Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Biện pháp xây dựng kế hoạch các thành phần đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của Dự án giáo dục sử dụng vốn vay Ngân hàng Phát triển Châu Á”
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
SỬ DỤNG VỐN VAY NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2009
Trang 2Môc lôc
1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined
2 Mục đích nghiên cứu: Error! Bookmark not defined
3 Nhiệm vụ nghiên cứu: Error! Bookmark not defined
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined
5 Phạm vi nghiên cứu: Error! Bookmark not defined
6 Giả thuyết khoa học : Error! Bookmark not defined
7 Phương pháp nghiên cứu : Error! Bookmark not defined
8 Cấu trúc luận văn Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 1 Error! Bookmark not defined
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 1.1 Vài nét tổng quan vấn đề nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.2 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Error! Bookmark not defined
1.2.1 Khái niệm về quản lý Error! Bookmark not defined 1.2.2 Các chức năng quản lý Error! Bookmark not defined 1.2.3 Dự án và dự án giáo dục Error! Bookmark not defined 1.2.3.1 Khái niệm dự án Error! Bookmark not defined 1.2.3.2 Đặc điểm Dự án và chu kỳ Dự án Error! Bookmark not defined 1.2.4.1 Mục tiêu Dự án Error! Bookmark not defined 1.2.4.2 Lập kế hoạch Dự án Error! Bookmark not defined 1.2.4.3 Phân loại kế hoạch Dự án Error! Bookmark not defined 1.2.4.4 Phương pháp lập kế hoạch Dự án Error! Bookmark not defined 1.2.4.5 Quá trình lập kế hoạch Dự án Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined
THỰC TRẠNG VIỆC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG CÁC THÀNH PHẦN CỦA
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Error! Bookmark not defined
2.1 Khái quát về Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông Error! Bookmark not defined
2.1.1 Mục tiêu Error! Bookmark not defined 2.1.2 Các thành phần Dự án Error! Bookmark not defined 2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Dự án Phát triển giáo dục THPT Error! Bookmark not defined 2.1.4 Nguồn nhân lực BĐH Dự án trung ương Error! Bookmark not defined
2.2 Xây dựng kế hoạch trong khuôn khổ Dự án Phát triển giáo dục THPT Error! Bookmark not defined
2.2.2 Đặc điểm kế hoạch trong khuôn khổ Dự án PTGD THPT Error! Bookmark not
defined
2.2.3 Quy trình xây dựng kế hoạch các thành phần Dự án PTGD THPT Error! Bookmark not
defined
2.2.4 Quy trình thẩm định và phê duyệt các loại kế hoạch trong Dự án PTGD THPT Error!
Bookmark not defined
Trang 32.2.4.1 Quy trình thẩm định, phê duyệt kế hoạch của Nhà tài trợ: Error! Bookmark not
defined
2.2.4.2 Quy trình thẩm định, phê duyệt kế hoạch của Bên vay Error! Bookmark not defined 2.2.5 Điều chỉnh kế hoạch hoạt động các thành phần Error! Bookmark not defined 2.2.6 Đánh giá việc lập kế hoạch trong khuôn khổ Dự án Error! Bookmark not defined 2.2.6.1 Mặt mạnh Error! Bookmark not defined 2.2.6.2 Hạn chế Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined
CÁC BIỆN PHÁP XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG CÁC THÀNH PHẦN DỰ ÁN ĐẢM BẢO HOÀN THÀNH CÁC MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN GIÁO DỤC SỬ DỤNG VỐN VAY NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á Error! Bookmark not defined 3.1 Những nguyên tắc đề xuất các giải pháp Error! Bookmark not defined
3.1.1 Đảm bảo tính thực tiễn Error! Bookmark not defined 3.1.2 Đảm bảo tính khả thi Error! Bookmark not defined 3.1.3 Đảm bảo tính đồng bộ Error! Bookmark not defined
3.2 Yêu cầu đối với kế hoạch và công tác lập kế hoạch hoạt động Dự án Error! Bookmark not defined
3.2.1 Những yêu cầu chung Error! Bookmark not defined 3.2.2 Nội dung kế hoạch rõ ràng, xác định, toàn diện hướng đến mục tiêu tổng thể của dự án
Error! Bookmark not defined
3.2.3 Kế hoạch xây dựng tuân thủ các quy định, chủ trương của Nhà nước và đáp ứng yêu cầu của nhà tài trợ Error! Bookmark not defined 3.2.4 Kế hoạch Dự án phải đảm bảo các số liệu, thông tin phải chính xác Error! Bookmark not
defined
3.2.5 Kế hoạch phải khả thi Error! Bookmark not defined
3.3 Một số biện pháp xây dựng kế hoạch hoạt đông các thành phần Dự án đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của các Dự án giáo dục sử dụng vốn vay Ngân hàng Phát triển Châu Á
Error! Bookmark not defined
3.3.1 Xác định mục tiêu của thành phần Error! Bookmark not defined 3.3.2 Xác định rõ các kết quả mong đợi (cần đạt được) của thành phần Error! Bookmark not
defined
3.3.3 Phối hợp giữa các thành phần và có sự tham gia của các cơ quan tổ chức thực hiện và đối tượng thụ hưởng Dự án Error! Bookmark not defined 3.3.4 Xây dựng khung thời gian và tiến độ các hoạt động hợp lý và đảm bảo yêu cầu của Bộ GD&ĐT và nhà tài trợ Error! Bookmark not defined 3.3.5 Xây dựng kế hoạch phân phối nguồn nhân lực hợp lý Error! Bookmark not defined 3.3.6 Tổ chức đào tạo, tập huấn về công tác lập kế hoạch hoạt động Error! Bookmark not
defined
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển (Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII và Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII) Chính bởi những lẽ đó, khi triển khai các đường lối chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước thành các nhiệm vụ kế hoạch, ngoài những khoản chi ngân sách thường xuyên, Chính phủ còn xây dựng các chương trình mục tiêu cho các tiểu ngành thuộc
hệ thống giáo dục quốc dân để trong một khoảng thời gian nhất định, ta có thể đạt được những kết quả, những mục tiêu cụ thể Thí dụ như chương trình xóa
mù chữ - phổ cập giáo dục, chương trình phát triển các trường dân tộc nội trú, chương trình nâng cấp các trường sư phạm Bên cạnh các chương trình, thực chất là dự án, sử dụng nguồn vốn trong nước, từ những năm 1980, với sự hỗ trợ của UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc), UNESCO (Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc) ta đã thực hiện nhiều dự án giáo dục với quy mô vừa hoặc quy mô nhỏ, như các dự án về dạy lớp ghép cho vùng sâu vùng xa, dự án phát triển các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, dự án nghiên cứu tổng thể ngành giáo dục Từ năm 1990 đến nay, với
sự tham gia hỗ trợ của các tổ chức tài chính lớn như WB (Ngân hàng Thế giới), ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á), các nhà tài trợ song phương hùng mạnh như JICA (Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản), DFID (Cơ quan phát triển quốc tế Anh), EU (Liên minh Châu Âu) các dự án dành cho giáo dục ngày một gia tăng
Công tác lập kế hoạch đang rất được chú trọng trong thời gian gần đây ở các cơ quan, tổ chức đặc biệt là trong hoạt động của các Dự án giáo dục sử dụng vốn vay của nước ngoài để triển khai Lập kế hoạch tốt cho phép hoàn thành các mục tiêu đề ra và thực hiện Dự án thành công Do đặc điểm của Dự
án hoạt động trong khoảng thời gian tương đối ngắn (trung bình khoảng 6 – 8 năm) vì vậy việc lập kế hoạch hoạt động của Dự án có tầm quan trọng để đảm
Trang 5bảo dự án được triển khai đúng tiến độ, đúng kế hoạch và đạt được mục tiêu
đề ra
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Biện pháp xây dựng kế
