1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu tại Hải Phòng

100 557 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ HOÀN Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HOÀN

Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông

(nghiên cứu tại Hải Phòng)

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Người hướng dẫn: PGS.TS Hà Nhật Thăng

Hà nội - 2004

Trang 2

CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

2.CBQL Cán bộ quản lý

3.CNH Công nghiệp hoá

4.CNXH Chủ nghĩa xã hội

5.CMHS Cha mẹ học sinh

6.GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

7.GDCD Giáo dục công dân

8.GDĐĐ Giáo dục đạo đức

9.GV Giáo viên

10.GVCN Giáo viên chủ nhiệm

11.HĐH Hiện đại hoá

Trang 3

MỤC LỤC

Chương I Cơ sở lí luận về tổ chức phát huy tiềm năng của xã

hội nhằm thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh

8

1.1 Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề 8 1.2 Những khái niệm và công cụ để nghiên cứu đề tài 12 1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản

lý hoạt động giáo dục đạo đức

2.3 Nhận thức của xã hội về giáo dục đạo đức cho học

sinh và sự phối hợp hoạt động trong giáo dục đạo đức

53

2.4 Thực trạng về tổ chức phát huy tiềm năng xã hội của

nhà trường

57

Chương III Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm phát

huy tiềm năng xã hội giáo dục đạo đức cho học sinh THPT.

Trang 4

“Thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế –

xã hội”

2.1 Xuất phát từ vai trò của đạo đức và quá trình giáo dục đạo đức đối với

sự phát triển nhân cách học sinh trong giai đoạn mới

2.2 Chất lƣợng hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh phải là một quá

trình tham gia của các lực lƣợng toàn xã hội

2.3 Vai trò của tổ chức quản lý trong việc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả

giáo dục đạo đức học sinh THPT

2.4 Xuất phát từ thực trạng tổ chức quản lý việc giáo dục đạo đức cho

học sinh THPT còn nhiều hạn chế

Vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu Một số biện pháp tổ chức của nhà

trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông

Trang 5

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Xác định một số biện pháp tổ chức quản lí của nhà trường nhằm nâng cao việc phát huy tiềm năng xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông Hải Phòng

4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình tổ chức phát huy tiềm năng của XH nhằm thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông thành phố Hải Phòng

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp tổ chức quản lí của nhà trường nhằm phát huy tối ưu tiềm năng xã hội vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông Hải Phòng

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Giáo dục đạo đức bị chế ước chi phối bởi rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan Chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục đạo đức chỉ có thể được nâng cao nếu có những biện pháp tổ chức, quản lí khoa học, đồng bộ, khả thi khai thác tối đa những tiềm năng mọi mặt của XH, tạo ra một môi trường

GD lành mạnh, tạo ra sự tác động thống nhất của toàn bộ các lực lượng XH vào quá trình GDĐĐ cho học sinh

6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Đề tài có những nhiệm vụ nghiên cứu:

6.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề tổ chức quản lí phát huy toàn bộ tiềm năng của XH vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay

Trang 6

6.2 Đánh giá thực trạng công tác tổ chức quản lí nhằm phát huy tiềm năng của xã hội vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT của một số trường ở thành phố Hải Phòng

6.3 Đề xuất một số biện pháp tổ chức quản lí nhằm phát huy tiềm năng của xã hội vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

7 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

+Do điều kiện về khả năng và thời gian có hạn, chúng tôi chỉ nghiên cứu thực trạng GDĐĐ và các biện pháp huy động tiềm năng XH vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh một số trường ở Hải phòng (trường THPT Vĩnh Bảo, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, THPT Nguyễn Trãi, THPT Tiên Lãng, THPT Kiến An, THPT Lê Quí Đôn, THPT An Dương) trong những năm gần đây

+Đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy tiềm năng của xã hội để giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT Hải Phòng

8 NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ

Chất lượng và hiệu quả của giáo dục đạo đức là một quá trình tác động tổ chức thống nhất toàn xã hội và tự giáo dục rèn luyện của học sinh theo một mục tiêu chung xuất phát từ yêu cầu của mỗi thời kỳ lịch sử – ngày nay là yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trong XH đa dạng, phong phú của các quan hệ XH theo cơ chế mở như hiện nay thì việc xác định những biện pháp tổ chức hợp lý, phát huy được tối

đa tiềm năng xã hội, xây dựng một môi trường thuận lợi trong sạch và tạo ra sự thống nhất hành động toàn xã hội trong đó truờng học giữ vai trò là người tổ chức phối hợp, là nhân tố nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông

9 CÁI MỚI CỦA LUẬN VĂN

Xác định một số yếu tố của xã hội, có ảnh hưởng đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông hiện nay.Trên cơ sở đó xác định một

Trang 7

số biện pháp tổ chức quản lí nhằm khai thác tối đa tiềm năng của xã hội để thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông

10 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

10.1 Phương pháp luận giải quyết đề tài :

Đề tài nghiên cứu quán triệt phương pháp luận tiếp cận hệ thống – nhân cách – hoạt động XH Phương pháp luận đó có nghĩa là giải quyết vấn đề giáo dục đạo đức phải đặt nó trong sự chế ước chi phối của các yếu tố xã hội một cách hệ thống của sự phát triển biện chứng Giáo dục đạo đức là một quá trình

xã hội hoá và phải được huy động toàn xã hội Quá trình GDĐĐ phải góp phần hình thành phát triển nhân cách của một thời kỳ lịch sử nhất định và ngày nay giáo dục đạo đức phải góp phần phát triển những phẩm chất của con người Việt nam thời kì CNH, HĐH đất nước

10.2.Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

Đọc và phân tích các tài liệu, các tác phẩm trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá các nội dung về lí luận giáo dục đạo đức trong nhà trường phổ thông Nghiên cứu các văn bản pháp qui, những qui định của ngành có liên quan đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Xây dựng lí luận cho việc nghiên cứu đề tài

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm :

+ Phương pháp quan sát: Phương pháp này được thể hiện bằng cách tiếp

cận xem xét thu thập dữ liệu từ những hoạt động thực tế của công tác tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của các giáo viên chủ nhiệm, hoạt động tổ chức phối hợp các lực lượng XH nhằm thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT ở Hải Phòng

Trang 8

+Phương pháp điều tra: Xây dựng các phiếu điều tra, bằng hệ thống câu

hỏi để khảo sát các đối tượng cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh THPT, cha mẹ học sinh và cộng đồng

+Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm tổ chức

phối hợp hoạt động của các trường, các địa phương có những biện pháp tổ chức hoạt động tốt công tác giáo dục đạo đức cho học sinh

10.3.Nhóm phương pháp xử lý thông tin:

Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình tiến hành luận văn, chúng tôi

thường xuyên xin ý kiến chuyên gia về các lĩnh vực liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài.Qua ý kiến chuyên gia, tác giả có thể điều chỉnh các nhận định, đề xuất:

+Sử dụng thống kê toán học

+ Mô hình hoá, sử dụng phần mềm tin học

Các phương pháp này được sử dụng trong quá trình xử lí các thông tin, xử lí các kết quả điều tra, kết quả khảo nghiệm

10.4 Phương pháp khảo nghiệm:

Khảo nghiệm để minh chứng tính khả thi của các biện pháp được đưa ra

nhằm phát huy tiềm năng của XH để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT hiện nay

Trang 9

NỘI DUNG ĐỀ TÀI

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA

XÃ HỘI NHẰM THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH

1.1 Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử loài người Nó được hoàn thiện, phát triển trên cơ sở các chế độ kinh tế-

xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, đỉnh cao của nó là đạo đức XHCN, đạo đức cộng sản, chúng ta đang phấn đấu thực hiện

Vai trò động lực tinh thần to lớn của đạo đức đối với sự phát triển, tiến

bộ xã hội đã được nhiều nhà khoa học thừa nhận và được các quốc gia quan tâm sâu sắc Ở nước ta, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội hiện thực đang tác động mạnh mẽ, thường xuyên đến các quan hệ ứng xử giữa người và người, cá nhân và xã hội nhằm hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ, chống cái ác, cái xấu, cái giả, đưa xã hội ta đạt mục tiêu cao cả: Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Với ý nghĩa và vai trò, nhiệm vụ, chức năng quan trọng riêng của nó, đạo đức học Mác-Lê nin, một khoa học đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và thế hệ trẻ nước ta say mê học tập Từ lâu đã có nhiều giáo trình Đạo đức học được biên soạn, góp phần đáng kể cho việc định hướng giáo dục đạo đức cho học sinh

Hiện nay ở Việt Nam đã có một số tác giả nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh Chẳng hạn, trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Trung Thanh quan tâm đến thực trạng đạo đức của học sinh

