chung nhất của con người Đó là những đặc điểm: tâm sinh lý lứa tuổi, giới tính đặc biệt về điểm dân tộc, giai cấp, đặc điểm vùng miền, địa phương
Yếu tố chính trị - pháp luật: Là chế độ chính trị, chế độ sở hữu, hệ
thống luật pháp liên quan dến cơ chế QL
Yếu tố tổ chức: Là khoa học thiết lập mối quan hệ giữa các bộ phận,
thành phần trong bộ máy, qui định quyền hạn, trách nhiệm, chức năng của các
bộ phận và thành phần trong bộ máy Trong đó tổ chức nhân sự vẫn là vấn đề cốt lõi
Trang 17Yếu tố quyền uy: Quyền uy chính là quyền lực và uy tín của nhà QL
Đây là công cụ đặc biệt của nhà QL Quyền uy vừa do cơ chế QL vừa do nhân cách của nhà QL tạo nên
Yếu tố thông tin: Đó vừa là tin tức vừa là mối liên hệ (liên lạc), thông
tin là cơ sở giúp nhà QL đề ra các quyết định để tác động tới đối tượng QL Thông tin đầy đủ, chính xác thì tác động QL có hiệu quả
Tóm lại, QL là sự tác động có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các quá trình và các hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng với ý chí của nhà QL và phù hợp với các qui luật khách quan
1.2.2 Quản lý giáo dục
a Khái niệm QLGD [55]
Nhà nước QL mọi hoạt động, trong đó có các hoạt động GD Vậy QLGD là tập hợp những tác động hợp qui luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể QL nhằm tác động đến các phân hệ QL để thực hiện mục tiêu
GD mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả ĐT thế hệ trẻ
Khái niệm về QLGD, cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung bản chất
QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác ĐT thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội
- Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc: “QL nhà trường, QLGD nói chung là thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu ĐT đối với ngành GD và thế hệ trẻ và đối với từng HS” [58, tr 27]
- Theo Giáo sư - Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, GD thế hệ trẻ, đưa hệ GD đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái về chất [53, tr 34]
Trang 18Trong khái niệm QLGD cũng bao gồm:
Chủ thể QL: Bộ máy QLGD các cấp
Khách thể QL: Hệ thống GD quốc dân, các trường học
Quan hệ QL: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy;
quan hệ giữa người QL và người dạy, người học; quan hệ giữa giáo giới, cộng đồng, Các mối quan hệ đó ảnh hưởng đến chất lượng ĐT, chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn bộ hệ thống GD
Xét về khoa học thì QLGD là sự điều khiển toàn bộ những hoạt động
GD của cộng đồng, điều khiển quá trình dạy học và nhằm tạo ra những thế hệ
có đức, có tài phục vụ sự phát triển của xã hội
Xét về bản chất, QLGD là một hiện tượng xã hội được thể hiện các mặt: + QLGD là một loại hình hoạt động, tuy chuyên biệt nhưng ảnh hưởng đến toàn xã hội, mọi quyết định, thay đổi của GD đều có ảnh hưởng đến đời sống xã hội
+ QLGD là loại hình QL được đông đảo thành viên tham gia
+ Bản thân QLGD là hoạt động mang tính xã hội, đòi hỏi phải huy động nhân lực, nguồn lực lớn
+ GD truyền đạt, lĩnh hội những giá trị kinh nghiệm lịch sử xã hội tích luỹ qua các thế hệ Xã hội muốn tồn tại, phát triển thì phải phát triển GD-ĐT
Nội dung QLGD bao gồm một số vấn đề cơ bản: xây dựng và chỉ đạo thực hiện chính sách chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển GD; ban hành tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về GD, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị trường học; tổ chức bộ máy QLGD; tổ chức, chỉ đạo việc ĐT bồi dưỡng cán bộ QL, GV; huy động QL sử dụng các nguồn lực…
Lý luận QLGD có vai trò trọng yếu trong việc hình thành cơ sở khoa học của:
+ Các chính sách phát triển GD, sự hình thành và phát triển cơ cấu hệ thống GD quốc dân
+ Các chính sách phát triển GD, đòn bẩy kinh tế trong GD, định mức
Trang 19b Chức năng quản lý giáo dục
Cũng như các hoạt động QL KT - XH, QLGD có hai chức năng tổng quát sau:
- Chức năng ổn định, duy trì quá trình ĐT đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền KT - XH
- Chức năng đổi mới, phát triển quá trình ĐT đón đầu tiến bộ KT - XH Như vậy, QLGD là hoạt động điều hành các nhà trường để GD vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế
Từ hai chức năng tổng quát trên, QLGD phải quán triệt, gắn bó với bốn chức năng cụ thể là:
Trang 201.2.3.Một số vấn đề cơ bản về Quản lý hành chính Nhà nước
