- Điều tra, khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở và thực trạng các biện pháp của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc trong việc phát tri
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Học viên: Lê Minh Tiến
Cao học quản lý giáo dục khóa 6 Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS.Nguyễn Đức Trí
HÀ NỘI – 2008
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 đã được khẳng định tại Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[29]
Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”[30] Phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững [60]
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng
bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”[2]
Đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) giáo dục có vai trò quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục của nhà trường
Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển nền giáo dục cách mạng, đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục nước ta được xây dựng ngày càng đông đảo, phần lớn có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng được nâng cao Đã góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta
Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục còn bộc lộ những hạn chế, bất cập Số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đội ngũ CBQL còn thiếu so
Trang 3với nhu cầu, số lượng CBQL có trình độ chuyên môn trên chuẩn, được bồi dưỡng
về chuyên môn nghiệp vụ quản lý, bồi dưỡng về lý luận chính trị từ trung cấp trở lên còn ít Tính chuyên nghiệp của đội ngũ CBQL giáo dục chưa cao, trình độ và năng lực điều hành quản lý còn bất cập, đặc biệt trong tham mưu, chỉ đạo và tổ chức thực hiện v.v
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ, những năm qua Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lập Thạch luôn bám sát đường lối công tác cán bộ của Đảng, có sự vận dụng sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương Mặc dù công tác xây dựng phát triển đội ngũ CBQL đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, nhưng nhìn chung đội ngũ CBQL trường Trung học cơ sở của huyện Lập Thạch hiện nay xét về số lượng, cơ cấu và chất lượng nhiều mặt chưa ngang tầm đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ Công tác cán bộ còn chậm đổi mới, việc tham mưu đề xuất để xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ CBQL còn nhiều hạn chế, bất cập, yếu kém, chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ đặt
ra của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Vì vậy, việc xây dựng, bồi dưỡng phát triển đội ngũ CBQL các trường Trung học cơ sở hiện nay là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách đối với ngành Giáo dục-Đào tạo huyện Lập Thạch
Do đó tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THCS trên
địa bàn huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
Trang 44 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định những vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở nói riêng
- Điều tra, khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở
và thực trạng các biện pháp của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc trong việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học
cơ sở hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học cơ sở huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
5 Giả thuyết khoa học
Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở trường phổ thông có ý nghĩa
quyết định đối với chất lượng giáo dục ở nhà trường phổ thông
Áp dụng một cách đồng bộ và sáng tạo các biện pháp của Phòng Giáo dục trong công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc được tác giả đề xuất sẽ đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay
6 Phạm vi nghiên cứu
Việc điều tra, khảo sát thực trạng được giới hạn trong thời gian từ năm 2003 đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa trong nghiên cứu các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, của Nhà nước và của địa phương về chính sách phát triển giáo dục; về giáo dục, quản lý giáo dục, quản lý đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; một số văn bản khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu sách, tài liệu, báo cáo khoa học về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý đội ngũ
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp phỏng vấn
Trang 5Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng các công thức toán học để tổng hợp, thống kê xử lý số liệu
8 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý của Phòng Giáo dục- Đào tạo huyện trong việc phát triển đội ngũ CBQL trường THCS Luận văn đề xuất các biện pháp của Phòng Giáo dục và Đào tạo trong việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường
Trung học cơ sở ở huyện
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung
học cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung
học cơ sở trên địa bàn huyện Lập Thạch trong giai đoạn hiện nay
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN
1.1 Các khái niệm công cụ cơ bản của đề tài
1.1.1 Quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thuật ngữ quản lý được định nghĩa là:
“Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”[42]
Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý Trong mỗi chu trình quản lý chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hòa, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực v.v để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định [35]
Trong cuốn Lý luận quản lý nhà nước của Mai Hữu Khuê, xuất bản năm 2003
có định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác Từ khi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài người thì
đã xuất hiện sự quản lý Sự quản lý đã có trong cả xã hội nguyên thủy, ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối”[35]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành
và đạt được mục đích của tổ chức”[14]
F.W.Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[44] H.Koontz thì khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm
Trang 7(tổ chức)” Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và
sự bất mãn cá nhân ít nhất Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn [44]
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của mọi tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó
Khái niệm quản lý có ngoại diên rất rộng, từ việc ăn uống đến sinh bệnh lão
tử, từ cá nhân đến gia đình, từ quốc gia đến thế giới, từ vật chất đến tinh thần, nơi nào có sự hiện diện của con người thì đều cần đến quản lý C.Mác đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động
cá biệt, tản mạt, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại
Ông viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ
sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điểu khiển lấy mình, còn
một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [44]
Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất Có người cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua sự nỗ lực của người khác Cũng có người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đặt được mục đích của nhóm Tuy nhiên theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có
chủ đích của con người, cho đến nay nhiều người cho rằng: Quản lý chính là các
hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn Từ những ý chung của các định nghĩa và xét
quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động
Trang 8có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra
Năm 1979, Glater đưa ra định nghĩa cho rằng: “Quản lý giáo dục liên quan đến hoạt động tổng hợp của các cơ sở giáo dục, các mối quan hệ với môi trường, cũng như với các cơ quan điều hành”[15]
Dựa vào khái niệm “Quản lý” một số nhà nghiên cứu về giáo dục đưa ra nhiều định nghĩa về QLGD, một số định nghĩa điển hình như sau:
Học giả nổi tiếng M.I Kônđacôp: “QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức, cán bộ, kế hoạch hoá, tài chính cung tiêu v.v nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng
cả về mặt số lượng lẫn chất lượng” [51]
Theo P.V.Khuđôminxky: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ” [15]
Theo Đặng Quốc Bảo: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân" [15]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “ QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm tụ hội là quá trình dạy
Trang 9học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [58]
Theo Đỗ Ngọc Đạt: “ QLGD là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục, sử dụng tốt nhất tiềm năng và điều kiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành” [33]
Trong giáo dục nảy sinh việc phân biệt quản lý giáo dục và quản lý nhà nước
về giáo dục, một mặt, là do sự ra đời các loại hình cơ sở giáo dục không thuộc sở hữu nhà nước, mặt khác, ngay các cơ sở giáo dục thuộc nhà nước cũng cần có mức độ tự chủ cao hơn để đáp ứng nhu cầu của những đối tác không thuộc phạm
vi sở hữu nhà nước Thông qua quản lý nhà nước về giáo dục, việc thực hiện các chủ trương chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục, chú ý thực hiện các mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục v.v mới được triển khai, thực hiện có hiệu quả Quản lý nhà nước về giáo dục có thể được coi là khâu then chốt của then chốt nhằm đảm bảo sự thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục
Theo tự điển Bách khoa về Giáo dục học, khái niệm quản lý nhà nước về giáo
dục được giải nghĩa là: “Thực hiện công quyền để quản lý các hoạt động giáo
dục trong phạm vi toàn xã hội” Như vậy có thể hiểu: Quản lý nhà nước về giáo
dục là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục quốc gia [44]
Có thể hiểu khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục một cách đầy đủ hơn như sau:
Quản lý nhà nước về giáo dục là sự quản lý của các cơ quan quyền lực nhà
nước, của bộ máy quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương lên các thành
tố của hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đã xác định [34]
Nếu xem quản lý nhà nước như là một hệ thống, thì quản lý nhà nước về giáo dục là một hệ thống bao gồm các thể chế, cơ chế quản lý giáo dục; tổ chức, bộ
Trang 10máy quản lý giáo dục và đội ngũ cán bộ và công chức quản lý giáo dục các cấp
Ba bộ phận này có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm lẫn nhau trong quá trình vận hành, tác nghiệp
Xuất phát từ khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục cùng với việc phân tích các tính chất, đặc điểm và nguyên tắc quản lý nhà nước về giáo dục có thể rút ra kết luận:
Quản lý nhà nước về giáo dục là hoạt động của Nhà nước (các cơ quan quản
lý nhà nước) trong lĩnh vực giáo dục trên các phương diện lập pháp, hành pháp
và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước Nói các khác, quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước (các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục), chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đề ra [44]
Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử và
hệ thống văn bằng
1.1.3 Đội ngũ cán bộ quản lý
Theo từ điển Tiếng Việt, CBQL là: “Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức phân biệt với người không có chức vụ”[36] CBQL là chủ thể quản lý gồm những người giữ vai trò tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý CBQL là người chỉ huy, lãnh đạo tổ chức thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức Người quản lý vừa là người lãnh đạo, quản lý cơ quan đó vừa chịu sự lãnh đạo, quản lý của cấp trên
CBQL có thể là trưởng hoặc phó trưởng của một tổ chức được cơ quan cấp trên bổ nhiệm bằng Quyết định hành chính Nhà nước Cấp phó giúp việc cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về công việc được phân công
1.1.4 Đội ngũ
Theo Từ điển Tiếng Việt “Đội ngũ là tập hợp một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng” [36]
Trang 11Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng rãi như: Đội ngũ tri thức, đội ngũ giáo viên, đội ngũ thanh niên tình nguyện v.v Ở một nghĩa chung nhất ta thường hiểu: Đội ngũ là tập hợp một số đông người thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề nhưng có chung mục đích xác định, họ làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về lợi ích vật chất và tinh thần cụ thể
Như vậy đội ngũ CBQL chính là một bộ phận của đội ngũ Trong một nhà trường thì, đội ngũ CBQL chính là tập hợp những người đứng đầu nhà trường, đứng đầu một đơn vị, phòng ban, các chuyên viên, cùng chung một nhiệm vụ quản
lí trường học
Đội ngũ CBQL giáo dục được đề cập trong luận văn này là đội ngũ CBQL các trường trung học cơ sở bao gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường trung học cơ sở CBQL của mỗi trường THCS, là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước về trọng trách quản lý trường THCS nhằm thực hiện mục đích giáo dục học sinh THCS phát triển toàn diện theo định hướng, mục tiêu giáo dục trung
học nằm trong sự vận hành của hệ thống giáo dục quốc dân
Theo Khoản 1, Điều 54, Luật Giáo dục năm 2005 thì: Hiệu trưởng là người
chịu trách nhiệm quản lí các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận [61]
Phó hiệu trưởng là người thực hiện và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về nhiệm vụ được hiệu trưởng phân công; cùng với hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước cấp trên về phần việc được giao
Khoản 2, Điều 16, Điều lệ Trường trung học quy định: Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng phải là giáo viên đạt trình độ chuẩn quy định, đã dạy học ít nhất 5 năm ở bậc trung học hoặc bậc học cao hơn, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt; có trình độ chuyên môn vững vàng; có năng lực quản lý được bồi dưỡng lý luận và nghiệp vụ QLGD, có sức khỏe, được tập thể giáo viên, nhân viên tín nhiệm [10]
1.1.5 Phát triển
Theo từ điển tiếng Việt, phát triển là “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [36]
Trang 12Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực (PTNNL), phát triển đội ngũ Còn theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật hiện tượng và con người trong xã hội Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên
Theo tác giả Đặng Bá Lãm, “phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ biến mất và cái mới ra đời v.v Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao Còn cái cao là cái thấp đã phát triển” [46]
Như vậy, sự vật, hiện tượng, con người, xã hội biến đổi để tăng tiến về số lượng, chất lượng dưới tác động của bên trong hoặc bên ngoài đều được coi là phát triển
1.1.6 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
Phát triển đội ngũ chính là việc tạo ra các giá trị mới cho đội ngũ để đội ngũ
đó được thay đổi, hoàn thiện theo một chiều hướng tích cực Phát triển đội ngũ CBQL tức là nhằm vào hoàn thiện kết quả lao động tổng thể của người quản lý trong cương vị công tác hiện tại của họ và chuẩn bị cho họ đảm nhận những trách nhiệm cao hơn, nặng nề hơn và phức tạp hơn
Phát triển đội ngũ CBQL là một bộ phận của hệ thống PTNNL Phát triển đội ngũ CBQL là một khái niệm tổng hợp bao gồm cả đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp, cả tăng tiến về số lượng lẫn chất lượng và sử dụng có hiệu quả đội ngũ này Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã dẫn tới
xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa và vậy là đòi hỏi phải có sự thay đổi trong mọi lĩnh vực Với ngành giáo dục thì đổi mới và phát triển đội ngũ CBQL là một
sự đột phá cho phát triển chất lượng giáo dục Đề án xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2005 - 2010 của Chính phủ
đã nhấn mạnh “Xây dựng và thực hiện chuẩn hóa đội ngũ CBQL giáo dục Đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ CBQLGD các cấp về kiến thức, kỹ năng
Trang 13quản lý và rèn luyện phẩm chất đạo đức; đồng thời điều chỉnh sắp xếp lại cán bộ theo yêu cầu mới phù hợp với năng lực và phẩm chất của từng người Sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật thích hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý” [65] Phát triển đội ngũ CBQL giáo dục ở nước ta trong hoàn cảnh hiện nay phải quán triệt các yêu cầu về PTNNL Đó là xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục trên cả ba nội dung: quy mô, chất lượng và cơ cấu
Quy mô thể hiện bằng số lượng Phát triển đội ngũ nhằm đủ về số lượng
Cơ cấu thể hiện sự hợp lý trong sự bố trí về cơ cấu chuyên ngành, độ tuổi, giới, chuyên môn, nghiệp vụ v.v hay nói cách khác tạo ra ê kíp đồng bộ, đồng tâm nhất trí có khả năng hỗ trợ bù đắp cho nhau về mọi mặt
Chất lượng thể hiện bằng phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ sư phạm, đây là nhân tố quan trọng nhất trong công tác xây dựng đội ngũ Chất lượng CBQL giáo dục ở các nhà trường phổ thông là phẩm chất và năng lực của người CBQL trường phổ thông mà những phẩm chất và năng lực đó phải phù hợp với các yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục phổ thông trong từng giai đoa ̣n hoă ̣c từng thời kỳ li ̣ch sử cu ̣ thể Trong đó , phẩm chất của CBQL trường phổ thông đươ ̣c thể hiê ̣n ở tư tưởng chính tri ̣, đa ̣o đức nhà giáo, ý chí kiên định với lý tưởng của Đảng và của Chủ ti ̣ch Hồ Chí Minh trên bước đường xây dựng xã hô ̣i chủ nghĩa trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế ; năng lực của CBQL trường phổ thông là các chuẩn mực về kh ả năng hoàn thành chức năng và nhiê ̣m vu ̣ quản lý nhà trường phổ thông mà ho ̣ phải quản lý [70] Như vâ ̣y, chất lươ ̣ng của đội ngũ CBQL trường phổ thông phu ̣ thuô ̣c vào trình
đô ̣ đào ta ̣o , mă ̣t khác, còn phụ thuộc vào cơ cấu tuổi , giới v.v Đặc biệt tại các tỉnh có dân tộc ít người, cơ cấu CBQL là người dân tô ̣c ít người cũng không kém phần quan tro ̣ng Chất lượng CBQL trường phổ thông còn phu ̣ thuô ̣c vào công tác xây dựng và phát triển đội ngũ đó của huyện, tỉnh, thành phố
Công tác phát triển đội ngũ CBQL giáo dục hướng đến viê ̣c nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường phổ thông trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay phải tâ ̣p trung vào viê ̣c xây dựng và thực hiê ̣n có hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng dự báo phát triển giáo dục phổ thông và xây dựng quy hoa ̣ch phát triển đội ngũ CBQL Trên cơ sở quy hoa ̣ch đó
Trang 14thực hiê ̣n có chất lượng viê ̣c tuyển cho ̣n, đề bạt và sử dụng theo một cơ cấu thích
hơ ̣p; đồng thời tăng cường đào tạo , bồi dưỡng để nân g cao phẩm chất chính tri ̣,
đa ̣o đức và trình đô ̣ nhà giáo [70]
Trên cơ sở thu thập thông tin thực tế, từ điều tra thực trạng tình hình phát triển đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý, lập kế hoạch dự báo, trong phạm vi các cấp học đã được phân cấp quản lý, phòng GD-ĐT huyện sẽ tiến hành quy hoạch đội ngũ CBQL sao cho đồng bộ về cơ cấu, thể hiện sự sự cân đối về độ tuổi, về giới, về dân tộc,
về trình độ, về chuyên môn đào tạo v.v
1.1.7 Trường Trung học cơ sở
Điều 2, Điều lệ Trường trung học quy định: Trường Trung học cơ sở là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông Trường trung học cơ sở có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng [10]
Điều 43, Điều lệ trường trung học quy định nhà trường phải chủ động phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với gia đình và xã hội để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục [10]
Trường THCS thực hiện nội dung giáo dục trung học cơ sở Giáo dục THCS là bậc học sau giáo dục tiểu học, được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi Giáo dục THCS là bước kế tiếp giáo dục tiểu học, kế thừa và phát triển những kết quả đã đạt được trong bậc giáo dục tiểu học, đồng thời cung cấp những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để người học sinh có thể tiếp tục học lên giáo dục THPT hoặc tham gia lao động
Giáo dục THCS là một bậc học quan trọng, mang tính phổ thông, toàn diện và hướng nghiệp Giáo dục THCS chuẩn bị cho một phần học sinh sau khi học xong chương trình giáo dục THCS sẽ học tiếp lên THPT, một phần sẽ đi vào cuộc sống lao động hoặc các trường trung học chuyên nghiệp, các trường dạy nghề Do đó trong nội dung của chương trình giáo dục THCS phải đổi mới theo hướng chủ động hơn, thực tế hơn, tập trung vào hình thành và phát triển khả năng thích nghi, hiểu biết các kỹ năng sống
Trang 15Theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2001-2010 và chiến lược giáo dục 2001-2010 thì Việt Nam sẽ phổ cập THCS vào năm 2010, đây là một điều kiện rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, là một tiền đề thuận lợi cho Việt Nam tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước phát triển
1.2 Vai trò của cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở
Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chương trình và sách giáo khoa; thi cử và tuyển sinh; đội ngũ thầy giáo, cô giáo và cán bộ quản lý; cơ
sở vật chất và thiết bị dạy học; sự quan tâm của các cấp ủy đảng và chính quyền, đoàn thể; xã hội hóa giáo dục v.v
Trong các yếu tố đó thì yếu tố quyết định làm nên chất lượng giáo dục chính là đội ngũ nhà giáo, tuy nhiên có một yếu tố đóng vai trò dẫn dắt hoạt động dạy học -
đó là những CBQL giáo dục trong hệ thống ngành học và cơ sở giáo dục
Vai trò của cán bộ quản lý giáo dục được quy định tại Điều 16 Luật Giáo dục năm 2005 Cụ thể là: CBQL giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục; CBQL giáo dục phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản
lý và trách nhiệm cá nhân; Nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của CBQL giáo dục, bảo đảm phát triển sự nghiệp giáo dục [61]
Người CBQL trước hết phải đáp ứng được các yêu cầu sau: có phẩm chất chính trị tốt, có hiểu biết về pháp luật, vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực quản lý, có tác phong làm việc khoa học
Người CBQL giỏi là người có khả năng tập hợp được quần chúng, xây dựng được tập thể sư phạm đoàn kết, biết xây dựng và nhân được điển hình tiên tiến, nhân tố mới, người tốt, việc tốt, nét đẹp đời thường, nét đẹp trong cuộc sống hằng ngày của giáo viên và học sinh, thực hiện tôn trọng quy chế dân chủ, và lấy quy chế dân chủ làm chỗ dựa cho công tác quản lý
Đội ngũ CBQL trường Trung học cơ sở là thành phần, nhân tố cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp THCS có tác động trực
Trang 16tiếp đến chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp THCS Đội ngũ này có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục Sản phẩm của đội ngũ giáo viên và đội ngũ CBQL giáo dục khác với với sản phẩm của các loại hình lao động khác ở chỗ: Sản phẩm này tích hợp cả nhân tố tinh thần và vật chất, đó là “Nhân cách – sức lao động”
Thành quả lao động của họ vừa tác động vào hình thái ý thức xã hội (giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc, tình đoàn kết đồng thuận của đất nước), vừa hình thành sức lao động kĩ thuật thúc đẩy sự năng động của đời sống thị trường, ở đây
là thị trường sức lao động [44]
Sứ mệnh của đội ngũ CBQL giáo dục THCS có ý nghĩa cao cả đặc biệt Họ là
bộ phận lao động tinh hoa của đất nước Lao động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát triển đất nước, cộng đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững Một ngày thiếu giáo dục đất nước không thể tồn tại được và giáo dục không có người thầy không thể vận động được
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân cũng đã nhấn
mạnh: “Sự nghiệp đổi mới giáo dục thành công hay không một phần quan trọng
phụ thuộc ở năng lực quản lý, điều hành của người hiệu trưởng” Khi đã được
phân cấp, trách nhiệm của hiệu trưởng lại càng nặng nề hơn Bên cạnh năng lực chuyên môn tốt, hiệu trưởng còn phải có khả năng quản lý kinh tế, có trình độ tin học và ngoại ngữ nhất định Nếu không, trong thời kỳ hội nhập, khó mà nói đến chuyện ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin và tận dụng cơ hội để hiện đại hóa giáo dục thông qua sự hợp tác quốc tế [52]
Người hiệu trưởng còn cần phải có khả năng thích ứng môi trường thay đổi nhanh và chịu đựng với thực trạng áp lực công việc cao hằng ngày Ở những nơi nội bộ có vấn đề, ban giám hiệu mất đoàn kết, quy chế dân chủ không được thực hiện, thì khó có thể tập trung được lực lượng và tâm trí để làm chuyên môn, khó
có thể xây dựng nhà trường thành trường kiểu mẫu
Hiệu trưởng phải là người vừa có “tâm” vừa có “tầm”, phải là người mà được đại đa số cán bộ, giáo viên nể và phục Nể vì đức độ, vì sự gương mẫu, vì lối
Trang 17sống và cách đối nhân xử thế, vì cái “tâm” của hiệu trưởng, phục vì năng lực chuyên môn, năng lực quản lý, cách điều hành, xử lý thông tin
Công tác quản lý của ta lâu nay ở các trường phổ thông, đặc biệt là ở cấp THCS chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa coi trọng công tác dự báo, xây dựng chiến lược Kiến thức về pháp luật tổ chức bộ máy, quản lý nhân sự, tài chính hạn chế, lúng túng trong thực thi thẩm quyền và trách nhiệm Như vậy, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải đào tạo và đào tạo lại đội ngũ CBQL ở các nhà trường, đặc biệt là cấp THCS Cần phát hiện và nhân điển hình các mô hình hiệu trưởng quản lý giỏi cùng với việc xây dựng đội ngũ các nhà giáo vừa giỏi về chuyên môn vừa tâm huyết với sự nghiệp trồng người theo hướng chuẩn nghề nghiệp Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm xây dựng đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và CBQL giáo dục cấp THCS nói riêng Trong thời kỳ đổi mới giáo dục đã liên tiếp có các chỉ thị về lĩnh vực quan trọng này
Ngày 17/8/2001 Thủ tướng Chính phủ có chỉ thị 18/2001/CT-TTg nêu ra các biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân Tiếp theo
đó, ngày 28/12/2001 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 201/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” Trong các giải pháp phát triển
giáo dục của đề án, lưu ý: “Xây dựng và thực hiện chuẩn hóa đội ngũ CBQL giáo dục
Đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ CBQL giáo dục các cấp về kiến thức, kỹ năng quản lý và rèn luyện phẩm chất đạo đức; đồng thời điều chỉnh, sắp xếp lại cán bộ theo yêu cầu mới phù hợp với năng lực và phẩm chất từng người”
Ngày 9/7/2001 Chính phủ có Nghị định 35/2001/NĐ-CP, sau đó là Nghị định
số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 về chính sách đối với nhà giáo, CBQL giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn
Ngày 15/6/2004 Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá IX có Chỉ thị số 40-CT/TW Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục Từ Chỉ thị này, ngày 11/1/2005 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai
đoạn 2005-2010” với mục tiêu là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được
Trang 18chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục
để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [65]
Trong các nhiệm vụ nêu ra đã lưu ý việc: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tụy với nghề nghiệp, là trụ cột thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [65]
1.3 Nội dung công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học
cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện
Phát triển đội ngũ CBQL là một bộ phận của hệ thống PTNNL Bởi vậy, các nội dung của công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THCS đều tuân thủ theo nội dung của lý thuyết PTNNL
Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp là lực lượng lao động Trong bất kỳ tổ chức nào (tổ chức xã hội, kinh tế lớn hay một tổ chức đơn lẻ) đều có bộ phận lãnh đạo, quản lý và nhân lực thừa hành, tác nghiệp theo từng lĩnh vực, từng công việc với chức năng, nhiệm vụ cụ thể
PTNNL là quá trình tạo ra sự biến đổi về cơ cấu, về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội ở các cấp độ khác nhau, đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thiết cho các lĩnh vực hoạt động lao động và đời sống xã hội, nhờ đó mà phát triển được năng lực, tạo được công ăn việc làm, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống cho các tầng lớp dân cư và cuối cùng là đóng góp chung cho sự nghiệp phát triển của xã hội
Tư tưởng chỉ đạo về PTNNL là: Lấy phát triển bền vững làm trung tâm; Mỗi con người là một cá nhân độc lập làm chủ quy trình lao động của mình; Lấy lợi ích của người lao động làm nguyên tắc cơ bản của quản lý lao động; Bảo đảm môi trường dân chủ, thuận lợi cho tiến hành giao lưu đồng thuận; Có chính sách
Trang 19giải phóng và phát huy tiềm năng của người lao động, bảo đảm hiệu quả công việc; PTNNL phải bám sát thị trường lao động, tránh tình trạng đào tạo ra không biết nhân lực có đáp ứng được công việc hay không, có chỗ làm hay không; Có chính sách PTNNL, bao gồm tuyển dụng, chính sách lao động, phân công lao động, phân bổ nhân lực, chính sách cán bộ, tiền lương, thi đua khen thưởng v.v Vấn đề tạo ra động lực để kích thích mọi người chăm học, chăm làm, động viên tính tích cực của người lao động để họ năng động, thiện chí, cầu tiến, tự nguyện,
tự giác làm việc cho tổ chức [50]
QLNNL cuối cùng là vì con người, cho con người, do con người thực hiện và được con người cân bằng tâm lý, phát triển toàn diện, cần gắn chặt nhu cầu và lợi ích kinh tế thì kết quả lao động của con người mới có chất lượng và bền vững Con người tham gia vào quá trình đó một cách tích cực và có trách nhiệm, sáng tạo, trung thực và phải được hưởng hạnh phúc Tác động vào nhu cầu, lợi ích con người là biện pháp thường xuyên thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của họ là mục tiêu của quản lý Giữ gìn và phát huy thường xuyên tính tích cực sáng tạo của họ là yêu cầu trung tâm của QLNNL
Để khai thác tối đa tiềm năng của con người tạo ra lợi thế cạnh tranh đòi hỏi tập trung vào ba khía cạnh: Thiết kế cơ cấu, sắp xếp và tổ chức công việc; quản
lý văn hóa tổ chức; quản lý chính sách và nhân sự [50]
Việc đầu tiên là để khai thác tối đa tiềm năng của con người đó là sắp xếp công việc phù hợp với khả năng để tạo ra động cơ tích cực; Phải lưu ý đến văn hóa tổ chức tạo ra môi trường dân chủ và có sự chia sẻ đồng thuận
Theo Nguyễn Minh Đường, PTNNL có thể hiểu theo nghĩa: “Phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba mặt: Phát triển sinh thể, phát triển nhân cách đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho nguồn lực phát triển” [35] Nói một cách tổng quát, PTNNL là tăng giá trị vật chất, giá trị tinh thần, đạo đức và giá trị thể chất cho con người
Theo lý thuyết QLNNL, phát triển đội ngũ bao gồm ba vấn đề:
Thứ nhất, xây dựng đội ngũ gồm: Qui hoạch, tuyển dụng, sắp xếp bố trí Thứ hai là sử dụng đội ngũ: bao gồm triển khai việc thực hiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ, đánh giá sàng lọc
Thứ ba là phát triển đội ngũ, bao gồm việc thực hiện các chế độ chính sách đối với đội ngũ CBQL, quan tâm thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng
Trang 20CBQL tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ phát huy tiềm năng của họ, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để đội ngũ được thăng tiến
PTNNL được đặt trong nhiệm vụ QLNNL và là một nội dung quan trọng của QLNNL
Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với quản lý nguồn nhân lực
Nội dung PTNNL có thể hướng đến các mục tiêu về số lượng, cơ cấu, chất lượng và
sự đồng thuận của các thành viên trong tổ chức Có thể khái quát nội dung phát triển nguồn nhân thông qua sơ đồ dưới đây
Sơ đồ 1.2 Phát triển nguồn nhân lực
Như vậy, công tác phát triển đội ngũ CBQL nghĩa là quan tâm đến đội ngũ đủ về
số lượng, vững mạnh về trình độ, một đội ngũ đa dạng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
Số lượng
Phát triển nguồn nhân lực
- Mở rộng chủng loại việc làm
- Mở rộng quy mô việc làm
- Phát triển tổ chức
Trang 21trong giai đoạn mới Đội ngũ không chỉ có năng lực chuyên môn mà còn tận tâm với nghề Một điều quan trọng nữa là xây dựng đội ngũ CBQL đoàn kết, hợp tác và hữu nghị Một tập thể toàn tâm toàn ý vì sự nghiệp chung, cống hiến sức lực và trí tuệ cho nhiệm vụ trồng người Một tập thể chan hoà tình yêu thương, mọi người gắn bó với nhau, biết hy sinh vì lợi ích chung Một tập thể biết đấu tranh cho lẽ phải, bảo vệ cái đúng, yêu chuộng công bằng, thực hiện tốt các chính sách đãi ngộ Một tập thể biết vươn lên học tập bồi dưỡng và tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
Theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ
“Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”, và Thông tư liên tịch số 35/2008/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 14 tháng 7 năm 2008 của liên Bộ GD&ĐT và Bộ nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thì Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, bao gồm: mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn CBQL giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định của pháp luật
Phòng Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản
lý công tác chuyên môn, nghiệp vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự, tài chính, tài
sản, thực hiện chế độ, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức và các hoạt động khác của các trường Mầm non, trường tiểu học, trường THCS, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường bồi dưỡng CBQL giáo dục huyện theo quy định của pháp luật
Hướng dẫn, kiểm tra các cơ sở giáo dục, đào tạo công lập thuộc phạm vi quản lý của huyện xây dựng kế hoạch biên chế sự nghiệp hàng năm để Ủy ban nhân dân cấp huyện trình cấp có thẩm quyền quyết định Nội dung của hoạt động phát triển đội ngũ CBQL trường trung học cơ sở bao gồm: quy hoạch về cơ cấu, số lượng, chất lượng, các bộ môn hợp lý; tuyển chọn; đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ
Trang 22năng lực; bổ nhiệm, miễn nhiệm, luôn chuyển và tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý [12,24]
Từ thực trạng tình hình đội ngũ CBQL trên địa bàn toàn huyện, lập kế hoạch
dự báo, Phòng GD&ĐT tiến hành quy hoạch đội ngũ CBQL cấp trung học cơ sở sao cho đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo tính phát triển kế thừa, đủ số lượng, cân đối
về trình độ Bố trí hợp lý, sắp xếp khoa học, thuận lợi về đi lại cho đội ngũ, đồng thời phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của các vùng trong huyện Đặc biệt cần tính đến ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để có sự ưu tiên phân công các cán bộ có bề dày kinh nghiệm, am hiểu về thực tế công tác giáo dục ở các địa phương Công tác luân chuyển CBQL cần đảm bảo tính ổn định, khoa học, cần ưu tiên bổ sung các CBQL có bề dày kinh nghiệm trong công tác quản
lý, nhiệt huyết với sự nghiệp giáo dục cho các trường có chất lượng các mặt giáo dục thấp, phong trào giáo dục của địa phương chưa phát triển
Phát triển đội ngũ CBQL ở các nhà trường phổ thông nói chung và ở cấp THCS nói riêng cần hướng đến ba nội dung, đó là: đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng và đồng bộ cơ cấu
Số lượng CBQL nhìn trên sự điều hành vĩ mô phải cân đối với số lượng đội ngũ giáo viên trong toàn huyện Đáp ứng được những yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục đặt ra trong tình hình mới
Số lượng CBQL nhìn trên sự điều hành vi mô (trong một nhà trường) tính theo số lớp của trường đó Theo thông tư Số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23 tháng 8 năm 2006 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ “Hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập” thì tùy theo từng vùng trung du, đồng bằng, thành phố, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, căn cứ vào số lớp, các trường phổ thông được phân thành từng hạng, bao gồm hạng I, hạng II và hạng III Biên chế CBQL của mỗi trường trung học cơ sở gồm có một hiệu trưởng và một số phó hiệu trưởng, cụ thể là trường hạng 1 có không quá 2 phó hiệu trưởng; trường hạng 2, hạng 3
có 1 phó hiệu trưởng [11] Theo đó thì nhìn cục bộ ở các nhà trường thuộc từng vùng, từng cụm khác nhau trong địa bàn một huyện có nơi còn chưa cân đối, mặc dù nhìn trên toàn cục có thể số lượng CBQL giáo dục của một huyện về cơ bản đã đủ về số lượng
Trang 23Vấn đề này đỏi hỏi khâu luân chuyển, điều động và bổ nhiệm CBQL cần giải quyết một cách hợp lý, khoa học làm giảm sự mất cân đối trên
Chuẩn về chất lượng đội ngũ CBQL cấp THCS hiện nay được đánh giá theo các khía cạnh: có phẩm chất đạo đức (đặc biệt là đạo đức tư cách người thầy) trong sáng, có phẩm chất chính trị tốt, có hiểu biết về pháp luật, vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực quản lý, có tác phong làm việc khoa học
Ở nước ta hiện nay, phần lớn CBQL giáo dục ở các nhà trường phổ thông là những nhà giáo giỏi được bổ nhiệm, điều động sang làm công tác quản lý, có trình độ chuyên môn và sư phạm cao, có kinh nghiệm trong công tác giáo dục, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức tốt, tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước nói chung và tổ chức, quản lý quá trình đào tạo ở mọi bậc học và mọi miền đất nước Tuy nhiên, đa số CBQL giáo dục hiện nay chưa được đào tạo có hệ thống về quản lý, làm việc dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tính chuyên nghiệp thấp Năng lực điều hành, quản lý của một bộ phận CBQL giáo dục còn bất cập trong công tác tham mưu, xây dựng chính sách, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và thực thi công vụ Kiến thức về pháp luật, về tổ chức bộ máy, về quản lý nhân sự, nhất là về quản lý tài chính còn nhiều hạn chế dẫn đến lúng túng trong thực thi trách nhiệm và thẩm quyền Phần lớn CBQL giáo dục còn bị hạn chế về trình độ ngoại ngữ, kỹ năng sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin Trong khi đó số lượng học viên được bồi dưỡng đào tạo của các trường, khoa sư phạm về QLGD còn quá nhỏ so với yêu cầu đặt ra Hình thức bồi dưỡng CBQL giáo dục của các trường, khoa sư phạm chủ yếu là tập trung và tại chức, chưa tổ chức được đào tạo từ xa, chưa ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đào tạo, bồi dưỡng v.v điều này có tác động không nhỏ đến chất lượng của đội ngũ CBQLGD ở các nhà trường phổ thông
Bên cạnh đó, một bộ phận CBQL giáo dục còn chạy theo thành tích, chưa thực sự chuyên tâm với nghề nghiệp, chưa làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao Một bộ phận nhỏ CBQL giáo dục buông lỏng quản lý, không đấu tranh với tiêu cực, thậm chí còn thoả hiệp, tham gia vào các hiện tượng tiêu cực, tiếp tay cho người học gian dối trong học tập, thi cử
Trang 24Phát triển đội ngũ CBQL cấp THCS nhằm đạt tới sự tương thích, hài hòa về giới, tương thích giữa các bộ môn của Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng trong cùng một nhà trường cũng như trên bình diện toàn huyện, tương thích về độ tuổi, tương thích về năng lực quản lý v.v Nếu trong một nhà trường cũng như trên địa bàn toàn huyện đội ngũ CBQL chỉ gồm một giới, một lứa tuổi, nhiều khi lại dẫn đến những khó khăn, phức tạp Trong phạm vi một huyện, công tác phát triển đội ngũ CBQL cấp THCS cần vận dụng các chức năng của quản lý đó là kế hoạch, tổ chức-chỉ đạo và kiểm tra vào ba nội dung chủ yếu của công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, đó là: số lượng, chất lượng và cơ cấu
Khâu kế hoạch cần lưu ý: tính toán quy mô phát triển giáo dục THCS của huyện theo số lượng học sinh, số lớp của từng trường từ đó phân hạng các trường, từ đó tính ra số lượng CBQL cần có Căn cứ vào số CBQL đang có và xác định số CBQL
sẽ về hưu, thuyên chuyển để lập kế hoạch bổ sung CBQL cho từng năm Bên cạnh
đó cần dự báo quy mô phát triển giáo dục THCS theo từng giai đoạn, từ đó làm cơ
sở cho công tác quy hoạch đội ngũ CBQL Thông qua số liệu điều tra về trình độ CBQL, giáo viên từ đó lập kế hoạch bồi dưỡng CBQL về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý để chuẩn hóa hoặc nâng chuẩn về chuyên môn và nâng cao năng lực quản lý, điều hành cho CBQL ở các nhà trường THCS Đồng thời từ dự báo số lượng CBQL cần có so với nhu cầu, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ giáo viên trong diện quy hoạch làm nguồn bổ sung CBQL cho ngành Xây dựng kế hoạch cải tiến, hoàn thiện cơ cấu đội ngũ CBQL cấp THCS đảm bảo sự thuận lợi cho việc thực hiện điều hành các nhà trường, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của các nhà trường THCS Đối với khâu tổ chức-chỉ đạo cần lưu ý khâu tuyển chọn, sàng lọc Khâu này liên quan đến cả việc tuyển dụng đội ngũ giáo viên cho các trường THCS trên địa bàn toàn huyện Bởi vì đội ngũ giáo viên là nguồn bổ sung chủ yếu cho đội ngũ CBQL của các nhà trường trong ngành học Dựa trên thành tích công tác của đội ngũ giáo viên các nhà trường THCS, hàng năm Phòng GD&ĐT lập kế hoạch quy hoạch đội ngũ CBQL cho các ngành học, trên cơ sở số lượng CBQL ở các nhà trường Phòng GD&ĐT tham mưu cho UBND huyện bổ nhiệm, luôn chuyển và
Trang 25sắp xếp CBQL ở cấp THCS sao cho phù hợp với đặc điểm thực tế của các nhà trường ở các địa phương khác nhau
Song song với công tác quy hoạch, bổ nhiệm và luôn chuyển CBQL, cần tập trung tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức về pháp luật cho đội ngũ CBQL, làm tăng cường tính kỷ cương sư phạm trong các nhà trường Bên cạnh đó cũng cần có chính sách săn sóc đội ngũ qua công tác bồi dưỡng chuyên môn, cải thiện đời sống tinh thần, vật chất cho đội ngũ CBQL, từng bước đưa đội ngũ CBQL trường THCS vào chuẩn hóa, cùng góp phần quan trọng vào việc thực hiện các quy tắc sư phạm theo mục tiêu giáo dục của ngành học
Công tác kiểm tra cần phải thường xuyên rà soát số lượng đội ngũ CBQL ở các trường đã đủ theo tiêu chuẩn, yêu cầu của trường đó chưa Nếu thiếu phải có kế hoạch
bổ sung Nếu thừa phải giải trình, đề nghị cấp trên thuyên chuyển để cân đối số lượng CBQL giữa các nhà trường Công tác này đòi hỏi thực hiện một cách khoa học, tránh làm xáo trộn tổ chức bộ máy trong nhà trường
Phòng Giáo dục và Đào tạo cần tăng cường kiểm tra các hoạt động của các nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng, qua đó tác động vào công tác quản lý điều hành của đội ngũ CBQL ở các nhà trường Đồng thời qua công tác kiểm tra cũng nhận thấy được tính cân đối trong cơ cấu đội ngũ CBQL ở các nhà trường, từ đó có kế hoạch
và các giải pháp điều chỉnh
Đi đôi với công tác kiểm tra là khâu đánh giá đội ngũ CBQL, đây là khâu có
vị trí hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các khâu
trong công tác phát triển đội ngũ Đánh giá cán bộ là đánh giá nhân cách của
cán bộ đó, thông qua công việc được giao và hiệu quả thực hiện công việc đó
Đánh giá đúng cán bộ mới có cơ sở để bố trí, sắp xếp và sử dụng cán bộ có hiệu quả Thông thường, trước khi tuyển chọn, bố trí, đề bạt cán bộ cần đánh giá đúng, khách quan theo những nội dung cơ bản sau đây:
Một là: Tiểu sử và những cứ liệu bên ngoài của cán bộ
Tiểu sử đó là những cứ liệu mô tả chung về con người, là những thông tin rất quan trọng Tuy nhiên, bản thân những thông tin này chưa cung cấp cho chủ thể đánh giá một
ý niệm đầy đủ về cán bộ
Trang 26Những cứ liệu khách quan khác như: Tuổi tác, dáng vẻ, nói năng, ảnh hưởng lớn đến sự “tiếp nhận’’ hay “không tiếp nhận’’ một cán bộ nào đó về mặt tình cảm của chúng ta
Hai là: Đánh giá về mặt lập trường, tư tưởng chính trị Đây là một nội dung
tâm lý cơ bản nhất khi đánh giá cán bộ Nó không chỉ thể hiện xu hướng về thế giới quan, nhân sinh quan, về sự trung thành đối với lợi ích và mục tiêu của giai cấp, dân tộc mà còn cho chúng ta biết xu hướng của các đặc điểm tâm lý cũng như biểu hiện về hành vi của con người
Việc đánh giá về lập trường, tư tưởng, chính trị của cán bộ có thể nhìn nhận qua các yếu tố sau:
Đánh giá qua mức độ nhận thức, sự biểu hiện dứt khoát và đúng đắn về thái
độ và hành vi của cá nhân trong lĩnh vực hệ tư tưởng, chính trị
Đánh giá qua quan điểm sống và làm việc, hệ thống động cơ, quan điểm về quản lý con người, về định hướng giá trị
Đánh giá qua khả năng nhận thức, bảo vệ và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Ba là: Đánh giá hệ thống thái độ và hành vi của cá nhân Thái độ và hành vi
của mỗi cá nhân là cái vỏ bộc lộ bản chất của họ Theo V.I.Lênin: Phán đoán về con người không căn cứ vào bộ áo hào nhoáng họ tự khoác cho họ - hoặc vào cái tên khá kêu họ tự đặt cho họ, mà căn cứ vào cách họ hành động, vào những tư tưởng mà họ truyền bá
Đánh giá hệ thống thái độ cần tập trung vào các lĩnh vực sau:
Thái độ đối với người khác (chú ý đến tính chất của mối quan hệ với mọi người): xu hướng lý tưởng hóa người khác, ca ngợi hay phê phán, vồn vã hay lạnh nhạt, thích có quyền hành, ưa phục tùng v.v
Thái độ đối với công việc (quan điểm về lao động như thế nào): ưa thích loại công việc gì? hăng say hay uể oải; tự giác hay bị ép buộc; chuyên sâu hay hời hợt; thích sáng tạo trong lao động hay thụ động ỷ lại, trông chờ v.v
Thái độ đối với bản thân (thái độ đối với sinh hoạt thể chất và tâm lý): định hướng sự quan tâm; mức độ nhận biết và sự tinh tế về điều từng trải v.v
Trang 27Thái độ đối với gia đình (quan tâm hay thờ ơ, ghét bỏ); hình thức quan hệ gia đình (thuận hòa, dân chủ hay độc đoán; nhẹ nhàng, thân ái hay thô lỗ; cầu kỳ, cẩn thận hay cẩu thả, bừa bãi v.v.)
Cách ứng xử của hành vi: ổn định hay thiếu ổn định; linh hoạt hay cứng nhắc; có khả năng kiềm chế hay dễ bị kích động; có khả năng điều khiển hành vi của bản thân hay không
Bốn là: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực hoạt động thực tiễn
Xem xét khả năng tư duy quản lý, khả năng ra quyết định quản lý trong các tình huống công việc cụ thể có đảm bảo tính khách quan hay mang tính chủ quan; cẩn thận, chắc chắn hay “bốc đồng" Các phẩm chất tư duy: sâu sắc hay hời hợt, sáng tạo hay máy móc, độc lập hay thụ động, linh hoạt hay trì trệ v.v
Đánh giá năng lực hoạt động thực tiễn cần chú ý đến sự cần mẫn, chăm chỉ hay thờ ơ; khối lượng và chất lượng công việc; khả năng linh hoạt, sáng tạo
Năm là: Đánh giá về mặt hiệu quả công tác
Hiệu quả công tác của đội ngũ CBQL nhà trường không chỉ thể hiện ở kết quả làm việc có thể định lượng được mà còn thể hiện ở mức độ uy tín của cán bộ, giáo viên trong và ngoài nhà trường; khả năng gây ảnh hưởng tới người khác cũng như thái độ, tình cảm của mọi người
Không phải bao giờ con người cũng bộc lộ hết và đầy đủ tất cả những gì mà họ có, nhất là về đời sống tâm lý của họ Chính vì thế khi đánh giá con người phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, công bằng, dân chủ, phát triển; phải xuất phát từ mục đích con người, vì sự phát triển của con người [25,26]
Ngoài việc chú ý đến số lượng, chất lượng, cơ cấu của đội ngũ CBQL còn chú ý đến tính đồng thuận của đội ngũ CBQL ở trong cùng một nhà trường Mặc dù quản lý sự xung đột đối với công tác quản lý một tổ chức là tính tất yếu, nhưng cần phải nhắc tới tính đồng thuận của đội ngũ CBQL nói riêng và đồng thuận trong tập thể sư phạm nhà trường nói chung Đội ngũ CBQL trong một nhà trường có tính đến trình độ chuyên môn, nguyện vọng, sở trường Mỗi cá nhân lại có sự khác nhau về thể lực, hoàn cảnh gia đình, địa vị xã hội Vì vậy khi tập hợp lại trong cùng một tổ chức nhà trường dễ dung hợp, đồng thuận với nhau, song cũng có những mặt lại khó dung hợp, thậm chí
Trang 28dẫn đến xung đột Để cho nhà trường tồn tại và phát triển cần phải tạo ra sự dung hợp tâm lý giữa các cá nhân với tập thể sư phạm và trong nội bộ Ban giám hiệu, với công việc, với các đồng nghiệp Tính đồng thuận của đội ngũ CBQL trong cùng một nhà trường có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ, sự đồng thuận giúp cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục trong nhà trường một cách thuận lợi, tạo nên bầu không khí phấn khởi, làm tăng tinh thần đoàn kết tập thể, khơi dậy được tinh thần trách nhiệm và sự cống hiến của mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường Nội
bộ Ban giám hiệu phát huy được tình đoàn kết của mỗi cán bộ, giáo viên trong tập thể sư phạm nhà trường là cơ sở rất quan trọng để hướng tới mục tiêu xây dựng tập thể sư phạm trong nhà trường trở thành tập thể biết học hỏi Trong đó, phương pháp của người quản lý các nhà trường luôn phải chú ý kiểu quản lý khêu gợi được nhân tâm, và một người hiệu trưởng giỏi không phải là người có tham vọng tìm cách giỏi hơn giáo viên mà phải là người biết sử dụng các thầy giáo giỏi
1.4 Những yếu tố tác động đến việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở
Sự phát triển của đối tượng quản lý là nguyên nhân cơ bản làm tăng vai trò của các quan hệ tổ chức nói chung Nhìn chung, công tác phát triển đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và đội ngũ CBQL các trường THCS nói riêng phụ thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Nói cách khác, nó phụ thuộc vào trình độ của nền kinh tế, trình độ phát triển của xã hội v.v đặt ra những yêu cầu mới cho ngành giáo dục Từ sự tác động của các mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi giáo dục phải đào tạo ra những sản phẩm, những “nhân cách – sức lao động” đáp ứng được sự phát triển không ngừng của khoa học, công nghệ và những vấn đề thực tiễn của cuộc sống hiện tại và tương lai Từ sự ảnh hưởng đó, công tác phát triển đội ngũ CBQL trường THCS cũng chịu sự tác động của nhiều nhóm nhân tố Có thể đề cập đến các nhóm nhân tố sau:
Nhóm nhân tố thứ nhất bao gồm những thay đổi của đối tượng quản lý:
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ, của tiến
bộ kỹ thuật, sự phát triển của phân công lao động xã hội làm cho công tác quản
lý trong ngành giáo dục cũng có sự thay đổi đáng kể
Trang 29Trình độ phát triển của quan hệ sở hữu (sở hữu tài sản, trí tuệ v.v.) của đối tượng quản lý - đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong các nhà trường
Tính chất và đặc điểm của giáo dục trong xã hội hiện đại, trang thiết bị của quá trình giảng dạy có tác động không nhỏ đến công tác quản lý ở các nhà trường THCS Điều này đặt ra yêu cầu cho các nhà quản lý phải thay đổi các phương pháp quản lý, điều hành và triển khai các nhiệm vụ quản lý trong nhà trường Trình độ phát triển của thị trường lao động và mức độ hội nhập tham gia vào phân công lao động quốc tế
Nhóm nhân tố thứ hai bao gồm những biến đổi trong lĩnh vực hoạt động quản lý và
hoàn thiện cơ chế quản lý, công cụ quản lý:
Cơ chế quản lý kinh tế -xã hội
Quan hệ giữa tập trung thống nhất và phân cấp quản lý
Dân chủ hóa công tác quản lý, các hoạt động trong các nhà trường
Quan hệ quản lý giữa các ngành, giữa các huyện trong tỉnh v.v
Cơ sở kỹ thuật của hoạt động quản lý và trình độ của CBQL ở các nhà trường THCS, của đội ngũ làm công tác cán bộ ở huyện
Nhóm nhân tố thứ ba gồm thiết chế, thể chế chính trị, xã hội và tổ chức Nhà nước, các chính sách phát triển kinh tế-xã hội của đất nước theo từng giai đoa ̣n Trong đó, yếu tố rất quan tro ̣ng đó là chính sách phát triển GD-ĐT, chính sách sử dụng, bố trí sắp xếp đội ngũ, chính sách đầu tư và hàng loạt các chính sách khác Chúng ta có thể
đề cập đến một số chính sách cơ bản có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành giáo dục nói chung và của công tác phát triển đội ngũ CBQL cấp THCS như sau:
Thứ nhất là chính sách phát triển GD - ĐT của Quốc gia
Chính sách phát triển GD-ĐT thể hiện ở chủ trương, đường lối, của Đảng về công tác giáo dục và đào tạo, về chế đô ̣ chính sách đối với cán bô ̣, giáo viên, được ghi nhận trong các Nghị quyết của Đại hội Đảng, các Nghị quyết của các hội nghị BCH TW Đảng, Chỉ thị của Bộ chính trị, Ban Bí thư (Hội nghị Trung ương 4 khoá VII; Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Chỉ thị 40 của Ban Bí thư TW v.v.)
Xuất phát trên quan điểm, đường lối, chính sách và mục tiêu của Đảng và nhà nước để xây dựng chiến lược phát triển GD-ĐT mà trong đó nòng cốt là chiến lược
Trang 30phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục cho từng giai đoạn như: “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010”,“Đề án xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoa ̣n 2005-2010” và những giai đoạn tiếp theo Thông qua chiến lược này tạo cơ sở định hướng cho việc phát triển GD-ĐT nhằm đạt những mục tiêu đã đề ra Đặc biệt từ những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, GD&ĐT có vai trò quan trọng nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Để gánh vác vai trò to lớn đó của ngành GD-ĐT mà trong đó nòng cốt là đội ngũ CBQL các trường THCS có nhiệm vụ chỉ đạo, thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣ giáo dục cấp THCS, tạo tiền đề quan trọng góp phần xây dựng nguồn nhân lực cho đất nước trong thời kỳ mới Các nhà trường THCS muốn thực hiện những mục tiêu, nhiê ̣m vu ̣ giáo dục đề ra, đòi hỏi Nhà nước cần phải xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQLGD thích ứng cho từng thời kỳ, đáp ứng được những yêu cầu về chất lươ ̣ng nguồn nhân lực đă ̣t ra của sự nghiệp CNH , HĐH , cũng như đáp ứng kịp với sự mở rộng của các cơ sở GD -ĐT, sự mở rộng của quy
mô học sinh ở các cấp ho ̣c, bậc học Do vậy việc phát triển đội ngũ CBQLGD ở mỗi thời kỳ đều bị tác động bởi chính sách phát triển GD-ĐT của mỗi quốc gia như : Chính sách mở rộng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBQL cho ngành GD-ĐT, sự mở rộng về quy mô sinh viên các trường sư phạm, các trường đào ta ̣o bồi dưỡng CBQLGD, chính sách của nhà nước về tăng cường biên chế cho ngành GD-ĐT v.v
sẽ tác động đến việc tăng số lượng đội ngũ CBQL, giáo viên cho thời kỳ đó hoặc nếu Nhà nước có chính sách tinh giản biên chế, nâng cao mức chuẩn hoá nghề nghiệp hoặc những quy định khác sẽ tác động đến việc thu hẹp chỉ tiêu đào tạo ở các trường, khoa sư phạm, các trường đào tạo CBQL cũng ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ CBQL giáo dục ở các nhà trường phát triển nói chung và ở cấp THCS nói riêng
Thứ hai là đầu tư cho phát triển Giáo dục và Đào tạo
Đầu tư cho GD-ĐT mà trong đó chủ yếu là việc đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục đóng vai trò then chốt quyết định đến chất lươ ̣ng giáo dục và chất lươ ̣ng nguồn nhân lực của đất nước Đầu tư cho phát triển đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục bao gồm:
Đầu tư cho việc trả lương, chi cho phụ cấp ưu đãi
Trang 31Chi cho đào tạo bồi dưỡng thường xuyên nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, QLGD
Chi cho việc nghiên cứu khoa học, khảo sát tham quan thực tế trong nước và ngoài nước v.v là động lực thu hút phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQLGD và lực lượng lao động khác tham gia, góp phần phát triển ngành GD-ĐT
Đầu tư cho việc phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQLGD cần nhiều lực lượng tham gia: Nhà nước, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nươ, hay các tổ chức quốc tế chính ́ cphủ và phi chính phủ Nhưng trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ yếu quyết định Việc tăng ngân sách nhà nước sẽ là nhân tố tác động lớn đến việc làm tăng về số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD Đặc biệt, việc tăng cho trả lương, phụ cấp ưu đãi, và tăng cho việc đào tạo bồi dưỡng sẽ có tác dụng kích thích lực lượng lao động trong ngành GD-ĐT nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và cả tình yêu nghề Tuy nhiên, viê ̣c tăng cường cho đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo và
CBQLGD sẽ làm tăng tỷ lê ̣ đầu tư của ngân sách nhà nước cho ngành giáo dục, trong điều kiê ̣n ngân sách ha ̣n he ̣p, nô ̣i lực của nền kinh tế còn nghèo như nước ta hiê ̣n nay cần phải thúc đẩy công tác xã hội hóa giáo dục nhằm tăng cường các nguồn đầu tư khác của các cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và chất lượng của đội ngũ nhà giáo và CBQLGD
Kinh nghiệm ở một số nước phát triển cho thấy đầu tư cho GD-ĐT mà nòng cốt là đội ngũ nhà giáo và CBQLGD là một trong những giải pháp khôn ngoan nhất trong việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Ở Việt Namtrong quá trình đổi mới sự nghiê ̣p giáo dục, tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục trong tổng chi tiêu công (tức là chi tiêu từ ngân sách) và GDP không ngừng tăng lên Tính từ năm 1994 đến năm 2002, tỷ lệ phần trăm của giáo dục trong chi tiêu công đã tăng từ 14% đến 16,9% Tính thu GDP tăng từ 3,5% đến 4,2%.Năm 2004 đầu tư từ ngân sách nhà nước đạt 17,1% (nguồn: Vụ kế hoạch và Tài chính,
Bô ̣ GD-ĐT) [6] Do vậy để đội ngũ CBQLGD nói chung và cấp THCS nói riêng đủ về
số lượng, đa ̣t chuẩn về chất lươ ̣ng và đảm bảo về cơ cấu nhân lực ở các cấp bậc học giữa các vùng, miền của đất nước cũng như trong pha ̣m vi mô ̣t huyê ̣n đều bị ảnh hưởng của chính sách đầu tư cho giáo dục, cho nên nếu sử dụng chính sách đầu tư thích hợp có
Trang 32hiệu quả sẽ là nhân tố làm tăng cả về số lượng, nâng cao chất lượng và đồng bô ̣ cơ cấu đội ngũ CBQLGD các cấp ở nước ta
Ba là cơ chế, chính sách sử dụng, bố trí sắp xếp đội ngũ CBQL
Phát triển đội ngũ CBQLGD cần phải có một cơ chế chính sách thích hợp bao gồm: chính sách sử dụng, bố trí, sắp xếp đội ngũ CBQL v.v một cách hợp lý, tạo động lực cho đội ngũ này phát huy được tính năng động sáng tạo , nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, quản lý, yêu nghề, thu hút được lực lượng lao động khác tham gia vào ngành GD-ĐT đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp phát triển GD-ĐT của đất nước
Cơ chế chính sách sử dụng, bố trí sắp xếp đội ngũ CBQL là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục nói chung ở mỗi một quốc gia trong mỗi thời kỳ nhất định Xây dựng cơ chế chính sách trên cơ sở đặc điểm của mỗi vùng, mỗi địa phương phù hợp với thực tra ̣ng tình hình kinh tế - xã hội và chất lươ ̣ng giáo dục hiện có sẽ là động lực thúc đẩy sự nghiê ̣p giáo dục đi ̣a phương phát triển, khắc phục được những bất cập, thiếu hu ̣t của ngành giáo dục so với sự phát triển của xã hội (đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn) Chẳng hạn việc bố trí, luân chuyển sắp xếp đội ngũ CBQL không căn cứ vào năng lực, trình độ chuyên môn và những phẩm chất khác của mỗi người; không căn cứ vào nhu cầu đòi hỏi của mỗi địa phương, khu vực, mỗi trường phổ thông về CBQL sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục củ a nơi đó, tạo tâm lý xã hội không tốt cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, đặc biệt tâm lý của những người đang theo học ở các trường sư phạm, các trường QLGD
Để phát huy hiệu quả hoa ̣t đô ̣ng của đội ngũ CBQLGD, ngành GD-ĐT cần ban hành những chính sách cần thiết nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển đội ngũ CBQL như: Chính sách tiền lương phù hợp, chính sách phụ cấp ưu đãi, chính sách sử dụng nhân tài; chính sách trợ cấp cho đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục ở những vùng, nơi khó khăn v.v để nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới và phát triển nền kinh tế - xã hội
Ở Việt Nam hiện nay Đảng và Nhà nước đã ban hành hàng loạt những chính sách như: chính sách cải cách tiền lương, Quyết định số 973/1997/QĐ-TTg của Chính phủ
