1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp quản lý Trung tâm Hướng nghiệp và Dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương

99 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN CHÍNH HỮU CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TRUNG TÂM HƯỚNG NGHIỆP VÀ DẠY NGHỀ HUYỆN TỪ LIÊM HÀ NỘI ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN CHÍNH HỮU

CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TRUNG TÂM HƯỚNG NGHIỆP VÀ DẠY NGHỀ HUYỆN TỪ LIÊM HÀ NỘI ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA ĐỊA PHƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

8 Phương pháp nghiên cứu 3

9 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu 5

1.2 Những khái niệm công cụ và một số vấn đề cơ bản của đề tài 8

1.2.1 Giáo dục hướng nghiệp 8

1.2.2 Nghề và giáo dục nghề nghiệp 10

1.2.3 Đặc điểm của ngành GDCN và dạy nghề 13

1.2.4 Vai trò của GDCN và dạy nghề 13

1.2.5 Hoạt động dạy nghề 15

1.2.6 Quản lý hoạt động Hướng nghiệp và Dạy nghề 16

1.3 Vai trò, vị trí của trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân 25

1.3.1 Mô hình trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề 25

1.3.2 Hoạt động của trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và những đặc điểm của nó 26

1.3.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề 26

1.4 Những chuyển dịch cơ cấu kinh tế và vấn đề đặt ra cho việc Hướng nghiệp và Dạy nghề 28

1.4.1 Mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ 28

1.4.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 29

1.4.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương 31

Trang 3

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ Ở TRUNG TÂM HƯỚNG NGHIỆP VÀ DẠY NGHỀ HUYỆN TỪ LIÊM TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA HUYỆN TỪ LIÊM 35

2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội huyện Từ Liêm 35

2.1.1 Đặc điểm tình hình chung 35

2.1.2 Những thuận lợi, khó khăn của huyện Từ Liêm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 36

2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Từ Liêm 37

2.2.1 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 37

2.2.2 Khó khăn và thách thức của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 39

2.3 Những yêu cầu đặt ra cho hướng nghiệp và dạy nghề trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế 39

2.4 Tình hình phát triển của trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội 41

2.4.1 Lịch sử phát triển trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội 41

2.4.2 Chức năng nhiệm vụ của trung tâm 44

2.4.3 C¬ cÊu tæ chøc chøc cña Trung t©m 45

2.4.4 Ngành nghề đào tạo 45

2.5 Thực trạng Trung tâm Hướng nghiệp và Dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 47

2.5.1 Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ các phòng ban, giáo viên của trung tâm 47

2.5.2 Cơ sở vật chất 48

2.5.3 Công tác đào tạo 48

2.5.4 Chương trình dạy nghề 50

2.5.5.Nội dung đào tạo 50

2.5.6 Quản lý hoạt động kiểm tra và đánh giá 51

2.5.7 Công tác quản lý học sinh 52

2.6 Thực trạng quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 53

Trang 4

2.7 Đánh giá thực trạng quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề

huyện Từ Liêm Hà Nội 55

2.7.1 Điểm mạnh 56

2.7.2 Điểm yếu 56

2.7.3 Thời cơ 57

2.7.4 Thách thức 57

Tiểu kết Chương 2 58

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TRUNG TÂM HƯỚNG NGHIỆP VÀ DẠY NGHỀ TỪ LIÊM HÀ NỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU MỚI 59

3.1 Nguyên tắc chọn lựa biện pháp 59

3.1.1 Nguyên tắc tính kế thừa 59

3.1.2 Nguyên tắc tính hiệu quả 60

3.1.3 Nguyên tắc tôn trọng tính đặc thù của quá trình tổ chức hoạt động hướng nghiệp và dạy nghề 60

3.2 Các nhóm biện pháp 61

3.2.1 Nhóm nhận thức 61

3.2.2 Nhóm tổ chức hoạt động 66

3.2.3 Nhóm hỗ trợ 75

3.3 Kiểm chứng sự nhận thức về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 82

3.3.1 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp 82

3.3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp 84

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86

1 Kết luận 86

2 Khuyến nghị 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đẩy mạnh công nhiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 đã được Đảng ta khẳng đinh tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Để đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi chúng ta phải nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Để có nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải phát triển một hệ thống đào tạo có khả năng cung cấp cho xã hội một đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình độ cần thiết theo một cơ cấu thích hợp, có khả năng thích ứng nhanh với mọi biến đổi của môi trường sản xuất có trình độ toàn cầu hóa ngày càng cao Đồng thời có khả năng thường xuyên cập nhật các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho đội ngũ lao động của đất nước Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng cấu thành

hệ thống đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong xu thế đô thị hóa các huyện ngoại thành, Huyện Từ Liêm là một huyện có sức đô thị hóa rất nhanh, hàng ngàn hecta đất nông nghiệp đã nhanh chóng trở thành khu công nghiệp, các doanh nghiệp phát triển rất nhanh cả về

số lượng và chất lượng, nhiều lao động nông nghiệp của địa phương không còn ruộng, vườn Vấn đề đặt ra là cần phải phát triển công tác giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho nông dân đã bị mất đất, thanh thiếu niên địa phương

và các vùng lân cận vừa tạo điều kiện thay đổi nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế vừa tạo ra nguồn nhân lực có tay nghề cho đia phương là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó các cơ sở giáo dục – đào tạo có vai trò rất quan trọng

Trung tâm Hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm được thành lập

từ năm 1999 trực thuộc UBND huyện Từ Liêm, Sở lao động thương binh và

xã hội Hà Nội Trong những năm qua, trung tâm đã hướng nghiệp và dạy

Trang 6

nghề cho hàng ngàn học viên với các loại hình như: dạy nghề ngắn hạn từ 3 đến 6 tháng; liên kết dạy nghề hệ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS, THPT Tuy nhiên sản phẩm của trung tâm chưa thực sự đáp ứng đòi hỏi của các doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng, các doanh nghiệp cũng thường phải bồi dưỡng thêm hoặc đào tạo lại, những khiếm khuyết đó do nhiều nguyên nhân, trong đó công tác quản lý trung tâm còn nhiều vướng mắc, chưa có những thay đổi căn bản phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội trong giai đoạn mới, gây ảnh hưởng không tốt tới chất lượng đào tạo

Trong thời gian được học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội, là cán bộ quản lý trung tâm, tôi nhận thấy việc quản lý của trung tâm trước đây chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn mới Để làm tốt công tác giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề, đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm giáo dục, đào tạo, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế của địa phương cần phải đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý, phân tích rõ điểm mạnh, điểm yếu, chỉ ra nguyên nhân trên cơ sở

đó đưa ra biện pháp tạo nên sự đổi mới trong công tác quản lý trung tâm Với

lý do đó tôi chọn đề tài “Các biện pháp quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương” làm luận văn tốt nghiệp khóa học

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng, đề xuất các biện pháp quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề của trung tâm, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động của trung tâm hướng nghiệp và dạy

nghề huyện Từ Liêm Hà Nội

Trang 7

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý Trung tâm Hướng nghiệp và dạy nghề

huyện Từ Liêm Hà Nội đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận của Quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội

- Đề ra những biện pháp quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội trong giai đoạn hiện nay đáp ứng nhu cầu chuyển dịch

cơ cấu kinh tế của địa phương

5 Giả thuyết khoa học

Nếu áp dụng các biện pháp quản lý mà đề tài đưa ra thì chất lượng và hiệu quả trong công tác giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề của trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội sẽ được nâng cao, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương trong giai đoạn hiện nay

6 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý tại trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội trong 3 năm trở lại đây

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài đóng góp cho việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến quản lý cấp cơ sở

Đề tài đóng góp cho việc Quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế của địa phương, đồng thời làm tài liệu tham khảo cho các trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề khác

8 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

Các phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài qua sách báo, mạng Internet và tài liệu tham khảo

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp điều tra phiếu hỏi: sử dụng các mẫu phiếu điều tra với đối với giáo viên, cán bộ quản lý, học viên để thu thập thông tin về thực trạng quản lý hoạt động của trung tâm

+ Các thuật toán để xử lý số liệu

+ Phương pháp phỏng vấn, xin ý kiên các chuyên gia

9 Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của Quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy

nghề cấp huyện đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương

Chương 2: Thực trạng Quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề

huyện Từ Liêm Hà Nội

Chương 3: Các biện pháp Quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề

huyện Từ Liêm Hà Nội đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương

Trang 9

Tác giả Nguyễn Đức Trí nhấn mạnh đến hai điểm chính đó là: Đổi mới

tư duy GDNN và Đổi mới công tác quản lý Nhà nước đối với GDKT và DN

Đổi mới tư duy giáo dục nghề nghiệp không chỉ có riêng những người trực tiếp làm công tác GDNN mà còn của cả các bên liên đới trong toàn xã hội, cả người học, người sử dụng lao động (các doanh nghiệp) và Nhà nước, đều phải đổi mới sâu sắc tư duy về GDNN Quá trình đổi mới công tác quản lý Nhà nước đối với GDKT và DN liên quan đến 3 vấn đề : Chuẩn hóa; phân cấp và kiểm định

- Trước hết là các tiêu chuẩn kiến thức và kỹ năng của các cấp trình

độ, đó là cơ sở khoa học không thể thiếu để xây dựng và cải tiến nội dung

Trang 10

chương trình và xây dựng các chương trình nội dung ĐT liên thông giữa các

cấp trình độ Để xây dựng các tiêu chuẩn kiến thức và KN của các cấp trình

độ cần có sự tham gia đầy đủ của phía sử dụng LĐ tốt nghiệp các cơ sở GDKT và DN

- Tiêu chuẩn chương trình các cấp trình độ đào tạo

- Tiêu chuẩn giáo viên

- Tiêu chuẩn cơ sở vật chất

- Định mức chi phí đào tạo,

Về vấn đề đổi mới mục tiêu, nội dung GDKT và DN cũng được các tác giả nghiên cứu đề cập

Những tiến bộ vượt bậc của khoa học - công nghệ, những thay đổi của

tổ chức sản xuất và phân công lao động xã hội cũng như những đòi hỏi của nền kinh tế tri thức đang dần hình thành, đòi hỏi người công nhân, nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ cả sơ cấp và trung cấp phải được đào tạo ở trình độ cao hơn cả về lý thuyết và đặc biệt là thực hành so với trình độ đào tạo hiện nay Ở một số ngành nghề có tính chất kỹ thuật hoặc công nghệ ngày càng đòi hỏi sự phân hoá mục tiêu đào tạo đội ngũ CNKT, KTV trung cấp hiện nay theo hai hướng nhân lực kỹ thuật thực hành (kỹ nghệ thực hành) như sau:

(1) Hoặc phải là nhân lực kỹ thuật thực hành trình độ “công nhân lành nghề” không những có khả năng trực tiếp vận hành và sản xuất một cách độc

lập mà còn có khả năng kiểm tra, hướng dẫn, giám sát người khác trong một

số công việc có độ phức tạp trung bình

(2) Hoặc phải là nhân lực kỹ thuật thực hành “trình độ cao” với những

khả năng mới cao hơn như: khả năng phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định về kỹ thuật, các giải pháp xử lý sự cố, tình huống có độ phức tạp tương đối cao trong hoạt động nghề nghiệp, khả năng giám sát và phần nào quản lý, lãnh đạo, như một thợ cả, kỹ sư thực hành hay KTV cấp cao Muốn trở

Trang 11

thành một “thợ cả” như thế, người công nhân lành nghề cần phải trải qua một thời gian nhất định hoạt động trong nghề (có thể từ 2-3 năm trở lên) rồi mới được đào tạo, bồi dưỡng thành „thợ cả‟

Nhiều công trình nghiên cứu gần đây về khoa học quản lý của các nhà

nghiên cứu và các giảng viên đại học, các cán bộ Viện nghiên cứu đều nhấn mạnh những giá trị và thái độ ưu tiên cần có ở người lao động, chúng phải

được thể hiện rõ trong mục tiêu đào tạo Đó là những giá trị và thái độ, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, tinh thần hợp tác, làm việc theo nhóm, ý thức pháp luật, kỉ luật lao động, v.v

Việc đổi mới nội dung chương trình đào tạo trong GDKT và DN phải đảm bảo được các yêu cầu chủ yếu như:

- Nội dung chương trình phải phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động về ngành nghề và các cấp trình độ khác nhau;

- Cấu trúc của các chương trình phải được thiết kế liên thông giữa các

cấp trình độ đào tạo để bảo đảm tính mềm dẻo, linh hoạt, tạo điều kiện cho người lao động có thể học suốt đời, không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp

- Nội dung các chương trình cần được xây dựng theo tiếp cận "năng lực

thực hiện” và dựa vào các tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng và thái độ của các hoạt động lao động nghề nghiệp được xác định rõ ràng để bảo đảm chất lượng đào tạo toàn diện, đồng thời bảo đảm khả năng hành nghề của người học sau khi tốt nghiệp

Bài viết “Chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy học các môn thực hành chuyên môn nghề” của Thạc sỹ Nguyễn Thanh Hà đăng trên tạp chí Giáo dục số 169 kỳ 1-8/2007, trong đó tác giả đã nêu ra 7 vấn đề nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong dạy học các môn thực hành chuyên môn nghề

Trang 12

1 Phẩm chất và năng lực của giáo viên kĩ thuật

2 Mục tiêu và nội dung dạy học

3 Phương pháp dạy học

4 Trình độ nhận thức và thái độ học tập của học viên

5 Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị dạy học

6 Môi trường dạy học

7 Phương pháp kiểm tra đánh giá

Các báo cáo và bài báo trên đề cập đến một số vấn đề vĩ mô và một số

ít vấn đề cụ thể Chúng tôi muốn đi sâu vào công tác quản lý đào tạo nghề ở đơn vị chúng tôi, một trung tâm Hướng nghiệp và Dạy nghề cấp huyện để từ

đó đề ra một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và có thể có những điều áp dụng được cho các cơ sở dạy nghề khác