1.2.3.1 Khái niệm - đặc trưng Quản lý hành chính nhà nước [43]
a Khái niệm về QLNN và QLHCNN
Như trên đã nêu, xét dưới góc độ chính trị - xã hội, góc độ hành động thì QL được hiểu như sau: “QL là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người QL và phù hợp với quy luật khách quan” Từ
đó có thể rút ra :
* QLNN ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước; có thể định nghĩa
về QLNN như sau: QLNN là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực Nhà nước, do các cơ quan quyền lực Nhà nước (cơ quan luật pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành, để tổ chức điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân
* QLHCNN là hoạt động hành chính cuả cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước (quyền hành pháp) để QL, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo luật pháp Quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật và tổ chức đời sống xã hội theo pháp luật Quyền hành pháp thể hiện bởi các thẩm quyền:
- Lập quy được thực hiện bằng việc ra các văn bản quy phạm pháp luật
để chấp hành luật
Trang 21- QLHC tức là tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế - xã hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội
Như vậy, có thể rút ra được như sau: “QLHCNN là hoạt động thực thi quyền hành pháp, là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở tiến hành, để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ
xã hội, duy trì trật tự pháp luật, thoả mãn những nhu cầu chính đáng của nhân dân” Cần chú ý: Các cơ quan quyền lực nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, tư pháp không thuộc hệ thống QL hành chính nhưng trong cơ chế vận hành bộ máy cũng có công tác hành chính như chế độ cộng vụ, quy chế công vụ, quy chế công chức, công tác tổ chức cán bộ Phần công tác hành chính của cơ quan này cũng tuân thủ những quy định thống nhất của nền hành chính Nhà nước
b.Đặc trưng của quản lý hành chính Nhà nước
QLHCNN có đặc trưng là Nhà nước QL toàn dân, toàn diện bằng pháp luật
Toàn dân là: Toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm công dân Việt Nam và những người không phải là công dân Việt Nam, kể cả những người Việt Nam bị mất một số quyền công dân
Toàn diện là: Nhà nước QL toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp QL theo ngành với QL theo lãnh thổ Tuy nhiên, các
cơ quan hành chính Nhà nước chỉ điều chỉnh các kế hoạch hoạt động do luật định
Bằng pháp luật là: QLHCNN được sử dụng pháp luật như một công cụ chủ yếu để xử lý hành vi của khách thể theo luật định một cách nghiêm minh
1.2.3.2 Tính chất và các nguyên tắc quản lý hành chính Nhà nước
a Tính chất của QLHCNN
- Tính lệ thuộc vào chính trị: Nền hành chính Nhà nước luôn phụ thuộc
Trang 22vào chính trị, phục tùng và phục vụ chính trị Nhà nước nào cũng do một Đảng lãnh đạo, do đó bản chất của Nhà nước phụ thuộc vào bản chất của Đảng cầm quyền Đảng vạch ra đường lối, chủ trương và chương trình mục tiêu để phát triển xã hội Các cơ quan Nhà nước thể chế hoá đường lối chính trị của Đảng thành văn bản pháp luật và các quyết định QL, tổ chức và điều chỉnh toàn bộ các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người
- Tính pháp quyền: Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền là Nhà nước nắm lấy pháp luật và tự đặt mình dưới pháp luật QLHCNN phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, hoạt động trên cơ sở luật và để thi hành luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
- Tính hệ thống, thứ bậc chặt chẽ: Nền hành chính Nhà nước là hệ thống thông suốt từ trên xuống dưới, cần phải tực hiện nghiêm túc chế độ quyền lực, trực thuộc theo thứ bậc: Nhân viên phục tùng thủ trưởng, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương
- Tính liên tục tương đối ổn định và thích ứng: Nhiệm vụ hành chính phục vụ công vụ và công dân là việc hàng ngày, thường xuyên nên cơ cấu tổ chức và hoạt động của nó phải liên tục với đội ngũ công chức ổn định QLHCNN phải thích ứng với mọi thay đổi của các điều kiện tự nhiên, xã hội
và quốc tế (Xu hướng hội nhập quốc tế)
- Tính chuyên môn hoá nghề nghiệp cao: Công chức hành chính là nghề nên phải ĐT theo ngạch với trình độ kiến thức tương ứng với chức vụ, phải qua thi tuyển trước khi tuyển dụng và bổ nhiệm