về chế độ phụ cấp đối với giáo viên đứng lớp; Nghị định số 35/2001/NĐ-CP về chế độ
Trang 33đãi ngộ đối với các nhà giáo công tác ở các địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và các trường chuyên biệt v.v Ngoài ra nhà nước còn ban hành nhiều chính sách khác nhằm khuyến khích về tinh thần, đãi ngộ về vật chất đối với nhà giáo: phong các danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú; tặng kỷ niê ̣m chương vì sự nghiệp giáo dục; sinh viên sư phạm được miễn học phí, được cấp học bổng; các trường sư phạm được ưu tiên đầu tư về tài chính, đội ngũ v.v
Bộ GD&ĐT đã ban hành tiêu chuẩn giáo viên, CBQLGD ở ngành học, tổ chức bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên và CBQLGD ở các cấp theo chu kỳ ngắn hạn, dài hạn nhằm tạo điều kiện cho đội ngũ CBQLGD có đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới
Cơ chế, chính sách sử dụng đội ngũ CBQLGD phải linh hoạt, hợp lý, đủ mạnh phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường, tạo được động lực khuyến khích đội ngũ này nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghề nghiệp Việc bố trí sắp xếp đội ngũ CBQLGD phải căn cứ vào năng lực, trình độ, phẩm chất khác phù hợp với đặc điểm từng vùng, địa phương ở trong mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội nhất định
Do vậy những vấn đề cần tập trung giải quyết cho công tác phát triển đội ngũ
CBQLGD là phải có cơ chế chính sách thích hợp để đảm bảo đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và phù hợp về cơ cấu đội ngũ sẽ là nhân tố tác động đến tình hình phát triển giáo dục của từng vùng, từ ng đi ̣a phương cũng như trên cả nước
Công tác phát triển đội ngũ CBQLGD trường THCS có tính chất quyết định đối với
sự ổn định, phát triển của mỗi nhà trường THCS Vì đây là công tác đối với con người nên trong quá trình sử dụng cán bộ, dù dưới hình thức nào, các cán bộ, tổ chức bộ phận hay người lãnh đạo đều ít nhiều chịu sự tác động của hàng loạt những yếu tố tâm lý–xã hội và những “áp lực” khác nhau thường dẫn đến kết quả là xa rời nguyên tắc cơ bản của công tác tổ chức cán bộ: Mục tiêu–Tổ chức–Con người
Sự ảnh hưởng trước tiên đến công tác lựa chọn cán bộ là ảnh hưởng của giá trị “thân quen” Trong truyền thống, giá trị thân quen có ảnh hướng không nhỏ đến con người Việt Nam
Trong xã hội phong kiến đã diễn ra hiện tượng “một người làm quan, cả họ được nhờ” Những mối liên hệ về dòng tộc, làng xã, đồng hương hay “cùng hội, cùng
Trang 34thuyền” là những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của con người khi lựa chọn cán bộ
Gắn liền với “thân quen” là “chủ quan duy tình”, “yêu nên tốt, ghét nên xấu” Trên thực tế, khi giải quyết vấn đề gì người ta thường nhấn mạnh đến sự kết hợp hài hòa, đúng đắn giữa lý và tình; song không phải lúc nào cũng đảm bảo được nguyên tắc ấy Dân tộc ta vốn có truyền thống tốt đẹp là coi trọng tình nghĩa; yêu thương con người Tâm lý cộng đồng làng xã cũng là một đặc trưng tâm lý nổi bật ở con người Việt Nam truyền thống Tuy nhiên, trong những tình huống cụ thể, đôi khi vì tình cảm thân quen, vì “địa phương chủ nghĩa” mà dẫn đến hiện tượng tình cảm lấn át lý trí, “phép vua thua lệ làng” hay con thường luật pháp Vì vậy, không hiếm trường hợp thân quen mà người ta bầu nhau, bổ nhiệm nhau chứ
không dựa trên tiêu chuẩn đức và tài của người được lựa chọn [25]
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực của yếu tố tâm lý này Người nhắc nhở cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo cần tránh:
(1) Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài
(2) Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực (3) Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình
Yếu tố thứ ba ảnh hưởng đến công tác cán bộ đó là quan niệm như là thói quen ăn sâu, bám rễ vào tiềm thức mỗi người kể cả trong ngành cũng như ngoài ngành giáo dục;
và vô hình dung tạo nên một “sức ép tâm lý” có tính tự thân Người ta thấy khó chấp nhận, cho là việc không bình thường khi một CBQL ở một nhà trường lại chuyển sang làm giáo viên, hay chuyển từ hiệu trưởng sang làm phó hiệu trưởng Nguyên tắc có lên
có xuống; có bổ nhiệm, có miễn nhiệm cán bộ trong một chừng mực nào đó vẫn khó được chấp nhận không chỉ đối với bản thân người CBQL mà còn cả với những người làm công tác tổ chức và dư luận tập thể Dư luận tập thể, xã hội còn sai lệch trước hiện tượng một CBQL lại chuyển sang làm giáo viên, phần lớn cho là bị kỷ luật, yếu kém Chủ nghĩa kinh nghiệm “sống lâu lên lão làng” cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc bố trí, lựa chọn cán bộ Thâm niên và kinh nghiệm là rất cần thiết, song
nó không tỉ lệ thuận với phẩm chất và năng lực của cán bộ, giáo viên Thực tiễn
Trang 35cho thấy vẫn còn hiện tượng khó chấp nhận một cán bộ, giáo viên trẻ lại được bổ nhiệm vào cương vị quản lý một nhà trường mà ở đó có nhiều người tuổi cao, có
bề dày kinh nghiệm và cống hiến Việc bố trí cán bộ, giáo viên ba thế hệ vẫn còn những khó khăn chưa giải quyết được
Cần khắc phục một số yếu tố tâm lý tiểu nông tiêu cực như: bon chen, đố kỵ, không muốn người khác hơn mình; tâm lý tự do, tùy tiện, qua loa, đại khái, thiếu trách nhiệm, thiếu quyết đoán; trông chờ trong công tác sử dụng cán bộ Đặc biệt cần khắc phục tâm lý cục bộ địa phương khi bố trí, sử dụng cán bộ [26]
Một yếu tố nữa có ảnh hưởng đến công tác lựa cho ̣n , bố trí CBQL trường THCS đó là tâm lý vị đồng tiền, dùng đồng tiền để chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ; mua danh, bán tước
Khắc phục các yếu tố ảnh hưởng trên cần có nhiều giải pháp mang tính đồng
bộ, song trước mắt cần dân chủ, khách quan trong công tác quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ quản lý, sớm xây dựng được cơ chế mới trong sử dụng cán bộ, sử dụng nhân tài đảm bảo tính khách quan, đúng đắn
Lựa chọn và sử dụng cán bộ có đạo đức, có năng lực đáp ứng với nhiệm vụ được giao vừa là một yêu cầu, vừa là một nguyên tắc sử dụng cán bộ của Đảng
và Nhà nước ta Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam xác định: “Bố trí và sử dụng cán bộ phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn
và sở trường Đề bạt, bổ nhiệm đúng lúc, giao việc đúng tầm, thay thế kịp thời khi cần thiết Xây dựng quy chế bầu cử có nhiệm kỳ, bổ nhiệm có thời hạn Có chế độ cho cán bộ được từ chức hoặc rút chức để nhận công việc thích hợp
Xây dựng quy chế tuyển chọn cán bộ, tuyển chọn nhân tài” [28]
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Huyện Lập Thạch có 34 xã và 03 thị trấn Trong đó, thị trấn Lập Thạch là huyện lỵ, với số dân 215.759 người, gồm 07 dân tộc anh em: Kinh, Dao, Cao Lan, Sán Dìu, Tày, Nùng, Hoa Mật độ dân số 554 người/km2, tỷ lệ sinh hàng năm của huyện là 1,3%
2.2 Thực trạng giáo dục Trung học cơ sở ở huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.1 Tình hình chung về phát triển giáo dục huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc
Là một huyện thuần nông, công nghiệp chưa phát triển Trong những năm gần đây, giáo dục Lập Thạch đã đạt được nhiều thành tích tốt, nhiều chỉ tiêu xếp thứ nhất, nhì trong tỉnh
* Về quy mô trươ ̀ ng, lớp, học sinh
Toàn huyện có 130 trường với tổng số 1673 lớp, tổng số ho ̣c sinh là 54.224 em, trong đó:
Trang 37- 38 trườ ng mầm non với 276 lớp mẫu giáo, 284 nhà nhóm trẻ Số ho ̣c sinh là 10.986 cháu (Nhà trẻ: 3672 cháu, mẫu giáo: 7314 cháu)
- 44 trườ ng tiểu ho ̣c với 655lớ p Số ho ̣c sinh là 14.451 em
- 38 trườ ng THCS (Trong đó có 1 trường Dân tô ̣c nô ̣i trú trực thuô ̣c Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý) với 476 lớp Số ho ̣c sinh là 15.422 em
- 08 trườ ng THPT, THPT bán công với 202 lớp Số ho ̣c sinh là 9660 em
- 01 trung tâm giáo dục thườ ng xuyên với 28 lớ p Số ho ̣c sinh là 1491 em
- 01 trung tâm dạy nghề với 02 lớp bổ túc văn hóa trung ho ̣c và 03 lớ p ho ̣c nghề Số học sinh là 144 em
Ngoài ra còn có 37 Trung tâm ho ̣c tâ ̣p cô ̣ng đồng ở 37 xã, thị trấn
Số ho ̣c sinh đươ ̣c huy đô ̣ng ra lớp ho ̣c tối đa đáp ứng nhu cầu ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh không để ho ̣c sinh thất ho ̣c [56]
* Về công ta ́ c phổ cập giáo dục
Bâ ̣c tiểu ho ̣c đã hoàn thành công tác phổ câ ̣p từ năm 1993 và đến năm 2002 hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
Bâ ̣c THCS đa ̣t phổ câ ̣p tháng 12 năm 2002 vượt kế hoa ̣ch trước 1 năm
Bâ ̣c THPT theo kế hoa ̣ch, huyê ̣n Lập Thạch quyết tâm đến năm ho ̣c 2009-2010 sẽ hoàn thành phổ cập
* Về công ta ́ c xây dựng trường chuẩn quốc gia
Đa ̣i hô ̣i lần thứ XVIII của Đảng bô ̣ huyê ̣n Lập Thạch đã đề ra đến năm 2010 có 100% số trườ ng tiểu ho ̣c, 40% số trường THCS, 30% số trường THPT đa ̣t chuẩn quốc gia để hoàn thành kế hoa ̣ch xây dựng trường chuẩn quốc gia trên toàn huyê ̣n [31] Đến nay, số lượng các trường đa ̣t chuẩn quốc gia như sau:
Mầm non: 4/38 trườ ng = 10,5%, hiê ̣n nay đang xây dựng chuẩn 9 trường
Tiểu học: 23/44 trường = 52,2%, hiê ̣n nay đang xây dựng chuẩn 5 trườ ng
THCS: 5/38 trườ ng = 13,15%, hiê ̣n nay đang xây dựng chuẩn 6 trườ ng
THPT: 1/8 trườ ng = 12,5%, hiê ̣n đang xây dựng chuẩn 1 trườ ng
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học 2007-2008 của Phòng GD&ĐT huyện Lập Thạch)
* Về đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
Trang 38Thực hiê ̣n Chỉ thi ̣ số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng cô ̣ng sản Việt Nam và Kế hoạch 87-KH/TU của tỉnh ủy Vĩnh Phúc về xây dựng và nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ nhà giáo và CBQLGD Ngành đã chú trọng xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ, có giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên, đã đô ̣ng viên, tạo điều kiện, vận đô ̣ng nhiều đồng chí giáo viên trẻ đi học thêm để nâng cao trình
đô ̣ chuyên môn Hiê ̣n ta ̣i có gần 300 giáo viên đang theo học các lớp đa ̣i ho ̣c và 8 giáo viên đang theo ho ̣c cao ho ̣c Đến nay, đội ngũ cán bộ giáo viên toàn huyê ̣n như sau:
GV Mầm non: Tổng số: 568 người, trong đó:
ĐH: 32 người, chiếm tỷ lê ̣ 5,6%
CĐSP: 77 người, chiếm tỷ lê ̣ 13,6%
Trung cấp: 419 người, chiếm tỷ lê ̣ 73,8%
Chưa đạt chuẩn: 40 người, chiếm tỷ lệ 7%
GV Tiểu ho ̣c: Tổng số 865 người, nữ 717 người, trong đó:
Thạc sĩ: 01 người, chiếm tỷ lệ 0,1%
ĐH: 423 người, chiếm tỷ lê ̣ 48,9%
CĐSP: 250 người, chiếm tỷ lê ̣ 28,9%
10+ : 191 ngườ i, chiếm tỷ lê ̣ 22,1%
GV THCS: Tổng số 960 người, nữ 570 người, trong đó:
ĐH: 588 người, chiếm tỷ lê ̣ 61,3%
CĐSP: 326 người, chiếm tỷ lê ̣ 34%
Chưa đạt chuẩn: 46 người, chiếm tỷ lê ̣ 4,7%
Hầu hết các chi bộ trường học đều đạt chi bộ trong sạch – vững ma ̣nh Số giáo viên phấn đấu đươ ̣c đứng trong hàng ngũ của Đảng khá cao Đến nay, tổng số đảng viên của
cả 3 cấp học là 1520 đồng chí (trong đó: mầm non: 246 đồng chí, THCS: 623 đồng chí
và THCS là 651 đồng chí) Riêng năm học vừa qua đã kết na ̣p mới được 68 cán bộ, giáo viên vào Đảng cộng sản Việt Nam Trong đó: Mầm non 19 đồng chí, tiểu ho ̣c 21 đồng chí, THCS là 28 đồng chí [56]
2.2.2 Chất lượng giáo dục trung học cơ sở
* Về giáo dục đa ̣o đức
Thực hiê ̣n nghiêm túc Chỉ thi ̣ của Bô ̣ trưởng Bô ̣ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diê ̣n trong các nhà trường, phối hợp
Trang 39chă ̣t chẽ giữa các tổ chức, đoàn thể trong xã hội để giáo dục đa ̣o đức trong ho ̣c sinh Bở i
vâ ̣y trong năm ho ̣c vừa qua, số lượng ho ̣c sinh THCS xếp loa ̣i đa ̣o đức khá, tốt khá cao,
cụ thể là:
Loại tốt: 10.470 em, đạt tỷ lê ̣ 67,89%
Loại khá: 4.404 em, đạt tỷ lệ 28,56%
Loại TB: 540 em, đạt tỷ lệ 3,5%
Loại yếu: 8 em, chiếm 0,05%
(nguồn: B/C tổng kết năm học 2007-2008 của Phòng GD-ĐT Lập Thạch)
* Về giáo dục văn ho ́ a
Thực hiê ̣n nghiêm túc cuô ̣c vâ ̣n đô ̣ng “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bê ̣nh thành tích trong giáo dục” và “Nói không với việc học sinh ngồi nhầm lớp” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát đô ̣ng, “Chống lối da ̣y đo ̣c-chép ở khối THCS” do Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc phát đô ̣ng Với tinh thần “da ̣y thâ ̣t – học thật”, đánh giá đúng thực chất kết quả ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh, trong năm học 2007-2008 vừa qua đã đa ̣t được:
Giỏi: 888 em, chiếm tỷ lê ̣ 5,75%
Khá: 5.197 em, chiếm tỷ lê ̣ 33,7%
Trung bình: 7.923 em, chiếm tỷ lê ̣ 51,4%
Yếu: 1.394 em, chiếm tỷ lê ̣ 9,03%
Kém: 20 em, chiếm tỷ lê ̣ 0,12%
Chất lượng mũi nho ̣n ho ̣c sinh giỏi kết quả như sau:
Thi ho ̣c sinh giỏi văn hóa lớp 9 cấp tỉnh đạt 85 giải, trong đó có 3 giải nhất, 12 giải nhì, 42 giải khuyến khích
Thi giải toán trên máy tính CASIO đạt 8 giải, trong đó có 1 học sinh dự thi khu vực Thi học sinh giỏi khéo tay kỹ thuật cấp tỉnh có 50 em đạt giải, trong đó có 11 giải nhất, 14 giải nhì, 25 giải ba
Hội khỏe phù đổng cấp tỉnh đạt 7 Huy chương Vàng, 9 Huy chương Bạc, 7 Huy chương Đồng
Kết quả xét tốt nghiê ̣p THCS:
Số học sinh dự xét là 4456 em, tốt nghiệp cả hai lần là 4402 em đạt tỷ lệ 98%,
so với năm học trước tăng 0,3% Trong đó:
Trang 40Giỏi: 288 em, chiếm tỷ lệ 6,54%
Khá: 1.552 em, chiếm tỷ lê ̣ 35,25%
2.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở ở huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc
2.3.1 Số lượng đội ngũ cán bộ quản lý
Tính đến năm học 2008-2009, số lươ ̣ng đô ̣i ngũ CBQL ở các trường THCS trên địa bàn toàn huyê ̣n Lập Thạch là: 111 người, trong đó nữ 28 người Hiê ̣u trưởng là 38 người, Phó hiệu trưởng là 73 người Uỷ ban nhân dân huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lập Thạch đã quan tâm chỉ đạo công tác phân bổ đội ngũ CBQL trường THCS cho phù hợp với địa bàn, đúng định biên, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các trường THCS trong huyện thực hiện tốt nhiệm vụ theo mục tiêu đề ra Với đặc điểm là huyện miền núi, có nhiều xã thuộc diện khó khăn và đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí, kinh tế - xã hội còn phát triển chậm, điều này có tác động không nhỏ đến sự phát triển giáo dục của địa phương Do đó, mặc dù số lượng CBQL ở các trường về cơ bản đã đủ, nhưng còn một bộ phận còn chưa đáp ứng được khối lượng công việc và nhiệm vụ quản lý đặt ra, đặc biệt là đối với những trường ở những nơi có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số
Bảng 2.1: Số lượng đội ngũ CBQL trường THCS huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
(nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lập Thạch)
Nhìn chung CBQL trường THCS ở huyện Lập Thạch so với tỷ lệ quy định về cơ bản đã đảm bảo Bên cạnh đó về cơ cấu và tỷ lệ CBQL ở các trường mang tính đặc thù được Phòng Giáo dục và Đào tạo tham mưu với UBND huyện bố trí ưu tiên thêm số CBQL so với yêu cầu như các đơn vị: Lập Thạch là đơn vị được huyện chọn xây dựng làm điểm trường chất lượng cao, là nơi tập trung bồi dưỡng các đội tuyển học sinh giỏi tham gia dự thi các kỳ thi học sinh giỏi do tỉnh tổ chức Thái Hòa có một đồng chí phó