hoạch các thành phần đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của Dự án giáo dục sử dụng vốn vay Ngân hàng Phát triển Châu Á” với mong muốn phân
tích những điểm mạnh và yếu trong công tác lập kế hoạch các thành phần của
dự án qua trường hợp cụ thể là Dự án Phát triển giáo dục THPT – Dự án được Nhà tài trợ (Ngân hàng Phát triển châu Á – ADB) ghi nhận trong nhiều Biên bản ghi nhớ trong các chuyến đánh giá thường kỳ là Dự án hoạt động hiệu quả nhất trong số các Dự án giáo dục hiện nay, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý công tác xây dựng kế hoạch các thành phần không chỉ nhằm góp phần hoàn thành tốt các mục tiêu của Dự án mà còn cung cấp nguồn thông tin tham khảo cho các dự án cũng như những hoạt động giáo dục khác được tổ chức theo mô hình dự án Đề tài này cũng phù hợp với chuyên ngành mà tác giả đang theo học và có nội dung liên quan chặt chẽ đến công việc hàng ngày tại
Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận của việc lập kế hoạch, khảo sát thực tế
về Dự án giáo dục, mục tiêu Dự án, lập kế hoạch hoạt động và thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động các thành phần của Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông, đề xuất một số biện pháp xây dựng kế hoạch các thành phần nhằm đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của Dự án giáo dục sử dụng vốn vay
Ngân hàng Phát triển Châu Á
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận
Khảo sát thực trạng việc xây dựng kế hoạch hoạt động các thành phần của
Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông
Trang 63
Đề xuất các biện pháp xây dựng kế hoạch các thành đảm bảo tính khả thi
và hiệu quả nhằm hoàn thành các mục tiêu của một số Dự án giáo dục sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp xây dựng kế hoạch các thành phần đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của Dự án
Khách thể nghiên cứu: Quá trình xây dựng kế hoạch thực hiện các thành phần của Dự án giáo dục sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á
5 Phạm vi nghiên cứu:
Hoạt động xây dựng kế hoạch thực hiện các thành phần trong khuôn khổ Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông
6 Giả thuyết khoa học :
Việc lập kế hoạch các thành phần của dự án chỉ được thực hiện khi dự án trở thành khả thi Việc lập kế hoạch của Dự án nói chung và các thành phần của Dự án có tính quyết định đảm bảo tiến độ và thực hiện đúng mục tiêu của
Dự án Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp xây dựng kế hoạch các thành phần đảm bảo tính khả thi và hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo hoàn thành các
mục tiêu của Dự án
7 Phương pháp nghiên cứu :
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp chuyên gia
Điều tra thống kê
8 Cấu trúc luận văn
Chương I : Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương II : Thực trạng việc xây dựng kế hoạch hoạt động các thành phần của
Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông
Trang 7Chương III : Các biện pháp xây dựng kế hoạch các thành phần nhằm đảm bảo
hoàn thành các mục tiêu của Dự án giáo dục sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á
Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 85
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Vài nét tổng quan vấn đề nghiên cứu
Việt Nam được công nhận là thành viên chính thức của ADB vào năm
1976 Từ cuối năm 1993, tài trợ của ADB cho Việt Nam mới bắt đầu được thực hiện với quy mô lớn và trên diện rộng Từ khi nối lại các hoạt động tại Việt Nam vào năm 1993, tính đến cuối năm 2008 ADB đã phê duyệt 78 dự án vốn vay cho khu vực công với tổng số vốn là trên 6 tỷ USD, 225 dự án hỗ trợ
kĩ thuật (khoảng 175 triệu USD); 23 dự án viện trợ không hoàn lại với giá trị 135,6 triệu USD Bên cạnh đó, ADB đã cung cấp 220 triệu USD cho 8 dự án vốn vay và 60 triệu USD bảo lãnh cho 2 dự án khu vực tư nhân Việt Nam là một trong những nước nhận hỗ trợ ADF (Quỹ hỗ trợ phát triển Châu Á) nhiều nhất Với sự nỗ lực của cả ADB và Việt Nam, các chương trình, dự án do ADB tài trợ đang đóng góp có hiệu quả cho nỗ lực của Chính phủ và nhân dân trong phát triển kinh tế và xã hội nói chung và phát triển giáo dục nói riêng
Đề tài nghiên cứu về quản lý các Dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục còn khá mới mẻ Một số nghiên cứu đã thực hiện ví dụ như : Đề tài “Những biện pháp nâng cao năng lực quản lý thực hiện Dự án đào tạo giáo viên Trung học cơ sở sử dụng nguồn vốn Ngân hàng Phát triển Châu Á” của tác giả Nguyễn Thị Hồng ; Đề tài “Biện pháp quản lý các Dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường ĐH Giao thông vận tải trong giai đoạn hiện nay”, song chưa có một nghiên cứu nào cụ thể cho lĩnh vực xây dựng kế hoạch các thành phần nhằm hoàn thành các mục tiêu của các Dự án giáo dục sử dụng vốn vay nước ngoài
1.2 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm về quản lý
Trang 9Quản lý là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có lao động chung của nhiều người, cùng theo đuổi một mục đích Quản lý là dạng hoat động đặc thù của con người và là một thuộc tính có trong xã hội ở bất kì trình độ phát triển nào
Kể từ xã hội nguyên thủy, lao động chung nhiều người là săn bắt, hái lượm, đã cần có sự quản lý, cho đến nền kinh tế tri thức vẫn cần phải có sự quản lý Khi
xã hội phát triển, lao động quản lý tách khỏi lao động trực tiếp và trở thành nghề quản lý Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra khái niệm quản lý theo nhiều cách tiếp cận khác nhau
Theo Karl Mark: “Bất cứ một lao động mang tính xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức
độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc
cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn
bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Mọi người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [26, tr 3]
Theo W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng
bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suât lao động thì: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái
gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” Theo Henry Fayol: “Hoạt động quản lý gồm 4 chức năng chính là:
a) Lập kế hoạch cho tương lai và sắp xếp lên kế hoạch
b) Tổ chức chuẩn bị vật tư, trang thiết bị và bố trí lao động cho công việc
c) Thống nhất và phối hợp các hoạt động
d) Kiểm tra để xác định mọi hoạt động có được thực hiện theo đúng nguyên tắc đã được đặt ra và những quan điểm đã được ban hành [34, tr 34]
Trang 10- “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo
ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng‟‟ [15, tr 7]
- Hoặc “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những
nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [16, tr 33]
Một số tác giả Việt Nam có cách tiếp cận như sau:
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến” [18, tr 24]
- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [1, tr 16]
- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối ưu các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [13, tr 31]
Trang 11Dưới góc độ của khoa học quản lý thì: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu mà
Từ các phân tích trên có thể đưa ra khái niệm quản lý “là quá trình tác