- Tính không vụ lợi: Nền hành chính Nhà nước có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công và lợi ích của công dân Mọi hoạt động trong hệ thống hành chính Nhà nước đều mang tính chất phục vụ chứ không theo đuổi động cơ lợi nhuận Do đó hành chính Nhà nước phải vô tư, công tâm, trong sạch Công chức phải “cần - kiệm - liêm - chính - chí công vô tư”
b Các nguyên tắc quản lý hành chính Nhà nước
Những nguyên tắc QLHCNN là những tư tưởng chỉ đạo làm nền tảng cho tổ chức và hoạt động QLHCNN
Trang 23Mỗi nguyên tắc QLHCNN có những hình thức biểu hiện nhất định,
cụ thể và không tồn tại ngoài những hình thức đó
Tính hệ thống của các nguyên tắc QLHCNN được quy định trước hết bởi tính thống nhất của hoạt động QL – Một loại hoạt động cơ bản của Nhà nước ta và được điều phối từ một Trung tâm là Chính phủ, đặt dưới sự
“điều chỉnh” và giám sát của Quốc hội và sự lãnh đạo của Đảng
* Nguyên tắc Đảng lãnh đạo
- Vai trò lãnh đạo của Đảng được nhân dân thừa nhận và được ghi nhận trong Hiến pháp của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 4)
- Đảng lãnh đạo QLHCNN bằng các nghị quyết của các cơ quan Đảng
ở các cấp, trong đó vạch ra đường lối, chủ trương, nhiệm vụ cho QLNN phương hướng hoàn thiện hệ thống các cơ quan QL về mặt tổ chức cơ cấu, cũng như các hình thức và phương pháp hoạt động chung
- Đảng lãnh đạo thông qua công tác cán bộ
- Đảng lãnh đạo QLHCNN nhưng không làm thay các cơ quan nguyên tắc
* Nguyên tắc nhân dân tham gia QLHCNN
- Sự tham gia của nhân dân (cá nhân hoặc tập thể) vào quyền lực chính trị là một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ Do đó phải xây dựng một cơ chế bảo đảm thu hút đông đảo nhân dân tham gia QLHCNN
- Nhân dân có quyền tham gia QLHCNN một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
- Quyền tham gia trực tiếp thể hiện ở chỗ nhân dân được tham gia phúc quyết những vấn đề lớn của đất nước và được đóng góp ý kiến xây dựng Luật,
kể cả Hiến pháp
- Quyền tham gia gián tiếp thể hiện ở chỗ nhân dân bầu ra các cơ quan dân chủ (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp), các cơ quan này lại bầu ra các cơ quan QLNN (Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp); đồng thời nhân dân còn tham gia QLHCNN một cách gián tiếp thông qua tổ chức chính trị – xã hội
- Để thực hiện được nguyên tắc này phải thực hiện đúng phương
Trang 24châm ”Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và thực hiện nghiêm túc Quy chế dân chủ cơ sở
* Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng nhất chỉ đạo mọi tổ chức hoạt động, sinh hoạt nội bộ và phong cách làm việc của các cơ quan Nhà nước
- Tập trung dân chủ là: Nhà nước phải giữ quyền thống nhất QL những vấn đề cơ bản ở cấp trung ương, đồng thời phải giao quyền hạn và trách nhiệm giải quyết cho các địa phương, các ngành, tức là thực hiện phân cấp QL cho các cấp các ngành
Trong tổ chức và hoạt động QLHCNN, hai mặt tập trung và dân chủ
là một hệ thống nhất không đối lập, hạn chế nhau
* Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ
Đây là nguyên tắc chung cho QLNN đối với mọi lĩnh vực
- QL ngành: là sự chỉ đạo chuyên môn theo ngành dọc từ Bộ – Sở – Phòng - Đơn vị
- QL theo lãnh thổ làm QL theo cấp hành chính QL ngành có chức năng, nhiệm vụ riêng, nhưng nó lại diễn ra trên một địa bàn cụ thể nên phải xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả
c Nội dung hoạt động QLHCNN
Nội dung hoạt động QLHCNN được cụ thể hoá thông qua các mục tiêu, chức năng hoạt động cụ thể của từng cơ quan hành chính Nhà nước, từng cấp, từng ngành và toàn hệ thống hành chính Nhà nước Các cơ quan hành chính Nhà nước với quyền hạn, thẩm quyền xác định, với cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức tương ứng thực hiện chức năng hành pháp trong hành động trên các lĩnh vực và các mặt chủ yếu sau:
- QLHCNN về kinh tế (QL các ngành kinh tế – kỹ thuật, dịch vụ), văn hoá, y tế, GD, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh
- QLHCNN về tài chính, ngân sách Nhà nước, kế toán, kiểm toán,
Trang 25thống kê, chứng khoán, ngân hàng – tín dụng, bảo hiểm, công sản
- QLHCNN về khoa học, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- QLHCNN về tổ chức bộ máy hành chính
* Các chức năng QLNN
Tất cả các mục tiêu, nhiệm vụ trên để thực hiện có hiệu quả, các cơ quan hành chính Nhà nước cần phải thực hiện:
+ Quy hoạch, kế hoạch