1.2 Những khái niệm công cụ và một số vấn đề cơ bản của đề tài

1.2.1 Giáo dục hướng nghiệp

GDHN là hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, trong

đó tập thể sư phạm nhà trường giữ vai trò quyết định nhằm giúp người học chọn nghề trên cơ sở khoa học Khi ấy, tập thể sư phạm phải sử dụng các biện pháp GD mang tính chất hướng dẫn, tính thuyết phục cao, không áp đặt, đảm bảo nghuyên tắc hình thành hứng thú, điều chỉnh, uốn nắn động cơ chọn nghề của thế hệ trẻ sao cho có sự nhất trí cao với nguyện vọng của cá nhân với yêu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế, giữa năng lực của cá nhân với đòi hỏi của nghề Trong mối quan hệ phức hợp từng cặp một giữa cá nhân và xã hội, giữa cá nhân và nghề phải được giải quyết bằng những biện pháp giáo dục đồng bộ, nếu coi nhẹ một cặp quan hệ nào đó sẽ dãn tới tình trạng thừa lao động ở nơi này, thiếu lao dộng ở nơi khác, hoặc năng suất lao động không cao vì không có sự phù hợp nghề Rõ ràng là hướng nghiệp phải gắn với công tác GD tư tưởng, chính trị và đạo đức nhằm giúp HS giải quyết đúng đắn mối

Trang 13

quan hệ giữa ước mơ và thực hiện, giữa cái “muốn” và cái “có thể” và cái cần phải làm để luôn luôn biết điều chỉnh hài hòa giữa lợi ích của xã hội và lợi ích của bản thân Với ý nghĩa đó GDHN không quyết định nghề cho mỗi cá nhân

mà GD thế hệ trẻ thái độ đúng đắn với lao động và từ đó GD đúng đắn với nghề nghiệp Vì thế, HN được coi là cấu thành của chương trình GD-ĐT trong hệ thống nhà trường và các cơ sở đào tạo nghề Khái niệm GDHN bắt nguồn từ đó mà ra Theo K.K.Platonov, mỗi hoạt động GDHN thuộc vào các góc của tam giác HN được dựa trên cơ sở là hai yếu tố cơ bản là các cạnh tương ứng giao thoa tạo nên goc đó:

2 Tư vấn nghề 3 Tuyển chọn nghề

Tam giác hướng nghiệp của K.K Platonov

Để GDHN cho HS theo tam giác hướng nghiệp trên đây, cần phải căn cứ vào tình hình phân công lao động, cơ cấu lao động, nhu cầu nhân lực ở địa phương mà xã hội đang cần phát triển, đặc điểm về phẩm chất, nhân cách,

1.Tuyên truyền, định hướng nghề

xã hội

Đặc điểm về phẩm chất, nhân cách, tâm sinh lý và hoàn cảnh

cụ thể của từng HS

Trang 14

tâm sinh lý và hoàn cảnh cụ thể của từng học sinh thông qua hoạt động sinh hoạt hướng nghiệp, các trắc nghiệm tâm sinh lý và hoạt động dạy nghề phổ thông…

Mục tiêu chủ yếu của GDHN là phát hiện, bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân, giúp họ hiểu mình và hiểu yêu cầu của nghề, định hướng họ

đi vào những nghề mà các thành phần kinh tế đang cần nhân lực Để đạt được điều này, GDHN thực hiện thông qua bốn con đường: (1) GDHN qua các môn học văn hóa; (2) GDHN qua môn công nghệ và hoạt động GDNPT; (3) GDHN thông qua chương trình GDHN chính khóa; (4) GDHN qua hoạt động ngoại khóa và các chương trình tư vấn nghề nghiệp, ngày hội hướng nghiệp…

do các cơ sở GDHN, các trường và các phương tiện thông tin đại chúng phối hợp thực hiện

Tóm lại, từ những quan niệm trên đây chúng tôi hiểu “GDHN là hệ thống những biện pháp GD trong và ngoài nhà trường dựa trên cơ sở tâm sinh lý của

HS và cơ sở KT-XH, thông qua việc dạy học các môn văn hóa, môn công nghệ hoạt động GDNPT, hoạt động tư vấn nghề và các hoạt động ngoài giờ lên lớp

để giúp HS có được sự lựa chọn nghề nghiệp vừa phù hợp với nhu cầu XH, vừa phù hợp với sở thích, năng lực, sở trường và hoàn cảnh của mỗi HS”

1.2.2 Nghề và giáo dục nghề nghiệp

1.2.2.1 Nghề và nghề đào tạo

Thông thường trong xã hội, ít ai bằng sức lao động của mình có thể làm

ra được một sản phẩm (với số lượng nhiều) từ khâu đầu đến khâu cuối Toàn

bộ lao động để có được một sản phẩm hoàn chỉnh, người ta phân nó ra thành các công đoạn, công việc cụ thể, mỗi người làm một việc được phân công Đó

là sự phân công lao động xã hội; sự phân công lao động nghề là điều kiện nảy sinh các nghề trong xã hội và nghề luôn gắn với sự phân công lao động Nghề mang tính chất tương đối, nó có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong, tùy thuộc vào sự phát triển của các nền kinh tế và các nhu cầu của xã hội

Trang 15

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nghề Theo nghĩa chung, nghề là tập hợp các hoạt động lặp đi lặp lại của người lao động nhằm hoàn thành những nhiệm vụ nhất định theo sự phân công lao động của xã hội Trong khu vực sản xuất vật chất, nghề là hoạt động của người lao động sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động theo quy trình công nghệ nhất định

để tạo ra sản phẩm

Theo đại từ điển tiếng việt thì hẹp hơn, khái niệm “nghề” là khái niệm

“chuyên môn” hay “ngành”: “ngành là lĩnh vực chuyên môn, KH”, “chuyên môn là một môn riêng của ngành KH,KT” Hay nói cách khác, cũng một nghề nhưng có thể gồm nhiều ngành nghề, chuyên môn khác nhau Chẳng hạn, nghề dạy học có các chuyên môn (ngành) dạy học môn toán, dạy học môn lịch sử…

Trong khu vực GD, nghề ĐT là một nghề theo nghĩa chung nhưng để hoàn thành một nhiệm vụ theo sự phân công của xã hội thì người lao động phải được ĐT theo một nội dung, trong một thời gian nhất định, trước khi tham gia vào lao động xã hội Theo nghĩa thông thường, nghề là một công việc nào đó để có thu nhập theo sự phân công lao động xã hội

Các đặc điểm và yêu cầu của nghề như: tên nghề và các chuyên môn nghề; lịch sử phát triển nghề; nội dung và tính chất lao động của nghề; những điều kiện cần thiết để tham gia lao động nghề nghiệp; chống chỉ định y học, bệnh tật mà nghề không chấp nhận và điều kiện đảm bảo cho người lao động hành nghề

Trên cơ sở các khái niệm về nghề nêu trên, chúng tôi cho rằng một người chỉ có thể biến một công việc thành một nghề thực sự theo phương châm

“nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” nếu người đó phù hợp với yêu cầu của nghề, say sưa yêu nghề, biết vận dụng sáng tạo những điều đã học được vào thực tiễn sản xuất Để có một nghề và hành nghề thuận lợi, người ta phải làm

Trang 16

1.2.2.2 Giáo dục nghề nghiệp

“Giáo dục nghề nghiệp gồm:

* TCCN được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp THCS, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp THPT

* Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ

sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng”

- Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp:

“Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh

TCCN nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành

cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào việc làm

Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch

vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo.”

- Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục nghề nghiệp:

“Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung vào đào tạo năng lực thực hiện nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo

Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành nghề

và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu chung của từng công việc.”