Trang 10

THCS Và khi điều tra trên một số lượng lớn học sinh THCS ở Hải Hưng, tác giả đưa ra một kết quả khả quan: Đa số học sinh hiện nay đều có tính hướng thiện, cầu tiến Số học sinh yếu kém về đạo đức không nhiều Dựa trên cơ sở đó tác giả đưa ra 10 kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay cũng như việc yêu cầu các nhà giáo, các nhà quản lý giáo dục phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình công việc, tổ chức đa dạng các hoạt động thu hút học sinh vào việc giáo dục rèn luyện đạo đức

Cũng nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, tác giả Lê Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang đề nghị cần phải đổi mới hoạt động giáo dục đạo đức theo nguyên tắc phù hợp với sự phát triển mới của xã hội, có hệ thống, tiếp cận phức hợp xuất phát từ học sinh

Trong cuốn “Đạo đức học” giáo trình đào tạo giáo viên trung học cơ sở

hệ cao đẳng sư phạm của tác giả Phạm khắc Chương và Hà Nhật Thăng (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998) đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức để trang bị cho giáo viên sau này làm cơ sở để dạy cho học sinh Các tác giả đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức ở các phạm trù như đạo đức trong gia đình, đạo đức trong tình bạn, đạo đức trong tình yêu, đạo đức trong học tập, đạo đức trong giao tiếp, đạo đức trong truyền thống của dân tộc Trong các phạm trù đó mỗi vấn đề đạo đức từ cổ xưa đến những vấn đề bức xúc hiện nay đã được đề cập nhằm cung cấp những vốn kiến thức cho giáo viên làm cơ sở cho việc giảng dạy và GDĐĐ cho học sinh

Tác giả Đặng Vũ Hoạt lại quan tâm đến vai trò của giáo viên chủ nhiệm, tác giả khẳng định vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong qui trình giáo dục đạo đức cho học sinh và đưa ra các định hướng cho giáo viên chủ nhiệm trong việc đổi mới nội dung và cải tiến phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông

Trang 11

Nghiên cứu quan điểm giáo dục toàn diện, một quan điểm đặc biệt quan trọng trong tư tưởng giáo dục đào tạo, phát triển con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Hữu Công đã phân tích rất sâu sắc- đó là giáo dục con người Việt Nam thành những con người có lý tưởng cách mạng vững vàng, đạo đức trong sáng, có kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật và kỹ năng lao động cao, có sức khoẻ dồi dào, có ý chí vươn tới cái hay, cái đẹp, cái cao cả, đó

là những con người tài đức vẹn toàn, vừa hồng vừa chuyên [9]

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận gắn với khảo sát thực tiễn tình hình đang diễn biến trong nước và trên thế giới, tác giả Huỳnh Khái Vinh đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức; chuẩn giá trị xã hội, mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với sự phát triển văn hoá của con người Sự tác động của các nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội tới lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị truyền thống và cách mạng những kinh nghiệm và bài học về xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội của một số nước, thực trạng, phương hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống đạo đức chuẩn giá trị xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Một công trình khoa học công nghệ cấp nhà nước có định hướng giáo dục nhân cách con người Việt nam thời kỳ CNH, HĐH đất nước, đó là tác phẩm “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH”do GS,VS Phạm Minh Hạc chủ nhiệm chương trình làm chủ biên (NXB chính trị Quốc gia 2001) đã giành hẳn chương 7 (từ trang 153-178) nêu lên nhằm định hướng xây dựng đạo đức con người Việt nam thời kỳ CNH, HĐH

Trong chương 7 đã trình bày khái quát thực trạng đạo đức của học sinh THPT và sinh viên, chỉ ra những nguyên nhân chưa lành mạnh về đạo đức trong cuộc sống hiện nay

Trang 12

Điều quan trọng là công trình nghiên cứu đã phân tích mục tiêu GDĐĐ, chỉ ra những nguyên tắc xây dựng hệ thống chuẩn mực đạo đức, xác định trên

40 giá trị của con người Việt nam thể hiện ở 5 quan hệ (với bản thân, với người khác,với công việc, với môi sinh và với lý tưởng của dân tộc)

Trong công trình nghiên cứu trên đã xác định 15 nguyên nhân dẫn tới việc GDĐĐ chưa tốt trong đó có: gia đình buông lỏng GDĐĐ; chưa có giải pháp phối hợp đồng bộ toàn XH; nhiều đoàn thể XH chưa quan tâm tới GDĐĐ;

tổ chức quản lý GDĐĐ chưa đồng bộ

Về giải pháp: Công trình nghiên cứu đã đề xuất: xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn XH về GDĐĐ; củng cố tăng cường giáo dục gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc GDĐĐ cho mọi người Trong giai đoạn đổi mới GD hiện nay, đó là công trình

đề xuất giải pháp GDĐĐ ở tầm vĩ mô, định hướng cho việc nghiên cứu các biện pháp GD cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của công tác GDĐĐ

Một trong những mục tiêu của XHH sự nghiệp GD là phát huy tiềm năng của XH thực hiện mục tiêu GD nói chung, trong đó có công tác GDĐĐ, nhất là

ở các thành phố vì trong điều kiện hiện nay quan hệ XH rất phong phú, phức tạp

Qua một số những nghiên cứu trên đây tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT còn tương đối ít và

chưa cụ thể Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Một số biện pháp tổ chức của nhà

trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông”

Trang 13

1.2 Những khái niệm và công cụ để nghiên cứu đề tài

1.2.1 Đạo đức

1.2.1.1 Khái niệm đạo đức: Đạo đức là một hiện tượng xã hội phức tạp

Để hiểu rõ khái niệm này có thể tiếp cận trên nhiều góc độ khác nhau

Dưới góc độ triết học "Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất

của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực, điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ và danh dự [19, tr.45]

Dưới góc độ đạo đức học: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc

biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội" [17, tr.12]

Dưới góc độ Giáo dục học: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội là

hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người" [27, tr.170, 171]

Bàn về đạo đức không thể không nói đến các quan niệm đạo đức của Hồ Chủ Tịch Người quan niệm đạo đức là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm Đó là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, đạo đức vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của lòng người Theo Người, đức là sự thống nhất tư tưởng và phong cách sống

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức, nhưng có thể khái quát chung về đạo đức như sau: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội,

Trang 14

chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của

dư luận xã hội"

Như vậy, về bản chất đạo đức là những nguyên tắc chuẩn mực trong quan hệ xã hội được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực được hình thành trên cơ sở kinh tế Vì vậy mỗi hình thái kinh tế, xã hội hay mỗi giai đoạn lịch sử đều định hình những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng

Đạo đức biểu hiện ở hành vi, thói quen, tập quán sống nên nó thường xuyên biến đổi theo tiến trình phát triển của nhân loại trên 2 phương diện lịch

sử và đồng đại Có những giá trị trước đây được coi là chuẩn mực đạo đức XH như có con trai, có nhiều con là nhiều của song ngày nay có thể bị coi là phản giá trị hay phi đạo đức Hoặc ở dân tộc này, giai tầng này được coi là giá trị đạo đức chính thống quan trọng, song ở dân tộc khác, giai tầng khác lại quan niệm ngược lại Do đó, đạo đức có tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại

1.2.1.2 Chức năng của đạo đức:

Đạo đức có 3 chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi, trong đó điều chỉnh hành vi là chức năng hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Chức năng nhận thức: Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức xã hội về mặt đạo đức, các quan điểm đạo đức, nguyên tắc chuẩn mực đạo đức là kết quả của phản ánh tồn tại xã hội, được con người đánh giá, thừa nhận và khái quát thành những khuôn mẫu đạo đức, các giá trị đạo đức

Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức đạo đức, chức năng giáo dục giúp con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thống

Trang 15

định hướng giá trị và các chuẩn mực đạo đức, điều chỉnh ý thức, hành vi đạo đức

Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Cùng với chức năng giáo dục, chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức có tác dụng làm cho hành vi hoạt động của con người phù hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng Chức năng này được thể hiện bằng 2 hình thức chủ yếu, trước hết là bản thân chủ thể đạo đức phải tự giác, điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức

xã hội, thứ hai, tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến khích đánh giá hoặc phê phán những biểu hiện cụ thể của hành vi đạo đức trên cơ sở những chuẩn mực giá trị đạo đức Đây là chức năng xã hội cơ bản, hết sức quan trọng của đạo đức cho học sinh trung học phổ thông, là bước quan trọng trong hình thành nhân cách con người cho xã hội sau này

1.2.2 Giáo dục đạo đức:

1.2.2.1 Khái niệm giáo dục đạo đức

"Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho

họ ý thức, tình cảm và niềm tin hành vi, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức" [27,tr.172]

Giáo dục đạo đức về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân, thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục

Giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị tư tưởng vì giáo dục chính trị tư tưởng có tác dụng xây dựng cơ sở thế giới quan

Trang 16

Mác-Lênin và định hướng chính trị xã hội theo quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản, cho ý thức và hành động đạo đức

Giáo dục đạo đức còn gắn bó chặt chẽ với việc giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật có nhiệm vụ giới thiệu cho người học các chuẩn mực về luật pháp của nhà nước, các quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam,

do đó có tác dụng củng cố phương thức luận cứ các chuẩn mực đạo đức và thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức

1.2.2.2 Mục tiêu của giáo dục đạo đức

Giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ xã hội và phồn vinh của đất nước Trong đó mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục đạo đức là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức

1.2.2.3 Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận cực kỳ quan trọng của quá trình sư phạm Để giáo dục những phẩm chất đạo đức, cần giải quyết đồng

bộ nhiều vấn đề nhằm giúp người được giáo dục có ý thức về phẩm chất đó, có thái độ đúng đắn tích cực và có thói quen, hành vi tương ứng Giáo dục đạo đức

có nhiệm vụ:

Giáo dục ý thức đạo đức: Giáo dục ý thức đạo đức là cung cấp cho người

được giáo dục những tri thức cơ bản về phẩm chất đạo đức và các chuẩn mực đạo đức trên cơ sở đó giúp họ hình thành niềm tin đạo đức

Giáo dục tình cảm niềm tin đạo đức: Giáo dục tình cảm đạo đức là khơi

dậy ở người được giáo dục những rung động, xúc cảm đối với hiện thực xung

Trang 17

quanh, biết yêu, ghét rõ ràng, có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội và tập thể

Giáo dục hành vi thói quen đạo đức: Giáo dục hành vi thói quen đạo đức

là một quá trình tổ chức luyện tập, rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt và trong cuộc sống nhằm tạo được hành vi đạo đức đúng đắn, trở thành phẩm chất của nhân cách và từ đó có thói quen đạo đức bền vững

1.2.2.4 Nội dung của giáo dục đạo đức: Nội dung của giáo dục đạo đức

bao gồm:

Phát triển ý thức đạo đức: Trang bị cho người học những hiểu biết và

niềm tin về các chuẩn mực và quy tắc đạo đức như giáo dục ý thức về mục đích cuộc sống của bản thân; giáo dục ý thức về lối sống cá nhân; giáo dục ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập thể và ngoài xã hội; giáo dục ý thức

về cuộc sống lao động sáng tạo; giáo dục về nghĩa vụ lao động và bảo vệ Tổ quốc

Giáo dục tình cảm đạo đức: Hình thành nhu cầu, động cơ, tình cảm đạo

đức phù hợp với nền đạo đức mới

Giáo dục hành vi đạo đức: Nội dung hành vi và thói quen đạo đức phù

hợp với các chuẩn mực của xã hội, ý chí đạo đức vững vàng

1.2.2.5 Phương pháp giáo dục đạo đức:

Phương pháp giáo dục đạo đức là cách thức tác động của các nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất cần thiết Về

cơ bản, các phương pháp giáo dục đạo đức được phân thành 3 nhóm chính:

Nhóm phương pháp thuyết phục: Thuyết phục là nhóm các phương pháp

tác động vào mặt nhận thức và tình cảm của con người để hình thành cho họ ý thức thái độ tốt đẹp đối với cuộc sống Nhóm này bao gồm các phương pháp: khuyên giải, tranh luận, nêu gương

Trang 18

Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động: Đây là nhóm phương pháp

đưa con người vào hoạt động thực tiễn để tập dượt, rèn luyện tạo nên các hành

vi thói quen Nhóm này bao gồm các phương pháp tập luyện, rèn luyện

Nhóm các phương pháp kích thích hành vi: Đây là nhóm phương pháp

tác động vào mặt tình cảm của các đối tượng được giáo dục nhằm tạo ra những phấn chấn, thúc đẩy tích cực hoạt động đồng thời giúp cho những người có khuyết điểm nhận ra và khắc phục những sai lầm Nhóm này gồm các phương pháp: khen thưởng, trách phạt, thi đua

Phương pháp giáo dục đạo đức rất đa dạng Nhà giáo dục cần phải vận dụng linh hoạt chúng cho phù hợp với mục đích, đối tượng giáo dục, với từng tình huống cụ thể Chính vì thế mà người ta nói rằng phương pháp giáo dục là nghệ thuật giáo dục

1.2.2.6 Hình thức tổ chức giáo dục đạo đức:

Giáo dục đạo đức là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, nó được tiến hành với những con đường và phương thức sau đây:

Thông qua việc dạy các môn học làm cho người được giáo dục tự giác

chiếm lĩnh một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, giúp họ định hướng đúng những hiện tượng xã hội để lựa chọn cách thích ứng đúng đắn trong các tình huống đạo đức

Các môn khoa học xã hội và nhân văn có tiềm năng to lớn trong việc giáo dục đạo đức cho người học Những kiến thức trong các môn học này có liên quan đến giá trị thái độ và cách cư xử, hành vi đạo đức trong xã hội

Các môn khoa học tự nhiên cũng góp phần vào việc giáo dục đạo đức

Nó có tác dụng giúp người học hình thành những phẩm chất xã hội như tư duy hợp lý, thái độ coi trọng nhân quả, ý thức nâng cao kiến thức xã hội

Trang 19

Các môn nghệ thuật và thể dục tạo cơ hội để người học phát triển óc sáng tạo, thể hiện được sự xúc cảm và trải nghiệm của mình

Môn GDCD có một vị trí quan trọng đối với việc trang bị cho người học những hiểu biết cơ bản về những phẩm chất và bổn phận đạo đức của người công dân

Thông qua việc lao động và các hoạt động xã hội, sinh hoạt đoàn thể để

giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, ý thức pháp luật

Bằng con đường tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự giáo dục để hình thành các thói quen đạo đức

1.2.3 Tiềm năng xã hội

Tiềm năng xã hội là một thuật ngữ khoa học xã hội để chỉ những điều kiện, tài sản của xã hội còn ẩn dấu chưa được khai thác có mục đích vào sự phát triển kinh tế xã hội hoặc vào một công việc gì có ích có định hướng

Tiềm năng xã hội bao gồm nhiều yếu tố:

-Trước hết là yếu tố con người: Trên thực tế con người được coi là tài

nguyên còn vô tận chưa được khai thác Trong cuộc đổi mới GD để phát triển kinh tế tri thức, tất cả các nước đều khẳng định khai thác tài nguyên người là yếu tố quyết định tạo ra động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy định hướng chung của cuộc cách mạng giáo dục đối với nhân loại lần này là tìm mọi cách khai thác ba thành tố (tâm lực, trí lực và thể lực) và coi tâm lực là nội lực của sự phát triển nhân cách, phát triển nguồn lực người một cách bền vững Dự báo của các nhà khoa học nghiên cứu về con người cho rằng mới chỉ khai thác được trên 10% tài nguyên người Để khai thác tối ưu tài nguyên người cần phải đổi mới tổng thể từ việc xây dựng một môi trường sống (tự nhiên và văn hoá xã

Trang 20

hội) thuận lợi cho con người được sống trong môi trường lành mạnh , hoà bình đến việc đổi mới quan hệ xã hội (từ gia đình đến nhân loại), tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi và phù hợp với đặc điểm các loại đối tượng xã hội để mỗi người được bộc lộ được cống hiến, được phát triển toàn diện nhân cách Điều này phụ thuộc vào toàn bộ phương hướng đổi mới giáo dục, trong đó tổ chức quản lý giáo dục là một trong những khâu cơ bản Muốn khai thác tài nguyên con người để phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật thì cần khai thác tiềm năng người, tiềm năng XH vào phát triển GD Vì vậy hầu hết các nước đều huy động toàn bộ lực lượng xã hội vào việc phát triển GD

Tài nguyên người không phải là một bộ phận, một cá nhân, mà là tất cả mọi người (không trừ một ai) kể từ trẻ nhỏ đến những người đã cao tuổi (đến trước khi sang thế giới bên kia), từ người thông minh đến những người trí tuệ kém phát triển hay khuyết tật

- Khi nói đến yếu tố con người, tài nguyên người phục vụ phát triển GD

phải kể đến trí tuệ, tri thức văn hoá, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm GD của con người Đây mới là vốn quý không đo đếm được và chỉ khai thác có hiệu

quả cao khi có một cơ chế tổ chức quản lý huy động hợp lý

- Một trong những tiềm năng xã hội khác phục vụ phát triển giáo dục đó

là cơ sở vật chất trang thiết bị kĩ thuật của toàn xã hội, những giá trị văn hoá tinh thần

N.K Krúp xcaia đã từng yêu cầu ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX muốn xây dựng nền giáo dục XHCN, GD con người của CNXH thì phải tận dụng tất cả cơ sở vật chất của xã hội ngay từ những máy khâu, các trạm phát điện của đất nước vì không có một ngân sách nào của quốc gia có thể thoả mãn, đáp ứng sự phát triển GD, thoả mãn nguyện vọng học tập của tất cả mọi người Mặt khác mục tiêu GD con người phát triển toàn diện đòi hỏi chúng ta

Trang 21

phải gắn quá trình giáo dục với thực tế phát triển khoa học kỹ thuật, kinh tế xã hội

Để phát triển, giáo dục các giá trị đạo đức cho học sinh phổ thông trong hoàn cảnh bùng nổ tri thức, công nghệ cần giáo dục cho học sinh những giá trị đạo đức truyền thống, và những giá trị của thời đại (như hoài bão khoa học, sáng tạo, ).Việc tận dụng những thành quả của các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, những cơ sở sản xuất với công nghệ mới của nhà nước, tư nhân của các viện NCKH, các trường đại học sử dụng hợp lý các viện bảo tàng, các danh lam thắng cảnh, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể là một yêu cầu cấp thiết

Có thể khẳng định giáo dục đạo đức sẽ kém hiệu quả nếu không hoạch định, sử dụng hợp lý tất cả cơ sở vật chất và giá trị văn hoá của dân tộc và của thời đại

Một trong những tiềm năng xã hội cần đặc biệt quan tâm tận dụng khai

thác đó là thể chế chính trị XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

Đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt nam khởi xướng và lãnh đạo thực hiện đã thu được những thắng lợi toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá, GD, đối nội, đối ngoại Có thể nói những

kỳ tích trong sự nghiệp đổi mới đã nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân, củng cố niềm tin tưởng tuyệt đối của toàn dân đối với đường lối phát triển kinh tế xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước Đời sống vật chất, tinh thần, lòng tin của quần chúng là cơ sở, là tiền đề, là yếu tố rất cơ bản thuận lợi để phát triển GD

Đường lối phát triển GD của Đảng và nhà nước được thể chế hoá bằng các văn bản pháp lý là cơ sở để đổi mới tổ chức quản lý GD trong giai đoạn mới Tiêu biểu nhất là nghị quyết BCHTW II khoá VIII và luật GD 1998

Luật GD 1998 đã xác định “GD và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân” Trong luật có hẳn một điều nói về XHH

Trang 22

sự nghiệp GD, điều 11: xã hội hoá sự nghiệp GD, trong đó quy định: “Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp GD, xây dựng phong trào học tập và môi trường GD lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu GD

“Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD, thực hiện

đa dạng hoá các loại hình nhà trường và các hình thức GD, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD”.[20, tr.12]

Có thể nói tổ chức hoạt động GD của nhà trường nhằm phát triển GD nói chung, GDĐĐ nói riêng được cơ sở pháp lý đảm bảo Nói một cách khác cơ sở chính trị xã hội, đường lối lãnh đạo của Đảng và nhà nước là điều kiện rất quan trọng nhằm phát huy tiềm năng xã hội để phát triển GD, cũng như thực hiện mục tiêu GDĐĐ

1.2.4 Tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức

Mục tiêu hoạt động giáo dục

Hoạt động giáo dục đạo đức trong xã hội ta hiện nay nói chung và trong nhà trường nói riêng là hướng tới việc thực hiện phát triển toàn diện nhân cách cho người học

Mục tiêu của hoạt động giáo dục đạo đức là làm cho quá trình giáo dục đạo đức vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức Mục tiêu hoạt động giáo dục đạo đức bao gồm:

Ở giai đoạn này phải thực hiện các hoạt động sau: Thông báo kế hoạch, chương trình hành động đến các thành viên trong trường, xác định cơ cấu bộ máy, bố trí các bộ phận và các cá nhân cho đúng người, đúng việc, quy định

Trang 23

chức năng, quyền hạn trách nhiệm cho từng người, từng bộ phận, tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy, xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận và các thành viên

Chỉ huy điều hành: Là việc xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của

người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, là huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch và điều hành nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra trong kỷ cương, trật tự

Nội dung của việc chỉ đạo bao gồm: Chỉ huy, ra lệnh, động viên, khuyến khích thường xuyên và kịp thời theo dõi và giám sát, điều chỉnh, sửa chữa, bù đắp, chỉnh lý

Kiểm tra: Chức năng này diễn ra ở mọi giai đoạn của quá trình quản lý

nhưng thực hiện tập trung cao nhất ở giai đoạn cuối cùng của quá trình quản lý Nội dung của việc kiểm tra bao gồm: Đánh giá tiến độ, tốc độ, nhịp độ của quá trình quản lý so với kế hoạch, xác định chính xác mức độ đạt được so với các mục tiêu đã đặt ra, phát hiện những lệch lạc, sai sót cũng như những nguyên nhân của chúng, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn cần tiếp tục giải quyết, rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc quản lý tiếp theo

Nội dung hoạt động giáo dục đạo đức:

Chỉ đạo công tác xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức, đảm bảo sao cho

kế hoạch phải vừa bao quát vừa cụ thể phù hợp với từng đối tượng khác nhau,

kế hoạch phải khả thi

Triển khai chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch theo đúng nội dung yêu cầu và

tiến độ, thường xuyên kiểm tra uốn nắn những lệch lạc, bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình cụ thể

Trang 24

Tổng kết, đánh giá, khen thưởng, trách phạt kịp thời nhằm động viên các

lực lượng tham gia quản lý và tổ chức giáo dục đạo đức

Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cụ thể được lựa chọn tuỳ theo mục tiêu

đề ra và được thực hiện theo kế hoạch đã định

Các phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức

Phương pháp quản lý giáo dục đạo đức là cách thức mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu quản lý đã đề

ra Các phương pháp quản lý giáo dục đạo đức bao gồm:

- Phương pháp tổ chức hành chính: là phương pháp tác động trực tiếp của

chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính dứt khoát, bắt buộc như nghị định, nghị quyết, văn bản, quy chế, quy định

Phương pháp tổ chức hành chính là tối cần thiết trong công tác quản lý Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp này cần chú ý nếu lạm dụng nó thì sẽ dẫn đến tình trạng quan liêu, mệnh lệnh

- Phương pháp kinh tế: Đây là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động

gián tiếp đến đối tượng quản lý dựa trên các lợi ích vật chất và các đòn bẩy kinh tế để làm cho đối tượng quản lý suy nghĩ đến lợi ích của mình, tự giác thực hiện bổn phận và trách nhiệm một cách tốt nhất mà không phải đôn đốc nhắc nhở nhiều về mặt hành chính mệnh lệnh của chủ thể quản lý

- Phương pháp tâm lý - xã hội: Đặc điểm của phương pháp này là sự kích

thích đối tượng quản lý sao cho họ luôn toàn tâm, toàn ý cho công việc, coi những mục tiêu, nhiệm vụ quản lý như là những mục tiêu và công việc của chính họ, hơn nữa họ luôn cố gắng học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm để ngày càng tốt hơn, đoàn kết giúp đỡ nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ

Trang 25

- Phương pháp giáo dục: Là phương pháp tác động vào nhận thức của đối

tượng quản lý giúp họ phát huy những phẩm chất cần thiết, hình thành phương pháp làm việc khoa học, nhận thức về trách nhiệm đối với công việc, tự giác, chủ động xây dựng kế hoạch để hoàn thành quá trình rèn luyện nhân cách

1.2.5.Quản lý giáo dục :

“Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách

thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả

mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”.[25,tr.85]

Quản lý giáo dục đạo đức:

Từ 2 khái niệm quản lý và giáo dục đạo đức trên, theo tôi có thể định nghĩa khái niệm quản lý giáo dục đạo đức như sau: Quản lý giáo dục đạo đức là

sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất

Về bản chất, quản lý giáo dục đạo đức là quá trình tác động có định

hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục đạo đức nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức

Như vậy, quản lý giáo dục đạo đức là hoạt động điều hành công tác giáo dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của nền giáo dục

Các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức

Quản lý giáo dục đạo đức có những biện pháp sau:

- Nâng cao nhận thức cho mọi người, trước hết là nâng cao nhận thức cho

các thế hệ lớn tuổi, cán bộ, đảng viên, đội ngũ làm công tác quản lý giáo dục Việc làm cho mọi người, mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức thấy được trách nhiệm của mình trong việc góp phần cùng các cơ quan chức năng quản lý giáo dục đạo đức là biện pháp kiên quyết trong việc quản lý giáo dục đạo đức Đây

Trang 26

là điều kiện đầu tiên tạo ra sự thống nhất trong hành động của toàn xã hội Tuyệt nhiên, không nên coi quản lý giáo dục đạo đức là việc riêng của một cơ quan, tổ chức nào và đối tượng của nó không chỉ là học sinh mà là mọi người, mọi đối tượng trong xã hội Lâu nay, có nhiều người cho rằng giáo dục đạo đức chỉ đối với trẻ em, học sinh Điều cần thiết ở đây là phải làm cho mọi người nhận thức sâu sắc đầy đủ rằng, việc rèn luyện nhân cách cũng như học tập nâng cao trình độ học vấn là việc làm suốt đời của mọi người, từ lúc lọt lòng đến lúc chết

- Xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về quản

lý giáo dục đạo đức là biện pháp then chốt, là đòn bẩy quyết định hiệu quả, chất lượng của hoạt động quản lý giáo dục đạo đức Trước hết cần có bộ máy quản

lý và chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức, phụ trách thống nhất từ Trung ương đến cơ sở dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền Xác định rõ mục đích, nội dung, chức năng quản lý giáo dục đạo đức cho các cơ quan chức năng chuyên trách

- Củng cố tăng cường việc quản lý ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt

chẽ với quản lý của nhà trường với các đoàn thể trong việc quản lý và giáo dục đạo đức cho mọi người

- Thực hiện nghiêm minh luật pháp, tăng cường công tác quản lý xã hội là

biện pháp trực tiếp góp phần vào việc giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạođức cho toàn xã hội

Kết quả quản lý giáo dục đạo đức:

Việc quản lý giáo dục đạo đức làm cho mọi người, mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, tính cấp thiết của công tác quản lý giáo dục đạo đức trong xã hội

Trang 27

Nắm vững những quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước nhà

Hăng hái nhiệt tình tham gia công tác quản lý giáo dục đạo đức trong xã hội, ủng hộ những việc làm tốt, bày tỏ phản ứng trước những việc làm xấu, trái pháp luật, trái quy định của xã hội Có thái độ đúng đắn với hành vi của bản thân đối với công tác quản lý giáo dục đạo đức

Tích cực tham gia quản lý và tổ chức việc giáo dục đạo đức, hoạt động tập thể, hoạt động xã hội

Tự giác thực hiện, có thói quen chấp hành những quy định của pháp luật, các quy định, quy chế của tổ chức Tích cực rèn luyện, tự tu dưỡng, tự hoàn thiện nhân cách

Kết quả quan trọng nhất của việc quản lý giáo dục đạo đức là làm sao cho quá trình giáo dục đạo đức tác động tới mọi người để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức cụ thể được biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

1.3.1 Đặc điểm của học sinh THPT

Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT

Học sinh THPT là lứa tuổi đầu tuổi thanh niên, ở giai đoạn phát triển của trẻ em từ 15  19 tuổi Đến cuối thời kỳ này học sinh đã trưởng thành về thể

Trang 28

chất, đã trưởng thành về cả tinh thần và tư tưởng đủ để sống độc lập, tự quyết định, tham gia tích cực vào cuộc sống xã hội

Học sinh THPT đang ở trong giai đoạn chuẩn bị để đi vào cuộc sống Đây

là lứa tuổi phát triển êm đềm, không có tính chất đột biến như lứa tuổi thiếu niên Tính chất chủ định của mọi quá trình tâm lý được thể hiện rõ rệt Đây là lứa tuổi ý thức phát triển mạnh, nhân sinh quan và thế giới quan hình thành và phát triển, chi phối sự phát triển nhân cách của các em

Ở nhà trường: học sinh cấp THPT được vận dụng và tiếp thu những kiến

thức, kỹ năng cao hơn cấp THCS Như vậy học sinh THPT có trình độ, có năng lực tư duy trừu tượng, khả năng phân tích, phán đoán dựa trên sự hiểu biết quy luật của tự nhiên, xã hội.Vì vậy những thuộc tính, những phẩm chất tâm lý tương đối bền vững Những quan niệm về cuộc sống, về bạn bè, về lý tưởng sống, về tự nhiên đã có định hướng cho cá nhân

Tuổi học sinh THPT là tuổi lãng mạn, dám nghĩ, dám làm, tuổi có nhiều ước mơ, muốn cống hiến sức mình cho sự nghiệp lớn lao nào đó, tuổi giầu sức sáng tạo Họ có tình cảm phong phú và đa dạng, có thái độ xúc cảm đối với các mặt khác nhau của đời sống, có năng lực nhận xét, biết cảm thụ và yêu mến cái đẹp trong hiện thực xung quanh, trong tự nhiên, trong nghệ thuật và trong đời sống xã hội Mặt khác óc phê phán, phân tích trong tư duy vốn có của học sinh THPT, khát vọng muốn được độc lập, khát vọng tự khẳng định, tự biểu hiện cá tính của mình, nhu cầu có những thị hiếu, những ý kiến riêng đôi khi được thể hiện ở nguyện vọng làm cho mình trở nên độc đáo, khiến người khác chú ý tới bản thân mình

Các em mong muốn người giáo viên phải có phẩm chất cao, hiểu rất rõ mặt yếu của giáo viên, nhận xét và phê phán những thiếu sót trong kiến thức,

đề cao giáo viên giỏi, quý mến họ, sẵn sàng làm theo những lời hướng dẫn chỉ

Trang 29

bảo của họ Các em có xu hướng cảm phục những giáo viên ưu tú có biệt tài giảng dạy, có phẩm chất nhân cách cao quý và luôn tự hào về các giáo viên đó Điều đó thể hiện sự nhạy bén với nhân cách của những người xung quanh là đặc điểm tâm lý của học sinh THPT Những khát vọng, công việc và hành động của các em, cuộc sống sôi động của các em phần lớn chịu sự chi phối của những mối liên hệ đạo đức với con người

Một nét tiêu biểu ở các em học sinh THPT là rất thích hoạt động văn nghệ, TDTT như thích hát những bài ca trữ tình, ngoài giờ học các em còn say sưa hát một cách liên khúc trong các buổi liên hoan, giao lưu Cảnh tượng đó kéo dài hàng giờ làm cho mọi người ngạc nhiên là không hiểu do đâu mà các em lại biết được nhiều điều đến thế, những âm điệu, lời ca mà không ai dạy chúng cả

Sự thích thú sáng tạo nghệ thuật, làm thơ, nghe nhạc, xây dựng những điệu nhảy tập thể, tạp chí thông tin Internet đều được các em say sưa khám phá, thể hiện

Có thể nói ở lứa tuổi học sinh THPT thì trình độ trí lực và tư chất đặc biệt hoàn toàn khác nhau, ta vẫn thấy các em có khả năng tham gia hoạt động trong nhiều lĩnh vực: văn hoá, văn nghệ, TDTT

Khả năng suy nghĩ độc lập của các em ngày càng tăng, tinh thần sẵn sàng tham gia những hoạt động tập thể một cách có ý thức, khả năng kích thích tinh thần trách nhiệm đạo đức với nhau thành một tổng thể độc đáo Mức độ trưởng thành mới của phẩm chất nhân cách cá nhân, thái độ luôn luôn sẵn sàng phát huy sáng kiến, óc sáng tạo dựa trên những động cơ đạo đức - chính đó là đặc điểm riêng của học sinh THPT

Trong gia đình: Học sinh THPT có một vị trí nhất định, các em được gia

đình xem như một thành viên tích cực, được tôn trọng, được góp ý kiến những công việc gia đình, tuy rằng, họ vẫn phụ thuộc vào kinh tế, sinh hoạt của gia

Trang 30

đình Sự phụ thuộc ấy dẫn đến những mâu thuẫn ở các em: về tâm lý muốn tự khẳng định, muốn tự quyết định nhưng còn lệ thuộc gia đình Chính vì thế, đôi khi xảy ra những bất hoà trong gia đình mà trong đó có lý do nảy sinh học sinh THPT cho rằng gia đình mình có những quan niệm không hợp lý, lỗi thời từ cuộc sống gò bó chật hẹp của gia đình mình

Ngoài xã hội: Những yêu cầu đối với học sinh THPT có cao hơn và phong

phú hơn trước đây Ví dụ, họ được giao nhiều nhiệm vụ như tham gia tổ chức bầu cử, tuyên truyền cổ động, làm công tác đoàn, phụ trách thiếu niên, xung kích, tình nguyện Họ được nhìn nhận như một công dân dự bị được làm chứng minh nhân dân từ năm 17 tuổi, ngoài ra với tư cách là đoàn viên thanh niên lao động, cương vị của họ còn mang ý nghĩa xã hội hơn nhiều tuy họ vẫn chưa thực sự là người lớn Được vào Đoàn từ năm 14 tuổi và 18 tuổi được quyền đi bầu cử và làm nghĩa vụ quân sự

Về chủ quan họ còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, chưa có nghề nghiệp và lao động thực sự để trực tiếp góp phần làm cho xã hội tồn tại và phát triển Về khách quan luật pháp chưa công nhận họ là một công dân có đầy đủ nhiệm vụ

và quyền hạn như đã quy định trong hiến pháp

Do cuộc sống của học sinh THPT ở nhà trường, gia đình, xã hội đã thay đổi, vị trí, vai trò của các em ở nhà trường, gia đình, xã hội đã khác, nên tâm lý, nhân cách của các em đã hình thành và phát triển Điều đó làm cho học sinh THPT trưởng thành nhiều, các em có nhiều đức tính của người lớn và chuẩn bị làm người lớn thực sự những năm sau này

Trong lứa tuổi học sinh lớn, những sức mạnh đạo đức của con người được phát triển mạnh mẽ, bộ mặt tinh thần được hình thành, những nét tính cách được xác định và thế giới quan được hình thành [31, tr 8]

Trang 31

Thế giới quan và nhân sinh quan là hệ thống các quan điểm của cá nhân

về tự nhiên, xã hội và về bản thân Thế giới quan của mỗi người đều hình thành trong quá trình hoạt động chịu sự chế ước của những điều kiện xã hội và lịch

sử, chịu sự tác động của môi trường sống và các mối quan hệ của người đó trong xã hội

Thế giới quan và nhân sinh quan quyết định xu hướng của nhân cách con người cách mạng: tiến bộ hay lạc hậu, phản động Đối với học sinh THPT là lúc thế giới quan của các em vẫn còn đang hình thành và tiến tới hoàn chỉnh Ở cấp THCS các em tiếp thu những tri thức về quy luật tự nhiên và xã hội, do đó tầm mắt mở rộng, ý thức bản ngã phát triển Các em có nhu cầu muốn được giải đáp nhiều vấn đề mà các em quan tâm Lên THPT bắt đầu bước vào lứa tuổi đầu thanh niên, hệ thống kiến thức của các em được hình thành, năng lực trí tuệ phát triển Các em có trình độ hiểu biết sâu, có khả năng phê phán những vấn đề lý luận và thực tiễn, có khả năng đi sâu vào bản chất sự vật, tìm hiểu mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng xã hội, phân tích, tổng hợp, khái quát

để nắm bắt các quy luật Riêng với học sinh lớp 12 đã đến tuổi được đặt gần như ngang hàng với người lớn và các em đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời nên đều có suy nghĩ về nghề nghiệp tương lai, về cuộc sống Đối với các em việc xây dựng thế giới quan là điều rất cần thiết Các môn học, nhất là môn GDCD và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường đều có tác dụng xây dựng thế giới quan Mác-Lênin cho học sinh Nhờ vậy, khi học hết THPT, bước vào đời các em xác định được chỗ đứng vững vàng, trở thành người lao động kiểu mới và có lý tưởng XHCN

Lý tưởng của học sinh THPT: Lý tưởng của mỗi người chính là mục tiêu

cao đẹp mà con người có khát vọng, vươn tới và phấn đấu suốt đời mình để đạt tới Lý tưởng là sự phản ánh hiện thực ngày mai trong đầu óc con người, là hình ảnh tương lai tốt đẹp của cuộc sống Hình thức lý tưởng đặc trưng cho học

Trang 32

sinh lớn là những hình ảnh khái quát những phẩm chất tốt đẹp nhất của nhân cách theo quan điểm của học sinh [31, tr 13]

Mức độ lý tưởng đạo đức cao là nét đặc trưng cho học sinh chúng ta Đạo đức học sinh THPT là khát vọng vươn tới lý tưởng Đặc điểm ấy có tác dụng thúc đẩy sự tu dưỡng, động viên nghị lực của thanh niên và là nguồn cảm hứng trong mọi hoạt động Được sự giáo dục của nhà trường và đoàn thanh niên, tiếp thu những tư tưởng tiên tiến, học sinh THPT thấy rõ phương hướng, có ý thức học tập tu dưỡng rèn luyện trở thành những người công dân có ích hăng hái tham gia lao động và công tác trong mọi lĩnh vực Tuy nhiên ở một số học sinh, việc xác định mục đích, thái độ, động cơ học tập chưa rõ ràng, còn những biểu hiện của tư tưởng an nhàn, danh lợi, địa vị trong chọn nghề Trong hoàn cảnh chưa có lý tưởng kiên định, dễ bị dao động trước ảnh hưởng không tốt của mặt trái cơ chế thị trường gây nên Phần nào, các em còn chịu ảnh hưởng của

xã hội bên ngoài một cách tự phát Trong điều kiện này các em dễ tiếp thu cái xấu hơn là cái tốt Chỉ khi nào các giải đáp được một cách cơ bản câu hỏi

"Sống để làm gì?" thì lúc đó các em mới có thể xác định cho mình một lý

tưởng sống đúng đắn Lứa tuổi các em với nhiều ước mơ đẹp đẽ, bước đầu vào đời thuận lợi, còn xa với cuộc sống thực tiễn, dễ nhìn thấy thuận lợi, chưa lường hết khó khăn, nhiều khi chỉ hướng về tương lai mà không nhìn thẳng vào hiện tại Các em chưa chuẩn bị cho mình có đủ nghị lực để chịu đựng mọi khó khăn, nên dễ bị dao động khi tiếp xúc với cuộc sống và ngành nghề mà sau này các em đảm nhiệm

Tình cảm: Đặc điểm của lứa tuổi học sinh lớn là có tình cảm phong phú và

đa dạng, có thái độ xúc cảm đối với các mặt khác nhau của đời sống [29, tr 31]

Trang 33

Tuổi đầu thanh niên là lứa tuổi phát triển về tình bạn, tình đồng chí và cả tình yêu nữa Tình bạn là giai đoạn cao nhất của quan hệ đồng chí Ở tuổi thanh niên thường có tình bạn "đồng cảm" hay tình bạn "thơ mộng" họ cần bạn bè để chia sẻ cảm xúc, thổ lộ tâm tình Một trong những nguồn gốc quan trọng của tình bạn là sự gắn bó trong một hoạt động hấp dẫn Có khi nó nảy nở trong sự đồng cảm, hoà hợp về một số điểm nào đó như cùng hoạt động một câu lạc bộ, trong cuộc thi văn nghệ, thi thể thao hoặc một buổi dã ngoại, một cuộc chuẩn bị liên hoan Các em chọn bạn theo hứng thú, sở thích, tính cách giống nhau Những học sinh có xu hướng xã hội: tế nhị, vị tha, có tâm hồn phong phú thường có quan hệ bạn bè rộng rãi Nhà trường là một tập thể để có thể xây dựng mối quan hệ bạn bè, quan hệ đồng chí tốt đẹp, các điều kiện giúp các em xây dựng tình bạn chân chính, giúp đỡ nhau học tập, tu dưỡng tiến bộ Tránh quan điểm sai trong tình bạn như che giấu lỗi lầm, tha thứ cho nhau hành vi trái đạo đức Vì như vậy dễ làm cho quan hệ tình bạn tan vỡ Một tình bạn thân thiết khác giới dễ chuyển sang tình yêu Nam nữ thanh niên trong lứa tuổi này thường mến nhau vì cùng chung lý tưởng, xu hướng và hứng thú Họ thích nhau vì vẻ đẹp con người, vì tài năng, đức hạnh Tình yêu ban đầu của nam nữ thanh niên mới lớn thường được xây dựng trên sự mến phục, quý trọng nhau trong học tập và hoạt động Mối tình đầu đầy thơ mộng, một thứ tình cảm lành mạnh, thuần khiết, tinh bạch, sâu sắc và thường để lại dấu vết không bao giờ phai mờ trong tâm lý con người Tình yêu đương - bạn bè chứa đựng tâm trạng phức tạp khó hiểu Họ thường gắn bó như bạn bè, nhưng có lúc lại có cảm xúc khác thường, họ thấy ngượng nghịu không hồn nhiên như bình thường Tình yêu đến với họ là một sự việc hoàn toàn mới mẻ Họ chưa có hiểu biết sâu sắc Tình yêu bồng bột, không chín chắn, thiếu suy nghĩ sâu sắc của lứa tuổi các em

dễ đi đến tan vỡ, gây cho các em những tổn thương về tình cảm rất có hại Trong thực tế ta thấy tình yêu đó chẳng giúp ích gì cho các em mà thường làm

Trang 34

cho các em phân tán tư tưởng, lãng phí thời giờ, ảnh hưởng xấu đến việc học tập rèn luyện Vì thế nên khuyên nhủ các em ngăn ngừa trước khi tình yêu nam

nữ phát sinh, khuyến khích các em phát triển tình bạn một cách lành mạnh, trong sáng, một tình bạn như thế sẽ là sức mạnh thúc đẩy các em học tập, rèn luyện và tiến bộ nhanh chóng

Xuất phát từ những đặc điểm của HSPT, mà GDĐĐ cho HS trong nhà trường có một ý nghĩa, có một vai trò đặc biệt quan trọng

1.3.2 GD nhà trường có một ý nghĩa rất quan trọng

1.3.2.1.Định hướng cho quá trình hoạt động rèn luyện của học sinh

+Định hướng hoạt động học tập:

Tính chất và nội dung học tập của học sinh THPT khác rất nhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên Vấn đề không chỉ ở chỗ nội dung học tập ngày càng sâu sắc và có thêm những môn học mới mà là hoạt động học tập của học sinh THPT đề ra những yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và tính độc lập của các em Muốn nắm sâu sắc toàn bộ chương trình thì cần phát triển

tư duy lý luận Những khó khăn học sinh THPT thường gặp trong quá trình học tập trước hết là do các em không biết cách học tập trong điều kiện mới [31, tr.43]

Học sinh thường coi nhiệm vụ cơ bản của mình là hiểu và nhớ những điều đã nói trong sách giáo khoa và những điều giáo viên đã giảng để sau đó trả lời được bài Nhà giáo dục Xô Viết nổi tiếng V.A.Xukhômlixki nhận xét rằng nguyên nhân của những khó khăn trong học tập của một số học sinh lớp lớn là

do các em không biết "sử dụng những khái niệm đã khái quát để nhận thức hiện thực xung quanh, mà sự không biết đó lại do những khái niệm, những kết luận, những suy lý đã khái quát không được hình thành bằng cách nghiên cứu các hiện tượng và sự kiện, mà chỉ là học thuộc" [31, tr.45]

Trang 35

Chính học sinh cũng nói rằng: "Có sự gián đoạn rất lớn giữa nội dung và phương thức học tập từ lớp 9 trở về trước" Các em không có kỹ năng độc lập làm việc với các tài liệu học tập Mâu thuẫn trong hoạt động học tập là động lực của sự phát triển trí tuệ của học sinh lớn Mâu thuẫn này được giải quyết dần dần cùng với bước chuyển học sinh lớn lên một trình độ hoạt động học tập mới cao hơn, gắn liền với sự phát triển của tư duy lý luận, của kỹ năng tự học Thái độ học tập của học sinh lớn cũng thay đổi Học sinh càng trưởng thành, kinh nghiệm của các em cũng ngày một phong phú Các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời Thái độ tự giác của các em đến việc học tập càng tăng lên Việc học tập mang ý nghĩa trực tiếp Học sinh lớn

đã hiểu được rằng điều kiện cần thiết để tạo nên cuộc sống tương lai là vốn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, là kỹ năng độc lập trau dồi vốn hiểu biết, những kỹ năng

tự học mà các em tiếp thu được trong những năm học tập ở nhà trường Nhu cầu tri thức là một trong những nét đặc trưng của học sinh THPT ngày nay Các

em có thái độ lựa chọn đối với các môn học Rất hiếm thấy một thái độ chung chung, tích cực như nhau đối với tất cả các môn học, nguyên nhân quan trọng, hứng thú môn học gắn liền với xu hướng thi vào đại học và nghề nghiệp sau này Phần lớn học sinh thích các môn Toán, Lý, Hoá, Văn, Sinh Bởi nhịp độ phát triển của các khoa học nói trên và phạm vi ứng dụng rộng rãi của các khoa học đó vào các khoa học khác trong đời sống của đất nước, vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Ta cũng thấy thể hiện những thiếu sót trong thái độ học tập của một số học sinh, một số em các em không có hứng thú trực tiếp đối với các giờ học (ngay cả ở giờ học của một giáo viên giỏi nhất) các em chưa có thật đầy đủ ý thức trách nhiệm và chưa hiểu sự cần thiết phải thực hiện những yêu cầu học tập, để lãng phí nhiều thời gian Bên cạnh những biểu hiện thờ ơ đối với kết quả học tập của một số học sinh phải thừa nhận đại đa số học sinh THPT có

Trang 36

khả năng tìm tòi suy nghĩ ngày càng lớn, những khả năng mới về tư duy, về suy luận đã khẳng định năng lực học tập của các em

Hoạt động học tập mang tính độc lập trí tuệ cao, trong đó mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động tập thể, hoạt động thực tiễn, hoạt động tự rèn luyện của học sinh

+Định hướng hoạt động lao động cho học sinh:

Không thể không nói tới vai trò của lao động công ích trong sự hình thành nhân cách của học sinh THPT Mặc dù hoạt động chủ đạo của các em là học tập nhưng cần phải lợi dụng mọi khả năng để lôi cuốn vào lao động công ích Lao động của học sinh là quan trọng không chỉ vì tạo ra của cải vật chất mà còn góp phần hình thành những phẩm chất nhân cách như tinh thần tập thể lòng yêu lao động vì lợi ích chung, óc sáng tạo, tính mục đích, tính kỷ luật, tính kiên trì khi tham gia lao động chung, học sinh sẽ bồi dưỡng được tình cảm tôn trọng lao động và người lao động, ở chúng sẽ hình thành nhu cầu và nguyện vọng lao động Trong quá trình lao động ở học sinh sẽ nảy nở những tình cảm mới - niềm vui về kết quả lao động của mình, lòng tự hào về những cái đã làm được, hài lòng với những thắng lợi sau những nỗ lực kiên trì

Các em nhiệt tình tham gia xây dựng bãi tập thể dục thể thao của nhà trường, làm vườn hoa, chăm cây cảnh, vệ sinh hòn non bộ, làm sạch đường đẹp phố trong những ngày tình nguyện Những hình thức tổ chức lao động tập thể cho phép học sinh tiếp thu được những kinh nghiệm đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau, kinh nghiệm kiểm tra lẫn nhau, giáo dục thái độ quan tâm của cá nhân tới kết quả lao động chung, thói quen phục tùng những lợi ích của tập thể

+Định hướng hoạt động chính trị xã hội cho học sinh THPT:

Trang 37

Hoạt động chính trị xã hội của học sinh được tiến hành qua nhiều hình thức đa dạng và phong phú từ tổ chức phong trào thi đua của học sinh, tổ chức đoàn thanh niên ở trường học, cũng như ở địa phương Trong hoạt động đó, học sinh hiểu sâu thêm vốn tri thức lý luận đã được tiếp thu đem vận dụng vào thực tiễn và thực tiễn kiểm nghiệm, minh hoạ những tri thức lý luận đã tiếp thu được

từ sách vở Hoạt động chính trị xã hội của học sinh biểu hiện như là một sản phẩm của sự trưởng thành về mặt xã hội Cũng như các hoạt động khác, việc tham gia hoạt động của học sinh được kích thích bởi nhiều động cơ khác nhau bằng động cơ tự khẳng định và hoàn thiện nhân cách, muốn có ích cho người khác, có tình cảm trách nhiệm đối với các nhiệm vụ xã hội được giao, có trách nhiệm đối với tập thể, muốn thường xuyên được tiếp xúc với công việc tập thể tham gia

+Định hướng những giá trị đạo đức:

Trong các giờ sinh hoạt của GVCN lớp, các giờ dạy của GV bộ môn, trong các hoạt động ngoại khoá ở trường các Thày cô giáo luôn GD để các em hiểu được:

+Khi ở trường các em là học sinh THPT được sống trong một môi trường GD lành mạnh Các em phải có trách nhiệm học tập tốt các môn văn hoá, rèn luyện tu dưỡng đạo đức,tập luyện TDTT,văn hoá,văn nghệ đoàn kết giúp đỡ nhau cùng học tập, cùng tiến bộ Các em phải lễ phép với thày, cô giáo, tôn trọng bạn bè

+Lúc ở nhà các em là người con, người anh, người chị, người em trong gia đình Các em phải biết lễ phép, biết vâng lời ông bà, cha mẹ, anh chị, luôn nhường nhịn các em, là tấm gương sáng cho các em học tập, noi theo

Trang 38

+Với xã hội các em phải sống xứng đáng là một công dân tốt như:sống theo hiến pháp, pháp luật nhà nước, luôn chấp hành tốt an toàn giao thông, tránh xa ma tuý và các tệ nạn XH khác

Là một học sinh THPT có đạo đức các em phải là con ngoan của gia đình, là trò giỏi của nhà trường và là một công dân tốt ngoài XH

+Định hướng các hoạt động tập thể khác theo mục tiêu GD toàn diện:

Hoạt động đoàn thể, phong trào tình nguyện, văn hoá TDTT, văn nghệ, quân sự nhằm nâng cao tính tập thể, tinh thần trách nhiệm tạo nên nếp sống vui tươi, sôi nổi, không khí đoàn kết thân ái Đồng thời qua đó uốn nắn các lệch lạc của mỗi cá nhân, giúp mỗi người hiểu và chấp hành đúng nghĩa vụ, trách nhiệm của bản thân, biết giới hạn và thoả mãn nhu cầu chính đáng của bản thân Các hoạt động ngoài giờ lên lớp là nhu cầu không thể thiếu và cũng là phương thức GDĐĐ tốt nhất cho học sinh THPT, đưa các em vào hoạt động thực tiễn để tập dượt, rèn luyện tạo nên các hành vi thói quen, giúp các em hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình

1.3.2.2 Nhà trường giữ vai trò định hướng, phối hợp với gia đình và các

tổ chức XH thực hiện GDĐĐ

Không chỉ định hướng cho quá trình họat động của học sinh, nhà trường còn giữ vai trò định hướng phối hợp các lực lượng GD Kết hợp giữa nhà trường với gia đình, nhà trường với các tổ chức XH như: công an, bộ đội, hội phụ nữ, các cơ quan văn hoá, văn nghệ TDTT các đơn vị đóng trên cùng địa bàn Kết hợp các tổ chức XH với nhau thành một khối thống nhất cùng quan tâm GD các em theo mục tiêu GD toàn diện

Gia đình nào cũng muốn dạy dỗ con, em mình thật tốt Nhưng mỗi ông

bố, bà mẹ, các bậc phụ huynh của mỗi gia đình có trình độ văn hoá, trình độ nhận thức khác nhau nên cách GD con cái khác nhau

Trang 39

Các tổ chức XH cũng vậy Không phải tổ chức XH nào cũng nắm chắc mục tiêu giáo dục phổ thông, nội dung, phương pháp GDĐĐ cho học sinh THPT

Vì vậy các gia đình, các tổ chức XH đều mong muốn GD thế hệ trẻ thành người tốt nhưng kết quả GD, tác động kém hiệu quả

Xuất phát từ đó, nhà trường phải có trách nhiệm định hướng cho GDĐĐ, các tổ chức XH, phối hợp với họ theo một kế hoạch thống nhất

1.3.3 Tổ chức quản lý hoạt động giáo dục đạo đức sẽ tạo ra sức mạnh thống nhất, khai thác tối đa tiềm năng xã hội

Mục tiêu GDĐĐ cho học sinh:

Về nhận thức: Hiểu bản chất của đạo đức, các nguyên tắc, nội dung,

chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam thời kỳ CNXH, HĐH đất nước

Hiểu sự cần thiết phải rèn luyện mình theo yêu cầu của các chuẩn mực đạo đức để trở thành những công dân có lối sống tốt, có tình cảm đẹp, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước

Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của sự nghiệp HĐH đất nước Nắm vững quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước nhà Có nhân sinh quan trong sáng, có quan điểm rõ ràng về lối sống thích ứng với những yêu cầu của giai đoạn mới [15, tr.323]

CNH-Về thái độ, tình cảm: Có thái độ tình cảm đạo đức đúng đắn, trong sáng

trong các mối quan hệ xã hội với mọi người và với môi trường sống Có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh đã hy sinh xương máu vì độc lập, tự do của Tổ quốc Có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức chính trị trong xã hội, ủng hộ những việc làm tốt, hợp đạo lý, bày tỏ phản ứng trước những hành vi sai trái [15, tr.324]

Trang 40

Về hành vi và kỹ năng: Tích cực học tập và rèn luyện trong lao động,

hoạt động tập thể, hoạt động xã hội Có thói quen thường xuyên rèn luyện hành

vi đạo đức trong ứng xử, trong các vấn đề của các lĩnh vực hoạt động và quan

hệ xã hội Tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức, luật pháp, văn hoá và chấp hành pháp luật Biết sống lành mạnh, trong sáng, thể hiện được tư cách của người học sinh Tích cực đấu tranh với những biểu hiện của lối sống sa đoạ, đồi truỵ, chỉ biết hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, theo chủ nghĩa thực dụng, thờ ơ với các vấn đề của cuộc sống, không nghĩ đến sự hy sinh mất mát của các thế hệ cha anh Thường xuyên tích cực rèn luyện trong học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, hoạt động xã hội để chuẩn bị cho "ngày mai lập nghiệp" được vững vàng [15, tr.324]

Nội dung GDĐĐ cho học sinh:

Giáo dục cho học sinh các chuẩn mực đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống có thể phân làm 5 nhóm:

Nhóm chuẩn mực thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị, có lý tưởng

XHCN, thực hiện CNH-HĐH đất nước, yêu quê hương đất nước, tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, nhà nước Sống làm việc rèn luyện vì " Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh " [15, tr.326]

Nhóm chuẩn mực đạo đức, lối sống tự hoàn thiện bản thân : Lòng tự

trọng tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thực, siêng năng, hướng thiện, kiềm chế, biết hối hận v.v

Nhóm những chuẩn mực đạo đức lối sống thể hiện quan hệ với mọi người: Đó là nhân nghĩa, cụ thể là biết ơn (tổ tiên, cha mẹ, Thày cô, người có

công với đất nước) kính trọng những người đã sinh thành, nuôi dưỡng, yêu thương, khoan dung, vị tha, thuỷ chung, giữ chữ tín

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (1977), Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục , trường cán bộ quản lý GD & ĐT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1977
2. Ban tâm lý học viện khoa học giáo dục (1975), Một số vấn đề tâm lý học sự phạm và lứa tuổi học sinh Việt Nam, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tâm lý học sự phạm và lứa tuổi học sinh Việt Nam
Tác giả: Ban tâm lý học viện khoa học giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1975
3. Bộ GD & ĐT (1996), Các văn bản pháp quy về giáo dục và đào tạo, Quyển 2 – Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp quy về giáo dục và đào tạo
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1996
4. Bộ GD & ĐT (1998), Những vấn đề về chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH-HĐH , Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH-HĐH
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
5. Bộ GD & ĐT (2002), Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
Năm: 2002
6. Bộ GD & ĐT. Nhiệm vụ năm học – NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ năm học
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
7. Phạm Khắc Chương (1995), Một số vấn đề về đạo đức... Bộ GD & ĐT – Vụ Giáo viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đạo đức
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Năm: 1995
8. Phạm Khắc Chương, Tạ Văn Doanh (2000), Chỉ nam nhân cách học trò, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ nam nhân cách học trò
Tác giả: Phạm Khắc Chương, Tạ Văn Doanh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2000
9. Nguyễn Hữu Công. Tìm hiểu quan điểm giáo dục toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp – Số 11/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quan điểm giáo dục toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCH TW khoá 8 , NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCH TW khoá 8
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
11. Hồ Chí Minh (1990), về vấn đề giáo dục, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về vấn đề giáo dụ
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1990
12. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Khoa triết học (2000), Giáo trình đạo đức học, NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học
Tác giả: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Khoa triết học
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2000
13. Phạm Minh Hạc (1996), phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển xã hội, kinh tế , NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển xã hội, kinh tế
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1996
14. Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
15. Phạm Minh Hạc – Nguyễn Khoa Điềm (2001), Về phát triển văn hoá và xây dựng con người thời kỳ CNH-HĐH , NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển văn hoá và xây dựng con người thời kỳ CNH-HĐH
Tác giả: Phạm Minh Hạc – Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
16. Đặng Vũ Hoạt. Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm với việc giáo dục đạo đức cho học sinh , Tập san nghiên cứu giáo dục số 8/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm với việc giáo dục đạo đức cho học sinh
17. Trần Hậu Kiêm (1997), Giáo trình đạo đức học, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học
Tác giả: Trần Hậu Kiêm
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
18. Nguyễn Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí (1996), Lý luận đại cương về quản lý , Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận đại cương về quản lý
Tác giả: Nguyễn Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí
Năm: 1996
19. Hữu Ngọc (chủ biên), Dương Phú Hiệp, Lê Hữu Tần (1987), Từ điển triết học giản yếu, NXB đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển triết học giản yếu
Tác giả: Hữu Ngọc (chủ biên), Dương Phú Hiệp, Lê Hữu Tần
Nhà XB: NXB đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1987
21. Hà Nhật Thăng- Đoàn Thanh Ân (1998), Lịch sử giáo dục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục
Tác giả: Hà Nhật Thăng- Đoàn Thanh Ân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lượng trường và học sinh THPT Thành phố Hải phòng - Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu tại Hải Phòng
Bảng 2.1. Số lượng trường và học sinh THPT Thành phố Hải phòng (Trang 51)
Bảng 2.3.Kết quả phân loại hạnh kiểm và học lực học sinh ở các trường - Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu tại Hải Phòng
Bảng 2.3. Kết quả phân loại hạnh kiểm và học lực học sinh ở các trường (Trang 52)
Bảng 2.5. Học sinh giỏi thành phố (năm 2002-2003) - Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu tại Hải Phòng
Bảng 2.5. Học sinh giỏi thành phố (năm 2002-2003) (Trang 52)
Bảng 2.6. Kết quả phân loại hạnh kiểm và học lực học sinh ở các trường - Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu tại Hải Phòng
Bảng 2.6. Kết quả phân loại hạnh kiểm và học lực học sinh ở các trường (Trang 53)
Bảng 2.7.  Tốt nghiệp trung học phổ thông (năm 2003-2004) - Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu tại Hải Phòng
Bảng 2.7. Tốt nghiệp trung học phổ thông (năm 2003-2004) (Trang 53)
Bảng 3.5. Kết quả trưng cầu ý kiến kiểm chứng thực hiện các biện pháp. - Một số biện pháp tổ chức của nhà trường nhằm phát huy tiềm năng xã hội thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu tại Hải Phòng
Bảng 3.5. Kết quả trưng cầu ý kiến kiểm chứng thực hiện các biện pháp (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w