động, điều chỉnh có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng các công cụ quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và đạt được mục tiêu của tổ chức”
1.2.2 Các chức năng quản lý
Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý Thực chất các chức năng quản lý chính là do sự tồn tại các hoạt động quản lý Có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý
Nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý cho thấy quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, từng chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng lại được liên kết hữu cơ trong một hệ nhất quán Tuy nhiên
Trang 129
về cơ bản thống nhất bốn chức năng, liên quan mật thiết với nhau: (i) lập kế hoạch; (ii) tổ chức; (iii) chỉ đạo và; (iv) kiểm tra:
- Lập kế hoạch: là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản
lý, nhằm xây dựng quyết định về mục tiêu, chương trình hành động và bước đi
cụ thể trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý Mục đích của
kế hoạch hóa là hướng mọi hoạt động của hệ thống vào các mục tiêu để tạo khả năng đạt mục tiêu một cách hiệu quả và cho phép người quản lý có thể kiểm soát được quá trình tiến hành nhiệm vụ
- Tổ chức: là xác định một cơ cấu chủ định về vai trò, nhiệm vụ hay chức vụ được hợp thức hóa Tổ chức là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại trong hoạt động của mọi hệ thống và giữ một vai trò to lớn trong quản lý Tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lý thực hiện có hiệu quả Từ khối lượng công việc quản lý mà xác định biên chế, sắp xếp nguồn nhân lực hợp lý Tạo điều kiện cho hoạt động tự giác và sáng tạo cho các thành viên trong tổ chức, tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng trong cơ quan quản lý và đối tượng quản lý Một tổ chức được coi là hiệu quả khi nó được áp dụng để thực hiện các mục tiêu của hệ thống với mức chi phí tối thiểu cho bộ máy
- Chỉ đạo: là phương thức tác động của người quản lý nhằm điều hành tổ chức hoạt động, để đảm bảo cho tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch đề ra và đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong trật tự, kỷ cương nhằm đạt mục tiêu đề ra
- Kiểm tra: là công cụ sắc bén góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm tra nhằm đảm bảo các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời sai sót, tìm ra nguyên nhân, biện pháp sửa chữa kịp thời Thông qua kiểm tra mà chủ thể quản lý đánh giá được kết quả công việc của mọi thành viên trong tổ chức, đánh giá được thực trạng, kết quả vận hành của tổ chức, nhằm phát huy những
Trang 13mặt tốt, đồng thời phát hiện những sai lệch để uốn nắn điều chỉnh một cách kịp thời, đúng hướng, nhằm đạt mục tiêu đề ra
Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình
tự nhất định, chúng có mối quan hệ mật thiêt với nhau, ánh hưởng qua lại nhau, làm tiền đề cho nhau, khi thực hiện hoạt động quản lý trong quá trình quản lý thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý và đưa ra các quyết định quản lý
Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin được biểu diễn bằng sơ đồ chu trình quản lý như sau:
Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý trong chu trình quản lý [21, tr 11]
1.2.3 Dự án và dự án giáo dục
1.2.3.1 Khái niệm dự án
Dự án là một chuỗi những hoạt động khác nhau có liên quan đến nhau theo một lô-gíc, một trật tự xác định nhằm vào những mục tiêu xác định, được thực hiện bằng những nguồn lực nhất định trong những khoảng thời gian xác định [24, tr 6] Nói ngắn gọn, dự án bao gồm một chuỗi của những hoạt động
và nhiệm vụ được sắp xếp một cách lô gic, có liên hệ hữu cơ với nhau
Một định nghĩa khác về dự án:
Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, được thực hiện trên địa bàn cụ thể,
LẬP KẾ HOẠCH HOẠCH
LÃNH ĐẠO
TIN
Trang 1411
trong khoảng thời gian xác định, dựa trên những nguồn lực xác định Sản phẩm chuyển giao do dự án tạo ra là hạng mục cuối cùng của dự án Dự án có thể được chia ra thành những nhiệm vụ nhỏ hơn, được phối hợp với nhau nhằm đạt được mục tiêu của dự án [24, tr 7] Trong một dự án, người ta có thể phân biệt và thường quan tâm đến 8 “yếu tố” là:
- “Khách hàng” của dự án: Đối tượng này bao gồm khá rộng: từ người thụ hưởng kết quả của dự án, những người có thẩm quyền quyết định các vấn
đề liên quan đến dự án, chủ dự án, những người được ủy quyền … Đây chính
là những chủ thể của dự án, có thể chủ động thay đổi các yếu tố khác của dự
án, mặc dù cũng chịu sự chi phối của các yếu tố khác
- Mục tiêu của dự án: Mục tiêu của dự án thường mô tả kết quả cần đạt được, những sản phẩm hoặc những dịch vụ cần tạo ra mà chủ dự án quan tâm, mong muốn khi dự án được thực hiện thành công Người ta có thể phân biệt các mục tiêu theo các mức độ, tiêu thức khác nhau
- Quy mô của dự án: yếu tố này quy định những công việc, nội dung chuyên môn cần thực hiện trong khuôn khổ dự án, những hoạt động mà dự án
và những chủ thể làm việc cho nó cần thực hiện Tính xác định của quy mô dự
án ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức triển khai dự án sau này Trên thực tế, quy mô của dự án cũng có thể được thay đổi và điều chỉnh trong quá trình xây dựng, thẩm định, phê duyệt và thực hiện dự án Sự thay đổi quy mô của dự án càng chậm bao nhiêu càng có thể nảy sinh nhiều khó khăn bấy nhiêu
- Đội dự án: đây là tập thể của các chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động của dự án, thường bao gồm những tập thể, cá nhân tham dự các hoạt động của dự án, với những năng lực được xác định trên cơ sở yêu cầu của dự
án, thường cũng gắn với những hoạt động xác định trước của dự án Bản thân khái niệm “đội dự án” hoặc “nhóm dự án” cũng có tính chất động: Trong hầu hết các dự án, bên cạnh những nhân viên, thường có nhiều chuyên gia ngắn hạn, chỉ làm việc cho dự án trong những khoảng thời gian rất ngắn, giải quyết
Trang 15những công việc cụ thể, họ có thể được coi là thành viên trong đội dự án trong thời gian họ làm việc trong dự án
- Tiến độ của dự án: thực chất đây là kế hoạch về mặt thời gian của dự
án, trong đó quy định rõ những thời điểm nào phải thực hiện được những nhiệm vụ gì hoặc đạt được những mục tiêu nào Với những dự án được xây dựng một cách khoa học và chặt chẽ, kiểm soát tiến độ là công cụ tốt nhất để kiểm soát dự án
- Chi phí và ngân sách cho dự án: đây là yếu tố cho biết nguồn lực tài chính được dành riêng cho việc thực hiện dự án Điều này được đặc biệt chú ý trong dự án bởi đây là nguồn lực “động”, có khả năng chuyển hóa dễ dàng thành những nguồn lực khác Nó thường là nguồn lực bị giới hạn trong dự án Trong tất cả các dự án, ngân sách dự án cần phải được phân chia rõ cho các hoạt động xác định Các phần này được gọi bằng những khái niệm khác nhau (khoản, mục, …) Mục đích của việc phân chia này là để đảm bảo cho các hoạt động có được nguồn ngân sách phù hợp
- Các tiêu thức đánh giá dự án: nhằm giúp nhận dạng xem dự án có được thực hiện thành công hay không và mức độ thành công như thế nào Nó bao gồm cả những tiêu thức định tính và định lượng, cũng được định trước trong quá trình xây dựng dự án, có thể được bổ sung trong quá trình thực hiện dự án Các tiêu thức này có thể được xác định một cách khái quát hoặc cho từng bộ phận cấu thành dự án, hoặc cho từng hoạt động riêng rẽ của dự án Khi thiết kế