Trên cơ sở chiến lược kinh tế – xã hội đã được hoạch định trong đường lối của Đảng và được Quốc hội nhất trí thông qua, Chính phủ, các
Bộ, các chính quyền địa phương phải xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch phát triển của ngành và địa phương
+ Sắp xếp cán bộ theo tiêu chuẩn công chức
+Xây dựng đội ngũ công chức hành chính
+Tổ chức hệ thống QL, đáng giá công chức
* Ra các quyết định hành chính và tổ chức thực hiện quyết định
+Tập hợp đầy đủ thông tin
- Xây dựng ngân sách, chú trọng khai thác nguồn thu, nhất là thuế
- Sử dụng có hiệu quả ngân sách theo đúng chế độ, đúng chủ trương phân cấp
Trang 26* Giám sát, kiểm tra, báo cáo, tổng kết, đánh giá
là phương tiện đặc quyền
e Hình thức QLHCNN: 3 hình thức
* Ra văn bản pháp quy
- Các cơ quan hành chính và các công chức lãnh đạo trong hoạt động lãnh đạo QLHCNN đều ban hành các quyết định hành chính bằng chữ viết, bằng lời nói, bằng dấu hiệu, ký hiệu
Trang 27- Văn bản pháp quy là một quyết định mang tính quy phạm pháp luật được ghi thành chữ viết, để cho các khách thể QL căn cứ vào đó thực hiện và
là chứng cứ để cơ quan hành chính và công chức lãnh đạo kiểm tra các khách thể có thực hiện đầy đủ và đúng hay không, tuỳ theo đó mà truy cứu trách nhiệm, hoặc xử lý theo pháp luật
* Hình thức hội nghị
- Hội nghị là hình thức tập thể lãnh đạo ra quyết định Họ nghị bàn công việc để có các nghị quyết hội nghị Các nghị quyết này phải được thể hiện bằng văn bản mới có đầy đủ tính pháp lý
- Trong hoạt động QLHCNN, hội nghị là hình thức cần thiết và quan trọng Cần phải tổ chức hội nghị theo phương thức khoa học để tốn ít thời gian mà đạt hiệu quả cao
* Hình thức hoạt động thông tin điều hành bằng phương tiện kỹ thuật hiện đại
Theo hình thức này máy móc có thể thay thế lao động chân tay và cả lao động trí óc cho công chức hành chính Hình thức này hiện nay đang phát triển mạnh trong các cơ quan Nhà nước; Sử dụng điện thoại, máy ghi âm, ghi hình, máy điện toán, máy vi tính, internet Nói chung, công nghệ thông tin đang được sử dụng vào tác nghiệp điều hành QLHCNN
f Phương pháp QLHCNN
- Phương pháp QLHCNN là các biện pháp điều hành để đảm bảo việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cơ quan và công chức lãnh đạo trong cơ quan hành chính Nhà nước
- Các phương pháp QLHCNN mang tính quyền lực Nhà nước nên chúng phải phù hợp với pháp luật Việc lựa chọn phương pháp nào hoặc kết hợp giữa các phương pháp ra sao là tuỳ thuộc vào điều kiện chủ quan và khách quan, vào trình độ năng lực và nghệ thuật QL lãnh đạo, nhưng nhất thiết không được trái với pháp luật, với cơ chế QL hiện hành và với nguyên tắc tập trung dân chủ trong QLHCNN
* Nhóm phương pháp của các khoa học khác được sử dụng trong QLHCNN
Trang 28- Phương pháp kế hoạch hoá
Ý thức đúng thì hành động đúng Trên cơ sở đó, họ sẽ có trách nhiệm,
có kỷ luật, có lương tâm, không vi phạm pháp luật, hăng hái lao động, đem hết sức mình ra cống hiến
- Phương pháp tổ chức
Phương pháp này nhằm đưa con người vào khuôn khổ, kỷ luật, kỷ cương Để thực hiện tốt biện pháp này, điều quan trọng là phải có quy chế, quy trình, nội quy, hoạt động của cơ quan, của từng bộ phận, từng cá nhân và phải cương quyết thực hiện Phải nghiêm túc kiểm tra và xử lý kết quả đã kiểm tra một cách dân chủ công khai, làm tốt thì hưởng, không tốt thì chịu phạt
Thực hiện tốt phương pháp này thì trách nhiệm và kỷ luật được giữ vững và nâng cao, hiệu quả công tác sẽ cao, đoàn kết nội bộ được đảm bảo Ngược lại, thì tư tưởng lộn xộn, đoàn kết nội bộ không đảm bảo, kỷ luật kỷ cương không đảm bảo, hiệu quả công việc thấp
- Phương pháp kinh tế
Đây là phương pháp mà chủ thể QLNN tác động giám tiếp lên khách thể QL dựa trên các lợi ích vật chất và các đòn bẩy kinh tế để làm cho các khách thể QL suy nghĩ đến lợi ích của mình, tự giác thực hiện bổn phận và trách nhiệm của mình một cách tốt nhất mà không phải đôn đốc nhắc nhở nhiều về mệnh lệnh của chủ thể QL
Tuy nhiên phải biết kết hợp một cách đúng đắn giữa 3 lợi ích: Lợi ích của Nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích của người lao động, trong đó lợi ích
Trang 29của người lao động là lợi ích trực tiếp, lợi ích của Nhà nước là lợi ích tối cao
Phương pháp này được thể hiện trên cả hai mặt: làm giỏi, hiệu quả tốt thì được tăng lương, tăng thưởng, ngược lại thì hạ lương, bồi thường vật chất hoặc xử phạt bằng tiền