Trang 17

- Giáo trình TCCN, giáo trình dạy nghề dài hạn:

“Giáo trình TCCN, giáo trình dạy nghề dài hạn phải thể hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục, cụ thể hoá nội dung, phương pháp giáo dục quy định trong chương trình giáo dục TCCN, chương trình dạy nghề dài hạn …”

- Về văn bằng chứng chỉ nghề nghiệp:

Học sinh học hết chương trình dạy nghề trình độ trung cấp, có đủ điều kiện theo quy định của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được Hiệu trưởng nhà trường cấp bằng tốt nghiệp trung cấp nghề

1.2.3 Đặc điểm của ngành GDCN và dạy nghề

Giáo dục TCCN và dạy nghề là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo người lao động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ở trình

độ trung cấp hoặc kỹ năng nghề nghiệp phổ thông, CNKT, nhân viên nghiệp

vụ, có trình độ văn hoá tương đương THPT để trực tiếp tham gia lao động sản xuất và tiếp tục học cao hơn khi có điều kiện và nhu cầu

Giáo dục TCCN và dạy nghề có tính đa dạng về ngành nghề có quan hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, thị trường việc làm

Giáo dục TCCN và dạy nghề có nhiều đầu mối quản lý: có trường thuộc các Bộ, ngành TW, có trường trực thuộc Sở, ngành địa phương, có trường thuộc Doanh nghiệp (Tổng công ty, công ty), có lớp riêng thuộc Bệnh viện, nhà máy do vậy công tác quản lý rất phức tạp

1.2.4 Vai trò của GDCN và dạy nghề

Giáo dục TCCN và dạy nghề có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò to lớn trong việc đào tạo kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ, công nhân kỹ thuật, góp phần đào tạo nguồn nhân lực phục vụ

Trang 18

cho sự nghiệp phát triền kinh tế xã hội, CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Hiện nay, do tác động của cơ chế thị trường và sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, cơ cấu nhân lực có nhiều biến đổi Tuy vậy, giáo dục TCCN và dạy nghề vẫn giữ vị trí, vai trò hết sức quan trọng và cần thiết đối với các lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước

Trong định hướng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đến năm 2020 đã dự báo nhu cầu đào tạo TCCN là 200.000 người (năm 2000), 400.000 người (2010) và 600.000 người (2020) cân đối với quy mô đào tạo CNKT và Đại học là 1/1

Vị trí, vai trò, tính khách quan và lâu dài của giáo dục TCCN và dạy nghề đã được khẳng định qua nhu cầu đào tạo đã nêu ở trên Hiện nay, đất nước ta đang thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước thì nhu cầu cần thiết phải đào tạo các kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ, công nhân kỹ thuật cũng

là nhu cầu không thể thiếu được trong sự nghiệp phát triển đất nước

Hiện nay, nhu cầu đào tạo nghề ở nước ta đang rất lớn vì tỷ lệ lao động

đã qua đào tạo còn thấp Tuy nhiên cần có những giải pháp cơ bản và đồng bộ của mọi cấp giáo dục nhằm gắn đào tạo với sử dụng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phấn đấu đến năm 2010 tỷ

lệ lao động được qua đào tạo nghề đạt 25-30% Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo, phát triển và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trong cả nước, mở rộng các hình thức đào tạo

Kế hoạch đào tạo nghề phải theo sát kế hoạch kinh tế xã hội của từng địa phương, phục vụ cho sự chuyển đổi cơ cấu lao động, sự nghiệp CNH, HĐH của địa phương

Trang 19

Để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của ngành mình thì giáo dục TCCN và dạy nghề phải sớm có định hướng chiến lược trong thời gian tới về mọi mặt, trong đó chiến lược xây dựng đội ngũ giáo viên là điều kiện tiên quyết Phải đảm bảo đội ngũ giáo viên có trình độ, kiến thức cao, giỏi về lý thuyết, thạo về tay nghề thực hành, tinh thông nghiệp vụ sư phạm, có khả năng tổ chức và nghiên cứu ứng dụng khoa học Trong đó, cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán làm lực lượng nòng cốt trong công tác đào tạo và bồi dưỡng ở các trường TCCN và dạy nghề

1.2.5 Hoạt động dạy nghề

1.2.5.1 Nghề phổ thông

Nghề phổ thông là những nghề thông dụng phổ biến, có mức độ kỹ thuật tương đối đơn giản; tổ chức dạy học không phức tạp về trang thiết bị và quy trình triển khai; nguyên vật liệu và phôi dễ kiếm, dễ tạo, rẻ tiền; thời gian học nghề ngắn, chi phí ĐT ít

1.2.5.2 Giáo dục nghề phổ thông

GDNPT được hiểu là quá trình truyền thụ các chi thức, kỹ năng nghề nghiệp ban đầu đồng thời giáo dục thái độ nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp cho HS Như vậy, GDNPT bao gồm hai quá trình:

(1) Qúa trình dạy học nói riêng và GD nói chung trên lớp, trong nhà trường PT hoặc trung tâm hướng nghiệp - dạy nghề hoặc trung tâm KTTH-

HN Quá trình này diễn ra theo chương trình, nội dung thống nhất toàn quốc hoặc cụ thể hóa đối với từng địa phương, vùng miền, khi được cơ quan chuyên môn có thẩm quyền phê duyệt

(2) Quá trình GD và ĐT ngoài nhà trường PT hoặc trung tâm hướng nghiệp - dạy nghề hoặc trung tâm KTTH-HN thông qua việc tự học ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt HN, sinh hoạt tập thể, tham quan doanh nghiệp, thực tập sản xuất tại doanh nghiệp hoặc thông qua các phương tiện truyền thông các cơ

Trang 20

quan thông tin đại chúng các tổ chức xã hội… đây chính là cơ sở để thiết lập mối liên hệ giữa ba thiết chế chính trong việc giáo dục nghề PT là trung tâm hướng nghiệp - dạy nghề hoặc trung tâm KTTH-HN – trường PT – doanh nghiệp

1.2.5.3 Hoạt động dạy nghề

Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học

Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.6 Quản lý hoạt động Hướng nghiệp và Dạy nghề

1.2.6.1 Quản lý

* Khái niệm về quản lý:

Hoạt động quản lý bắt nguồn tự sự phân công và hợp tác lao động Chính sự phân công và hợp tác lao động để có hiệu quả nhiều hơn, năng suất lao động cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, kế hoạch, tổ chức, phối hợp, điều hành và kiểm tra Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý Ở đây luận văn xin đề cập đến một số định nghĩa tiêu biểu liên quan đến hoạt động này

Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân nhằm thực hiện những chức năng

Trang 21

chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cá thể sản suất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”

Harold Koontz, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực

cá nhân, nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản

lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất.” Theo AphanaxevV.G: “Quản lý con người là sự tác động con người đến con người thông qua quan hệ quản lý (quan hệ con người với con người và quan hệ công việc) làm cho hành vi (hoạt động) của con người đáp ứng yêu cầu của xã hội, của tập thể, đem lại lợi ích cho cả cá nhân, tập thể và xã hội, thúc đẩy sự phát triển cho cả cá nhân, tập thể và xã hội”

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là

khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu đã dự kiến."

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí định nghĩa

về quản lý là: "Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức" Hiện nay, khái niệm này được định nghĩa một cách rõ hơn: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch

hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra."