dự án, đặc biệt là khi xác định mục tiêu của dự án, các tiêu thức này cần được xác định và tiếp tục xây dựng trong quá trình khiển khai dự án
Về mặt kết cấu chung, các dự án luôn bao gồm 4 bộ phận hợp thành: mục tiêu của dự án (có thể được chia thành mục tiêu dài hạn, mục tiêu trung hạn và mục tiêu ngắn hạn), các kết quả của dự án (đầu ra của dự án), các hoạt động của dự án và nguồn lực phục vụ việc thực hiện dự án Các yếu tố cấu
Trang 16Đặc điểm chung nhất của tất cả các dự án là tính duy nhất của nó Điều
đó có nghĩa là mỗi dự án chỉ diễn ra một lần, không bao giờ lặp lại, không có điểm gì chung với các dự án khác Mặc dù mỗi dự án đều có những điểm khác biệt làm nên tính duy nhất, song nhìn chung, các dự án thường có đặc điểm chung sau đây:
(i) Tính xác định về mặt không gian và thời gian:
Các hoạt động quản lý dự án bao giờ cũng được thực hiện trong những khoảng thời gian nhất định chứ không phải lâu dài, vĩnh viễn Bởi vậy, việc
Mục tiêu dài hạn (Tác động)
Đầu vào C
Đầu vào D
Đầu vào E
Đầu vào G
Nhu cầu của xã hội Lợi ích các chủ thể
Trang 17thiết lập các tổ chức, bộ máy quản trị dự án cũng chỉ có tính chất tạm thời Về mặt quản lý, đặc điểm này đòi hỏi các nhà quản lý dự án ngoài việc quan tâm đến việc hoàn thành các mục tiêu ghi trong văn kiện dự án còn phải nghĩ dài hơn hơn đó là phải tính đến những tác động sau dự án, tính bền vững của các hoạt động này
(ii) Tính mục tiêu rõ ràng
Bất kì một dự án nào cũng được xây dựng và thực hiện trên cơ sở những mục tiêu xác định (thường được làm rõ trong quá trình chuẩn bị, khi đã quyết định và ghi trong các văn kiện dự án thì chúng được coi là pháp lệnh và chỉ có thể được thay đổi qua những trình tự nhất định) Trong một số trường hợp, các mục tiêu của dự án được cụ thể hoá, chi tiết hoá trong quá trình thực hiện dự
án Các mục tiêu dự án có thể khác nhau, ngay trong cùng một dự án có thể có nhiều mục tiêu có tính chất khác nhau Tuy nhiên, không thể có một dự án nào lại được quyết định trên cơ sở chưa có mục tiêu Hơn nữa, những dự án không
có những mục tiêu rõ ràng thường có những rủi ro tiềm tàng dẫn đến dự án không thực hiện thành công hoặc không thành công như mong đợi Chính vì lí
do đó, khi xem xét một dự án, thường bao giờ cũng xem xét mục tiêu trước tiên Nếu mục tiêu của dự án không rõ ràng, không thực tiễn, không mang tính khả thi thì dự án thường khó có thể thực hiện thành công
(iii) Không trùng lắp
Đặc điểm không trùng lắp của dự án thể hiện ở chỗ dự án nhằm vào những mục tiêu không lặp lại một cách thường xuyên và sau khi đạt được mục tiêu thì dự án kết thúc, những tổ chức thiết lập cho dự án được giải tán hoặc chuyển sang thực hiện nhiệm vụ khác Tính không lặp lại của dự án làm cho công việc quản lý dự án đòi hỏi có tính sáng tạo cao đồng thời cũng đòi hỏi có
sự cân nhắc, thận trọng bởi những sai lầm ở đây thường có rất ít cơ hội rút kinh nghiệm lại
(iv) Dự án được thực hiện bởi một “nguồn lực” nhất định
Trang 1815
Sử dụng các nguồn lực vượt quá mức độ dự kiến ban đầu đều được coi
là không đảm bảo yêu cầu, không thực hiện thành công dự án Đối với các dự
án phát triển, sử dụng không hết các nguồn lực dự kiến cũng được coi là một dấu hiệu của việc thực hiện dự án không thành công Tính xác định trong các nguồn lực của dự án không chỉ thể hiện trong tính xác định về số lượng, mà cả
về cơ cấu, tính chất của các nguồn lực có thể sử dụng cho nó
(v) Dự án có thể phân chia thành một chuỗi các hoạt động có tính độc lập nhất định và có quan hệ mật thiết với nhau
Các hoạt động của dự án được thực hiện song song hoặc kế tiếp nhau theo một trình tự xác định tuỳ thuộc mục tiêu và thiết kế của dự án Tuỳ theo mức độ phức tạp và quy mô của dự án, dự án có thể được phân chia thành các
bộ phận như tiểu dự án, các hợp phần, cấu phần… Một dự án phức tạp càng cần được chia nhỏ thành các thành phần để dễ dàng quản lý và triển khai thực hiện
ra quyết định lựa chọn dự án, phân bổ các nguồn lực có thể huy động cho dự án… Qua đó có ảnh hưởng to lớn tới khả năng thành công của dự án sau này Kết quả của giai đoạn chuẩn bị dự án là những văn kiện của dự án, ví dụ như các bản báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi, kế hoạch và các
hồ sơ khác của dự án… Giai đoạn chuẩn bị dự án thường bắt đầu khi xuất hiện
Trang 19ý tưởng về dự án và kết thúc khi văn kiện chính thức của dự án được thông qua, dự án được quyết định thực hiện
b2 Thực hiện dự án
Đây là giai đoạn biến các dự định, ý đồ của dự án do giai đoạn trước đó vạch ra thành hiện thực Tuy về bản chất, giai đoạn này có chức năng thi hành, chấp hành chương trình đã được hoạch định trước, nhưng nó cũng có tác động ngược trở lại, thể hiện ở chỗ giai đoạn này có thể đề xuất những thay đổi trong các chương trình do giai đoạn trước đề ra Giai đoạn thực hiện dự án thường bao gồm các hoạt động mang nặng tính chất điều hành tác nghiệp, được thực hiện xen kẽ với các hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá dự án Trong thực tiễn, có trường hợp sau khi thực hiện, hầu như mục tiêu đã bị thay đổi hoàn toàn do giai đoạn chuẩn bị không kĩ lưỡng hoặc do điều kiện thực hiện dự án
đã biến đổi mạnh mẽ, nhu cầu về các đầu ra của dự án không còn thích hợp, nhưng không thể dừng dự án hoặc nếu dừng dự án sẽ gây những bất lợi lớn về nhiều mặt
Trong giai đoạn này, cơ quan chủ quản/chủ đầu tư sẽ chỉ đạo, điều phối việc triển khai các hoạt động đã được dự kiến trong kế hoạch dự án Việc này thường được bắt đầu bằng việc thành lập Ban quản lý dự án, cụ thể hóa các hoạt động của dự án Trên thực tế, hầu hết các dự án đều có nhu cầu điều chỉnh, sửa đổi trong quá trình thực hiện dự án Do vậy, khi thiết lập cơ chế điều hành, thực hiện dự án, luôn cần có những quy định về trách nhiệm ra quyết định điều chỉnh dự án
Trang 2017
thụ hưởng dự án hoặc cơ quan có chức năng tiếp nhận và khai thác dự án Ngoài, các hoạt động trong giai đoạn kết thúc dự án còn bao gồm cả những hoạt động liên quan đến việc chuẩn bị cho các bước tiếp theo của dự án như kéo dài, mở rộng dự án trong những giai đoạn tiếp theo
c Dự án sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistant - ODA)
Dự án Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Dự án sử dụng nguồn vốn ODA là dự án sử dụng nguồn vốn vay hoặc vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế như ADB, WB, EU, JICA, nhằm hỗ trợ cho các hoạt động phát triển
chính thức của các quốc gia đang phát triển
Các dự án ODA thường có hai hình thức: dự án ODA vốn vay và dự án ODA viện trợ không hoàn lại
Các dự án ODA dưới hình thức vốn vay thường được gọi là dự án ODA ưu đãi, theo đó, Bên Vay được hưởng những ưu đãi lớn như thời gian vay dài hạn (30-40 năm), khoảng thời gian ân hạn thường kéo dài – đây là thời gian mà Bên Vay không phải trả lãi hoặc lãi suất thấp (từ 1 đến 2%) tổng vốn
dư nợ hàng năm Trong trường hợp khẩn cấp hoặc khủng hoảng hoặc quá nghèo, Bên Vay có thể được hưởng quy chế xóa nợ
Các dự án ODA viện trợ sử dụng nguồn vốn không hoàn lại của các tổ chức quốc tế Thông thường, các nguồn ODA không hoàn lại dành cho các dự án hỗ trợ kỹ thuật để chuẩn bị cho các dự án vay vốn ODA hoặc những
dự án trong tình trạng khẩn cấp, cần khắc phục hậu quả thiên tai hay khủng hoảng kinh tế trầm trọng khiến mức sống của người dân bị giảm thấp đột ngột Những dự án ODA viện trợ thường có hạn mức ngân sách không quá lớn so với các dự án vay vốn ODA
d Dự án giáo dục
Trong tuyên ngôn của Liên hiệp quốc về quyền con người có nêu rõ : Học tập là một trong những quyền con người Hồ Chủ tịch, ngay trong cuộc
Trang 21trả lời giới báo chí đầu năm 1946 đã nói : “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, đó là dân ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” Các nghị quyết của Đại hội Đảng ta luôn nhấn mạnh: giáo dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu Đầu tư cho giáo dục
là đầu tư phát triển Chính bởi những lẽ đó, khi triển khai các chủ trương chính sách, Đảng và Chính phủ ta đã có chủ trương ngoài những khoản chi ngân sách thường xuyên, còn xây dựng các chương trình mục tiêu cho các tiểu ngành thuộc hệ thống giáo dục quốc dân để trong một khoảng thời gian nhất định chúng ta có thể đạt được những kết quả, những mục tiêu cụ thể Thí dụ như chương trình xóa mù chữ - phổ cập giáo dục, chương trình phát triển các trường dân tộc nội trú, chương trình nâng cấp các trường sư phạm
Có thể phân loại các dự án giáo dục sử dụng vốn trong nước và vốn ngoài nước thành ba nhóm lớn sau đây: (i) Dự án hỗ trợ kỹ thuật; (ii) Dự án phát triển ngành (hoặc tiểu ngành); (iii) Dự án đào tạo, huấn luyện, nâng cao năng lực
(i) Dự án hỗ trợ kỹ thuật:
Những dự án hỗ trợ kỹ thuật bao gồm hai loại :
Dự án hỗ trợ kỹ thuật nhằm chuẩn bị cho các dự án phát triển ngành hay tiểu ngành Trong chu trình của một dự án phát triển, dự án hỗ trợ kỹ thuật
thường là các dự án chuẩn bị, thực hiện việc xác định đối tượng đầu tư, các cấu phần của dự án phát triển, tính toán phân bổ ngân sách, xác định các kế hoạch triển khai dự án, hình thành phương thức giám sát, đánh giá tiến độ thực hiện và kiểm tra thanh sát dự án, các thủ tục, quy trình mà dự án phải tuân thủ Tổng kết đánh giá kết quả hoàn thành việc thực hiện dự án Loại dự án hỗ trợ
kỹ thuật này thường gọi tắt một cách ‟dân dã‟, không chính thức là các „giai đoạn‟ TA (Technical Assistance) của một dự án phát triển
Dự án hỗ trợ kỹ thuật để thực hiện các hoạt động nghiên cứu, đánh giá thực trạng, hỗ trợ các hoạt động dạy học, giáo dục hay lập kế hoạch phát
Trang 2219
triển giáo dục Những dự án hỗ trợ kỹ thuật loại này có tác dụng hỗ trợ các
quốc gia đang phát triển tiếp cận với các phương pháp phân tích trạng giáo dục theo những mẫu hình tiên tiến, lập kế hoạch giáo dục theo chuẩn mực quốc tế hay đánh giá kết quả của một chương trình kế hoạch quốc gia hay vùng miền theo những tiêu thức quốc tế, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin hay kinh nghiệm phát triển giáo dục giữa các quốc gia trên thế giới
Trong những năm qua, Việt Nam đã tiếp nhận nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật loại này và chúng có tác dụng quan trọng trong việc giúp chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo có những quyết sách với căn cứ khoa học và tính khả thi
cao
(ii) Dự án phát triển
Các dự án phát triển trong lĩnh vực giáo dục đào tạo ở nước ta cũng như
ở nhiều quốc gia đang phát triển thường được định hướng vào các tiểu ngành như giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở, giáo dục trung học phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; hoặc được định hướng vào các hoạt động lớn như kiên cố hóa trường lớp, cải tạo nâng cấp hệ thống các trường sư phạm, đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa và phương pháp giáo dục Những dự án phát triển thông thường có hai phần cơ bản: „phần cứng‟ bao gồm việc xây dựng trường lớp, mua sắm trang thiết bị, in ấn phát hành sách giáo khoa ; „phần mềm‟ bao gồm những hoạt động sư phạm hoặc hoạt động quản lý, từ việc nâng cao chất lượng dạy học, cải tiến quản lý giáo dục đến xây dựng chính sách, thể chế
Các dự án phát triển thông thường có quy mô ngân sách khá lớn cũng như phạm vi tác động, ảnh hưởng rộng gồm nhiều địa chỉ và đối tượng thụ hưởng
(iii) Dự án đào tạo, huấn luyện, nâng cao năng lực
Trang 23Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, bên cạnh những dự án hỗ trợ kỹ thuật, những dự án phát triển còn có những dự án thuộc phạm vi đào tạo, huấn luyện hoặc nâng cao năng lực quản lý, năng lực thực hiện nhiệm vụ Những dự án thuộc loại hình này bao gồm việc đào tạo giáo viên, đào tạo cán bộ quản lý, bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên đến việc nâng cao năng lực quản lý cụ thể như năng lực lập kế hoạch phát triển giáo dục, năng lực quản lý tài chính trong giáo dục, năng lực giám sát, đánh giá việc triển khai dự án, chương trình mục tiêu và năng lực đánh giá kết quả, thành tựu học tập của học sinh một cấp học, bậc học cụ thể
e Quy trình thiết kế và xây dựng Dự án giáo dục
Dự án giáo dục được thiết kế, xây dựng theo quy trình gồm 12 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Nghiên cứu các chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước, các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia trong lĩnh vực giáo dục
Dự án giáo dục được xây dựng trên cơ sở xác định các căn cứ khoa học
về thực trạng của ngành giáo dục, các chính sách và chiến lược phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước, cũng như các cam kết quốc tế của Chính phủ để định hướng lựa chọn lĩnh vực và đối tượng đầu tư
Một số văn kiện thường được nghiên cứu trong quá trình thiết kế, xây dựng Dự án giáo dục bao gồm Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo 2001-
2010, Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người 2003-2015, các chương trình đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa phổ thông các bậc học, các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục 2001-2005 và 2006-
2010, v.v…
Giai đoạn 2: Xác định lĩnh vực và đối tượng đầu tư
Việc xác định lĩnh vực và đối tượng đầu tư được dựa trên những nghiên cứu đánh giá thực trạng giáo dục về nhu cầu khách quan của sự phát triển giáo
Trang 2421
dục đào tạo, chủ trương phát triển của Đảng và Chính phủ về tiểu ngành giáo dục hay đối tượng thụ hưởng chính sách giáo dục, những nghiên cứu đánh giá thực trạng của lĩnh vực và đối tượng đầu tư Đây chính là cơ sở thực tiễn cho việc hình thành một dự án cho lĩnh vực và đối tượng đang cần được quan tâm
Giai đoạn 3: Xác định ưu tiên và quy mô đầu tư
Ưu tiên và quy mô đầu tư được xác định sau lĩnh vực và đối tượng đầu
tư và cũng dựa trên những căn cứ tương tự căn cứ để lựa chọn lĩnh vực và đối tượng đầu tư nhưng chi tiết và cụ thể hơn, bao gồm nhu cầu khách quan về giáo dục của mỗi tiểu ngành; các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển các tiểu ngành giáo dục, v.v…
Giai đoạn 4: Khái toán chi phí và xác định nguồn vốn
Việc tính toán đầy đủ các chi phí cần thiết cho việc đầu tư và xác định các nguồn vốn để thực hiện Dự án giúp đảm bảo tính khả thi của Dự án
Giai đoạn 5: Xác định các mục tiêu Dự án
Các mục tiêu của Dự án giáo dục chính là sự cụ thể hóa chính sách phát triển giáo dục trong một lĩnh vực, đối với một đối tượng nhất định và được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, với nguồn vốn xác định
Giai đoạn 6: Xác định các thành phần của Dự án
Việc xác định các thành phần của Dự án chính là việc cụ thể hóa các mục tiêu của Dự án thành nhóm các hoạt động cụ thể hướng tới đạt mục tiêu
Hoạt động 1 Hoạt động 2
Trang 25Sơ đồ 1.3: Mối liên hệ giữa mục tiêu – thành phần – hoạt động của một Dự án
Giai đoạn 8: Phân bổ vốn cho các thành phần và các hoạt động
Việc phân bổ vốn cho các thành phần và các hoạt động được dựa trên tỷ trọng giữa các mục tiêu, các thành phần, tính hợp lý và khả thi của các hoạt động; đơn giá của các loại hàng hóa, dịch vụ trong khuon khổ Dự án, v.v…
Giai đoạn 9: Lập kế hoạch triển khai Dự án
Việc lập kế hoạch triển khai có rất quan trọng nhằm sử dụng đúng các nguồn lực đảm bảo Dự án được thực hiện đúng kỳ hạn
Giai đoạn 10: Xây dựng báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi
Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi có nhiệm vụ định hướng đầu tư, được xem như bản thiết kế dự án và sử dụng làm cơ sở cho việc triển khai dự án
Giai đoạn 11: Các quá trình thẩm định và phê duyệt
Các dự án đều trải qua các quá trình thẩm định phê duyệt của các cấp có thẩm quyền, đó là thẩm định dự án và phê duyệt dự án
Sau khi được phê duyệt và có đầy đủ các điều kiện pháp lý, Dự án sẽ được bắt đầu triển khai
Giai đoạn 12: Đàm phán, ký kết đối với các Dự án ODA
Đàm phán là quá trình trao đổi và đi đến thỏa thuận về các điều khoản trong hiệp định cấp vốn cho một dự án từ phía nhà tài trợ và việc sử dụng vốn của bên tiếp nhận vốn ODA
Ký kết và phê chuẩn được cả hai Bên thực hiện nhằm công bố hiệu lực của dự án Hiệp định có hiệu lực sau khi nhận được sự phê chuẩn của cấp có
Cấu phần n
Hoạt động n-1 Hoạt động n
Trang 26“Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực
và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép” [25, tr 12]
Theo định nghĩa này, quản lý dự án gồm ba bước theo trình tự:
Lập kế hoạch: bao gồm các công việc xây dựng mục tiêu, xác định
các công việc cụ thể, dự tính các nguồn lực cần thiết để thực hiện các công việc
Điều phối thực hiện: bao gồm việc phân phối các nguồn lực (ngân
sách, nhân lực, thiết bị, thời gian) cho phù hợp
Giám sát các công việc nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Đây thực chất
là quá trình theo dõi kiểm tra tiến độ dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng, đề xuất biện pháp giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện Có thể minh họa việc quản lý dự án theo Sơ đồ dưới đây:
- Báo cáo và đề xuất biện pháp
giải quyết vấn đề nảy sinh
Điều phối thực hiện:
- Bố trí thời gian thực hiện;
- Phân phối nguồn lực;
- Phối hợp các hoạt động
Trang 27Sơ đồ 1.4 Các bước quản lý dự án [25, tr 13]
Như vậy, mục đích của quản lý dự án là bố trí các nguồn lực được phân
bổ trong khuôn khổ dự án một cách hợp lý nhằm triển khai và hoàn thành các mục tiêu của dự án trong giới hạn thời gian đã được quy định
Để thực hiện các dự án ODA, nắm vững và hiểu biết về các quy định về quản lý việc sử dụng vốn, thực hiện Dự án của Việt Nam và các nhà tài trợ là đặc biệt cần thiết :
Các hoạt động của Dự án ODA phải tuân thủ các quy định của Chính phủ Việt nam và nhà tài trợ Do vậy, tìm hiểu các văn bản pháp luật của Chính phủ Việt Nam và nhà tài trợ là cơ sở pháp lý cho việc quản lý thực hiện Dự án ODA là công việc đặc biệt cần quan tâm thực hiện
Các quy định của Chính phủ Việt nam và nhà tài trợ trong việc thực hiện dự án ODA có thể được sửa đổi do vậy cần liên tục cập nhật các văn bản
có liên quan
Trình các báo cáo tiến độ, báo cáo tài chính của Dự án ODA cho các
Bộ, ngành có liên quan của Việt Nam và các nhà tài trợ theo quy định
Quản lý dự án được thực hiện thông qua hàng loạt các hoạt động, hành động có liên quan đến nhau nhằm đạt được sản phẩm, dịch vụ, kết quả định trước Mối quan hệ của các hoạt động quản lý dự án được xác định trên cơ sở của chuỗi các hoạt động: “Lập kế hoạch – Điều phối thực hiện – Giám sát” như đã trình bày ở trên Tuy nhiên, bên cạnh mối quan hệ giữa các hoạt động còn tồn tại mối quan hệ giữa các nhóm này trong quá trình thực hiện Dự án và môi trường dự án, cơ sở cho việc thực hiện dự án
Điều kiện tự nhiên, văn hóa, hệ thống quản lý, chính sách
Trang 2825
Sơ đồ 1.5: Mối quan hệ giữa các chuỗi hoạt đông và
các yếu tố tác động trong quản lý dự án [8, tr 10]
1.2.4.1 Mục tiêu Dự án
Mục tiêu của dự án thường mô tả kết quả cần đạt được, những sản phẩm hoặc những dịch vụ cần tạo ra mà chủ dự án quan tâm, mong muốn khi dự án được thực hiện thành công Người ta có thể phân biệt các mục tiêu theo các mức độ, tiêu thức khác nhau Trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện dự
án, các mục tiêu của dự án thường xuyên được cụ thể hóa, càng ngày càng được xác định chi tiết, cụ thể hơn Những mục tiêu này cũng có thể được điều chỉnh, thậm chí thay đổi cho phù hợp với bối cảnh thực tế tại thời điểm thực
Chuẩn bị và lập kế hoạch
Kết thúc
Giám sát
Triển khai thực hiện
Kết hợp các nguồn lực để thực hiện dự án
Thường xuyên giám sát để phát hiện sai lệch
Bàn giao
sản phẩm
Phê duyệt
Văn kiện
DA, nhân lực …
Phân tích mục tiêu, kế hoạch
…
Sản phẩm, điều chỉnh, thông tin …
Phạm vi DA/kế hoạch DA, báo cáo, dự báo …
Cập nhật
Thủ tục, quy trình kết thúc
Trang 29hiện Dự án càng được triển khai, thực hiện trong thời gian dài bao nhiêu, mục tiêu của dự án càng cần được cụ thể hóa, điều chỉnh bấy nhiêu
Các mục tiêu của Dự án giáo dục phản ánh chính sách phát triển giáo dục trong một tiểu ngành cụ thể cho một đối tượng hay lĩnh vực cụ thể Nói cách khác, các mục tiêu của Dự án là sự cụ thể hoá chính sách phát triển giáo dục vào một lĩnh vực, một đối tượng nhất định và được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định với nguồn vốn xác định dành cho lĩnh vực, đối tượng này
1.2.4.2 Lập kế hoạch Dự án
a Khái niệm: Lập kế hoạch dự án là việc tổ chức dự án theo một trình tự
lôgic, xác định mục tiêu và các phương pháp để đạt được mục tiêu của dự án,
dự tính những công việc cần làm, nguồn lực thực hiện và thời gian làm những công việc đó nhằm hoàn thành tốt mục tiêu đã xác định của dự án Lập kế hoạch là tiến hành chi tiết hoá những mục tiêu của dự án thành các công việc
cụ thể và hoạch định một chương trình biện pháp để thực hiện các công việc
đó [25, tr 53] Công tác lập kế hoạch dự án bao gồm nhiều nội dung, từ việc lập kế hoạch tổng thể dự án đến những kế hoạch chi tiết, từ kế hoạch huy động vốn, phân bổ nguồn vốn và các nguồn lực cần thiết cho dự án đến kế hoạch quản lý chi phí, quản lý tiến độ, quản lý chất lượng các sản phẩm đầu ra …
b Tác dụng: Lập kế hoạch giữ vị trí quan trọng trong công tác quản lý
dự án Kế hoạch dự án có tác dụng:
Là cơ sở tuyển dụng, đào tạo, bố trí nhân lực cho dự án
Là căn cứ để dự toán tổng ngân sách cũng như chi phí cho từng công việc
dự án
Kế hoạch dự án là cơ sở để các nhà quản lý điều phối nguồn lực và quản lý tiến độ các công việc của dự án
Trang 3027
Lập kế hoạch dự án chính xác có tác dụng làm giảm thiểu mức độ rủi
ro, không thành công của dự án, tránh được tình trạng không khả thi, lãng phí nguồn lực và những hiện tượng tiêu cực
Là căn cứ để kiểm tra giám sát, đánh giá tiến trình thực hiện dự án về các mặt: thời gian, chi phí, chất lượng …
c Yêu cầu đối với kế hoạch và công tác lập kế hoạch dự án
Quá trình lập kế hoạch dự án phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau:
- Về nội dung: Kế hoạch phải rõ ràng, xác định, toàn diện, bao gồm đầy
đủ các hoạt động của dự án Đặc biệt, kế hoạch dự án phải đảm bảo sự cân đối giữa các yếu tố, các điều kiện dành cho dự án và đảm bảo hiệu quả của dự án cũng như quá trình thực hiện dự án Đồng thời, kế hoạch dự án còn phải bám sát mục tiêu và yêu cầu của dự án Yêu cầu này đòi hỏi phải dự liệu đầy đủ các nhiệm vụ, các hoạt động trong quá trình triển khai và cả nguồn lực dự trữ cho việc triển khai thực hiện
- Về hình thức: kế hoạch dự án phải được trình bày một cách rõ ràng, không nhầm lẫn, tuân thủ những quy định của nhà nước cũng như những thỏa thuận, thống nhất với các chủ thể có liên quan Đặc biệt, kế hoạch phải đáp ứng yêu cầu của nhà tài trợ
- Về trình tự và sự phối hợp trong xây dựng kế hoạch dự án, phải đảm bảo có sự tham gia thực sự của các chủ thể có liên quan đến dự án, đặc biệt là các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm quản lý dự án
- Về tính chính xác và trung thực: kế hoạch dự án phải đảm bảo các số liệu, thông tin phải vừa trung thực, chính xác, vừa có thể kiểm tra lại trước, trong và sau khi thực hiện dự án đồng thời phải có sự chia sẻ thông tin về dự
án cho những đối tượng có liên quan
- Về tính khả thi: kế hoạch dự án phải hiện thực, có căn cứ vững chắc, có tính khả thi, đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn Kinh nghiệm của nhiều dự
án cho thấy tính khả thi của kế hoạch dự án không chỉ phụ thuộc vào khả năng
Trang 31đảm bảo các yếu tố đầu vào, các nguồn lực của dự án, vào tính hiện thực của mục tiêu cần đạt, mà còn phụ thuộc vào rất nhiều và nhu cầu về việc thực hiện
dự án, vào sự tham gia của các đối tượng thực hiện dự án
1.2.4.3 Phân loại kế hoạch Dự án
Kế hoạch dự án gồm nhiều loại, từ kế hoạch đơn lẻ theo từng lĩnh vực đến kế hoạch tổng hợp, từ kế hoạch trong giai đoạn lập dự án đến giai đoạn kết thúc dự án, từ kế hoạch thời gian đến kế hoạch nhân lực, vốn … Dưới đây trình bày một số loại kế hoạch chính [12, tr 54]:
Kế hoạch phạm vi: Kế hoạch này chỉ rõ phạm vi của dự án trên các
phương diện tài chính, thời gian, nguồn lực, không gian, thời gian … Sử dụng các phương pháp phân tách công việc, kế hoạch phạm vi cần chỉ rõ công việc nào sẽ thuộc dự án và công việc nào không thuộc dự án Đây là căn cứ để lập các loại kế hoạch thực hiện sau này
Kế hoạch thời gian: Nội dung chủ yếu của kế hoạch thời gian là xác
định những công việc bắt đầu, kết thúc, độ dài thực hiện toàn bộ dự án cũng như toàn bộ công việc Xác định quan hệ giữa các công việc, xây dựng sơ đồ
hệ thống phản ánh quan hệ này
Kế hoạch chi phí: Kế hoạch chi phí dự tính tổng vốn đầu tư, chi phí cho
các công việc trực tiếp và chi phí gián tiếp, xác định chi phí theo các khoản mục, dự toán chi phí theo từng giai đoạn và cho các hạng mục công việc chính
Kế hoạch nhân lực: Kế hoạch nhân lực phản ánh số nhân lực cần thiết
cho dự án bao gồm cả trực tiếp và gián tiếp Kế hoạch tuyển dụng cán bộ hợp đồng cho từng thành phần của dự án và kế hoạch tuyển dụng đội ngũ chuyên gia trong nước và chuyên gia quốc tế hỗ trợ cho các hoạt động chuyên môn của dự án
Kế hoạch quản lý chất lượng: Kế hoạch này nêu rõ những tiêu chuẩn
cần phải đạt được đối với từng phần việc, hạng mục đầu tư, công việc đảm bảo
Trang 3229
chất lượng được tiến hành thế nào và các phương pháp, công cụ kiểm soát chất lượng được vận hành ra sao
Mối quan hệ giữa các loại kế hoạch dự án có thể tóm tắt qua hình sau:
Lập kế hoạch theo mốc thời gian (Milestone schedule)
Lập kế hoạch dự án theo cấu trúc công việc (Work Break Down Structure)
Trang 33 Lập kế hoạch dự án theo sơ đồ Gantt
Lập kế hoạch dự án theo sơ đồ mạng
a Lập kế hoạch dự án theo mốc thời gian: Đối với phương pháp này
cần trình bày các giai đoạn hoặc các hoạt động chính của dự án với mốc thời gian bắt đầu và kết thúc Biểu mốc thời gian được trình bày sơ lược, đơn giản giúp các nhà quản lý dự án nắm được tình hình thực hiện công việc trong dự
b Lập kế hoạch dự án theo cấu trúc công việc: Sơ đồ cấu trúc công
việc mô tả toàn bộ công việc của dự án, là cơ sở để phân công công việc cụ thể theo từng cấp quản lý, nêu rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng nhóm công tác, đồng thời làm căn cứ dự kiến thời gian và chi phí hoàn thành công việc Biểu đồ cấu trúc công việc tạo thuận lợi trong báo cáo kết quả trong ban quản
lý dự án, cho các cấp quản lý theo chức năng chuyên môn và qua đó có thể nắm bắt được các thông tin cần thiết của dự án
Trang 3431
c Lập kế hoạch dự án theo biểu đồ GANTT: Biểu đồ Gantt được giới
thiệu năm 1917 bởi Henry Gantt Biểu đồ Gantt là phương pháp trình bày tiến trình thực tế cũng như kế hoạch thực hiện các công việc dự án theo trình tự thời gian Mục đích của Gantt là xác định một tiến độ hợp lý nhất để thực hiện các công việc khác nhau của Dự án Tiến độ này tùy thuộc vào độ dài công việc, những điều kiện ràng buộc và kì hạn phải tuân thủ
Cấu trúc của biểu đồ:
Cột dọc trình bày công việc Thời gian thực hiện từng công việc được trình bày trên trục hoành
Mỗi đoạn thẳng biểu hiện một công việc Độ dài đoạn thằng là độ dài công việc Vị trí của đoạn thằng thể hiện quan hệ thứ tự trước sau giữa các công việc
4 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Thành phần 1: Hỗ trợ phát triển các
hệ thống chất lượng cho GD THPT
Thí điểm chơng trình và sách giáo khoa
Xây dựng cho lớp 10 Thí điểm cho lớp 10 Hiệu chỉnh cho lớp 10 Triển khai đại trà cho lớp 10
Dù ¸n
Trang 35Xây dựng cho lớp 11 Thí điểm cho lớp 11
Hiệu chỉnh cho lớp 11 Triển khai đại trà cho lớp 11 Xây dựng cho lớp 12
Thí điểm cho lớp 12 Hiệu chỉnh cho lớp 12 Triển khai đại trà cho lớp 12
Sơ đồ 1.7 Kế hoạch triển khai dự án theo sơ đồ GANTT[2, tr 10]
Biểu đồ có một số kí hiệu riêng để nhấn mạnh những mốc thời gian quan trọng, những vấn đề đặc biệt liên quan đến công việc
d Lập kế hoạch dự án theo sơ đồ mạng: Sơ đồ mạng là một đồ thị, trình
bày toàn bộ khối lƣợng công việc của một bài toán lập kế hoạch Nó thể hiện lôgic trình tự kĩ thuật và mối quan hệ về tổ chức giữa các công việc, thời gian
Trang 3633
thực hiện công việc và tối ưu hoá kế hoạch đề ra Trong quá trình quản lý và thực hiện kế hoạch, có thể điều chỉnh sơ đồ mạng cho sát với yêu cầu thực tế Hai phương pháp cơ bản để lập kế hoạch thời gian bằng sơ đồ mạng là: phương pháp đường găng CPM (Critical Path Method) và đánh giá dự án PERT (Project Evaluation and Review Techniques)
1.2.4.5 Quá trình lập kế hoạch Dự án
Nội dung của việc lập kế hoạch dự án:
a Xây dựng kế hoạch về các hoạt động triển khai mục tiêu của dự án
Cụ thể hóa, chi tiết hóa các hoạt động thực hiện mục tiêu của dự án: Khác với việc lập kế hoạch nói chung, kế hoạch thực hiện dự án là loại văn kiện được lập để triển khai những mục tiêu đã hoàn toàn xác định của dự
án Nó có chức năng cụ thể hóa các mục tiêu đã được hoạch định thành những nhiệm vụ/hoạt động cụ thể và hoạch định một chương trình thực hiện các hoạt động đó Bởi vậy, nó được coi là chương trình hành động chi tiết, chủ yếu được hướng vào việc xác lập kế hoạch phân bổ thời gian và các nguồn lực để thực hiện dự án Việc lập kế hoạch dự án sẽ phải trả lời những câu hỏi sau:
- Cần thực hiện những hoạt động/nhiệm vụ cụ thể gì để thực hiện mục tiêu
- Tại từng thời điểm/từng giai đoạn, cần những nguồn lực nào (vật chất, nhân lực, tài chính và các nguồn lực khác) với số lượng bao nhiêu, ai là người cung cấp?
Trang 37- Có nên/cần rút ngắn thời gian thực hiện dự án không? Nếu muốn đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, có thể đẩy nhanh tiến độ thực hiện những hoạt động/nhiệm vụ nào với chi phí là bao nhiêu và lợi ích của việc rút ngắn tiến độ như vậy là gì? (về mặt tài chính và các ảnh hưởng kinh tế - chính trị -xã hội khác)?
b Xây dựng kế hoạch tiến độ cho dự án
Nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch tiến độ cho dự án là xác định rõ lịch trình thực hiện các hoạt động, các công việc của dự án Nói cách khác, nó trả lời câu hỏi lúc nào làm việc gì? Với những dự án lớn, kéo dài trong nhiều năm, kế hoạch tiến độ của dự án bao gồm kế hoạch tiến độ khái quát, còn gọi
là kế hoạch tiến độ tổng thể (cho từng năm với những sự kiện lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình thực hiện dự án) và sau đó, trong từng giai đoạn nhỏ, trong khoảng cách giữa 2 “mốc” hoặc với từng hoạt động, sự kiện, người
ta lại xây dựng các kế hoạch chi tiết hơn và xác định tiến độ cho chúng Mục đích của việc xây dựng kế hoạch tiến độ tổng thể là: (i) ngay từ đầu khó có thể hình dung chính xác các tác nhân cụ thể ảnh hưởng tới việc triển khai dự án sau này, nên nếu đề ra kế hoạch chi tiết ngay sẽ không sát; (ii) việc hoạch định những kế hoạch tiến độ chi tiết ngay từ đầu đòi hỏi sự phân tích một khối lượng lớn thông tin dự báo, đòi hỏi những chi phí nhất định, trong khi độ chính xác của chúng lại không cao; (iii) những kế hoạch được hoạch định ngay từ giai đoạn đầu của dự án không thực sự cần thiết vì các nhà quản lý dự
án luôn phải tập trung vào các hoạt động trước mắt, không thể nắm một lượng thông tin lớn về các chi tiết dự án sẽ diễn ra trong một vài năm tới
Lập kế hoạch dự án là một quá trình gồm những bước chính như sau [10, tr 59]:
Xác định mục tiêu: Quá trình lập kế hoạch bắt đầu bằng việc thiết lập
mục tiêu cụ thể của dự án Những mục tiêu này phản ánh rõ: (i) Khi nào hoạt động bắt đầu và khi nào được hoàn thành; (ii) mức chi phí dự toán; (iii) các
Trang 3835
kết quả cần đạt Để xác lập chính xác mục tiêu dự án cần thực hiện những bước sau:
Trình bày rõ mục tiêu Xác định rõ những mục tiêu, mục đích của dự
án và chiến lược, đường lối chung để thực hiện dự án trong toàn bộ chu kì dự
Bổ nhiệm những cá nhân hoặc bộ phận có trách nhiệm để thực hiện dự
án Họ là những nhân tố rất quan trọng để thực hiện thành công dự án So sánh, đánh giá sự phù hợp của tiến độ thực hiện dự án với những hạn chế, điều kiện về nguồn lực của dự án
Phát triển kế hoạch: Trong giai đoạn phát triển kế hoạch, tiến hành xác
định các nhiệm vụ chính để thực hiện mục tiêu Lập kế hoạch dự án trở nên thực sự hiệu quả khi có đầy đủ, rõ ràng các thông tin cần thiết về nhiệm vụ phải thực hiện ngay từ khi bắt đầu dự án Nội dung giai đoạn phát triển kế hoạch bao gồm một số công việc như lập danh mục và mã hoá công việc dự
án, trình bày sơ đồ cơ cấu phân tách công việc …
Lập kế hoạch hoạt động của thành phần Dự án: Đây là nhiệm vụ rất
quan trọng trong quá trình thực hiện Dự án Giai đoạn này chỉ được bắt đầu sau khi các tài liệu Dự án được phê duyệt (Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo và khuyến nghị trình Chủ tịch Ngân hàng Phát triển Châu Á …) và Dự án chính thức bắt đầu có hiệu lực Kế hoạch hoạt động của thành phần Dự án được xây dựng dựa trên các văn kiện Dự án Bản kế hoạch này trình bày chi tiết các hoạt động cho từng thành phần chuyên môn của Dự án nêu rõ: tên hoạt
Trang 39động, cách thức tiến hành, cá nhân/đơn vị chịu trách nhiệm, kinh phí phân bổ, thời gian thực hiện, cách thức đánh giá, nghiệm thu sản phẩm …
Xây dựng sơ đồ kế hoạch dự án: Sau khi xác định quan hệ và thứ tự
trước sau giữa các công việc dự án cần thiết lập một sơ đồ kế hoạch để phản ánh quan hệ lôgic giữa các công việc Người ta có thể dùng nhiều hình thức khác nhau để thể hiện kế hoạch tiến độ của dự án Những hình thức đó có thể được đồng thời sử dụng Những dự án càng phức tạp thì việc sử dụng đồng thời nhiều cách trình bày càng trở nên phổ biến và cần thiết Các hình thức thể hiện kế hoạch tiến độ của dự án có thể dùng ví dụ như: Biểu đồ lịch trình thực hiện dự án, biểu đồ Gantt, sơ đồ PERT …
Lập trình thực hiện dự án: Đây là kế hoạch tiến độ sơ bộ chỉ rõ khi nào
các công việc bắt đầu, khi nào kết thúc, độ dài thời gian thực hiện các công việc và những mốc thời gian quan trọng
Dự toán kinh phí và phân bổ nguồn lực cho mỗi công việc kế hoạch:
Để lập kế hoạch dự án tổng thể cần dự toán chi phí cho từng công việc và từng khoản mục cũng như dự tính những nguồn lực cần thiết để thực hiện nhiệm
vụ
Chuẩn bị báo cáo: Báo cáo tiến độ thời gian, chi phí là nhằm kiểm soát
kế hoạch thời gian cũng như dự toán chi phí Chuẩn bị tốt hệ thống báo cáo, kiểm tra, giám sát là một trong những khâu cần thiết để thực hiện thành công
kế hoạch dự án
Trang 40Dự án Phát triển Giáo dục Trung học Phổ thông nhằm góp phần xóa đói
giảm nghèo ở Việt Nam thông qua phát triển và cải thiện chất lượng giáo dục
Dự án sẽ nâng cao chất lượng, hiệu quả, sự công bằng và năng lực quản lí của cấp THPT qua việc tăng cường chất lượng các hoạt động hỗ trợ trên toàn quốc
và đặc biệt quan tâm đến các vùng khó khăn về kinh tế và giáo dục của Việt Nam
Mục tiêu chung của Dự án là góp phần xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam thông qua phát triển và cải thiện chất lượng giáo dục THPT Trong suốt thời gian thực hiện, Dự án sẽ nâng cao chất lượng, hiệu quả, sự công bằng và năng lực quản lí ở cấp THPT thông qua việc tăng cường chất lượng các hoạt động
hỗ trợ trên toàn quốc và đặc biệt quan tâm đến các vùng khó khăn nhất về kinh
tế và giáo dục của Việt Nam
Các mục tiêu cụ thể của Dự án là: (i) Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục THPT thông qua (a) hỗ trợ nỗ lực của Chính phủ trong công tác thử nghiệm và đa dạng hóa chương trình, sách giáo khoa, và các tài liệu hướng dẫn khác; (b) phát triển các hệ thống hỗ trợ chất lượng giáo dục như bồi dưỡng giáo viên, nâng cấp thư viện, trang bị phòng thí nghiệm, và cải tiến hệ thống thẩm định, đánh giá học sinh, và các hệ thống đảm bảo chất lượng; (ii) Tăng cường tiếp cận, sự công bằng và cơ hội tham gia giáo dục THPT ở những vùng khó khăn thông qua cải tạo, nâng cấp và xây mới trường học, cung cấp