1.1.3.3 Bộ máy và cơ quan hành chính Nhà nước
là bộ máy hành chính Nhà nước với mạng lưới chi tiết các bộ phận có chức năng, nhiệm vụ được xác định rõ ràng, liên hệ với nhau theo một trật tự thứ bậc và trong hệ thống truyền đạt, điều phối, kiểm tra việc QLNN
- Do những hoạt động khác biệt về chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá xã hội nên bộ máy hành chính Nhà nước ở các quốc gia khác nhau được tổ chức không giống nhau Tuy nhiên, một nguyên tắc chung mà mọi nền hành chính Nhà nước đều tuân thủ, đó là việc tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước phải hợp thành một chỉnh thể thống nhất, nhằm tạo ra một
Trang 30cơ cấu với các mối quan hệ ổn định, vững chắc và thông suốt từ Trung ương đến các cơ sở
- Hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước đương nhiên chứa đựng các yếu tố thuộc về khoa học tổ chức - QL, nhưng nó cũng có những đặc trưng riêng biệt mà các tổ chức thông thường không có, đó là sự hoạt động mang tính công quyền (thực hiện quyền hành pháp)
- ở nước ta, bộ máy hành chính Nhà nước được tổ chức ra để thực hiện quyền hành pháp (thi hành pháp luật) Để thi hành pháp luật, bộ máy hành chính Nhà nước có quyền lập quy và quyền hành chính.[10]
+ Quyền lập quy là quyền được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của luật ban hành văn bản, quy phạm pháp luật (1996) nhằm hướng dẫn thi hành hay cụ thể hoá các quy định của văn bản Luật hoặc điều chỉnh quan hệ xã hội mà Luật chưa có quy định
+ Quyền hành chính là quyền tổ chức ra bộ máy QL, sắp xếp nhân
sự, điều hành công việc, sử dụng nguồn tài chính và công sản để thực hiện những chính sách của đất nước Đó là quyền tổ chức QL, điều hành thường xuyên, hàng ngày mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng đối ngoại theo quy định của pháp luật
- Để đảm bảo cho bộ máy hành chính được thông suốt từ Trung ương đến các cơ sở, hệ thống hành chính Nhà nước được chia ra: Một là, Bộ máy hành chính trung ương, hoặc cũng có thể gọi là bộ máy hành chính Nhà nước, tức là bộ máy của Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ có vai trò QL nền hành chính toàn quốc; Hai là, bộ máy hành chính địa phương, bao gồm toàn bộ các cơ quan hành chính Nhà nước tại địa phương nhằm thực thi nhiệm vụ QLHCNN tại địa phương
+ Bộ máy hành chính Nhà nước được tổ chức như vậy vừa đảm bảo tuyến quyền lực theo chiều dọc, và tuyến quyền lực theo chiều ngang; vừa đảm bảo sự kết hợp QL theo ngành và theo lãnh thổ cũng như tính thứ bậc trong hệ thống hành chính xuyên suốt từ trung ương đến địa phương
+ Bộ máy hành chính Nhà nước tại địa phương ở nước ta là UBND
Trang 31các cấp - cơ quan chấp hành của HĐND chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết cuả Hội đồng nhân dân cùng cấp
Sơ đồ 1.2 Bộ máy hành chính của nước ta có thể mô tả theo sơ đồ sau:
Như vậy, bộ máy hành chính Nhà nước là thuật ngữ dùng để chỉ Hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước hợp thành chỉnh thể thống nhất (Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ và UBND các cấp, các sở, phòng, ban, cơ quan trực thuộc của UBND), có chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định, được tổ chức theo một trật tự thứ bậc và hoạt động trong mối quan hệ truyền đạt, điều phối, kiểm tra, .để thực hiện quyền hành pháp và QL, điều hành mọi mặt đời sống xã hội của một quốc gia
b Cơ quan hành chính Nhà nước
Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Các bộ Các cơ quan
ngang bộ
Các cơ quan trực thuộc Chính phủ
Trang 32Trong thực tiễn và trong khoa học đã xuất hiện nhiều cách hiểu và sử
dụng khác nhau về thuật ngữ cơ quan hành chính nhà nước Trên cơ sở
cách tiếp cận khác nhau, có thể kể ra một số cách hiểu chủ yếu như sau:
Trong các từ điển tiếng Việt có những giải thích như sau [10]:
- Cơ quan hành chính Nhà nước là tổ chức cấu thành hệ thống hành chính nhà nước thống nhất, nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành của nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước giữ vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước, có mối liên hệ chặt chẽ với các
cơ quan nhà nước khác đồng thời là hệ thống thống nhất, trong đó, các cấp, các bộ phận có liên hệ hữu cơ với nhau và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ
- Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong phạm vi thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành và tham gia vào các quan hệ QL nhân danh quyền lực nhà nước [28]
- Trong giáo trình QLHCNN, thuật ngữ cơ quan hành chính nhà nước cũng được xác định “là một bộ phận của bộ máy nhà nước, do Nhà nước lập ra để thực hiện chức năng hành pháp và hành chính nhà nước” [42]
Như vậy, cơ quan hành chính nhà nước là thuật ngữ được sử dụng khi nói về “Một bộ phận (cơ quan) cấu thành của bộ máy hành chính nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện chức năng QL, điều hành (chức năng hành pháp) đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
1.3 Quản lý nhà nước về GD-ĐT
1.3.1 Vai trò, vị trí của GD-ĐT đối với sự phát triển xã hội
GD-ĐT giữ vai trò đặc biệt cần thiết đối với sự phát triển của mỗi con người và của cả xã hội Vốn con người bao gồm toàn bộ thể lực, trí lực, phẩm chất về đạo đức, về nhân cách Vốn đó nhờ GD-ĐT mà có Nó làm cho con
Trang 33người trở nên có ích, có giá trị, có chất lượng, góp phần tăng trưởng kinh tế
và phát triển xã hội
Loài người đang có ngày càng nhiều phát minh khoa học, công nghệ được ứng dụng vào cuộc sống, làm cho năng suất lao động xã hội tăng vượt bậc, tạo ra nhiều của cải vật chất và văn hóa Muốn thực hiện được như vậy, trước tiên phải có nguồn nhân lực, có trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn
do ngành GD-ĐT cung cấp Do đó, vị trí của GD-ĐT có ý nghĩa quyết định đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhà nước, đã từ lâu nhận thức được rất rõ vai trò, vị trí của GD-ĐT đối với sự phát triển, cho nên thường xuyên chăm lo cho sự nghiệp GD-ĐT
1.3.1.1 Hệ thống GD-ĐT ở Việt Nam
Hiện nay, hệ thống GD-ĐT ở Việt Nam gồm các bậc học và các loại hình sau đây [21]:
a GD mầm non
- Nhà trẻ : không bắt buộc, tối thiểu là 3 tháng tuổi, thời gian tối đa là 3 năm
- Mẫu giáo : không bắt buộc, tối thiểu từ 3 tuổi; thời gian tối đa là 3 năm
+ Trung học chuyên nghiệp : 2,5 đến 4 năm
d GD Cao đẳng đại học và sau đại học
+ Cao đẳng : 3 năm
+ Đại học : 4 đến 6 năm
+ Sau đại học (cao học, tiến sĩ)
Hệ thống GD-ĐT này về cơ bản có thể đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân trong cả nước Tuy nhiên, trước yêu cầu của CNH-HĐH đất
Trang 34nước, hệ thống đó cần tiếp tục tự hoàn thiện hơn Có nhiều vấn đề đang đặt ra cho hệ thống GD-ĐT Việt Nam khi bước vào thế kỷ 21 như :
- Tài chính, chỉ tiêu của GD-ĐT
- Hiệu quả của GD-ĐT
- Đội ngũ GV của hệ thống GD-ĐT
- Cơ sở vật chất của GD-ĐT
- GD-ĐT ở miền núi
- V.v
1.3.1.2 Thành tựu về GD-ĐT ở Việt Nam
Có thể khẳng định, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu trên lĩnh vực GD-ĐT, thể hiện ở những mặt cơ bản sau :
- Quy mô của GD-ĐT lớn và ngày càng phát triển Lượng HS, sinh viên mỗi năm đều tăng từ 1,8 triệu đến 2 triệu người So sánh năm học 1996 -
1997 với năm học 1990 - 1991 đã tăng gần 5 triệu em, trong đó trung học cơ
sở tăng gần 2 lần, trung học phổ thông tăng hơn 2 lần Ngoài ra, cao đẳng, đại học tăng 3,5 lần
- Việt Nam có một mạng lưới GD phát triển rộng khắp toàn quốc, từ thành thị đến nông thôn, miền núi, hải đảo Điều đó đã tạo cơ hội cho con em các gia đình ở khắp các miền được đến trường (đặc biệt là ở cấp tiểu học) và
do đó tạo ra sự công bằng được hưởng thụ, được tiếp cận với GD
- Có sự thống nhất trong cả nước về chương trình và nội dung giảng dạy, về sách giáo khoa của từng cấp học Đặc biệt là, việc dùng tiếng Việt và
Trang 35chữ quốc ngữ trong giảng dạy, học tập, kể cả viết luận án thạc sĩ và tiến sĩ khoa học
- Các hình thức tổ chức trong GD-ĐT cũng ngày càng đa dạng và mở rộng hơn (trường quốc lập, trường bán công, trường tư thục, trường dân lập)
- Các hình thức GD-ĐT cũng như vậy, gồm có nhiều loại : chính quy, tại chức, chuyên tu, GD thường xuyên, GD từ xa với sự hợp tác đắc lực của các phương tiện truyền thông: phát thanh và vô tuyến truyền hình; các lớp học buổi tối theo yêu cầu của người học (ngoại ngữ, tin học, kế toán, quản trị doanh nghiệp )
- Có một đội ngũ đông đảo GV, giảng viên, giáo sư và CBQL ở các cấp học rất tận tuỵ, vì tương lai của thế hệ trẻ Đội ngũ đó là động lực chủ yếu cho
sự phát triển của GD-ĐT được Nhà nước và nhân dân luôn luôn đánh giá cao
sự đóng góp của họ Sự tăng trưởng của kinh tế và những tiến bộ xã hội mà Việt Nam đạt được có phần đóng góp to lớn của những cán bộ nhân viên hoạt động trong ngành GD-ĐT
1.3.2 Quan điểm, phương hướng chính sách và mục tiêu của nhà nước về GD-ĐT
1.3.2.1 Quan điểm cơ bản
a.Chăm lo cho GD-ĐT là chăm lo cho con người và cho xã hội phát triển
Sự nghiệp GD-ĐT có trọng trách ĐT con người, ĐT thế hệ thanh thiếu niên với những yêu cầu về phẩm chất như sau :
- Gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
- Có đạo đức trong sáng
- Có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc
- Có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
- Phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam
- Có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực cá nhân
- Làm chủ tri thức khoa học, công nghệ hiện đại
Trang 36to lớn vĩ đại Cuộc cách mạng về khoa học, công nghệ mới diễn ra trên nhiều lĩnh vực, đòi hỏi con người Việt Nam phải có những tiến bộ vượt bậc, bắt kịp trình độ văn minh, trình độ khoa học, công nghệ thế giới để xây dựng đất nước mình Vì thế, phát triển GD-ĐT càng có ý nghĩa rất quan trọng
b Về nội dung, phương pháp GD-ĐT cần phải giữ vững mục tiêu XHCN
- Phát huy ảnh hưởng tích cực của một nền GD và ĐT tiến bộ, công bằng cho mọi người trong xã hội
- Hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế kinh tế thị trường tác động vào GD-ĐT
- Chống lại khuynh hướng "thương mại hóa" GD-ĐT, làm ảnh hưởng tới chức năng xã hội, chức năng GD nhân cách, đạo đức con người
Trên thực tế còn có nhiều vấn đề cần giải quyết trong GD-ĐT nhằm xây dựng một xã hội: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
c GD-ĐT thuộc về quốc sách hàng đầu của Nhà nước
Đó là nguồn lực chủ yếu để tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội Thiếu nguồn nhân lực do GD-ĐT cung cấp thì không có quốc gia nào có thể tiến triển được
Trang 37Tuy Việt Nam còn là một nước nghèo nhưng vẫn coi đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển
Nhà nước cố gắng thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với
GD-ĐT, làm giảm nhẹ những khó khăn và tạo thêm điều kiện cho GD-ĐT
Nhà nước quan tâm đến những giải pháp mạnh để phát triển GD-ĐT
d GD-ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân
Quan điểm này được hiểu theo một số nội dung như :
- Tạo điều kiện để mọi người đi học, học thường xuyên và học suốt đời
- Mọi người, mọi cấp, mọi tổ chức, các gia đình đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển GD-ĐT (đóng góp trí tuệ, công sức,vật lực, tài lực cho GD-ĐT)
- Kết hợp giữa GD nhà trường, GD gia đình và GD xã hội tạo thành một môi trường GD lành mạnh, có hiệu quả
e Phát triển GD-ĐT với nhu cầu về nguồn nhân lực của kinh tế - xã hội và khoa học, công nghệ là tất yếu Nếu không như vậy sẽ gây nên lãng phí tiền của và thời gian Sự gắn bó đó còn được xem xét kỹ trên các mặt: quy mô,
cơ cấu, chất lượng và hiệu quả của GD-ĐT
GD-ĐT phải gắn với thực tế của đất nước, làm cho HS, sinh viên không những am hiểu tình hình, đặc điểm, điều kiện của đất nước mà còn có năng lực giải quyết được những vấn đề của đất nước mình (bao gồm cả quốc phòng, an ninh)
f Thực hiện sự công bằng xã hội trong GD
Công bằng xã hội về GD, cần phải đạt được là :
- Tạo điều kiện để ai cũng được học, không vì nghèo, vì điều kiện khó khăn mà bị thất học, bị mù chữ Để người nghèo và con em họ được học tập, Nhà nước và cộng đồng cần giúp đỡ bằng các biện pháp khác nhau để họ tiếp cận được với GD-ĐT Đồng thời vẫn đảm bảo cho những người học giỏi phát triển tài năng
- Hiện nay, trên thực tế người nghèo, người ở miền núi, ở nông thôn xa đang có nhiều khó khăn về kinh tế so với người giàu; cự ly để tiếp cận với các
cơ sở GD-ĐT lại xa v.v nên việc thực hiện công bằng xã hội trong GD-ĐT
Trang 38còn là vấn đề phải tiếp tục phấn đấu Hơn nữa, giữa công bằng xã hội trong GD-ĐT với hiệu quả không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau Tập trung đầu
tư cho hiệu quả GD-ĐT đạt được mức cao, nhiều khi đòi hỏi chú trọng đến
HS, sinh viên học giỏi, có triển vọng trở thành nhân tài của đất nước có khi lại mâu thuẫn với đầu tư để phát triển GD, ĐT rộng khắp, đồng đều cho mọi vùng, mọi đối tượng có điều kiện được học tập Mẫu thuẫn này đòi hỏi phải tìm được cách giải quyết thích hợp
g Giữ vững vai trò nòng cốt của các trường công lập song song với đa dạng hóa các loại hình GD-ĐT
Để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng, nếu chi riêng các trường công lập thôi thì không đủ mà cần mở rộng các loại hình trường khác Tuy nhiên, các trường công lập đã được xây dựng từ lâu, có đội ngũ GV, có cơ sở vật chất để đảm bảo chất lượng, hoàn toàn có thể giữ vai trò nòng cốt Hiện nay, bên cạnh các trường công lập đã có các loại trường tư thục, bán công, dân lập Ở đó các loại chương trình, nội dung giảng dạy, sách giáo khoa v.v đều theo quy định thống nhất của Nhà nước Bên cạnh đó còn cần mở rộng một cách vững chắc các loại hình ĐT không tập trung, ĐT từ xa
1.3.2.2 Phương hướng và chính sách phát triển GD-ĐT đối với từng cấp học
a Về GD phổ thông
GD phổ thông cần tạo điều kiện cho từng cá nhân phát triển tối đa tiềm năng của mình, phải thoả mãn nhu cầu cơ bản về học tập của mỗi người Thực hiện cơ bản xóa mù chữ và phổ cập tiểu học Trong hệ thống trường phổ thông cần gắn học văn hóa với học nghề Việc giảng dạy theo hướng tinh gọn, hiện đại, tránh sự quá tải; đồng thời nâng cao kỹ năng thực hành, thực hiện từng bước phân luồng HS một cách hợp lý sau các cấp học
b Về GD đại học và sau đại học
Cần nhanh chóng đổi mới dạy và học để ĐT nguồn nhân lực có chất lượng cao Muốn vậy, phải tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các trường, đồng thời có chính sách tiền lương thỏa đáng đối với các giáo sư và giảng viên Trong ĐT cần dành ưu tiên cho một số ngành mũi nhọn: điện, điện tử, công nghệ sinh học, dầu khí, các công nghệ mới Đồng thời cần ĐT
Trang 39một đội ngũ các nhà QL, kinh doanh giỏi
c Về dạy nghề
Dạy nghề có vị trí quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực Vì thế phải mở rộng quy mô dạy nghề, đồng thời đáp ứng nhu cầu thay đổi nghề để thích ứng với công nghệ mới và nhu cầu của thị trường lao động Khâu ĐT nghề cho thanh niên đang là một đòi hỏi rất cấp bách Vì thế, cần phát triển nhiều hình thức dạy nghề, đồng thời hình thành một mạng lưới dạy nghề rộng khắp
d Về GD miền núi
Miền núi có những đặc điểm về địa lý, kinh tế, xã hội khác với đồng bằng
và đô thị, vì vậy cần phải có chính sách đặc biệt để GD-ĐT miền núi phát triển nhanh chóng và vững chắc, trong đó có việc ĐT đủ GV nhất là GV dân tộc ít người Nhà nước chủ trương xây dựng trường nội trú cho các huyện vùng cao, trợ cấp cho HS miền núi sách giáo khoa và đồ dùng dạy học
1.3.2.3 Mục tiều của GD-ĐT được nêu lên như sau
- Tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa các điều kiện dạy và học
- Phấn đấu để sớm có một số cơ sở đại học, THCN và dạy nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế
1.3.3 Nội dung QLNN về GD-ĐT
Hoạt động QLNN đối với GD-ĐT bao gồm các phương thức QL, tổ chức bộ máy QL, xây dựng chiến lược phát triển, hoạch định các chương trình, kế hoạch
1.3.3.1 Nhà nước ban hành, thực thi một hệ thống văn bản pháp luật
Luật Giáo dục được Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ tư từ ngày 25/10 đến ngày 2/12/1998 thông qua, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký lệnh công bố ngày 11/12/1998 là cơ sở pháp lý cao nhất cho hoạt
Trang 40động dạy và học của các cấp học, nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ
GD-ĐT ở nước ta trong thời kỳ mới Mọi hoạt động QLNN về GD-GD-ĐT đều phải dựa vào bộ luật này Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực GD-ĐT bao trùm các mặt cơ bản sau:
- Quy định cơ cấu khung của hệ thống GD: bậc học, thời gian ĐT, tuổi chuẩn vào lớp đầu từ cấp học, điều kiện học lực, văn bằng tốt nghiệp
- Quy định mạng lưới các trường, danh mục các ngành nghề ĐT, mục tiêu, chương trình, nội dung ĐT
- Ban hành các quy chế tuyển sinh, QL HS, sinh viên, nghiên cứu sinh
- Ban hành tiêu chuẩn và phong các chức danh, học vị, học hàm cho các GV; đồng thời quy định tiền lương và các loại phụ cấp cho GD-ĐT
- Xây dựng và ban hành các định mức về trang thiết bị và cơ sở vật chất của các trường
- Xét duyệt và cho phép in, phát hành sách giáo khoa và các ấn phẩm GD-ĐT
1.3.3.2 Xây dựng chiến lược phát triển GD-ĐT
Chính phủ đã có quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 về việc ban hành chiến lược GD-ĐT đến năm 2010 Nội dung chiến lược GD-ĐT bao gồm các bộ phận chính sau đây :
- Hiện trạng GD-ĐT nước ta
- Bối cảnh phát triển GD-ĐT trong tầm nhìn đến năm 2020
- Mục tiêu phát triển GD-ĐT đến năm 2010