Khái niệm về quản lý được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau song

có thể hiểu quản lý là hoạt động có mục đích của con người và quản lý chính

là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn

Trang 22

Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn

Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Quản lý mang tính khoa học vì các hoạt động của quản lý có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những quy luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể, đồng thời quản lý mang tính nghệ thuật vì nó phải được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội

Quản lý là một phạm trù chứa trong mình những khái niệm đặc trưng như chủ thể quản lý và mục tiêu quản lý

* Chức năng của quản lý:

Quản lý có những chức năng sau:

- Kế hoạch hoá: là xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó

- Tổ chức: là chuyển những ý tưởng đã được kế hoạch hoá thành hiện thực,

là quá trình hình thành nên các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Tổ chức còn là quá trình điều phối thực hiện kế hoạch

- Chỉ đạo: bao hàm việc liên kết, liên hệ của người lãnh đạo với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt mục tiêu của tổ chức

- Kiểm tra: là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những điều chỉnh, uốn nắn nếu cần thiết

Trang 23

Bốn chức năng của quản lý có mối liên quan, ảnh hưởng tác động lên nhau và chúng luôn luôn chịu tác động của những thông tin liên quan ở trong

và ngoài hệ thống Mối quan hệ giữa bốn chức năng đó và với thông tin có thể được thể hiện bằng sơ đồ sau:

Chức năng của quản lý

1.2.6.2 Quản lý giáo dục

* Khái niệm về quản lý giáo dục:

Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách

tự giác Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng được quản lý trên phương diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới hình thành Bản thân sự giáo dục được tổ chức và có mục đích đã là một thực tiễn quản lý giáo dục sống động

Quản lý giáo dục có thể được hiểu là quản lý quá trình giáo dục - đào tạo trong đó bao gồm quá trình dạy học diễn ra ở các cơ sở giáo dục khác nhau hay là quản lý một hệ thống các cơ sở giáo dục đóng trên địa bàn dân cư

Lập kế hoạch

Chỉ đạo Thông tin

Trang 24

Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức

và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực

và tâm lực của con người Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến quản lý nhà trường cùng với hệ thống quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục còn là hoạt động lôi cuốn tất cả các thành viên trong nhà trường cùng tham gia từ Ban giám hiệu cho đến tập thể đội ngũ giáo viên, công nhân viên, học sinh, sinh viên Quản lý giáo dục là công việc chung của toàn bộ tổ chức Quá trình này diễn ra ở mọi tình huống trong các nhà trường khi mọi người cùng nhau hoạt động vì mục đích chung là đạt được mục tiêu

đề ra

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý giáo dục là hệ thống có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng thể hiện được tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là qúa trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ; đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới

về chất”

Tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó”

Tóm lại, quản lý giáo dục có thể được hiểu một cách đơn giản là quá trình vận dụng những nguyên lý, phương pháp, khái niệm…, của khoa học quản lý vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt - ngành giáo dục

Trang 25

* Hệ thống quản lý giáo dục bao gồm các thành tố sau:

- Chủ thể quản lý giáo dục: Là hệ thống quản lý giáo dục các cấp từ trung ương đến địa phương

- Khách thể quản lý giáo dục (đối tượng quản lý giáo dục):

+ Điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực cho giáo dục

+ Quá trình giáo dục

+ Con người tham gia hoạt động giáo dục

- Cơ chế quản lý giáo dục bao gồm các cơ chế chính thức và cơ chế không chính thức:

+ Cơ chế chính thức là những quy định đã thành văn bản mang tính pháp

lý, được thực hiện nhằm duy trì quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý do Nhà nước, Bộ Giáo dục - Đào tạo và các cơ quan chức năng có thẩm quyền được Bộ uỷ quyền ban hành

+ Cơ chế không chính thức là những quy định không thành văn bản nhưng được sử dụng nhằm duy trì quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý được mọi thành viên trong hệ thống quản lý thừa nhận và tôn trọng

* Mục tiêu của quản lý giáo dục:

Mục tiêu của quản lý giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục thực hiện được mục tiêu của mình là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ nhân lực có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội

1.2.6.3 Quản lý trung tâm Hướng nghiệp và Dạy nghề

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp gồm: Trường TCCN, trường dạy nghề, trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề, lớp dạy nghề (gọi chung là cơ sở dạy nghề)

Cơ sở dạy nghề có thể được tổ chức độc lập hoặc gắn với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, cơ sở giáo dục khác

Trang 26

Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề là cơ sở đào tạo nghề ngắn hạn thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, do cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, xã hội, cá nhân hay một nhóm cá nhân lập ra hoạt động theo quy định của pháp luật, nhằm hướng nghiệp và dạy nghề, bổ túc, bồi dưỡng nghề cho người lao động

Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng

Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề theo quy chế bao gồm: Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề công lập; Trung tâm hướng nghiêp và dạy nghề bán công; Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề dân lập và Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề tư thục

Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề chịu sự quản lý Nhà nước về hướng nghiệp và dạy nghề của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Bộ Giáo dục sự quản lý trực tiếp của cơ quan ra quyết định thành lập và chịu sự quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương nơi Trung tâm dạy nghề đặt trụ sở

Nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề như sau:

Xây dựng kế hoạch định hướng nghề nghiệp và dạy nghề ngắn hạn, bổ túc và bồi dưỡng nghề theo nhu cầu của thị trường lao động

 Xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình giảng dạy phù hợp với nguyên tắc xây dựng chương trình đào tạo do Bộ Lao động – Thương bình và

 Nhận người học thuộc diện đối tượng hưởng chính sách xã hội vào học nghề theo quy định của Chính phủ

Trang 27

 Tổ chức kiểm tra cuối khóa cho người học theo quy chế của Bộ lao động – Thương binh và Xã hội

 Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và cơ sở vật chất, tài sản thuộc Trung tâm theo quy định của pháp luật

 Tổ chức và hỗ trợ để giáo viên được tham gia bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm;

 Khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm duy trì và phát triển công tác hướng nghiệp và dạy nghề;

 Định kỳ hàng quý, sáu tháng, hàng năm báo cáo về hoạt động của Trung tâm dạy nghề với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội; Trung tâm dạy nghề đóng trụ sở và cơ quan quản lý cấp trên

Được tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, bổ túc và tập huấn nghề tại Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề, cơ sở sản xuất, cơ sở liên kết đào tạo

 Liên kết với các cơ sở sản xuất, Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề khác, trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trong và ngoài nước để tổ chức đào tạo, bổ túc và bồi dưỡng nghề theo quy định của pháp luật

 Phối hợp với trường phổ thông làm công tác giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh

 Phối hợp với các tổ chức kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, nghiên cứu khoa học và các tổ chức, cá nhân khác trong việc nghiên cứu ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ để gắn dạy nghề với việc làm

 Thu học phí theo quy định hiện hành hoặc theo thỏa thuận được ghi trong hợp đồng học nghề không trái với quy định của pháp luật

 Cấp chứng chỉ nghề, giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề cho người học đạt yêu cầu trong kỳ kiểm tra cuối khóa

 Tổ chức kiểm tra cấp chứng chỉ nghề cho người lao động tự học nghề theo hướng dẫn của Trung tâm và chương trình dạy nghề đã được duyệt

Trang 28

 Tổ chức sản xuất các sản phẩm, cung cấp các dịch vụ phù hợp với nghề dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo; khai thác các nguồn lực trong và ngoài nước để duy trì và phát triển Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề;

 Được tư vấn về học nghề, giới thiệu việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp khóa học

 Được ký hợp đồng giảng dạy với người có đủ tiêu chuẩn đến giảng dạy tại Trung tâm dạy nghề

Cũng như đối với các thiết chế GD&ĐT khác quản lí trung tâm HN&DN cũng có 3 đối tượng quản lí chủ yếu đó là:

+ Các điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực cho hoạt động HN&DN

+ Quá trình giáo dục, dạy học trong trung tâm HN&DN

+ Con người tham gia hoạt động giáo dục, dạy học trong trung tâm HN&DN

Với tư cách là một nghiên cứu QLGD chúng tôi muốn đề cập kỹ hơn

vấn đề Quản lí quá trình giáo dục, dạy học trong trung tâm HN&DN ; đặc biệt

nhận thức một số vấn đề liên quan đến đổi mới quá trình dạy học hiện nay ở

một cơ sở GD&ĐT

Quản lý quá trình dạy học là "hệ thống những tác động có mục đích, có

kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho quá trình dạy học vận hành theo đường lối của Đảng, Nhà nước, thực hiện được những yêu cầu của nền giáo dục xã hội trong việc đào tạo con người theo tiêu chuẩn của thời đại, tập trung vào hoạt động dạy học và giáo dục đưa hệ vận động từ trạng thái ban đầu đến mục tiêu"

Mục tiêu quản lý quá trình dạy học là chất lượng dạy học toàn diện cho học sinh, sinh viên với các tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hoá, khoa học kỹ thuật, thể chất được quy định trong mục tiêu giáo dục Một cách chung nhất, mục tiêu quản lý quá trình dạy học là:

Trang 29

+ Bảo đảm thực hiện các mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung chương trình giảng dạy theo đúng tiến độ, thời gian quy định

+ Bảo đảm quá trình dạy học đạt chất lượng, hiệu quả cao

Quản lý quá trình dạy học bao gồm các nội dung sau:

+ Quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo

+ Quản lý hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh, sinh viên

+ Quản lý chất lượng dạy học

+ Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá

+ Quản lý các hoạt động giáo dục ngoài lớp, ngoài nhà trường

Như vậy, quản lý việc thực hiện phương pháp giảng dạy thuộc phần quản

lý hoạt động dạy của giáo viên cũng là một nội dung quản lý quan trọng trước yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay Để đưa ra được các biện pháp quản lý hiệu quả cho hoạt động này việc tìm hiểu và nắm vững các cơ sở

lý luận về quản lý giáo dục, quản lý quá trình dạy học là thực sự cần thiết

1.3 Vai trò, vị trí của trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.1 Mô hình trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề

Trung tâm dạy nghề là cơ sở đào tạo nghề ngắn hạn thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, do cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, xã hội,

cá nhân hay một nhóm cá nhân lập ra hoạt động theo quy định của pháp luật, nhằm đào tạo nghề, bổ túc, bồi dưỡng nghề cho người lao động

Trung tâm dạy nghề là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng

Trang 30

1.3.2 Hoạt động của trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và những đặc điểm của nó

Trung tâm dạy nghề theo quy chế bao gồm: Trung tâm dạy nghề công lập; Trung tâm dạy nghề bán công; Trung tâm dạy nghề dân lập và Trung tâm dạy nghề tư thục

Trung tâm dạy nghề chịu sự quản lý Nhà nước về dạy nghề của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; sự quản lý trực tiếp của cơ quan ra quyết định thành lập và chịu sự quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương nơi Trung tâm dạy nghề đặt trụ sở

1.3.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề

Theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của Trung tâm dạy nghề (Ban hành theo Quyết định số 776/2001/QĐ-BLĐTBXH ngày 09 tháng 8 năm 2001 của

Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm dạy nghề như sau:

 Nhận người học thuộc diện đối tượng hưởng chính sách xã hội vào học nghề theo quy định của Chính phủ

 Tổ chức kiểm tra cuối khóa cho người học theo quy chế của Bộ lao động – Thương binh và Xã hội

Trang 31

 Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và cơ sở vật chất, tài sản thuộc Trung tâm theo quy định của pháp luật

 Tổ chức và hỗ trợ để giáo viên được tham gia bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm;

 Khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm duy trì và phát triển công tác dạy nghề;

 Định kỳ hàng quý, sáu tháng, hàng năm báo cáo về hoạt động của Trung tâm dạy nghề với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi Trung tâm dạy nghề đóng trụ sở và cơ quan quản lý cấp trên

để tổ chức đào tạo, bổ túc và bồi dưỡng nghề theo quy định của pháp luật

 Phối hợp với trường phổ thông làm công tác giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh

 Phối hợp với các tổ chức kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, nghiên cứu khoa học và các tổ chức, cá nhân khác trong việc nghiên cứu ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ để gắn dạy nghề với việc làm

 Thu học phí theo quy định hiện hành hoặc theo thỏa thuận được ghi trong hợp đồng học nghề không trái với quy định của pháp luật

 Cấp chứng chỉ nghề, giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề cho người học đạt yêu cầu trong kỳ kiểm tra cuối khóa

 Tổ chức kiểm tra cấp chứng chỉ nghề cho người lao động tự học nghề

Trang 32

 Tổ chức sản xuất các sản phẩm, cung cấp các dịch vụ phù hợp với nghề dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo; khai thác các nguồn lực trong và ngoài nước để duy trì và phát triển Trung tâm dạy nghề;

 Được tư vấn về học nghề, giới thiệu việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp khóa học

 Được ký hợp đồng giảng dạy với người có đủ tiêu chuẩn đến giảng dạy tại Trung tâm dạy nghề

1.4 Những chuyển dịch cơ cấu kinh tế và vấn đề đặt ra cho việc Hướng nghiệp và Dạy nghề

1.4.1 Mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu thành phần kinh tế,

cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ

Cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau Mỗi quốc gia, vùng lãnh

thổ có cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu thành phần kinh tế nhất định

Một lãnh thổ phát triển theo hướng chuyên môn hóa chính là đi đôi với phát triển tổng hợp, để có thể khai thác tốt nhất tiềm năng của vùng

Kết hợp cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh thổ nhằm phát huy lợi thế

so sánh của vùng trong việc phát triển ngành

Kết hợp với cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế nhằm huy động các thành phần tham gia phát triển các ngành kinh tế, phát triển các vùng lãnh thổ

Giữa các bộ phận của cơ cấu kinh tế: cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ có mối quan hệ tương tác trong quá trình vận đọng của nền kinh tế và trong quá trình chuyển dịch mỗi loại cơ cấu cũng phát triển tương ứng Vấn đề quan trọng là vai trò quản lý vĩ

mô của nhà nước để khuyến khích hay hạn chế các chính sách và đòn bẩy bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng đúng hướng, nhanh nhưng vững chắc, gắn

với các chính sách xã hội để đạt mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”

Trang 33

1.4.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình cải biến kinh tế - xã hội từ tình trạng lạc hậu, mang nặng tính chất tự cấp, tự túc từng bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó, tạo ra năng suất lao động cao, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế nói chung

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm việc cải biến cơ cấu kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ và cờ cấu thành phần kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề mang tính tất yếu khách quan và là quá trình đi lên từng bước dựa trên sự kết hợp mật thiết các điều kiện chủ quan, các lợi thế về kinh

tế, xã hội, tự nhiên trong nước, trong vùng, trong đơn vị kinh tế với các khả năng đầu tư, hợp tác, liên kết, liên doanh về sản xuất dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm của các nước, các vùng và đơn vị kinh tế khác nhau

- Cơ cấu kinh tế là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng

thời kỳ phát triển Do đó có thể hiểu: chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển, mà trạng thái ấy được quyết định bởi các bộ phận hợp thành và các kiểu kết cấu Mỗi trạng thái được thể hiện trước hết qua tỷ trọng của mỗi bộ phận cấu thành hệ thống, thể hiện qua tính vững chắc của hệ thống và chất lượng phát triển của

hệ thống kinh tế

Những xu hướng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trên cơ sở lý thuyết về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nhà kinh tế học, có thể rút ra xu hướng chung của sự chuyển dịch cơ cấu kinh

Trang 34

tỷ trọng ngành công nghiệp trong GDP Trong ngành công nghiệp tỷ trọng các ngành sản xuất sản phẩm có dung lượng vốn cao hơn ngày càng lớn và gia tăng với tốc độ nhanh, tỷ trọng các ngành sản phẩm có dung lượng lao động cao sẽ giảm dần Trong ngành dịch vụ, theo sự phát triển của nền kinh tế, các dịch vụ chất lương cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, luật, giáo dục, y

tế sẽ có tốc độ tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao

- Chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức kinh tế Trong đó phải cải cách cơ bản các thành phần kinh tế quốc doanh về cơ cấu ngành, cơ cấu sở hữu và cơ cấu vùng lãnh thổ, để nó giữ được vai trò lãnh đạo trong một số ngành, sản phẩm và lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải phát huy thế mạnh của từng

vùng kinh tế, từng địa phương (tỉnh; huyện; xã), trong đó cần phát triển nhanh

và mạnh các vùng trọng điểm, trong khu buôn bán tự do, các khu công nghiệp tập trung, các khu công nghệ cao, khu chế xuất Cụ thể là chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, từng thành phần kinh tế ở các vùng lãnh thổ, các địa phương

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn cho phù hợp với thế mạnh của từng vùng, nhằm tạo ra những sản phẩm có lợi thế, những cụm công nghiệp chế biến, những thị trấn, để giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập bằng tiền cho nông dân, trên cơ sở đó sẽ tạo ra sức mua lớn và phát triển thị trường tiêu thụ rộng lớn ở nông thôn Ở Việt Nam, trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải hết sức coi trọng việc phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, phát triển kết cấu hạ tầng ở nông thôn, chú trọng ưu tiên các vùng cao, vùng sâu, miền núi, hải đảo ven biển vã khu căn cứ cách mạng trước kia

Tuy tất cả các nước đều có xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế như nhau nhưng tốc độ chuyển dịch lại không giống nhau vì bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác về tự nhiên, nhân lực, điều kiện kinh tế và văn hóa

Trang 35

1.4.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương

Theo các lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và với những phân tích về xu hướng có tính quy luật trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương cũng không nằm ngoài xu hướng đó Tuy nhiên, tùy từng điều kiện cụ thể về tự nhiên, dân số, tiềm năng kinh tế, tình hình phát triển xã hội, văn hóa đặc thù của từng vùng mà tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế có sự khác biệt nhất định về tốc độ, qui mô, cấu trúc thành phần của nền kinh tế

Ở các địa phương, việc chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành kinh tế nông nghiệp có vị trí hết sức quan trọng, vì nó tạo ra động lực thúc đẩy toàn bộ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, góp phần xây dựng nông thôn mới, giải phóng sức lao động dồi dào của nông dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động

Trong quá trình đó ở địa phương phải ý thức rõ những khó khăn của mình như sở hạ tầng còn yếu kém, thủ tục hành chính phức tạp, chi phí sản xuất và vận chuyển cao, nguồn nhân lực thiếu và yếu, sức cạnh tranh của doanh nghiệp chưa cao… để phân bổ nguồn lực hợp lý, duy trì mức tăng trưởng cao và bền

vững

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế yêu cầu phải có cơ cấu lao động, sự phân

công lao động xã hội phù hợp trong từng thời kỳ phát triển, sự phân công lại lao động xã hội này làm chuyển dịch cơ cấu nhân lực trên từng vùng lãnh thổ Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế thường chuyển dịch với tốc độ nhanh hơn cơ cấu

nhân lực do sự tác động mạnh của cơ cấu đầu tư, ứng dụng công nghệ mới Cơ cấu nhân lực thường lạc hậu hơn nhiều so với cơ cấu kinh tế và không theo

kịp tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hiện tượng này khá phổ biến với các nước kém phát triển và đang phát triển, bởi vậy, chuyện dịch cơ cấu kinh tế sẽ tạo ra áp lực và động lực để chuyển dịch nhanh cơ cấu nhân lực và phân công lao động xã hội Tuy nhiên, khoảng cách quá lớn giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu

Trang 36

nhân lực sẽ là cản trở không nhỏ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế vì không đảm bảo kịp thời và đầy đủ lao động có chất lượng và trình độ cho nhu cầu các ngành, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế Vì vậy, đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã hội để cơ cấu nhân lực thay đổi phù hợp với sự thay đổi của cơ cấu kinh tế sẽ tạo điều kiện và tiền đề để đẩy nhanh hơn nữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quá trình đó diễn ra liên tục làm cho cơ cấu kinh tế và cơ cấu nhân lực ngày càng phù hợp, sẽ là yếu tố tổng hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững

Kinh nghiệm các nước Châu Á như Trung Quốc, Thái Lan, Malayxia, Hàn Quốc cho thấy xu hướng có tính quy luật của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao giờ cũng gắn chặt với chuyển dịch cơ cấu nhân lực với mục tiêu chiến lược là giảm tương đối và tuyệt đối lao động nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ với năng suất lao động và hiệu quả cao

Đối với nước ta nói chung và với huyện Từ Liêm nói riêng, từ nền kinh tế truyền thống là dựa trên sản xuất nông nghiệp, tự cung tự cấp và nhiều năm vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ diễn ra một cuộc phân công lại lao động xã hội Quá trình đó vừa tuân thủ các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, vừa phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thế của Việt Nam Cơ cấu kinh tế ở từ liêm đã chuyển dịch theo hướng: công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp và đang dịch chuyển dần sang cơ cấu kinh tế đô thị: Dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp tác động đến quá trình phân công lại lao động xã hội trên các mặt sau:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ và công nghiệp thực chất là chuyển nền kinh tế truyền thống ở trình độ thấp, dựa vào nông nghiệp

là chủ yếu sang nền kinh tế hiện đại, trình độ cao, dựa vào dịch vụ và công nghiệp Quá trình chuyển dịch này, những ngành, nghề truyền thống không phù hợp sẽ dần mất đi, đồng thời xuất hiện nhiều ngành, nghề mới Cơ cấu

Trang 37

ngành nghề thay đổi tác động mạnh mẽ đến việc thay đổi cơ cấu nhân lực, phân bổ lại lao động cho phù hợp thúc đẩy sản xuất phát triển Hiện nay ở nước ta, 60% lao động làm việc trong nông nghiệp chỉ sản xuất 20% GDP, còn 40/0 lao động trong công nghiệp và dịch vụ sản xuất được 80% GDP Như vậy, năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp chỉ bằng 1/6 trong công nghiệp và dịch vụ

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng kéo theo cơ cấu lại lực lượng lao động theo vùng và phân bổ lại lao động giữa các vùng theo chiến lược phát triển các vùng kinh tế Hiện nay bên cạnh chủ trương phát triển đồng đều giữa các vùng trên cơ sở phát huy thế mạnh từng vùng để giảm khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, chúng ta cũng tập trung ưu tiên phát triển các vùng kinh tế trọng điểm để có mức tăng trưởng cao, tích lũy lớn

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo các thành phần kinh tế trong nền kinh

tế thị trường nhiều thành phần, trong đó mọi thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển và có cơ hội phát triển sẽ tạo ra thị trường lao động thực sự sống động Ở đó, mọi người lao động có động lực mạnh mẽ học tập, học tập suốt đời, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt: sức khỏe, tay

nghề, tác phong công nghiệp, tính kỷ luật, chấp hành pháp luật .để tham gia

vào quá trình phân công lại lao động, chuyển đổi ngành nghề phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ Đồng thời tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi : để người lao động có thê tham gia vào quá trình phân công lại lao động trong các thành phần kinh tế

Tuy nhiên, quá trình phân công lại lao động xã hội này diễn ra nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhất là chính sách, thể chế của Nhà nước; cơ cấu đầu tư toàn xã hội; sự lựa chọn và ứng dụng công nghệ mới; sự năng động sáng tạo của các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình đặc thù của địa phương

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo nhân lực trên từng vùng lãnh thổ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là vấn đề then chốt để phát triển kinh tế xã hội trên lãnh thổ đó

Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề là cơ sở đào tạo nghề nghiệp trong hệ thống GDQD có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ Giáo dục nghề nghiệp cho lao động địa phương nhằm góp phần nâng cao tỷ lệ lao động có tay nghề, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phát triển kinh tế xã hội

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng cường dịch vụ và công nghiệp cũng là con đường đã được Đảng và Nhà nước ta xác định và là hướng đi tất yếu khách quan để phát triển kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh hiện đại Quá trình đó nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều yếu tố đó có vai trò của nguồn nhân lực, nhân lực được đào tạo với cơ cấu ngành nghề trình độ, vùng miền hợp lý, phù hợp nhu cầu xã hội, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặt ra như những thách thức cho các trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề cần phải đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp cũng như các thành tố khác của quá trình giáo dục, đặc biệt là công tác quản lý cần được đổi mới toàn diện từ khâu kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo- chỉ đạo, kiểm tra đánh giá

Trên cơ sở lý luận về quản lý trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề đã trình bày ở trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thực trạng quản lý Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề huyện Từ Liêm Kết quả nghiên cứu được trình bày ở chương 2

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ Ở TRUNG TÂM HƯỚNG NGHIỆP

VÀ DẠY NGHỀ HUYỆN TỪ LIÊM TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA HUYỆN TỪ LIÊM

2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội huyện Từ Liêm

2.1.1 Đặc điểm tình hình chung

Từ Liêm là huyện ngoại thành nằm ở phía Tây của Thủ đô Hà Nội, được thành lập vào ngày 31/5/1961 theo Quyết định của Thủ tướng chính phủ Là huyện ven đô có truyền thống cách mạng lâu đời, có nhiều làng cổ đã tạo nên một vùng trù phú mang nhiều dấu ấn văn hóa lịch sử

Sau nhiều lần thu hẹp địa giới hành chính, huyện Từ Liêm mất đi hầu hết những khu đô thị, mất đi phần lớn địa bàn công nghiệp, thương mại, dịch vụ hoạt động sôi động nhất Từ Liêm hiện nay có một thị trấn và 15 xã, tổng diện tích tự nhiên là 75,32 km2

, dân số toàn huyện 371.247 người (số liệu tổng điều tra dân số thường trú trên địa bàn huyện tháng 4/2009) Mật độ dân số chung toàn huyện 4.929 người/km2

(thuộc loại cao nhất vùng ngoại thành và cao hơn mật độ chung toàn thành phố 2,6 lần) Là địa bàn giáp ranh với 3 quận nội thành và giáp ranh với tỉnh Hà Tây cũ, có nhiều đầu mối giao thông đường thủy, đường bộ đi các tỉnh miền núi trung du phía bắc

Bước vào đầu những năm đầu của thế kỷ XXI, huyện Từ Liêm đứng trước những vấn đề mới đặt ra với những thuận lợi và khó khăn đan xen nhau Theo quy hoạch phát triển thủ đô đến năm 2010, quá nửa huyện Từ Liêm nằm trong vành đai công nghiệp, khu đô thị mới từng bước hình thành Bên cạnh

đó, Từ Liêm còn có nhiều cơ quan, xí nghiệp, trường đại học, cao đẳng, doanh trại quân đội, trại giam… do thành phố và trung ương quản lý đóng trên địa bàn Vì vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Huyện có những thuận lợi khó khăn nhất định

Trang 40

2.1.2 Những thuận lợi, khó khăn của huyện Từ Liêm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

* Thuận lợi: Tình hình chính trị - xã hội của Thủ đô và đất nước ổn định;

vị thế của Thủ đô và đất nước ngày càng được nâng cao trong xu thế hội nhập

và phát triển Cùng với những thành tựu của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; thành tựu của sự nghiệp xây dựng Huyện các thời kỳ trước đây và nhiệm kỳ vừa qua là yếu tố hết sức thuận lợi, có tầm quan trọng đặc biệt cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Huyện và thực hiện nhiệm vục hính trị của Đảng bộ

Huyện Từ Liêm có vị trí nằm ở Trung tâm thủ đô Hà Nội, là một trung tâm hành chính của quốc gia trong tương lai; đồng thời, trong giai đoạn hiện nay là thời kỳ Thành phố đang đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa để cơ bản hoàn thành vào năm 2015 Do đó, huyện Từ Liêm sẽ nhận được nhiều hơn nữa sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Thành phố Nhân dân Từ Liêm cần cù, sáng tạo, có truyền thống yêu nước; Đảng bộ, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể ở Huyện đoàn kết – vững mạnh; đây là những thuận lợi cơ bản cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Huyện

* Những khó khăn: Tình hình chính trị, kinh tế thế giới, khu vực và mặt

trái trong qúa trình hội nhập còn diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt; các thế lực thù địch vẫn có những âm mưu chống phá nước ta Cùng với những yếu tố chính trị và tôn giáo trên địa bàn

có tiềm ẩn phức tạp là vấn đề mà Đảng bộ Huyện phải quan tâm Kinh tế quy thoái đã có dấu hiệu phục hồi nhưng chưa vững chắc; Tình hình diễn biến của thời tiết, khí hậu và các loại dịch bệnh phức tạp làm phân tán nguồn lực đầu

tư cho phát triển kinh tế Mặt khác, Từ Liêm là vùng đất phát triển đô thị, do

đó đồng thời với việc giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội trước mắt về hạ tầng giao thông, đô thị, vệ sinh môi trường; quản lý quy hoạch, đất đai và trật

tự xây dựng, việc làm, tệ nạn xã hội… thì còn phải chuẩn bị tốt các điều kiện cho việc hình thành và quản lý của một khu đô thị lớn trong tương lai Đây là

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng khảo sát đánh giá kết quả thực hiện tốt các hoạt động của trung tâm  theo 4 chức năng quản lý - Các biện pháp quản lý Trung tâm Hướng nghiệp và Dạy nghề huyện Từ Liêm Hà Nội đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương
Bảng kh ảo sát đánh giá kết quả thực hiện tốt các hoạt động của trung tâm theo 4 chức năng quản lý (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm