1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

120 1K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết khoa học Nếu tìm ra được những biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác quản lý của nhà trường như được xác đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

TRẦN THỊ THUÝ NGÂN

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SINH VIÊN NGOẠI TRÚ

CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

- ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2008

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

KHOA SƯ PHẠM

TRẦN THỊ THUÝ NGÂN

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SINH VIÊN NGOẠI TRÚ

CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ -

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lí giáo dục

Mã số : 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh

HÀ NỘI – 2008

Trang 3

1.3 Công tác quản lý sinh viên trong các trường đại học 17 1.3.1 Vị trí, vai trò của công tác quản lý sinh viên trong trường đại học 17 1.3.2 Nội dung của công tác quản lý sinh viên trong các trường đại học 18 1.4 Công tác quản lý sinh viên ngoại trú trong các trường đại học 21 1.4.1 Mục đích của công tác quản lý sinh viên ngoại trú 21 1.4.2 Nội dung công tác quản lý sinh viên ngoại trú 22 1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý sinh viên ngoại trú 27

Trang 4

Chương 2: Thùc tr¹ng Sinh Viªn ngo¹i tró vµ

c«ng t¸c qu¶n lý Sinh viªn ngo¹i tró cña

tr-êng §¹i häc Ngo¹i ng÷ - §¹i häc Quèc gia

Hµ Néi

36

2.1 Khái quát về trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội 36

2.2 Thực trạng sinh viên ngoại trú trường Đại học Ngoại ngữ - Đại

học Quốc gia Hà Nội

2.3 Thực trạng công tác quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại

học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

2.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý sinh viên ngoại trú của

trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

62

Chương 3: Một số biện pháp quản lý Sinh Viên ngoại trú của

trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc gia hà nội

65

3.1 Nguyên tắc xác định các biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú

của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

65

Trang 5

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 65

3.2 Đề xuất một số biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú ở trường

Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 6

DANH TỪ KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội vì nó quyết định tương lai của mỗi con người và của cả dân tộc Điều đó đặt ra yêu cầu rất cao cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta

Trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước

ta đã xác định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu ”, “là động lực

của sự phát triển kinh tế - xã hội” Xác định được vị trí và tầm quan trọng của

giáo dục nên trong chiến lược phát triển giáo dục, ngành giáo dục đã và đang thực hiện đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ Một trong những đổi mới

cơ bản, quan trọng, cấp thiết của giáo dục hiện nay là đổi mới công tác quản

lý giáo dục Vì suy cho cùng mọi thành công hay thất bại trong giáo dục đều bắt nguồn và có nguyên nhân từ công tác quản lý giáo dục

Trong hoạt động quản lý của các trường đại học thì quản lý SV giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi SV là đối tượng của quá trình đào tạo Quản lý được đối tượng này sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Trong nội dung quản lý SV có nội dung quản lý SV ngoại trú Hiện nay, đây là vấn đề gây bức xúc và được sự quan tâm, lo lắng của nhà trường, gia đình và cả xã hội

Môi trường sống phức tạp với không ít các tệ nạn xã hội trong khi đó

SV là đối tượng rất dễ bị tác động, lôi kéo Hơn nữa, an ninh trật tự không tốt, điều kiện ăn ở thấp, môi trường sống không lành mạnh, SV phải thường xuyên thay đổi chỗ ở… là những vấn đề nổi cộm trong SV ngoại trú hiện nay Những vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đào tạo của nhà trường Trong khi đó, theo thống kê ở các trường đại học, trung bình có tới 80% SV phải ở ngoại trú Vậy phải làm sao để quản lý được đối tượng này nhằm hạn chế ở mức thấp nhất những tiêu cực nảy sinh và những khó khăn trong đời

Trang 8

sống của SV ngoại trú để SV yên tâm học tập và rèn luyện là vấn đề đang đặt

ra hiện nay

Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN là một trường đại học đầu

ngành của cả nước về đào tạo ngoại ngữ, có sứ mạng là“Đào tạo và bồi

dưỡng giáo viên ngoại ngữ cho hệ thống giáo dục quốc dân và hầu hết các lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước; đào tạo cán bộ biên, phiên dịch, chuyên gia nghiên cứu ngoại ngữ; đồng thời thực hiện đào tạo ngoại ngữ và tiếng Việt cho người nước ngoài, từ đó định ra các mục tiêu cơ bản để hoàn thành nhiệm vụ chiến lược mà Đảng, nhà nước, Bộ Giáo dục & Đào tạo và ĐHQGHN giao phó, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế của đất nước” Để hoàn thành sứ mạng lớn lao đó, lãnh đạo

và toàn thể cán bộ, giảng viên trong trường đang không ngừng nỗ lực để xây dựng nhà trường

Tuy được thành lập khá sớm (1955) và có hệ thống cơ sở vật chất khá tốt nhưng KTX của trường cũng chỉ đáp ứng gần 30% số SV của trường, còn lại trên 70% SV phải ở ngoại trú Hơn nữa, SV ngoại trú của trường lại phân bổ ở những khu vực khá phức tạp về điều kiện kinh tế xã hội và an ninh trật tự Vì vậy, nhà trường cũng đang đứng trước khó khăn trong vấn đề quản lý SV ngoại trú

Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia

Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình Đề tài góp phần

làm rõ thêm thực trạng về SV ngoại trú và công tác quản lý SV ngoại trú của nhà trường hiện nay Từ đó, xác định các biện pháp quản lý sao cho phù hợp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý SV nói riêng và chất lượng đào tạo SV nói chung của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về quản lý SV và quản lý SV ngoại trú và thực trạng công tác quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ -

Trang 9

ĐHQGHN, từ đó đề xuất những biện pháp quản lý SV ngoại trú nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý SV ngoại trú nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nói chung của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện các mục đích đề ra, luận văn tập trung triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu dưới đây:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lý SV ngoại trú ở các trường đại học

- Nghiên cứu thực trạng SV ngoại trú và công tác quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

- Đề xuất các biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý SV trong các trường đại học 4.2 Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý SV ngoại trú của trường Đại

học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

5 Giả thuyết khoa học

Nếu tìm ra được những biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác quản

lý của nhà trường như được xác định trong đề tài thì công tác quản lý SV ngoại trú của trường sẽ có hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp phân tích lý thuyết

Trang 10

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp thống kê toán học

7 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN với đối tượng là SV hệ chính quy

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng sinh viên ngoại trú và công tác quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 3: Một số biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người, được thực hiện một cách tự giác, vượt qua ngưỡng “tập tính” của các giống loài động vật bậc thấp khác Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đời của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo dục và từ đó cũng xuất hiện khoa học về quản lý giáo dục Đối với Việt Nam, tuy khoa học quản lý giáo dục còn là một ngành khoa học mới mẻ, nhưng được quan tâm đặc biệt, nên phát triển nhanh cả về lý luận và thực tiễn

Một trong những đối tượng quan trọng trong quản lý giáo dục là người học Người học vừa là đối tượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo Để nâng cao chất lượng đào tạo, ngoài việc xem xét các yếu tố người dạy, nội dung, chương trình, giáo trình, cơ sở vật chất… thì không thể không nghiên cứu trực tiếp là đối tượng người học Xung quanh vấn đề người học có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu trong đó có vấn đề quản lý người học

Trước đây, do phần lớn SV học tại các trường Đại học, Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đều được bố trí nơi ở trong KTX nên những nghiên cứu về quản lý SV ngoại trú hầu như không được đề cập; có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu liên quan đến việc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các bậc học khác nhau như: Nguyễn Hữu Hợp (chủ biên), Nguyễn Dục Quang -

“Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học” (giáo trình dành cho

hệ đại học tại chức đào tạo giáo viên tiểu học) - Trường Đại học Sư phạm Hà

Nội, Hà Nội 1995; Hà Thế Ngữ (chủ biên) và nhiều tác giả - “Giáo dục đạo

đức và giáo dục công dân qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” –

Nhà xuất bản Giáo dục 1996; Huỳnh Lâm Anh Chương - “Nghiên cứu thực

trạng một số hoạt động ngoài giờ lên lớp của SV nội trú trường Đại học Sư

Trang 12

phạm Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sỹ Tâm lý học, Trường Đại

học Sư phạm Hà Nội, 1999 …

Những năm gần đây, ở hầu hết các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học Chuyên nghiệp do cơ sở vật chất hạn hẹp, KTX của trường chỉ đủ sức chứa khoảng 20% tổng số HSSV, còn 80% HSSV phải ở ngoại trú tại gia đình, tại các nhà trọ Môi trường sống phức tạp đã làm cho tình hình SV ngoại trú có nhiều vấn đề nổi cộm Năm 2002 Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành Quy chế Công tác HSSV ngoại trú trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Đây thực sự là một bước đột phá trong việc tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý SV ngoại trú và cũng là cái mốc đưa vấn đề quản lý SV ngoại trú thành một vấn đề cần phải nghiên cứu

Xung quanh vấn đề này đã có một vài tác giả chọn làm nội dung nghiên

cứu như: “Các giải pháp quản lý lối sống SV ngoại trú các trường Đại học,

cao đẳng tại Hà Nội”; Đặng Nam Thắng, Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội, 2006; “Một số biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả

rèn luyện của SV trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam”, Nguyễn Thị Kim

Thoa, Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006… Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới dừng lại ở một khía cạnh nhỏ của công tác quản lý

SV ngoại trú

Vài năm lại đây, đã xuất hiện một số tác giả chọn vấn đề quản lý SV

ngoại trú làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình như: “Những biện

pháp quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Hồng Đức trên địa bàn thành phố Thanh Hóa” của tác giả Hà Ngọc Hòa - Luận văn thạc sỹ quản lý giáo

dục Khoa Sư phạm - ĐHQGHN, 2005, “Một số biện pháp quản lý SV ngoại

trú của trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế I - Bộ Y tế” của tác giả Nguyễn Văn

Khởi - Luận văn thạc sỹ - Đại học Sư phạm Hà Nội - 2005, “Một số biện pháp

nâng cao hiệu quả quản lý SV ngoại trú của Đại học Quốc gia Hà Nội” của

tác giả Nguyễn Quốc Tú - Luận văn thạc sỹ trường Đại học Sư phạm Hà Nội,

Trang 13

2005… Những nghiên cứu này đã tìm hiểu thực trạng công tác quản lý SV ngoại trú của trường và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý Tuy nhiên, đó là những nghiên cứu mang tính cụ thể áp dụng trong những môi trường cụ thể, của từng trường trong khi đó công tác quản lý SV ngoại trú lại phụ thuộc vào đặc thù của từng nhà trường

Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN cũng gặp phải vấn đề nan giải trong công tác quản lý SV ngoại trú như các trường khác nói chung nhưng xuất phát từ đặc điểm riêng của mỗi trường nên không thể áp dụng biện pháp quản lý của trường này vào trường khác Chính vì vậy, việc nghiên cứu cụ thể thực trạng SV ngoại trú và công tác quản lý SV ngoại trú của nhà trường là cần thiết, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp quản lý Do vậy, vấn đề

“Biện pháp quản lý SV ngoại trú của Trường Đại học Ngoại ngữ -

ĐHQGHN” là vấn đề cần được nghiên cứu

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý

Khái niệm quản lý

Lịch sử đã chứng minh rằng, để tồn tại và phát triển, ngay từ khi loài người xuất hiện trên trái đất, con người đã liên kết với nhau thành các nhóm

để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những

cá nhân riêng lẻ, nhằm chống lại sự tiêu diệt của thú dữ và thiên nhiên, đồng thời cũng xuất hiện một loạt các mối quan hệ: quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan

hệ giữa con người với chính bản thân mình Trong quá trình đó đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được người khác, cũng như điều khiển mọi hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung Những người đó đã đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều đó đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý Như vậy, hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm như một yếu tố cần

Trang 14

thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung và

nó tồn tại, phát triển đến ngày nay

Nói đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của C.Mác: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà sự hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh

từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [9, tr.480]

Còn theo H.Koontz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất

Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận quản lý ở Việt Nam trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới” [2, tr.176] Quản lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” và quá trình “lý” “Quản” là coi sóc giữ gìn, duy trì sự ổn định của hệ “Lý” là sửa

sang sắp xếp, đổi mới tạo ra sự phát triển của hệ Hệ ổn định mà không phát

triển tất yếu hệ sẽ suy thoái Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu sẽ dẫn

Trang 15

đến rối ren Quản lý nhằm ngăn chặn mọi sự suy thoái và rối ren Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm tới việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đạt nền tảng của sự ổn định, thì sự phát triển của tổ chức không bền vững Trong “quản” phải có “lý” trong “lý” phải có

“quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong với các

nhân tố bên ngoài

Qua các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nước,

tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể kết luận: Quản lý

là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động

Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Là khoa học vì nó là những tri thức được hệ thống hoá và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt Quản lý là khoa học nghiên cứu, lý giải các mối quan hệ, đặc biệt là mối quan

hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý Là nghệ thuật bởi nó là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt trong việc sử dụng những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết nhằm tác động một cách có hiệu quả nhất tới khách thể quản lý

Như vậy, quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, mỗi một lĩnh vực có một hệ thống lý luận riêng: các nhà kinh tế thiên về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về quản lý nhà nước, các nhà điều khiển học thiên về quan điểm hệ thống Cho nên khi đưa các định nghĩa về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình Nhưng, bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một

Trang 16

doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp đến một tập thể nhỏ như tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: Người quản lý và đối tượng được quản lý Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung Vì vậy, những nhà quản lý phải luôn luôn mềm dẻo, linh hoạt để vận dụng những nguyên tắc quản lý khác nhau trong từng lĩnh vực và tình huống cụ thể cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả quản lý cao nhất

Các chức năng quản lý

- Chức năng kế hoạch hóa:

Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Chức năng kế hoạch hoá có ba nội dung cơ bản là:

+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;

+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này

+Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên

- Chức năng tổ chức

Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các

nguồn nhân lực để thực hiện hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học cho con người, công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần Công tác tổ chức bao gồm:

+Xác định cấu trúc của bộ máy

+ Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy

+ Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức

- Chức năng chỉ đạo

Trang 17

Chỉ đạo là quá trình điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp

đỡ con người, tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức

Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:

+ Chỉ huy, ra lệnh

+ Động viên khen thưởng

+Theo dõi, giám sát

+ Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý

- Chức năng kiểm tra

Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần thiết

và phải thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo

Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:

+ Xây dựng chuẩn thực hiện

+ Đánh giá việc thực hiện trên chính sách so với chuẩn

+ Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động

Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham gia của hai yếu tố quan trọng là thông tin và quyết định Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo

Phương pháp quản lý

Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đặt ra Trong quản lý hiện đại, phương pháp quản lý được đúc kết từ nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học

xã hội và khoa học hành vi Phương pháp quản lý rất phong phú, đa dạng và

Trang 18

tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau

- Phương pháp thuyết phục là phương pháp dùng lý lẽ để tác động đến nhận thức của con người

- Phương pháp kinh tế: là sự tác động của chủ thể đến đối tượng thông qua các lợi ích kinh tế

- Phương pháp hành chính tổ chức: là cách thức tác động của chủ thể tới đối tượng trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính

- Phương pháp tâm lý, giáo dục: đây là cách thức tác động đến đối tượng thông qua tâm lý, tình cảm, tư tưởng

1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

Theo Khuđôminxki “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý

thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ bộ đến trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ; bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ Trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như những quy luật khách quan của quá trình dạy học - giáo dục, của sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên, cũng như thanh niên (19, tr.10]

Trang 19

Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tát cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là Nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [20, tr.37]

Từ quan điểm trên chúng ta có thể khái quát rằng: QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục

và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý Mọi hoạt động giáo dục và QLGD đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD

1.2.2.2 Quản lý nhà trường

Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước và xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: ”Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [32, tr.205]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [26, tr.34]

Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt; các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường Đó

là một hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của

Trang 20

chủ thể quản lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra đối với ngành giáo dục trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

Quản lý nhà trường gồm:

- Quản lý chương trình dạy-học và giáo dục của nhà trường;

- Quản lý HS (quản lý các hoạt động của HS);

- Quản lý giáo viên, phát triển nghề nghiệp của người thày;

- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, thư viện của nhà trường, đảm bảo cho nhà trường hoạt động để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra

Các biện pháp quản lý có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành một

hệ thống các biện pháp Các biện pháp này sẽ giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt các phương pháp quản lý của mình, mang lại hiệu quả hoạt động tối ưu cho bộ máy

1.2.4 Sinh viên, sinh viên ngoại trú

1.2.4.1 Sinh viên

Trường đại học cổ nhất đầu tiên trên thế giới là Al-Azhar ở Ai Cập năm

970, kế đến là trường đại học kiểu mới hơn, là trung tâm nghiên cứu khoa học đào tạo đa ngành ở trình độ cao nhất, xuất hiện lần đầu tiên ở thời trung cổ và

Trang 21

thế kỷ 12 ở Tây Âu (Bologna và Salerno 1158 ở Ý, Paris 1215 và Montpllier

1289 ở Pháp, Oxford và Cambiride 1209 ở Anh, Salamca 1290 ở Tây Ban Nha và Lisbone 1290 ở Bồ Đào Nha) rồi lan truyền dần sang phía Đông và phía Bắc: Praha 1348 ở Cezh, Krakow 1364 ở Ba Lan, Viên 1365 ở Áo Từ đây, thuật ngữ “sinh viên” ra đời để chỉ những người theo học ở bậc đại học Thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Student” có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức Nó được dùng cùng nghĩa tương đương với từ “Student” trong tiếng Anh, “Etudiant” trong tiếng Pháp và “Cmgenm” trong tiếng Nga

Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ “sinh viên” được diễn nghĩa ra là người bước vào cuộc sống, cuộc đời Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “sinh viên” được dùng để chỉ người học ở bậc đại học [33, tr.860]

Như thế, nếu không xét về hình thức gọi tên thì sự ra đời của thuật ngữ

“sinh viên” đã gắn liền với lịch sử ra đời của trường đại học (hơn 700 năm đối với SV thế giới và gần 300 năm đối với SV Việt Nam)

Theo cách phổ biến hiện nay trong xã hội thì khái niệm “sinh viên” được Nhà nước thể chế hoá, pháp lý hoá thuật ngữ này bằng luật định Trong Luật giáo dục đã thống nhất cách gọi đối với SV như sau:

Sinh viên là người đang học tại các trường cao đẳng, trường đại học [4, tr.73]

Như vậy, tất cả những người học ở bậc cao đẳng và đại học đều được gọi là sinh viên

Ngày nay, “học, học nữa, học mãi” (Lênin) là khẩu hiệu của toàn xã hội

và học tập là công việc suốt đời Các trường cao đẳng và đại học mở rộng cửa cho tất cả những ai có nguyện vọng và điều kiện không phân biệt lứa tuổi, giới tính, giàu nghèo…đều có thể học bằng nhiều con đường, hình thức khác

Trang 22

nhau: chuyên tu, tại chức, văn bằng 2… Do đó, với khái niệm SV như trên thì ngoại diên của nó rất rộng

Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu với đối tượng là

SV hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này như sau:

- Đó là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông

- Họ đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng và đỗ vào trường

- Họ thuộc nhóm thanh niên nam, nữ từ 17 đến 25 tuổi

- Họ chưa có nghề nghiệp, việc làm xác định do đó còn lệ thuộc gia đình về kinh tế

- Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn để bước vào một nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ

1.2.4.2 Sinh viên ngoại trú

Theo Quy chế công tác HSSV ngoại trú trong các trường Đại học, Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 43/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 22 tháng 10 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo:

“HSSV không ở trong các KTX do nhà trường quản lý được gọi là HSSV ngoại trú”(Điểm 1 điều 1 Quy chế HSSV ngoại trú)

Như vậy, SV ngoại trú bao gồm ba đối tượng sau:

- SV sống với cha mẹ và gia đình ở nhà riêng

- SV sống với người thân hoặc gia đình người thân ở nhà riêng

- SV sống tại các nhà trọ không phải KTX của trường

Đặc điểm không ở trong KTX do nhà trường quản lý là cơ sở để xác định SV ngoại trú

Trang 23

1.2.5 Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú

Biện pháp quản lý SV ngoại trú là nội dung, cách thức, cách giải quyết vấn đề SV ngoại trú của nhà trường cùng những lực lượng ngoài nhà trường

có liên quan đến SV ngoại trú nhằm hình thành nhân cách của SV theo yêu cầu, mục tiêu đào tạo

Chủ thể chính thực hiện các biện pháp quản lý SV ngoại trú là nhà trường, chủ hộ, trưởng khối phố (thôn), chính quyền phường (xã) chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức, phối hợp thực hiện các biện pháp quản lý do mình hoạch định đối với đối tượng chịu quản lý là SV ngoại trú theo yêu cầu của công tác SV ngoại trú

Chúng ta cũng cần xác định rõ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản

lý và mục tiêu cần đạt có mối quan hệ chặt chẽ, quan hệ ấy có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Trang 24

Sơ đồ 1.1: Về mối quan hệ giữa các yếu tố trong quản lý

Để đạt các mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý phải tổ chức, phối hợp, khích lệ, động viên, dẫn dắt, định hướng hoạt động của đối tượng quản lý vào mục tiêu đã được xác định trước thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ quản lý

Như vậy, xét cho cùng thì biện pháp quản lý SV ngoại trú chính là một loại công cụ quản lý HSSV ngoại trú, nhằm từng bước đưa HSSV ngoại trú đi đến mục tiêu của công tác HSSV ngoại trú Bởi vì công cụ quản lý là những phương tiện, những giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hoà, phối hợp hoạt động của con người và cộng đồng trong việc đạt mục tiêu đề ra

1.3 Công tác quản lý sinh viên trong các trường đại học

1.3.1 Vị trí, vai trò của công tác quản lý sinh viên trong trường đại học

Trong số những người được giáo dục - đào tạo để có thể đủ sức làm chủ nền khoa học, công nghệ hiện đại của nước nhà sau này thì SV là người tiêu biểu, là những người đang được đầu tư, đang được đào tạo ở giai đoạn cuối cùng trong nhà trường một cách có hệ thống Đó là nguồn lực con người lao động có chất lượng và trình độ cao, có chuyên môn sâu, là lực lượng ưu tú

Chủ thể quản lý Xác định

Đối tượng quản lý

Mục tiêu quản lý

Thực hiện

Trang 25

về học vấn trong thanh niên, được Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, gia đình và toàn thể xã hội quan tâm chăm sóc và đặt nhiều tin tưởng, hy vọng

Trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo nói chung và trong các trường đại học nói riêng thì công tác quản lý SV góp phần hỗ trợ tích cực cho giảng dạy (thầy) và học tập (trò), cũng như đảm nhận mọi mặt của công tác quản lý Quản lý SV từ các khâu hành chính, giáo vụ, đến giáo dục ngoài giờ, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức và tổ chức phong trào SV (kết hợp với Đoàn thanh niên, Hội SV ) sẽ hỗ trợ và tạo điều kiện về vật chất và tinh thần học tập để SV rèn luyện trở thành nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao Công tác quản lý SV có ý nghĩa quyết định trong việc đổi mới và phát triển bền vững yếu tố con người về chất lượng nhận thức tri thức và hành động Quản lý SV là mảng công tác trọng tâm thiết yếu của nền giáo dục đại học nước ta trong việc đảm bảo kỷ cương pháp luật nhà trường và rèn luyện SV Công tác này do Phòng (Ban) chính trị và công tác HSSV (Hoặc Phòng Quản lý SV), Phòng (Ban) đào tạo phụ trách (đơn vị tham mưu cho Ban

giám hiệu trong công tác SV)

Công tác quản lý SV được coi là một trong những công tác trọng tâm của nhà trường nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ

và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

1.3.2 Nội dung của công tác quản lý sinh viên trong các trường đại học

Sinh viên là nhân vật trung tâm trong nhà trường Vì vậy, cần phải quản

lý được đối tượng này theo mục đích quản lý để hướng SV vào mục tiêu đào tạo của nhà trường Chính vì vậy, bên cạnh công tác đào tạo thì công tác quản

lý SV là một hoạt động lớn của nhà trường

Trang 26

Công tác quản lý SV trong các trường đại học tập trung vào các nội dung cơ bản sau:

- Tổ chức tiếp nhận SV vào ở nội trú

- Thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý hồ sơ của SV

- Tổ chức phát bằng tốt nghiệp cho SV

- Giải quyết các công việc hành chính khác có liên quan cho SV

Công tác tổ chức quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của SV

- Theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của SV

- Phân loại, xếp loại SV cuối mỗi học kỳ hoặc năm học, khoá học;

- Tổ chức thi đua khen thưởng cho tập thể và cá nhân SV có thành tích cao trong học tập và rèn luyện

- Xử lý kỷ luật đối với SV vi phạm quy chế, nội quy

- Tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân SV” vào đầu khoá học, đầu năm

và cuối khoá học

- Tổ chức cho SV tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, thi SV giỏi, Olympic các môn học, thi sáng tạo tài năng trẻ và các hoạt động khuyến khích học tập khác

- Tổ chức triển khai công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho SV; tổ chức cho SV tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ và các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác; tổ chức đối thoại định kỳ giữa Hiệu trưởng nhà trường với SV

Trang 27

- Theo dõi công tác phát triển Đảng trong SV; tạo điều kiện thuận lợi cho SV tham gia tổ chức Đảng, đoàn thể trong trường; phối hợp với Đoàn TNCS HCM, Hội Sinh viên và các tổ chức chính trị – xã hội khác có liên quan trong các hoạt động phong trào của SV, tạo điều kiện cho SV môi trường rèn luyện, phấn đấu

- Tổ chức tư vấn học tập, nghề nghiệp, việc làm cho SV

Công tác y tế, thể thao

- Tổ chức thực hiện công tác y tế trường học

- Tổ chức khám sức khoẻ cho SV khi vào nhập học

- Chăm sóc, phòng chống dịch, bệnh và khám sức khoẻ định kỳ cho SV trong thời gian học tập theo quy định

- Xử lý những trường hợp không đủ tiêu chuẩn sức khoẻ để học tập

- Tạo điều kiện cơ sở vật chất cho SV luyện tập thể dục, thể thao; tổ chức cho SV tham gia các hoạt động thể dục, thể thao

- Tổ chức nhà ăn tập thể cho SV bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm

- Thực hiện các chế độ, chính sách đối với SV

- Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với SV về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, bảo hiểm, tín dụng đào tạo và các chế độ khác có liên quan đến SV

- Tạo điều kiện giúp đỡ SV tàn tật, khuyết tật, SV diện chính sách, SV

Trang 28

- Tuyên truyển, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống tội phạm, ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS và các hoạt động khác

có liên quan đến SV; hướng dẫn SV chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế

- Tư vấn pháp lý, tâm lý, xã hội cho SV

Thực hiện công tác quản lý SV nội trú, ngoại trú

- Tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý SV nội trú, ngoại trú theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

1.4 Công tác quản lý sinh viên ngoại trú trong các trường đại học

1.4.1 Mục đích của công tác quản lý sinh viên ngoại trú

Theo quy chế công tác SV ngoại trú do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo quyết định số 43/2002/QĐ-BGD&ĐT, ngày 22/10/2002 thì công tác SV ngoại trú trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp nhằm các mục tiêu sau:

+ Góp phần rèn luyện SV ngoại trú trong việc thực hiện nhiệm vụ của người học theo quy định của Luật giáo dục, điều lệ nhà trường và quy chế cụ thể của từng trường

Mục tiêu cuối cùng cuả công tác quản lý SV nói chung và quản lý SV ngoại trú nói riêng là hướng SV vào hoạt động học tập và rèn luyện để thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường

+ Xây dựng nền nếp, kỷ cương trong việc quản lý SV ngoại trú: bảo đảm nắm bắt kịp thời thực trạng SV ngoại trú

Thực trạng SV ngoại trú rất phức tạp: các hoạt động của SV ra sao, diễn biến tư tưởng thế nào, đời sống ăn ở có những khó khăn, thuận lợi gì Công tác quản lý SV ngoại trú đòi hỏi phảI nắm bắt được thực trạng này để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm hướng các em vào việc thực hiện tốt nhiệm vụ chung của người học

Trang 29

+ Ngăn chặn, đẩy lùi, xoá bỏ cơ bản những biểu hiện tiêu cực, không lành mạnh trong SV ngoại trú, đặc biệt là các tệ nạn xã hội

Với môi trường sống phức tạp, thường xuyên chịu ảnh hưởng của những mặt trái của nền kinh tế thị trường do vậy nguy cơ bị nhiễm các tệ nạn

xã hội và có những biểu hiện tiêu cực, không lành mạnh trong SV ngoại trú là không thể tránh khỏi Vì vậy, công tác quản lý SV ngoại trú phải nhằm mục đích là ngăn chặn, đẩy lùi, xoá bỏ cơ bản những biểu hiện tiêu cực, không lành mạnh trong SV ngoại trú, đặc biệt là các tệ nạn xã hội

1.4.2 Nội dung công tác quản lý sinh viên ngoại trú

Theo Quy chế công tác HSSV ngoại trú do Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ban hành hiện nay thì công tác quản lý SV ngoại trú của nhà trường gồm 4 nội dung sau:

Nội dung 1: Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý SV ngoại

trú đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu của công tác SV ngoại trú Các yêu cầu đó là:

- Phải đảm bảo phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các đơn vị trong nội bộ nhà trường, trước hết giữa phòng (ban) quản lý SV với Đoàn THCS Hồ Chí Minh, Hội SV nhà trường

- Phải đảm bảo phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương

- Phải đảm bảo giám sát kịp thời trong việc nắm bắt thực trạng SV ngoại trú

Nội dung 2: Ban hành các quy định cụ thể của nhà trường về công tác

HSSV ngoại trú phù hợp với các quy định của quy chế công tác SV ngoại trú

do Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ban hành

Trong các quy định cụ thể của nhà trường về công tác SV ngoại trú trước hết phải ban hành được quy định đối với bộ máy làm công tác quản lý

SV ngoại trú của nhà trường (về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ), sau đó là

Trang 30

quy định đối với SV ngoại trú (quyền lợi, trách nhiệm) Làm việc với chính quyền địa phương để ban hành được quy chế phối hợp giữa nhà trường - địa phương Sau khi đã ban hành được các quy định này, cần phải tổ chức quán triệt các quy định đó cho tất cả các thành viên của bộ máy quản lý (chủ thể quản lý) và các SV ngoại trú (đối tượng quản lý)

Việc soạn thảo các quy định cho công tác quản lý SV ngoại trú phải dựa vào quy chế của Bộ giáo dục và đào tạo, vào điều kiện cụ thể của nhà trường, của địa phương sao cho các quy định ấy mang tính khả thi, động viên được cả người quản lý và người bị quản lý

Nội dung 3: Tổ chức bộ máy quản lý SV ngoại trú

Rõ ràng bộ máy quản lý SV ngoại trú phải được tổ chức như một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng, quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được bố trí thành từng cấp, từng khâu, thực hiện các chức năng quản lý nhất định nhằm đạt mục tiêu định trước của công tác HSSV ngoại trú

Thông thường, trong một trường đại học, bộ máy quản lý sinh viên được chia thành 3 cấp: Trường - Khoa - Lớp Có thể khẳng định rằng: Bộ máy quản lý SV ngoại trú càng hoàn thiện thì công tác SV ngoại trú càng có cơ sở vững chắc mang tính quyết định cho sự thành công và đạt hiệu quả cao trong quản lý SV ngoại trú Chính đối tượng SV ngoại trú quyết định cơ cấu tổ chức

bộ máy quản lý HSSV ngoại trú Việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý SV ngoại trú không mang mục đích tự thân mà là phương tiện để nâng cao hiệu quả quản lý SV ngoại trú

Tổ chức bộ máy quản lý SV ngoại trú còn có một nét riêng biệt là bộ máy này bao gồm cả những người trong và ngoài nhà trường (địa phương) Chính nét riêng biệt này đòi hỏi một nỗ lực ngoại giao, một nỗ lực trong việc

Trang 31

phối hợp của nhà trường với địa phương nơi trường đóng và gia đình SV ngoại trú

Như vậy, mỗi nhà trường cần thành lập một tổ công tác SV ngoại trú hoạt động mang tính độc lập tương đối, giúp hiệu trưởng trong công tác quản

lý SV ngoại trú Tổ công tác này có các nhân sự từ các đơn vị, đoàn thể cơ sở của trường: Phòng Quản lý HSSV (chủ trì), phòng Đào tạo, Đoàn TN, Hội SV trường, cán bộ quản lý SV khoa, bộ môn

Riêng đối với phòng quản lý HSSV, trong khi Bộ giáo dục và đào tạo chưa có văn bản quy định về định biên cán bộ làm công tác HSSV ngoại trú thì mỗi nhà trường cần căn cứ vào đặc thù của mình và của địa phương nơi trường đóng, địa bàn HSSV ngoại trú để có định biên cán bộ chuyên trách công tác HSSV ngoại trú, biên chế thuộc phòng quản lý HSSV

Tổ công tác HSSV ngoại trú của trường chịu sự quản lý hành chính (theo kế hoạch công tác HSSV ngoại trú của trường) của phòng quản lý HSSV - đơn vị cơ sở được hiệu trưởng uỷ quyền chỉ đạo và tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá công tác HSSV ngoại trú của trường Các thành viên tổ công tác HSSV ngoại trú không thuộc phòng quản lý HSSV có thể làm công tác HSSV ngoại trú như một công tác kiêm nhiệm để thuận tiện cho việc thực hiện nhiệm vụ trong công tác chuyên môn chính của họ

Tổ công tác SV ngoại trú thực hiện kế hoạch công tác SV ngoại trú được xây dựng dựa trên các nội dung quản lý SV ngoại trú của trường, nhằm thực hiện các yêu cầu, mục tiêu của công tác SV ngoại trú do Bộ giáo dục và đào tạo quy định

Nội dung 4: Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác SV ngoại trú

Kiểm tra, đánh giá là chức năng cuối cùng của quản lý Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động

so với các mục tiêu và kế hoạch đã định, có kế hoạch tiếp tục hướng dẫn việc

Trang 32

sử dụng các nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu và kiểm tra xác định xem chúng hoạt động có phù hợp với mục tiêu và kế hoạch hay không

Mục đích của kiểm tra nhằm đảm bảo cho kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp sửa chữa kịp thời những sai sót đó Quá trình kiểm tra phổ biến cho mọi hệ thống gồm 3 bước:

Bước 1: Xây dựng các chỉ tiêu

Bước 2: Đo lường việc thực hiện nhiệm vụ theo các chỉ tiêu

Bước 3: Đánh giá các chỉ tiêu so với kế hoạch

Kiểm tra việc thực hiện công tác SV ngoại trú nhằm cung cấp cho nhà trường và địa phương các thông tin cần thiết để đánh giá đúng tình hình của

SV ngoại trú và kết quả hoạt động của bộ máy quản lý SV ngoại trú, đồng thời dự kiến quyết định bước phát triển mới cho công tác SV ngoại trú

Việc đánh giá công tác SV ngoại trú cũng cần có quan điểm toàn diện, nghĩa là phải xem xét trên tất cả các mặt của công tác quản lý Mỗi biện pháp quản lý thường đưa đến kết quả trên nhiều mặt và biểu hiện qua những khoảng thời gian nhất định Do đó, phải tìm ra quan hệ bản chất của các kết quả quản lý SV ngoại trú đang thực hiện với các biện pháp trước đó

Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác SV ngoại trú phải có sự phối hợp của nhiều lực lượng trong và ngoài nhà trường Đây là việc làm không dễ

gì thực hiện như một nền nếp, nếu không có kế hoạch cụ thể và quyết tâm cao của các nhà trường

Trên đây, là bốn nội dung cơ bản trong công tác quản lý SV ngoại trú của các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Bốn nội dung này

có quan hệ mật thiết với nhau, thực hiện nội dung này là tiền đề cho việc thực hiện nội dung khác; nếu thiếu một nội dung hoặc nội dung này thực hiện không có hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng đến nội dung khác và làm cho công tác quản lý SV ngoại trú không đạt được mục tiêu

Trang 33

Tại điều 5 - Quy chế công tác HSSV ngoại trú (ban hành kèm theo quyết định số 43/2002-QĐ-BGD&ĐT, ngày 22/10/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) nêu rõ trách nhiệm của nhà trường trong công tác HSSV ngoại trú, bao gồm:

- Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chính, trực tiếp chỉ đạo công tác HSSV ngoại trú của trường

- Phòng (ban) quản lý HSSV có trách nhiệm giúp hiệu trưởng chỉ đạo

và tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá công tác HSSV ngoại trú của trường

- Các đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường, trước hết là Đoàn TNCS HCM, Hội SV Việt Nam, có trách nhiệm góp phần thực hiện công tác HSSV ngoại trú

Như vậy, trong mỗi trường đại học, cao đẳng, phòng (Ban) quản lý SV

là đơn vị tham mưu cho Hiệu trưởng về công tác HSSV ngoại trú

Cụ thể Phòng (Ban) quản lý SV ngoại trú có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Phối hợp với công an, chính quyền địa phương nơi có SV của trường thường trú hoặc đang tạm trú để:

+ Xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, an toàn xã hội trên địa bàn dân cư đối với HSSV ngoại trú

+ Tổ chức gặp mặt định kỳ (ít nhất mỗi học kỳ một lần) với HSSV ngoại trú để cung cấp những thông tin về nhà trường, địa phương và lấy ý kiến của HSSV về công tác HSSV ngoại trú

+ Giao ban ít nhất mỗi năm một lần để thông báo giữa nhà trường với công an và chính quyền địa phương về tình hình HSSV ngoại trú, từ đó đề ra những biện pháp phối hợp nhằm quản lý tốt HSSV ngoại trú

Trang 34

- Hướng dẫn HSSV nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp của Nhà nước, nội quy quy chế của nhà trường và các quy định của chính quyền địa phương

- Cấp giấy chứng nhận cho SV của trường được phép ở ngoại trú để công an phường (xã, thị trấn) có cơ sở giải quyết cho đăng ký tạm trú

+ Lập danh sách trích ngang SV ngoại trú theo từng đơn vị lớp, khoa, ghi rõ đầy đủ địa chỉ thường trú hoặc tạm trú (họ và tên chủ nhà, số nhà, đường phố (thôn, xóm), phường (xã, thị trấn), quận, (huyện)) và ngày đăng ký thường trú hoặc tạm trú

- Kết thúc mỗi học kỳ, năm học thu giấy nhận xét của công an đối với

SV ngoại trú về việc chấp hành luật pháp của Nhà nước, quy định của chính quyền địa phương, những thành tích đóng góp choa địa phương hoặc những khuyết điểm vi phạm của SV

- Căn cứ vào nhận xét của công an để kết hợp với việc phân loại SV theo Quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo

1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý sinh viên ngoại trú

1.4.3.1 Đặc điểm của sinh viên

Như đã trình bày, SV là những người học ở bậc cao đẳng, đại học Do vậy, SV có những đặc điểm chủ yếu sau:

- SV là một bộ phận trong thanh niên, đó là những thanh niên ưu tú, có trình độ tri thức vượt trội, có vị thế và uy tín, được xã hội tôn vinh

- Là một lực lượng đông đảo, được quản lý có tổ chức, có vai trò và vị trí quan trọng ở các thành phố lớn SV là nguồn chất xám quý giá, giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước SV là những trí thức tương lai nên họ cũng có đặc tính chung của tri thức thể hiện ở khả năng ham học hỏi,

Trang 35

và khả năng tiếp thu tri thức, khoa học mới, nhạy bén với các vấn đề chính trị,

xã hội, công nghệ…

- Môi trường học tập thay đổi: Khi ở gia đình và học ở trường phổ thông, họ có sự giám sát, quản lý chặt chẽ của cha mẹ, thầy cô giáo Nhưng đến đại học thì không còn khép kín như thế Vì ở môi trường đại học, SV có tính chủ động cao, cùng với sự trưởng thành về xã hội, về tâm - sinh lý; qua

đó nhiều nhu cầu được khơi dậy và xuất hiện, phát triển theo hướng đa dạng, phong phú hơn như: nhu cầu tìm hiểu, mở rộng kiến thức tăng lên, nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần (tình bạn và tình yêu ), nhu cầu được học tập,

tự học, tự đào tạo rèn luyện để bản thân tự khẳng định, hoàn thiện vị trí của mình trong trường hợp và xã hội ngày càng tăng (theo định hướng cho nghề nghiệp tương lai sau khi tốt nghiệp để vào đời)

- Ở độ tuổi thanh niên: Đây là giai đoạn tâm - sinh lý của các em phát triển mạnh nên đại bộ phận SV còn nông nổi, thiếu kinh nghiệm cuộc sống xã hội, trò mò Do đó, SV đánh giá các hiện tượng đời sống xã hội một cách nông cạn nên dễ có thái độ cực đoan đối với các sự việc này Nhận thức cũng chưa đầy đủ, dễ bị kích động và lôi kéo khi những gì vượt qua phạm vi của khái niệm khoa học hạn hẹp đã học Đây là một trong những nhược điểm mà nhà trường, các nhà giáo dục cần lưu ý để khắc phục và hướng các em đi đúng mục tiêu đào tạo

- Về đặc điểm cơ thể của SV:

Đây là thời kỳ cơ thể đã hoàn thiện và ổn định sau những biến đổi sâu sắc của tuổi dậy thì Thời kỳ này các cơ quan trong cơ thể với các chức năng của nó đã tương đối hoàn thiện và hài hoà Đặc biệt là trọng lượng não của

SV ở thời kỳ này đã đạt đến mức tối đa Sự hoạt động của các tế bào thần kinh trong não ở thời kỳ này cũng trở nên hoàn hảo Điều này tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho hoạt động nhận thức của SV

- Về đặc điểm xã hội của SV

Trang 36

Đương nhiên SV vẫn là đối tượng đang còn được tiếp tục giáo dục nhưng xã hội đang nhìn nhận họ như một chủ thể có ý thức, có trách nhiệm của các hoạt động của mình và đánh giá các kết quả hoạt động của họ theo tiêu chuẩn “người lớn” Họ vừa là một công dân với đầy đủ tư cách pháp lý của nó, vừa là một SV

Nói chung, về mặt kinh tế, SV còn phụ thuộc gia đình, nhưng ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, SV đã năng động hơn và có ý thức tự lo của mình, một số SV đã kiếm việc làm thêm để có thu nhập, giảm bớt gánh nặng

về kinh tế cho gia đình, đồng thời chủ động hơn trong chi tiêu và có điều kiện kinh tế để học thêm Tuy nhiên, vì SV chính thức chưa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, chưa độc lập về mặt kinh tế, lại còn đang là đối tượng của sự giáo dục nên một mặt nào đó họ còn chưa được coi là người lớn hoàn toàn

-Về đặc điểm tâm lý của SV:

+ Sự phát triển tự ý thức là một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở SV Tự ý thức là ý thức và sự đánh giá của con người về hành động và kết quả tác động của mình, đánh giá về tư tưởng, tình cảm, phong cách đạo đức và hứng thú, về tư tưởng và động cơ của hành vi, là sự đánh giá toàn diện về chính bản thân mình và vị trí của mình trong cuộc sống

Nội dung tự ý thức của SV bao gồm: Tự ý thức về hình dáng bên ngoài của mình, về vị trí xã hội và điều kiện sống của mình, về xu hướng nghề nghiệp của mình, về những phẩm chất, khả năng của mình

+ Sự hình thành và phát triển thế giới quan, niềm tin và nắm vững các chuẩn giá trị, các yêu cầu của nghề nghiệp được thể hiện, bộc lộ rõ nét

+Sự xuất hiện và phát triển tình yêu nam nữ là một nét đặc trưng về mặt tình cảm ở lứa tuổi này

- Về đặc điểm nhân cách của SV:

Đặc điểm nhân cách của SV được thể hiện rõ, gồm:

+ Nhu cầu phát triển của SV phong phú, đa dạng

Trang 37

+ Hứng thú của SV từ rộng đến chuyên sâu

+ Quan điểm sống của SV hình thành rõ nét

+ Đời sống nội tâm của SV phong phú và phức tạp Dưới góc độ nhà quản lý, cần phải đi sâu, đi sát để có thể nắm bắt được những tâm tư, tình cảm của SV để có thể có những định hướng cho sinh SV

+ Ý chí và năng lực tự lập của SV phát triển Giai đoạn này, SV có ý thức muốn tách khỏi gia đình, muốn khẳng định mình Trong bối cảnh hiện nay với trào lưu dân chủ hoá, làn sang công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân trong SV ngày càng rõ Họ ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân Sự quan tâm và hy sinh vì người khác thấp đi và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận SV Vì vậy, nhà trường

và gia đình cần quan tâm đến các em, hình thành trong các em tính ý thức về bản thân nhưng cũng không vì thế mà chạy theo lối sống thực dụng, thờ ơ với cộng đồng xã hội

Có thể nói, đây là giai đoạn mà nhân cách của SV đang được định hình

Vì vậy, nhà trường, gia đình và xã hội phải có những biện pháp phù hợp để

Trang 38

Như vậy, một đặc điểm nổi bật của SV đó là đặc điểm về sự hình thành và phát triển nhân cách Có thể nói sự phát triển nhân cách của SV là một quá trình biện chứng của sự phát triển tự ý thức dưới sự tác động đa chiều của xã hội Nhân cách của con người được hình thành và phát triển trong suốt cả cuộc đời, song những năm tháng sống và học tập trong nhà trường đại học là thời kỳ hình thành, phát triển mạnh mẽ nhất của SV về nhân cách của người chuyên gia tương lai

Sự phát triển nhân cách SV được thể hiện trong phương thức giáo dục đối với SV là biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của bản thân các em Vì SV là một bộ phận tinh tuý của thanh niên Việt Nam, được xã hội tôn vinh là “nguyên khí quốc gia”, là những hiền tài, những nhà trí thức trẻ tương lai, có trình độ học vấn cao, đã và đang được đào tạo ở trường đại học Mặc dù mỗi người đều có hoàn cảnh, học lực khác nhau, nhưng họ có điểm chung là tuổi đời còn rất trẻ Họ chính là nguồn cung cấp chất xám quý báu,

bổ sung cho tầng lớp trí thức Việt Nam về số lượng và chất lượng tốt nhất để góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Do đó, trong công tác giảng dạy và giáo dục SV chúng ta phải biết khai thác, sử dụng, phát huy những yếu tố tích cực cũng như thế mạnh, hạn chế những điểm yếu của SV để đề ra mục tiêu, chương trình, kế hoạch, cách thức và nội dung hoạt động đào tạo giáo dục SV cho phù hợp với tâm - sinh lý, kích thích sự hình thành và phát triển nhân cách người học Qua đó giúp cho nhân cách công dân -

SV được bộc lộ và đi đúng hướng mà nhà trường và xã hội mong đợi

1.4.3.2 Đặc điểm của sinh viên ngoại trú

Ngoài những đặc điểm của SV nói chung, SV ngoại trú có những đặc điểm riêng sau:

- Đặc điểm về điều kiện sống và hoạt động:

+ Sống và hoạt động trong các nhà riêng:

SV ngoại trú có thể được ở trong phòng riêng hoặc phòng chung (từ 2 đến nhiều SV) Trong mỗi phòng chung có thể là SV cùng lớp, cùng khoá,

Trang 39

cùng khoa hoặc khác lớp, khác khoa, khác khoá; có thể cùng hoặc khác chuyên ngành được đào tạo; cùng tuổi hoặc không cùng tuổi Đương nhiên, nếu các SV còn độc thân thì bạn cùng phòng nói chung phải cùng giới tính Trong mỗi phòng chung, các SV có thể khác nhau về quê hương, về thành phần xuất thân, về trình độ nhận thức và quan niệm sống song họ có chung một mục đích là học tập để trở thành những người có nghề nghiệp theo chuyên ngành được đào tạo

+ Sống và hoạt động trong sự quản lý của cha mẹ, người thân hoặc chủ

hộ cho thuê trọ, của chính quyền địa phương các cấp ngoại trú, ít chịu sự quản

lý trực tiếp của nhà trường hơn so với SV nội trú

+ Sống và học trong “môi trường mang tính gia đình” (môi trường vật chất và tinh thần), và vì vậy SV bắt buộc phải có mối quan hệ mang tính gia đình với những người xung quanh

Như vậy, SV ngoại trú sống và hoạt động hoàn toàn thoát ly khỏi tầm kiểm soát trực tiếp của nhà trường Đây là đặc điểm nổi bật của SV ngoại trú

và cũng là đặc điểm để phân biệt SV nội trú và SV ngoại trú

- Do sống phân tán trong các nhà trọ hoặc gia đình riêng nên đời sống

SV ngoại trú ít mang tính tập thể, được định hướng theo mục đích cá nhân

Do vậy, không thể có nội quy cụ thể cho SV ngoại trú như SV nội trú

- Nhân cách của SV ngoại trú được hình thành, chịu tác động, ảnh hưởng một phần của nhiều yếu tố trong môi trường sống ngoại trú Đó là những người sống xung quanh: người thân, bạn bè cùng trọ, chủ nhà và cộng

đồng xã hội quanh khu vực cư trú của SV

Chính vì những đặc điểm riêng này mà công tác quản lý SV ngoại trú là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự tham gia không chỉ của nhà trường mà còn cần có sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành

1.4.3.3 Điều kiện kinh tế xã hội

Trang 40

Qua hơn 20 đổi mới, đất nước ta đã có nhiều thay đổi quan trọng Dưới

sự lãnh đạo của Đảng, đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nước ta có những thay đổi to lớn Chính trị ổn định, kinh tế có những bước tăng trưởng nhất định, văn hoá xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện … Điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi này tạo tiền đề cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo Đầu tư cho giáo dục không ngừng tăng lên Chủ trương xã hội hoá giáo dục nhận được sự đồng tình, ủng hộ của toàn xã hội Được sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước

và toàn xã hội, điều kiện sống và học tập của SV không ngừng được cải thiện

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi kể trên, nền kinh tế xã hội nước ta cũng tồn tại không ít những hạn chế có ảnh hưởng tiêu cực đến công tác giáo dục và đào tạo

Kinh tế phát triển kéo theo một loạt những tệ nạn nảy sinh: nạn cờ bạc,

đề đóm, rượu chè, ma túy, mại dâm… Trong xã hội đang hình thành lối sống chạy theo đồng tiền khiến mối quan hệ gắn bó giữa những người thân trong gia đình, giữa cá nhân với cá nhân, giữa cộng đồng với cá nhân ngày càng kém khăng khít, các cá nhân có xu hướng sống biệt lập, chỉ biết mình…Điều

đó có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với tầng lớp trẻ nói chung và SV nói riêng,

là những đối tượng đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách,

do không được quan tâm đúng mức nên đã hình thành những suy nghĩ, hành động lệch chuẩn

Đất nước mở cửa hội nhập kéo theo những biến động về hệ thống các giá trị truyền thống về đạo đức, về bản sắc văn hóa với sự du nhập của nhiều thang giá trị và nhiều luồng văn hóa Thanh niên nói chung và SV nói riêng

dễ bị lóa mắt trước những điều mới lạ, khó xác định được đâu là những tinh hoa văn hóa cần phải tiếp thu và với sức đề kháng còn yếu khiến những luồng văn hóa ngoại lai rất dễ xâm thực

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Đắc Hƣng. Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai – vấn đề và giải pháp. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai – vấn đề và giải pháp
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
2. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí. Khoa học tổ chức và quản lý. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tổ chức và quản lý
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1999
3. Đặng Quốc Bảo. Hoạt động quản lý và sự vận dụng vào quản lý nhà trường phổ thông. Tài liệu dành cho học viên cao học quản lý giáo dục, Khoa Sƣ phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động quản lý và sự vận dụng vào quản lý nhà trường phổ thông
4. Bộ Giáo dục và đào tạo, Tìm hiểu Luật Giáo dục 2005. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Luật Giáo dục 2005
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
6. Bộ Giáo dục và đào tạo. Quy chế công tác HSSV ngoại trú trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế công tác HSSV ngoại trú trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
7. Bộ Giáo dục và đào tạo. Quy chế HSSV các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hệ chính quy. Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế HSSV các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hệ chính quy
9. Các Mác và Ph.Ăng Ghen toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mác và Ph.Ăng Ghen toàn tập, tập 23
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
11. Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Cơ sở khoa học quản lý. Tài liệu dành cho học viên cao học quản lý giáo dục, Khoa Sƣ phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học quản lý
12. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
13. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Vũ Cao Đàm. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
15. Trần Khánh Đức. Tài liệu học tập môn Cơ cấu tổ chức và quản lý hệ thống giáo dục quốc dân. Tài liệu dành cho học viên cao học quản lý giáo dục, Khoa Sƣ phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập môn Cơ cấu tổ chức và quản lý hệ thống giáo dục quốc dân
16. Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy. Tâm lý học. Nhà xuất bản giáo dục, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
17. Harold Koontz, Cyrill O’donnell. Heinz Weihrich. Những vấn đề cốt yếu của quản lý. Nhà xuất bản Khao học kỹ thuật, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Tác giả: Harold Koontz, Cyrill O’donnell, Heinz Weihrich
Nhà XB: Nhà xuất bản Khao học kỹ thuật
Năm: 1992
18. Nguyễn Văn Khởi. Một số biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường Cao đẳng kỹ thuật y tế I – Bộ Y tế. Luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường Cao đẳng kỹ thuật y tế I – Bộ Y tế
19. Khuđôminski. Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn huyện, quận, Trường Bồi dưỡng quản lý giáo dục, Hà Nội - 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn huyện, quận
20. Trần Kiểm. Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục. Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm
Năm: 2006
22. Đặng Bá Lãm. Quản lý Nhà nước về giáo dục – lí luận và thực tiễn. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về giáo dục – lí luận và thực tiễn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
23. Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Quản lý nguồn nhân lực, tài liệu dành cho học viên cao học quản lý giáo dục, Khoa Sƣ phạm, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn nhân lực
24. Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Tâm lý học quản lý. Tài liệu dành cho học viên cao học quản lý giáo dục, Khoa Sƣ phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học quản lý

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Về mối quan hệ giữa các yếu tố trong quản lý - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Sơ đồ 1.1 Về mối quan hệ giữa các yếu tố trong quản lý (Trang 24)
Bảng 2.1. Thống kê cơ cấu SV của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.1. Thống kê cơ cấu SV của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN (Trang 47)
Bảng 2.3. Đánh giá của nơi cƣ trú về những biểu hiện tích cực của SV - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.3. Đánh giá của nơi cƣ trú về những biểu hiện tích cực của SV (Trang 54)
Bảng 2.6.  Những thuận lợi của SV trong điều kiện ở ngoại trú - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.6. Những thuận lợi của SV trong điều kiện ở ngoại trú (Trang 57)
Bảng 2.7. Những khó khăn của SV trong điều kiện ở ngoại trú - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.7. Những khó khăn của SV trong điều kiện ở ngoại trú (Trang 58)
Bảng  2.8  phản  ánh  thực  trạng  là  cán  bộ,  giảng  viên  trong  trường  có  đánh giá khá cao về mức độ cần thiết của công tác quản lý SV ngoại trú: 36%  cho là rất cần thiết, 30% cho là cần thiết, 26% cho là bình thường và không có - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
ng 2.8 phản ánh thực trạng là cán bộ, giảng viên trong trường có đánh giá khá cao về mức độ cần thiết của công tác quản lý SV ngoại trú: 36% cho là rất cần thiết, 30% cho là cần thiết, 26% cho là bình thường và không có (Trang 60)
Bảng 2.10. Đánh giá của cán bộ địa phương về mức độ cần thiết - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.10. Đánh giá của cán bộ địa phương về mức độ cần thiết (Trang 61)
Bảng 2.11. Đánh giá mức độ thực hiện các nội dung của công tác quản lý - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.11. Đánh giá mức độ thực hiện các nội dung của công tác quản lý (Trang 62)
Bảng  2.14.  Đánh  giá  mức  độ  thƣc  hiện  công  tác  kiểm  tra  đánh  giá  công tác  quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
ng 2.14. Đánh giá mức độ thƣc hiện công tác kiểm tra đánh giá công tác quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN (Trang 69)
Sơ đồ 3.1: Về mối quan hệ và sự phối hợp giữa các lực lƣợng - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Sơ đồ 3.1 Về mối quan hệ và sự phối hợp giữa các lực lƣợng (Trang 91)
Bảng  3.1  :  Kết  quả  kiểm  chứng  về  mức  độ  cần  thiết  của  các  biện  pháp - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
ng 3.1 : Kết quả kiểm chứng về mức độ cần thiết của các biện pháp (Trang 96)
Bảng 3.2 : Kết quả kiểm chứng về mức độ khả thi của các biện pháp  quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 3.2 Kết quả kiểm chứng về mức độ khả thi của các biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN (Trang 97)
Hình thành bộ phận chuyên trách quản lý - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Hình th ành bộ phận chuyên trách quản lý (Trang 99)
Hình thực tế - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Hình th ực tế (Trang 111)
Hình  thành  bộ  phận  chuyên  trách - Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
nh thành bộ phận chuyên trách (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm