1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên

118 492 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Theo Phạm Viết Vượng: “QL là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trườn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN MINH ĐỨC

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ BẢO KHÊ THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN MINH ĐỨC

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ BẢO KHÊ THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Thu Hoa

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc tới Lãnh đạo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội, các thầy giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến cô TS Phạm Thị Thu Hoa, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ em trong suốt

quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả xin gửi lời tri ân tới các thầy cô giáo và các em học sinh trường THCS Bảo Khê đã giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn

Cám ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt quá trình nghiên cứu

Em xin chân thành cám ơn!

Hưng Yên, tháng 12 năm 2013

Nguyễn Minh Đức

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn………i

Danh mục chữ viết tắt……….……….ii

Mục lục……… ……….iii

Danh mục bảng……….……… vii

Danh mục biểu đồ……… ……viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý giáo dục đạo đức ở trường trung học cơ sở 5

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 6

1.2 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài 9

1.2.1 Quản lý 9

1.2.2 Quản lý giáo dục 12

1.2.3 Quản lý nhà trường 15

1.2.4 Đạo đức 18

1.2.5 Giáo dục đạo đức 21

1.2.6 Quản lý giáo dục đạo đức 23

1.2.7 Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức 23

1.3 Vai trò của GDĐĐ đối với sự phát triển nhân cách của HS THCS trong giai đoạn hiện nay 24

1.3.1 Giáo dục đạo đức góp phần hình thành những giá trị cơ bản của nhân cách con người xã hội của mỗi thời kỳ lịch sử 24

1.3.2 Giáo dục đạo đức góp phần xác định mục tiêu hành động của mỗi con người 25

1.4 Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc QL GDĐĐ HS THCS 26

1.4.1 Đặc điểm của HS THCS 26

Trang 6

1.4.2 Yếu tố gia đình 27

1.4.3 Yếu tố nhà trường 28

1.4.4 Yếu tố xã hội 28

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ BẢO KHÊ, THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN 31

2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội và giáo dục tại xã Bảo Khê, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên 31

2.1.1 Về kinh tế - xã hội 31

2.1.2 Về môi trường giáo dục 32

2.2 Thực trạng đạo đức của HS THCS Bảo Khê - Thành phố Hưng Yên - Hưng Yên qua xếp loại những năm gần đây 33

2.2.1 Tình hình chung 33

2.2.2 Thực trạng đạo đức của HS THCS Bảo Khê –Thành phố Hưng Yên - Tỉnh Hưng Yên qua xếp loại đạo đức những năm gần đây 34

2.3 Thực trạng về QL GDĐĐ HS trường THCS Bảo Khê - Thành phố Hưng Yên 42

2.3.1 Thực trạng nhận thức về hoạt động GDĐĐ HS 42

2.3.2 Thực trạng công tác QL GDĐĐ HS trường THCS Bảo Khê 47

2.3.3 Đánh giá chung về thực trạng QL GDĐĐ HS trường THCS Bảo Khê, thành phố Hưng Yên 59

2.4 Những nguyên nhân của những hạn chế trong việc GDĐĐ HS trường THCS Bảo Khê 60

2.4.1 Nguyên nhân khách quan 61

2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 63

Tiểu kết chương 2 64

Trang 7

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ BẢO KHÊ, THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN 65

3.1 Căn cứ đề xuất biện pháp 65 3.2 Một số nguyên tắc để xây dựng biện pháp QL hoạt động GDĐĐ cho HS THCS 65 3.2.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo quản lý hoạt động GDĐĐ HS phải xuất phát từ mục tiêu GDĐĐ HS THCS 65 3.2.2 Nguyên tắc 2: Biện pháp QL phải phát huy được ưu thế của các lực lượng xã hội (các chủ thể tham gia GDĐĐ trong và ngoài nhà trường) 67 3.2.3 Nguyên tắc 3: Biện pháp QL phải linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với hoàn cảnh, thực tiễn, đảm bảo tính sư phạm 68 3.2.4 Nguyên tắc 4: Biện pháp QL phải đồng bộ 70 3.2.5 Nguyên tắc 5: Biện pháp QL phải phát huy tiềm năng xã hội 71 3.3 Một số biện pháp QL hoạt động GDĐĐ HS trường THCS Bảo Khê,

thành phố Hưng Yên 72 3.3.1 Biện pháp 1: Tổ chức xây dựng kế hoạch GDĐĐ HS trong và ngoài trường 72 3.3.2 Biện pháp 2: Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức của thầy trò và các lực lượng xã hội trong công tác GDĐĐ 73 3.3.3 Biện pháp 3: Xác định cơ chế phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để GDĐĐ HS 74 3.3.4 Tổ chức và chỉ đạo hiệu quả kế hoạch GDĐĐ 78 3.3.5 Bồi dưỡng kỹ năng sư phạm và nghiệp vụ công tác chủ nhiệm cho đội ngũ giáo viên 78 3.3.6 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá công tác GDĐĐ Biểu dương kịp thời các gương người tốt việc tốt 81 3.4 Đánh giá, khảo sát tính khả thi của biện pháp đề xuất 82 Tiểu kết chương 3 84

Trang 8

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

1 Kết luận 85

2 Khuyến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 91

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Trang Bảng 2.1: Kết quả xếp loại đạo đức của trường THCS Bảo Khê, thành

phố Hưng Yên từ năm học 2008 - 2009 đến năm học 2012-2013 35 Bảng 2.2: Thực trạng thực hiện nội quy nhà trường của học sinh 36 Bảng 2.3: Nhận xét của Giáo viên và Cán bộ QLGD về thực trạng

thực hiện nội quy của HS trường THCS Bảo Khê 37 Bảng 2.4: Mức độ ảnh hưởng của những nguyên nhân dẫn đến hiện

tượng HS vi phạm nội quy nhà trường (Theo ý kiến của cán bộ

QLGD ) 40 Bảng 2.5 Mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng

vi phạm nội quy nhà trường (Theo ý kiến của HS ) 41 Bảng 2.6 Nhận thức của giáo viên và cán bộ QLGD về mức độ cần

thiết của các nội dung GDĐĐ HS ở trường THCS 43 Bảng 2.7: Nhận thức của HS về nội dung GDĐĐ HS ở trường

THCS 45 Bảng 2.8 Thực trạng việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch

GDĐĐ HS 49 Bảng 2.9: Thực trạng mức độ thực hiện và hiệu quả của các hình

thức GDĐĐ HS ở trường THCS Bảo Khê 50 Bảng 2.10: Thực trạng mức độ thực hiện và thái độ của HS với hình

thức GDĐĐ HS ở trường THCS Bảo Khê 52

Bảng 2.11 : Thực trạng sử dụng Phương pháp GDĐĐ HS (Theo ý

kiến học sinh ) 55 Bảng 2.12: Nhận xét của Giáo viên và Cán bộ QLGD về sự cần

thiết tham gia các lực lượng trong GDĐĐ HS 56 Bảng 2.13: Phối hợp của phụ huynh HS với các lực lượng khi

GDĐĐ HS 57 Bảng 2.14 Thực trạng kiểm tra đánh giá GDĐĐ HS 58 Bảng 3.1 : Kết quả khảo nghiệm các biện pháp GDĐĐ HS 82

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang Biểu đồ 2.1 Nhận thức của giáo viên và Cán bộ QLGD về tầm quan

trọng của hoạt động GDĐĐ HS 42 Biểu đồ 2.2 Nhận thức của Phụ huynh HS và Cán bộ cộng đồng về

GDĐĐ 45 Biểu đồ 2.3 Thực trạng xây dựng kế hoạch GDĐĐ HS 47 Biểu đồ 2.4 Thực trạng sử dụng phương pháp GDĐĐ HS 55

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục nói chung, GDĐĐ nói riêng góp phần hình thành nhận thức, thái độ tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen cho HS Đối với HS thì việc hình thành năng lực cá nhân, thái độ ứng xử và thói quen là vô cùng quan trọng, đây là cơ sở để hình thành nhân cách của con người

Hội nghị lần II của Ban Chấp Hành Trung ương khóa VIII đã khẳng

định“Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển

mạnh, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh

và bền vững để thực hiện mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” Để cá nhân phát triển toàn diện, chúng ta cần phải chú ý phát triển

cá nhân cả về trí tuệ và đạo đức Đại hội khoá X Đảng cộng sản Việt Nam

nhận định: “Hiện nay tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự

gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ”

GDĐĐ cho HS trong trường THCS nhằm mục đích hình thành nhân cách cho HS, cung cấp cho HS những tri thức cơ bản về phẩm chất đạo đức

và chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó giúp các em hình thành niềm tin đạo đức Đức và tài là hai mặt cơ bản của nhân cách Nhiều quan điểm cho rằng đạo đức là gốc của nhân cách, vì thế “ Tiên học lễ, hậu học văn ” hoặc như

Hồ Chí Minh nói: “ Đạo đức là cái gốc của nhân cách, người thành đạt trong

học thức mà không thành đạt trong đạo đức thì coi như không thành đạt .”

GDĐĐ là một phần quan trọng không thể thiếu trong hoạt động GD, như Bác

Hồ đã nói “ Có tài mà không có đức là người vô dụng ” hoặc trong luận ngữ của Khổng Tử khẳng định : “ Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo ” và nhiều nhà hiền triết đã nhấn mạnh “ Con người muốn trở thành người cần phải có GD ” Vì vậy, việc quan tâm tới công tác QL và GDĐĐ trong nhà trường là một việc làm cần thiết

Qua hơn 25 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu về mặt kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên Song mặt

Trang 12

trái của nó không phải là ít Cơ chế thị trường đã làm thay đổi đi phần nào

thuần phong, mỹ tục của dân tộc; đặc biệt nó đã len lỏi vào lối sống, phong

cách, quan điểm và tư tưởng của thế hệ trẻ, làm cho đạo đức của nhiều trẻ bị

sa sút nghiêm trọng như có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài bão, lập

thân, lập nghiệp Mặt khác những tiêu cực trong thi cử, bằng cấp, chạy theo

thành tích đã làm cho một số trường nặng về dạy chữ hơn là dạy người,

những tiêu cực trong dạy thêm và học thêm làm cho tình cảm thầy và trò bị

tổn thương, truyền thống tôn sự trọng đạo của dân tộc bị mai một dần

Trường THCS Bảo Khê là một trường sát nhập vào thành phố Hưng

Yên từ năm 2002, cuộc sống đô thị đã làm thay đổi bộ mặt quê hương, nó chi

phối tới cuộc sống của mỗi gia đình và con em trên địa phương, làm cho đạo

đức của HS có phần bị sa sút, ảnh hưởng rất lớn tới nề nếp sinh hoạt của nhà

trường Việc GDĐĐ cho HS nhà trường vẫn còn những hạn chế và tồn tại

Các nhà QLGD cần nhận thức sâu sắc về vấn đề này đặc biệt là việc nghiên

cứu quản lý GDĐĐ cho HS trên địa bàn thành phố

Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm để rút

ra những kết luận khoa học về việc nâng cao hiệu quả QL GDĐĐ HS THCS

trên địa bàn thành phố Hưng Yên Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài :“Biện pháp

quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trường Trung học cơ sở Bảo

Khê thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay” làm đề

tài nghiên cứu luận văn của mình, với mong muốn góp phần thiết thực nâng

cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh trong giai đoạn hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng QL hoạt động

GDĐĐ HS truờng THCS Bảo Khê, Thành Phố Hưng Yên, luận văn đề xuất

một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GDĐĐ HS

trường THCS Bảo khê thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn

hiện nay

Trang 13

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về GDĐĐ và QL hoạt động GDĐĐ HS

- Khảo sát đánh giá thực tra ̣ng viê ̣c QL hoạt động GDĐĐ HS trường THCS Bảo Khê thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên hiện nay

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL hoạt động GDĐĐ HS THCS hiện nay

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động GDĐĐ HS truờng THCS Bảo Khê, Thành Phố Hưng Yên

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp QL hoạt động GDĐĐ HS trường THCS Bảo Khê – Thành phố Hưng Yên

5 Giả thuyết khoa học

Ở một số bộ phận HS THCS hiện nay có những biểu hiện không lành mạnh do công tác GDĐĐ còn nhiều thiếu sót, trong đó việc QL hoạt động GDĐĐ HS trường THCS Bảo Khê còn chưa khoa học, bất cập với thực tiễn Nếu đề xuất được các biện pháp QL hoạt động GDĐĐ HS phù hợp sẽ góp phần xây dựng môi trường tốt, cải thiện và nâng cao hiệu quả GDĐĐ HS

trong giai đoạn hiện nay

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu 190 HS khối 8,9 truờng THCS Bảo Khê

- Thời gian: từ tháng 9/2012 - 12/2013

7 Ý nghĩa khoa học của đề tài

7.1 Về lý luận

Luận văn làm sáng tỏ cơ sở khoa học và hệ thống hoá cơ sở lý luận của

QL hoạt động GDĐĐ cho HS truờng THCS

Trang 14

7.2 Về thực tiễn

Đánh giá thực trạng của việc QL hoạt động GDĐĐ cho HS truờng THCS Bảo Khê - Thành phố Hưng Yên Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo giúp các trường THCS có biện pháp QL phù hợp nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Nam nói chung, GDĐĐ nói riêng ở trường THCS

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu tài liệu, văn bản liên quan đến đề tài

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

8.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin, dữ liệu

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

- Phương pháp sử dụng toán thống kê, sơ đồ hoá…

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận QL hoạt động GDĐĐ HS THCS

Chương 2: Thực trạng QL hoạt động GDĐĐ HS trường THCS Bảo Khê, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên

Chương 3: Biện pháp QL hoạt động GDĐĐ HS trường THCS Bảo Khê - Thành phố Hưng Yên - Tỉnh Hưng Yên

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý giáo dục đạo đức ở trường trung học cơ sở

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Theo bách khoa toàn thư Triết học Stanfor, “ Đạo đức ” là “ Các quy tắc hành xử được một xã hội thống nhất và chấp nhận, và đóng vai trò hướng dẫn hành vi cho tất cả thành viên trong xã hội đó ”

Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử ( 551 – 479 – TCN ) trong các tác phẩm: “ Dịch , Thi , Thư , Lễ , Nhạc Xuân Thu ” rất xem trọng việc GDĐĐ Trung Quốc từ thời cổ đại vấn đề đạo đức và GDĐĐ được đặt lên hàng đầu trong triết lý nhân sinh Khổng Tử (551-479) người đại diện của Nho giáo đã chuyên tâm nghiên cứu về con người và đạo đức Quan điểm triết học của Khổng Tử hướng về mục đích tối thượng là việc GDĐĐ cho con người và khẳng định: “Cũng như viên ngọc dù nó là một tài sản quý hiếm nhưng cũng phải mài dũa thì mới trở thành đồ dùng có giá trị Con người nếu không được GD thì cũng không biết đạo lý làm người” (Ngọc bất trác bất thành khí Nhân bất học bất tri đạo) [7, tr.11] Theo ông người quân tử phải có nhân, lễ, nghĩa, trí tín và xã hội (nhà vua và triều đình phong kiến) phải chú trọng đến những đức tính đó cho con người Theo giáo sư Vũ Khiêu thì: “Xưa nay chưa có một học thuyết đạo đức nào lại có tác dụng lâu bền đến như thế” [33, tr.26]

Ở phương Tây, nhà triết học Socrates ( 470 – 399 – TCN ) Đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết , do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức

Aristoste ( 384 – 322 – TCN ) cho rằng không phải hy vọng vào thượng

đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo

Trang 16

đức Nhiều triết gia và các nhà sư phạm đã dày công nghiên cứu về đạo đức

và GDĐĐ, Coomenky (1592 - 1670), nhà sư phạm lỗi lạc của phương Tây thế

kỷ XVII đã cống hiến cả cuộc đời mình để nghiên cứu về GD nói chung và GDĐĐ nói riêng Đóng góp của ông cho nhân loại chính là tấm gương về đạo đức của cuộc đời mình là những phương pháp GDĐĐ cho người thầy mà ông

đã khẳng định “Nếu anh không như một người cha thì cũng không thể là một người thầy” [8, tr.85]

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Luật giáo dục năm 2005 nêu rõ mục tiêu GD được xác định: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [24]

Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội được hình thành rất sớm trong lịch sử Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, đạo đức phản ánh sự tồn tại và phát triển của tồn tại xã hội Đạo đức có ý nghĩa và có vai trò quan trọng trong sự phát triển nhân cách và thiết lập tới quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa các tập thể và quốc gia, đó là quy luật phát triển của con người và xã hội Chính vì vậy, đã từ lâu nhân dân lao động đặc biệt các học giả đã có nhiều ý kiến về vấn đề đạo đức và GDĐĐ Nói về vai trò của đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng”, Người thường nói có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì có khi hại nước, hại dân

Một trong những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lý luận “đạo đức cách mạng” mà toàn Đảng, toàn dân đang có phong trào thi đua “Học tập

và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Phải khẳng định lý luận về đạo đức cách mạng của Người là những cống hiến vĩ đại, đặt nền móng cho phương pháp luận để nghiên cứu và tổ chức hoạt động GDĐĐ cho toàn Đảng, toàn dân, cho việc thực hiện mục tiêu GDĐĐ của con người Việt Nam thời kỳ

Trang 17

công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, trong đó có GDĐĐ HS trong các trường học

Vũ Khiêu một trong các tác giả tiêu biểu với tư cách là nhà đạo đức học, ông đã làm sâu sắc nguồn gốc của đạo đức xã hội chủ nghĩa, bản chất và đặc điểm của đạo đức xã hội chủ nghĩa và các con đường hình thành, phát triển của đạo đức XHCN

Các tác giả Nguyễn Lân; Hà Thế Ngữ; Nguyễn Thị Đoan; Nguyễn Khánh đã viết giáo trình về lý luận GDĐĐ, GDĐĐ cho HS, sinh viên, GD gia đình từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX Trong những công trình nghiên cứu của các cán bộ nghiên cứu ở thời kỳ này cũng đã bàn về mục tiêu, nội dung, phương pháp, các nguyên tắc của quá trình GDĐĐ, đã quan tâm tới đặc điểm của GDĐĐ và xác định sự cần thiết kết hợp các lực lượng trong GD (thường gọi là ba kết hợp, đó là kết hợp gia đình, nhà trường, xã hội), phân tích vai trò của Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên tiền phong trong hoạt động GDĐĐ

Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) và phương hướng phát triển GD đến năm 2020 khi nói về vấn đề yếu kém của GD và ĐT đã nêu : “Việc GD tư tưởng đạo đức, lối sống, về truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc, về Đảng, về quyền lợi và nghĩa vụ công dân cho HS, sinh viên chưa được chú ý đúng mức

cả về nội dung và phương pháp; GD phổ thông mới chỉ quan tâm nhiều đến

“dạy chữ”, chưa quan tâm đúng mức đến “dạy người”, kỹ năng sống và “dạy nghề” cho thanh thiếu niên [11]

Nghiên cứu về QLGD luôn được các học giả trong và ngoài ngành GD quan tâm, các công trình nghiên cứu GD của các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam về GD như: “Cơ sở khoa học QLGD” của tác giả Nguyễn Minh Đạo,

“Những khái niệm cơ bản về QLGD” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “QL, QLGD tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc Bảo, “Lý luận QLGD” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “Những giá trị về tổ chức QL” của tác giả Vũ Văn Tảo, thực sự là những công trình nghiên cứu đầu ngành và

Trang 18

căn bản về QLGD, mang lại những hiệu quả nhất định cho công tác QLGD nói chung và công tác trong QL nhà trường nói riêng

Một trong những công trình nghiên cứu GDĐĐ cho HS phổ thông có giá trị thức tiễn nhất là công trình nghiên cứu xây dựng chương trình GD thể hiện qua môn “Đạo đức” ở tiểu học, “Giáo dục công dân” ở THCS, trung học phổ thông và thông qua chương trình hoạt động GD ngoài giờ lên lớp được thiết kế hệ thống từ lớp 1 đến lớp 12 do Hà Nhật Thăng làm trưởng tiểu ban xây dựng

Lần đầu tiên trong chương trình GD phổ thông, vấn đề GDĐĐ HS phổ thông được xây dựng một cách hệ thống, liên thông, đồng tâm phát triển giữa

ba cấp học, bao gồm:

Mục tiêu GDĐĐ

- Hệ thống chuẩn mức đạo đức được thể hiện qua hệ thống bài (từ lớp một đến lớp mười hai); dựa trên năm quan hệ của chủ thể (với bản thân, người khác, công việc, môi sinh, và lý tưởng cộng đồng)

- Xác định những phương pháp dạy học phù hợp với mục tiêu, nội dung GDĐĐ cho HS phổ thông

- Xây dựng được một hệ thống đồ dùng dạy học cho mỗi bài

Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu của “ Trung tâm nghiên cứu GDĐĐ công dân ” của viện khoa học GD Việt Nam, một số luận văn, luận án … những công trình trên chủ yếu tập trung phân tích ý nghĩa, yêu cầu của việc liên kết các LLXH nhằm thực hiện chương trình hoạt động GD ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông, ở một góc độ nào đó các công trình ấy đã đề cặp đến vấn đề QL hoạt động GDĐĐ nhưng chỉ ở một vài khía cạnh như QL sự phối hợp giữa các LLXH mà chưa đưa ra cụ thể việc xác định biện pháp QL hoạt động GDĐĐ HS THCS

Như vậy, các tác giả trong và ngoài nước đã cung cấp những vấn đề lý luận xoay quanh vấn đề GDĐĐ Tuy nhiên các tác giả chỉ mới đề cập đến những khái niệm chung nhất của GDĐĐ và những đặc điểm GDĐĐ mà chưa

Trang 19

đề cập triệt để về các biện pháp GDĐĐ Có một số tác giả đã nghiên cứu QL GDĐĐ HS THCS nhưng họ chưa nghiên cứu sâu, nghiên cứu trên địa bàn có những đặc trưng khác địa bàn xã Bảo Khê, thành phố Hưng Yên Do vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này với mong muốn có thể góp phần lý luận mới vào hệ thống lý luận của vấn đề GDĐĐ làm tư liệu để cho các trường THCS trên địa bàn thành phố Hưng Yên nghiên cứu và áp dụng

1.2 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài

1.2.1 Quản lý

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về QL Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về QL

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, 1998, thuật ngữ

QL được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển của một đơn vị, cơ quan”

Từ điển tiếng Việt “QL là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” Trong khía cạnh khác “QL là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [15,tr 326]

Thuật ngữ QL (từ Hán Việt) nêu bản chất của hoạt động này trong thực tiễn Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự trông coi , giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đưa vào thế hệ “phát triển”

Theo C.Marx: “QL là lao động điều khiển lao động”.[15, tr.326] C.Marx đã coi việc xuất hiện QL như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại C.Marx đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [15, tr 326]

Trang 20

Theo W.Taylor (1856 – 1915) thì “QL là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm ,và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” Theo ông có bốn nguyên tắc QL khoa học:

1 Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hoàn thành;

2 Tuyển chọn người và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng phương pháp khoa học;

3 Người QL phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị QL để đảm bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn;

4 Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người QL và người bị QL [15, tr 327]

Theo Henry Fayol (1841 – 1925) thì “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mặt lưới dệt nên mục tiêu của

tổ chức”[5, tr 10] Ông đã đưa ra mười bốn nguyên tắc trong QL là: Phân công lao động, quyền hạn, kỷ luật, thống nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hoá, sợi dây quyền hạn, trật tự, bình đẳng, ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội …[15, tr 327]

H.Koontz thì lại khẳng định: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của QL là hình thành một môi trường mà trong

đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [15, tr 327- 328]

+ Theo tác giả Trần Kiểm: “QL nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [21, tr 32]

Trang 21

+ Theo tác giả Trần Đình Nghiêm: “QL là một quá trình dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển

hệ thống đó sang một hệ thống mới” [26]

+ Theo Nguyễn Văn Lê: “QL là một hệ thống tác động khoa học, nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống” [22] + Theo Phạm Viết Vượng: “QL là một quá trình tác động có định hướng,

có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”, “QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [33, tr.24]

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh ta có thể thấy người thể hiện một quan điểm khoa học, rõ ràng minh bạch: “Một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh là nhà nước được cai trị bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế” và “Trong một nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi với nhau, nương tựa vào nhau ” Đồng thời “Xây dựng một nền pháp chế XHCN đảm bảo được việc thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [25, tr 22]

Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển

nhất về QL là: tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người

QL) đến khách thể QL (người bị QL ) – trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đuợc mục đích của tổ chức [6, tr 1]

Cũng theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, hiện nay, hoạt động QL thường được định nghĩa rõ hơn: QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa,

tổ chức, chỉ đạo, (lãnh đạo) và kiểm tra [6, tr 1]Từ quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể khái quát lại: “ QL là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành

Trang 22

động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được mục tiêu đề

ra một cách hiệu quả nhất ” [15, tr 328]

Theo chúng tôi: QL là cách thức tổ chức, điều chỉnh, điều khiến của

nhà QL với đối tượng QL với những phương pháp tác động sao cho hoạt động QL đạt hiệu quả.”

Có bốn chức năng QL cơ bản: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra

Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích

đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó

Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành

viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức

Lãnh đạo (chỉ đạo): Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người

khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức

Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng của QL, thông qua đó một cá

nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động

và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết

Tóm lại, có thể nói QL là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có định hướng của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, của hoàn cảnh QL là sự điều khiển có tổ chức và thỏa mãn yêu cầu, mục tiêu đã đề ra, chứ không mang tính áp đặt, cai trị Tùy theo những trường hợp cụ thể mà có những chính sách, biện pháp QL cứng rắn hay mềm mỏng phù hợp nhất để luôn đạt được kết quả như mong muốn đồng thời phải làm cho tổ chức ngày càng phát triển

1.2.2 Quản lý giáo dục

1.2.2.1 Khái niệm

Trang 23

GD là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là một quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người GD

có vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là sản phẩm xã hội mà còn là nhân tố tích cực, động lực thúc đẩy quá trình phát triển của xã hội

Trong cuốn sách nổi tiếng “ Con người trong QL xã hội ” A.Gafanaxep (viện sĩ Liên Xô) chia xã hội thành ba lĩnh vực: “chính trị - xã hội”, “văn hóa

- tư tưởng” và “kinh tế” và từ đó có ba loại QL: “ QL chính trị - xã hội ”, “

QL văn hóa - tư tưởng ” và “ QL kinh tế ” QLGD nằm trong QL “ văn hóa -

tư tưởng ” [1, tr.97]

P.V Khuđominxky cho rằng: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất

cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD – ĐT đến trường học) nhằm đảm bảo việc GD cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật về GD, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em” [15, tr 341]

Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyễn Quốc Chí thì: “ QLGD là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp QLGD tác động đến toàn bộ hệ thống GD nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” [6, tr.12]

QLGD theo hướng tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển GD thường xuyên, công tác

GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là GD thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống GD quốc dân, các trường trong hệ thống GD quốc dân [19, tr 65]

Quan niệm của Đặng Quốc Bảo: " QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội" [3, tr.10]

Trang 24

QLGD là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể QL

ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng [19, tr 65] Theo Nguyễn Ngọc Quang, QLGD dục là hệ thống tác động có mục đích,

có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, GD thế hệ trẻ, đưa hệ GD đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [26, tr 341]

Từ những quan điểm trên, theo chúng tôi có thể hiểu: QLGD là quá

trình tác động có tổ chức và mang tính hệ thống của chủ thể QL lên đối tượng

QL nhằm đưa hoạt động của mỗi cơ sở GD cũng như toàn bộ hệ thống GD đạt tới mục tiêu xác định Đó là những tác động phù hợp quy luật khách quan, hướng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội

1.2.2.2 Đặc điểm của quản lý giáo dục

Công trình nghiên cứu về con người thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá của hội đồng lý luận Trung ương do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm Chương trình mang mã số KHXH – 04 – 04 , kết quả nghiên cứu tập thể tác giả đề xuất “Những giải pháp GDĐĐ cho con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hoá”, tập thể tác giả xác định 06 nhóm giải pháp:

- Tiếp tục đổi mới nội dung hình thức GDĐĐ trong các trường học

- Củng cố, tăng cường GD ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với GD nhà trường trong việc GDĐĐ cho mọi người (không chỉ thế hệ trẻ)

- Kết hợp chặt chẽ việc GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm minh pháp luật của các cơ quan thi hành pháp luật

- Tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho các cán bộ, đảng viên, cho thầy trò trong các trường học

Trang 25

- Xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ

- Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người

Theo quan điểm của tập thể cán bộ nghiên cứu của chương trình nói trên, chúng ta thấy việc QL GDĐĐ được hiểu là những biện pháp đan xen trong quá trình GDĐĐ, nổi bật nhất là giải pháp thứ năm [18, tr 171]

1.2.3 Quản lý nhà trường

Trong hệ thống GD, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu Đa phần các hoạt động GD đều được thực hiện trong nhà trường Nhà trường là “tế bào chủ chốt” của hệ thống GD từ Trung ương đến địa phương Theo đó quan niệm QLGD luôn đi kèm với quan niệm QLNT Các nội dung QLGD luôn gắn liền với QLNT QLNT có thể được coi như là sự cụ thể hóa công tác QLGD

Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “ QLNT là hệ thống những tác động

có định hướng của hiệu trưởng (the principal) đến con người (giáo viên, cán

bộ nhân viên và HS), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, vv ) hợp quy luật (quy luật QL, quy luật GD, quy luật tâm lý, quy luật kinh

tế, quy luật xã hội, ) nhằm đạt mục tiêu GD ”.[23, tr.39]

Theo Đặng Quốc Bảo, khi nghiên cứu về QLNT, quan niệm: " QLNT

là QL một thiết chế vừa có tính sư phạm, vừa có tính kinh tế; trong đó nhà trường trung học phải xác định sứ mệnh là đào tạo HS trở thành người lớn có trách nhiệm tự lập với ba giấy thông hành đi vào đời đó là: giấy thông hành học vấn, giấy thông hành kỹ thuật nghề nghiệp và giấy thông hành kinh doanh" [3, tr.19]

Theo Phạm Minh Hạc: “QLNT là thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD Mục tiêu đào tạo đối với ngành

GD, với thế hệ trẻ và với từng HS ” [17, tr.30]

Trang 26

Theo Nguyễn Ngọc Quang: QLNT là “Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp ) của chủ thể QL đến tập thể giáo viên, HS và các cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ

do Nhà nước đầu tư, LLXH đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [28, tr.10]

QLNT khác với QL xã hội khác, nó được quy định với bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học và quá trình GD, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo chủ động vừa là đối tượng QL Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trường là nhân cách người HS được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội QLNT là toàn diện với mục đích là để hình thành nhân cách HS Trường học là một thành tố của hệ thống GD nên QL trường học cũng được hiểu như một bộ phận của QLGD Thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới QL được GD, tức là cụ thể hóa đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước” [16, tr.18]

Như vậy QLNT chính là QLGD trong một phạm vi xác định đó là đơn

vị GD là nhà trường Do vậy, QLNT là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo

+ Đối tượng của QLNT:

Trong thực tế cho thấy đối tượng của QLNT thường gồm: Việc xây dựng và thực hiện nội dung dạy học; hoạt động dạy của giáo viên, biên soạn giáo trình, giáo án, chuẩn bị đồ dùng dạy học, lên lớp, giúp đỡ kiểm tra HS -

SV học tập; hoạt động học tập của HS - SV (nề nếp, thái độ học tập, kết quả học tập); việc sử dụng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy học

+ Mục đích của QLNT:

Trang 27

“QLNT là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với thế hệ trẻ và đối với từng HS”; Mục đích của QLNT

là nhằm làm cho quá trình giáo dục và đào tạo vận hành một cách tối ưu tới mục tiêu dự kiến [21, tr.26]

QLNT chính là QL hoạt động dạy học của nhà trường nhằm đưa nhà trường đạt được hiệu suất cao nhất, chất luợng cao nhất với mục đích cuối cùng là làm sao đáp ứng cao nhất nhu cầu học tập của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển nhân cách toàn diện cho người học ở mọi cơ sở GD, đào tạo ra những công dân có ích cho xã hội

Trong tác phẩm Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực thế kỉ XXI,

Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Trần Khánh Đức (2010) đã viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu QLNT (công việc nhà trường) là một hệ thống Xã hội – Sư phạm chuyên biệt Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể QL đến tất

cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội – kinh tế, tổ chức – sư phạm của quá trình dạy học và GD thế hệ đang trưởng thành” [15, tr 373]

Trong QL và thực tiễn QLNT gồm hai loại QL:

Một là: QL của chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm định hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển (các cấp QLNT và sự hợp tác, giám sát của xã hội/cộng đồng)

Hai là: QL của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổ chức các chủ trương, chính sách GD thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo

và kiểm tra để đưa nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra (thực hiện các chức năng QL của một tổ chức)

Mục tiêu đề ra của nhà trường được cụ thể hoá trong kế hoạch năm học Hiện nay các nhà QL trường học quan tâm nhiều đến các thành tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức QL và kết quả Đó là các thành tố trung tâm

Trang 28

của quá trình sư phạm, nếu QL và tác động hợp quy luật sẽ đảm bảo một chất lượng tốt trong nhà trường

1.2.4 Đạo đức

1.2.4.1 Khái niệm

Theo quan điểm nho giáo, đạo đức là vấn đề cơ bản, bao trùm trong

mọi lĩnh vực của cuộc sống con người từ chính trị tư tưởng kinh tế, văn hóa,

xã hội từ tổ chức nhà nước đến từng cá nhân Đạo đức theo nho giáo bắt đầu

từ khái niệm Đạo: đạo của trời, đất, muôn vật và đạo người, về mệnh trời và bản tính tự nhiên của con người Đức gắn liền với đạo Đạo là cái phải noi theo Đức là cái do noi theo mà có

“Đạo đức là quy tắc chung trong xã hội và hành vi của con người, quy định những nghĩa vụ của người này đối với người khác và đối với xã hội Đạo

đức là hình thái của ý thức xã hội…” Chủ nghĩa Mác – Lê nin xây dựng quan

điểm về đạo đức và những yêu cầu của đạo đức không phải trên những định nghĩa chung và trừu tượng mà trên những điều kiện lịch sử cụ thể Không có đạo đức nào ở ngoài xã hội loài người Trong một xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp Những hình thức kết cấu xã hội và cơ sở kinh tế mà biến đổi thì đạo đức cũng biến đổi theo” [30, tr 7]

Bàn về đạo đức không thể không đề cập đến quan niệm đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh Người quan niệm đạo đức là ”nhân, nghĩa, dũng, liêm” Đó

là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, đạo đức vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người Theo người, đức là sự thống nhất về tư tưởng và phong cách sống

Theo Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng trình bày trong cuốn Đạo đức học “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan

hệ với con người, giữa cá nhân và xã hội…”[30 tr 7]

Trang 29

Phạm Minh Hạc viết: “Đạo đức, theo nghĩa hẹp, là luân lý, những quy định, những chuẩn mực ứng trong quan hệ của con người Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống”

Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách đã được xã hội hoá Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn trong cuộc sống Khi thừa nhận đạo đức

là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại” [18, tr.153]

Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức nhưng tôi đồng

ý với định nghĩa về đạo đức như sau: ”Đạo đức là một hiện tượng xã hội,

phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống con người; đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thể hay toàn xã hội.”

1.2.4.2 Một số phạm trù đạo đức cơ bản

Các phạm trù đạo đức cơ bản bao gồm : phạm trù hạnh phúc, nghĩa vụ, lương tâm, thiện và ác Các phạm trù cơ bản của đạo đức có những đặc điểm riêng biệt quy định nó về mặt nguồn gốc, quá trình hình thành, sự biến đổi không giống với những hiện tượng khác trong xã hội loài người Trong đó:

- Nghĩa vụ: là sự phản ánh những mỗi quan hệ đạo đức, đặc biệt giữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân với xã hội Nghĩa vụ là một trong những

Trang 30

nét đặc trưng của đời sống con người, khác với con vật chỉ mang tính chất bản năng

- Lương tâm: Theo quan điểm biện chứng của đạo đức học thì lương tâm là ý thức trách nhiệm và tình cảm đạo đức của cá nhân về sự tự đánh giá những hành vi, cách cư xử của mình trong đời sống xã hội Sự hình thành lương tâm là quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao trong quá trình lao động sản xuất và giao tiếp xã hội

- Thiện và Ác là cặp phạm trù đối lập nhau trong mọi thời đại, là thước

đo đời sống đạo đức của mọi cá nhân Thiện và Ác cũng là phạm trù cơ bản làm thước đo đời sống đạo đức của con người

- Hạnh phúc: Theo nghĩa rộng là sự đánh giá chung nhất đời sống của con người là sự tổng hợp những yếu tố xã hội của con người có tính lịch sử xã hội hạnh phúc đích thực của con người là sống và hoạt động để tạo ra nhiều giá trị vật chất, tinh thần nhằm thỏa mãn các nhu cầu xã hội, là cảm xúc vui sướng khi thỏa mãn nhu cầu đạo đức cao cả

Hạnh phúc theo nghĩa hẹp là cảm xúc vui sướng , hài lòng của con người trong cuộc sống khi được đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu chân chính, lành mạnh về vật chất và tinh thần Hạnh phúc cá nhân là hạnh phúc gắn với từng cá nhân cụ thể Hạnh phúc xã hội là hạnh phúc của tất cả mọi người trong xã hội

1.2.4.3 Chức năng của đạo đức

- Chức năng điều chỉnh hành vi : Sự điều chỉnh hành vi làm cá nhân và

xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng Loài người sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong đó

có chính trị, pháp quyền và đạo đức… Đạo đức đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đa đối với các hành vi cá nhân

- Chức năng GD: GDĐĐ góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển nhân cách cho HS Cùng với quá trình GD thì quá trình tự GD nhờ vào hoạt động và giao lưu tích cực, học sinh mới hiểu được vai trò to lớn của

Trang 31

lương tâm, nghĩa vụ, ý thức, danh dự và các phẩm chất đạo đức cần thiết của

cá nhân mình đối với cộng đồng và tập thể

- Chức năng nhận thức: Đạo đức là phương thức đặc biệt của sự chiếm lĩnh thế giới con người Nếu xét dưới góc độ bản thể luận, đạo đức là hệ thống tinh thần, được quy định bởi tồn tại xã hội Nhưng xét dưới góc độ xã hội học thì hệ thống tinh thần (nhận thức đạo đức) không tách rời thực tiễn – hành động của con người Do vậy, đạo đức là hiện tượng xã hội vừa mang tính tinh thần vừa mang tính hành động hiện thực

1.2.5 Giáo dục đạo đức

1.2.5.1 Khái niệm

Theo Phạm Viết Vượng thì “GDĐĐ là quá trình tác động tới người học

để hình thành cho họ ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức, đích cuối cùng và quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức” [32, tr.16]

GDĐĐ về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được GD GDĐĐ có mối quan hệ chặt chẽ với với GD chính trị - tư tưởng GDĐĐ là quá trình tác động tới HS của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và xây dựng thể hiện được những thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội

GDĐĐ cho HS THCS là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm giúp cho nhân cách của mỗi HS được phát triển toàn diện, có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ, hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin, thói quen đạo đức cho HS

GDĐĐ trong trường THCS là một bộ phận của quá trình GD tổng thể

có quan hệ biện chứng với các bộ phận khác như GD trí tuệ, GD thể mỹ, GD thể chất, GD lao động và GD hướng nghiệp giúp cho HS hình thành và phát triển nhân cách toàn diện

Trang 32

Nhiệm vụ GDĐĐ là làm sao cho mỗi con người được GD nhanh chóng tiếp cận được với mục tiêu, do vậy GD phải tăng cường GD ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức, khơi dậy ở HS những rung động, cảm xúc với hiện thực xung quanh biết yêu thương với những thái độ và hành vi đúng đắn, biết phản đối, căm ghét những hiện tượng tiêu cực, vô đạo đức, vô lương tâm, làm phương hại đến uy tín, danh dự cá nhân và tập thể

Theo chúng tôi, GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, kế hoạch đến

học sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ của cá nhân 1.2.5.2 Về mục đích GDĐĐ cho HS ở trường THCS

Cung cấp cho HS những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó giúp các em hình thành niềm tin đạo đức

Khơi dậy ở HS những rung động, cảm xúc đối với những hiện thực xung quanh, làm cho chúng biết yêu, biết ghét rõ ràng và có thái độ đúng đắn với các hiện tượng phức tạp trong xã hội và tập thể Thái độ thờ ơ, lãnh đạm

“sản phẩm” xấu không mong muốn của GD tình cảm GD thái độ, tình cảm cho HS THCS là bồi dưỡng cho các em tình cảm đạo đức tích cực, bên vững

và các phẩm chất ý trí, tình cảm tích cực được hình hành trên cơ sở đúng đắn

và được củng cố, khẳng định qua hành vi, ngược lại nó có tác dụng thúc đẩy tạo động cơ cho việc nhận thức chuẩn mực và thực hiện hành vi đạo đức

GD cho HS hành vi thói quen đạo đức: Là tổ chức cho HS lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động đạo đức đúng đắn và từ đó có thói quen đạo đức bên vững

1.2.5.3 Nội dung giáo dục đạo đức

Về nội dung GDĐĐ là GD ý thức, GD tình cảm và GD hành vi, trang

bị cho HS những hiểu biết, niềm tin về chuẩn mực và những quy tắc ứng xử trong cuộc sống, trong học tập và lao động, về nghĩa vụ công dân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 33

Nội dung GD có quan hệ chặt chẽ với nhu cầu đạo đức xã hội, được

đề ra cho người công dân, được đề ra trong xã hội nhất định

1.2.5.4 Phương pháp giáo dục đạo đức

GDĐĐ thông qua các môn học

GDĐĐ thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp

GDĐĐ thông qua các hoạt động đoàn thể, như hoạt động Đoàn đội ở

nhà trường và kết hợp với hoạt động đoàn đội ở địa phương

Tóm lại, GDĐĐ cho HS THCS ngày nay càng quan trọng, vì định

hướng những giá trị đạo đức ở lứa tuổi này sẽ là nền tảng cho sự phát triển

nhân cách ở những lứa tuổi tiếp theo một cách bền vững Hơn ai hết là thầy,

cô giáo, là cán bộ QL nhà trường hiện nay phải nắm vững và vận dụng quy

luật này cho thật hợp lý, biết sáng tạo những biện pháp QL nhằm xây dựng

môi trường, phối hợp các LLXH thực hiện mục tiêu, nội dung GDĐĐ nói

riêng và mục tiêu GD phổ thông nói chung

1.2.6 Quản lý giáo dục đạo đức

Qua nghiên cứu các khái niệm đạo đức, QL, GDĐĐ , có thê hiểu: QL

GDĐĐ là một hoạt động nhằm xây dựng một cơ cấu tổ chức và xác định một

cơ chế chỉ đạo phối hợp hoạt động của tất cả các lực lượng trong và ngoài

ngành GD (trong và ngoài trường) nhằm thống nhất nhận thức, phát huy và

sử dụng hợp lý mọi tiềm năng của xã hội (bao gồm tiềm năng về người, ngân

sách, cơ sở vật chất, các giá trị di sản văn hoá và tinh thần…); xây dựng các

loại hình hoạt động phù hợp với điều kiện cụ thể để thực hiện mục tiêu

GDĐĐ (phát triển nhân cách) đối với các đối tượng xã hội khác nhau (phù

hợp với lứa tuổi, phù hợp với ngành nghề và vị thế xã hội)

1.2.7 Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức

Biện pháp QL hoạt động GDĐĐ là cách làm, cách thức tổ chức điều

hành những hoạt động nhằm xây dựng một cơ cấu tổ chức và xác định một cơ

chế chỉ đạo phối hợp hoạt động của tất cả các lực lượng trong và ngoài

ngành GD ( trong và ngoài trường ) nhằm thống nhất nhận thức, phát huy và

Trang 34

sử dụng hợp lý mọi tiềm năng của xã hội, xây dựng các loại hình, phương pháp hoạt động phù hợp với điều kiện cụ thể để thực hiện mục tiêu GDĐĐ đối với các đối tượng xã hội khác nhau

1.3 Vai trò của GDĐĐ đối với sự phát triển nhân cách của HS THCS trong giai đoạn hiện nay

Nguyễn Khắc Viện quan niệm: “Nhân cách là tổ hợp tất cả những gì hợp thành một con người, một cá nhân với bản sắc và cá tính rõ nét, với các đặc điểm thể chất (tạng), tài năng, phong cách, ý chí, đạo đức, vai trò xã hội Nhân cách là một cá nhân có ý thức về bản thân đã khẳng định được, giữ được phần nào tính nhất quán trong mọi hành vi” [2, tr 17]

Vì vậy, phát triển nhân cách là một trong những vấn đề rất quan trọng

Để có nhân cách tốt, phát triển toàn diện trước tiên cần phải GDĐĐ tốt cho

HS

1.3.1 Giáo dục đạo đức góp phần hình thành những giá trị cơ bản của nhân cách con người xã hội của mỗi thời kỳ lịch sử

Với HS THCS, chúng ta cần phải quan niệm cho đúng vị trí của họ với

tư cách là đối tượng, là chủ thể của quá trình GD nói chung, quá trình GDĐĐ nói riêng Ở lứa tuổi này, hầu hết các em đang ở một giai đoạn tâm lý nửa trẻ con nửa người lớn So với HS trung học phổ thông, thì nhiều mặt ở lứa tuổi này còn chưa phát triển và trưởng thành, tuy nhiên khả năng nhận thức những

sự vật hiện tượng xảy ra trong thế giới tự nhiên và xã hội được nâng lên, nhân sinh quan và thế giới quan của các em khá rõ nét

Thông qua hoạt động học tập, lao động, đặc biệt là giao lưu xã hội, các

em ngày càng có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống Điều đó giúp cho thanh niên khám phá bản thân, nhìn thấy cái "tôi" ngày càng đầy đủ hơn và đánh giá người khác cũng khách quan, chính xác hơn Một vấn đề cũng cần được quan tâm là tình bạn khác giới và tình yêu ban đầu xuất hiện của lứa tuổi HS THCS (ở lớp 8 - 9) Tình bạn khác giới đã thấy xuất hiện ở lứa tuổi này Các em trai

và gái đã bắt đầu có những thiện cảm chung chung đối với bạn mình, dần dần

Trang 35

dẫn tới sự quan tâm lẫn nhau, biểu hiện bằng những hành vi, lúc đầu còn vụng

về, lúng túng, bối rối, ngượng ngùng, e thẹn Tuy nhiên, nếu không được nhà trường, gia đình quan tâm GD một cách thường xuyên, đúng đắn thì tình bạn cùng giới và tình bạn khác giới của các em dễ bị phát triển lệch lạc: ăn chơi, đua đòi, tụ tập chán học, bỏ học, thậm chí một số em đã dẫn nhau đến con đường vi phạm pháp luật [9, tr 69 -74]

Mặt khác, các luồng văn hóa hiện đại của các nước phương Tây không phù hợp với lối sống Việt Nam, chưa được sàng lọc kỹ càng, cũng đang tác động mạnh mẽ đến đời sống của mọi người Trong đó, thanh niên HS THCS – lứa tuổi chưa phải là người lớn, nhưng cũng không còn là trẻ con, với một đời sống tâm lý vô cùng phức tạp, là bộ phận rất dễ bị ảnh hưởng Nhiều thanh thiếu niên, HS ăn chơi, đua đòi, bắt chước đời sống nước ngoài; buông thả trong tình yêu, trong cuộc sống dẫn đến nghiện ngập, trộm cắp, cờ bạc

Do vậy phải GD cho các em lối sống lành mạnh, ngăn ngừa những ảnh hưởng không lành mạnh của phim ảnh, các luồng văn hóa phản động, không phù hợp với bản sắc văn hóa Việt Nam

1.3.2 Giáo dục đạo đức góp phần xác định mục tiêu hành động của mỗi con người

Do đặc điểm tâm lý luôn hướng tới cái tốt đẹp nên con người nói chung luôn lấy những giá trị, những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của xã hội là mục tiêu cho cuộc sống, rèn luyện cho bản thân Đạo đức giúp cho mỗi người có chuẩn để lựa chọn giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu, giữa điều cần và nên làm với cái cần và nên tránh, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng, giữa bổn phận và quyền hạn, giữa cộng đồng nhỏ và dân tộc,…

Cơ sở để lựa chọn các giá trị đạo đức của một cá nhân phụ thuộc vào nhận thức về quyền lợi và vị trí của họ trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội Bắt đầu từ quyền lợi của cá nhân trong một cộng đồng trực tiếp, cá nhân

đó sống, hoạt động, gắn bó mật thiết với nhau như: gia đình, hàng xóm láng

Trang 36

giềng nơi ở, một tập thể lao động (cơ quan, xí nghiệp, lớp học, trường học, tổ chức đoàn thể xã hội như: Đảng, công đoàn, chi đoàn)…Vì vậy, phải lấy các chuẩn mực đạo đức nói chung của dân tộc và nhân loại làm định hướng chi phối hoạt động nhận thức, định hướng cho hoạt động giao lưu, học tập, lao động và hoạt động xã hội của mỗi cá nhân

Những chuẩn mực đạo đức xã hội luôn là chuẩn mực cho mỗi người nhận biết, xác định vị trí của bản thân trong quan hệ xã hội Những chuẩn mực đạo đức xã hội giúp cho mỗi người biết lựa chọn hợp lý cách giải quyết các mâu thuẫn, đặt ra các mục tiêu phù hợp với bản thân, từ đó có những hành động phù hợp, đạt hiệu quả

1.4 Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc QL GDĐĐ HS THCS

Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau:

Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn

Trang 37

Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập …còn quan hệ với bạn gái như trẻ con

Do thiếu kinh nghiệm và kĩ năng sống, do suy nghĩ còn nông cạn nên các em có thể có những hành vi bạo lực với người khác khi có mâu thuẫn, xung đột Một thực tế đang tồn tại khá phổ biến các hiện tượng HS THCS giải quyết mâu thuẫn với nhau bằng bạo lực, thậm chí các em nữ cũng tham gia

Vì vậy cần giúp các em thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực, mang tính xây dựng.[4, tr.104-105]

Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này

1.4.2 Yếu tố gia đình

Gia đình là nền tảng cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách của HS, gia đình là nơi sinh ra và nuôi dưỡng HS Môi trường GD của gia đình rất quan trọng, bởi vì đây là môi trường đầu tiên mà HS tiếp xúc và tiếp xúc rất thường xuyên Nếu ở lứa tuổi trẻ thơ gia đình GD đúng hướng sẽ giúp trẻ sớm trở thành những công dân hữu ích cho xã hội và ngược lại trong môi trường gia đình bất hòa, cha mẹ không quan tâm GD con cái sẽ ảnh hưởng lớn đến tâm lý phát triển nhân cách của HS

Trong gia đình, cha mẹ phải luôn nêu gương tốt cho các con về mọi mặt và luôn giành tình yêu thương cho con Tuy vậy, bố mẹ cũng không nên quá chiều, làm theo mọi ý muốn của đứa trẻ

Phụ huynh cần động viên, khuyến khích khi con làm việc tốt đồng thời nghiêm khắc phê bình, giải thích khi con cái trong gia đình có sai lầm, khuyết điểm

Trang 38

1.4.3 Yếu tố nhà trường

Nhà trường là một thiết chế xã hội, có chức năng tổ chức GD thực hiện những yêu cầu của xã hội đối với mỗi người, trước hết là thế hệ HS, sinh viên nhằm thực hiện “đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu nhân lực của nền kinh tế” để họ trở thành những con người toàn diện, biết sống và biết tôn trọng người khác

Nhờ có GD nhà trường mà HS được trang bị một cách hệ thống kiến thức về các lĩnh vực của tri thức loài người, đồng thời GD nhà trường là người tổ chức khoa học, hệ thống sự phát triển về thể chất, thẩm mỹ, định hướng những giá trị đạo đức, tư tưởng, chính trị, hình thành xúc cảm, tình cảm, niềm tin ở các thế hệ HS

Trong sự nghiệp đổi mới GD ở thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa,

GD nhà trường trước hết là tổ chức phát triển, GD thế hệ trẻ phát triển toàn diện, trở thành những người đủ năng lực, trí tuệ, phẩm chất thực hiện thành công sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

GD nhà trường là người tập hợp, tổ chức, tuyên truyền phối hợp với gia đình và các tổ chức xã hội khác để cùng xây dựng môi trường lành mạnh, phát huy tối đa tiềm năng mọi mặt của xã hội Để thực hiện mục tiêu GD của

xã hội, trước hết là mục tiêu GDĐĐ

Tóm lại, nhà trường phải là người tổ chức, cố vấn, tư vấn về mọi mặt cho các tổ chức xã hội và gia đình để tạo ra sự thống nhất, đồng thuận về nhận thức, hành động thực hiện mục tiêu, nội dung, kế hoạch GDĐĐ cho HS thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

1.4.4 Yếu tố xã hội

HS THCS đã có quyền hạn và trách nhiệm xã hội lớn hơn so với HS tiểu học 14 tuổi các em được làm chứng minh thư (được xã hội công nhận là một công dân như người lớn, tự chịu trách nhiệm trước hành vi của mình )

Cùng với học tập, các em còn tham gia nhiều hoạt động xã hội phong phú như: giúp đỡ, GD các em nhỏ, giúp gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình cách

Trang 39

mạng tham gia hoạt động tập thể chốn tệ nạn xã hội (cờ bạc, rượu chè, ma tuý ),

vệ sinh trường lớp, đường phố, làm tình nguyện viên cho các lớp xoá mù

Đồng thời quan hệ xã hội được mở rộng, kinh nghiệm sống phong phú, ý thức xã hội được nâng cao

Do sự thay đổi về điều kiện sống, điều kiện hoạt động của các em trong xã hội mà vị trí của các em có sự thay đổi Đây là điều kiện quan trọng dẫn đến hoạt động nhận thức và nhân cách các em có sự khác biệt so với lứa tuổi trước đó

Trang 40

ra các khái niệm công cụ của đề tài:

” Đạo đức là một hiện tượng xã hội, phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống con người; đạo đức là một hình thái ý thức

xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thể hay toàn xã hội.”

QLGD là quá trình tác động có tổ chức và mang tính hệ thống của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm đưa hoạt động của mỗi cơ sở GD cũng như toàn bộ hệ thống GD đạt tới mục tiêu xác định Đó là những tác động phù hợp quy luật khách quan, hướng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội

Biện pháp QL hoạt động GDĐĐ là cách làm, cách thức tổ chức điều hành những hoạt động nhằm xây dựng một cơ cấu tổ chức và xác định một cơ chế chỉ đạo phối hợp hoạt động của tất cả các lực lượng trong và ngoài ngành GD ( trong và ngoài trường ) nhằm thống nhất nhận thức, phát huy và

sử dụng hợp lý mọi tiềm năng của xã hội, xây dựng các loại hình, phương pháp hoạt động phù hợp với điều kiện cụ thể để thực hiện mục tiêu GDĐĐ đối với các đối tượng xã hội khác nhau

HS THCS là lứa tuổi đang trong giai đoạn ”ngã ba đường” Do vậy các

em có những biến đổi tâm sinh lý sâu sắc Để phát triển nhân cách cho các em toàn diện, phù hợp với các chuẩn mực xã hội đòi hỏi phải phối hợp chặt chẽ

giữa các lực lượng: gia đình, nhà trường và xã hội

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đặng Quốc Bảo (2008), Quản lý nhà nước về giáo dục và một số vấn đề xã hội của phát triển giáo dục , bài giảng lớp cao học quản lý giáo dục khóa 11, Đại học Giáo dục, Đại học quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục và một số vấn đề xã hội của phát triển giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2008
3. Đặng Quốc Bảo (2008), Quản lý nhà trường, bài giảng lớp cao học quản lý giáo dục khóa 11, Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2008
5. Nguyễn Cảnh Chất (2003), Tinh hoa quản lý. Nxb. Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa quản lý
Tác giả: Nguyễn Cảnh Chất
Nhà XB: Nxb. Lao động – Xã hội
Năm: 2003
6. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2001), Lý luận đại cương về quản lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận đại cương về quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2001
7. Đoàn Trung Còn (1998), Tam tự kinh, Nxb. Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam tự kinh
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb. Đồng Nai
Năm: 1998
8. Phạm Khác Chương (2/1997), “Thực trạng và một số giải pháp GDĐĐ cho học sinh THPT hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số giải pháp GDĐĐ cho học sinh THPT hiện nay”
9. Phạm Khắc Chương - Nguyễn Thị Yến Phương, Đạo đức học,Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Phạm Khắc Chương, Nguyễn Thị Yến Phương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
12. Đảng bộ thành phố Hƣng Yên (2010), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hưng Yên lần thứ XIX, Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hưng Yên lần thứ XIX
Tác giả: Đảng bộ thành phố Hƣng Yên
Năm: 2010
13. Đảng bộ xã Bảo Khê (2010), Nghị quyết Đảng bộ xã Bảo Khê lần thứ XXI. Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đảng bộ xã Bảo Khê lần thứ XXI
Tác giả: Đảng bộ xã Bảo Khê
Năm: 2010
15. Trần Khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực thế kỉ XXI, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực thế kỉ XXI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
16. Phạm Minh Hạc (1986). Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1986
18. Phạm Minh Hạc (2001), Phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH – HĐH. Nxb, Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH – HĐH
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 2001
19. Nguyễn Trọng Hậu (2009), Đại cương khoa học quản lý giáo dục, bài giảng lớp cao học quản lý giáo dục khóa 11, Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Trọng Hậu
Năm: 2009
20. Bùi Minh Hiền – Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý giáo dục. Nxb, Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền – Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo
Năm: 2006
21. Trần Kiểm (1997), Quản lý giáo dục và nhà trường. Nxb, Viên khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục và nhà trường
Tác giả: Trần Kiểm
Năm: 1997
22. Nguyễn Văn Lê (1995), Khoa học quản lý nhà trường. Nxb, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý nhà trường
Tác giả: Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: Nxb, Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
25. Hồ Chí Minh (1989 ), Những lời Bác dạy thanh niên, thiếu niên và học sinh. Nxb, Thanh niên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lời Bác dạy thanh niên, thiếu niên và học sinh
26. Trần Đình Nghiêm (2001), Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ngành giáo dục và đào tạo Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ngành giáo dục và đào tạo Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Nghiêm
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
28. Nguyễn Ngọc Quang (1968), Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường Quản lý giáo dục Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1968
29. Hà Nhật Thăng (2004), Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông (in lần thư ́ ba). Nxb, Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Hà Nhật Thăng
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Thực trạng thực hiện nội quy nhà trường của học sinh - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Bảng 2.2 Thực trạng thực hiện nội quy nhà trường của học sinh (Trang 46)
Bảng 2.3: Nhận xét của Giáo viên và Cán bộ QLGD - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Bảng 2.3 Nhận xét của Giáo viên và Cán bộ QLGD (Trang 47)
Bảng 2.5. Mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Bảng 2.5. Mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng (Trang 51)
Bảng 2.6:  Nhận thức của giáo viên và cán bộ QLGD về mức độ cần - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Bảng 2.6 Nhận thức của giáo viên và cán bộ QLGD về mức độ cần (Trang 53)
Bảng 2.9: Thực trạng mức độ thực hiện và hiệu quả   của các hình thức GDĐĐ HS ở trường THCS Bảo Khê - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Bảng 2.9 Thực trạng mức độ thực hiện và hiệu quả của các hình thức GDĐĐ HS ở trường THCS Bảo Khê (Trang 60)
Hình thức giáo - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Hình th ức giáo (Trang 62)
Bảng 2.10: Thực trạng mức độ thực hiện và thái độ của HS - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Bảng 2.10 Thực trạng mức độ thực hiện và thái độ của HS (Trang 62)
Bảng 2.11: Thực trạng sử dụng Phương pháp GDĐĐ HS - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Bảng 2.11 Thực trạng sử dụng Phương pháp GDĐĐ HS (Trang 65)
Bảng 2.12: Nhận xét của Giáo viên và Cán bộ QLGD - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Bảng 2.12 Nhận xét của Giáo viên và Cán bộ QLGD (Trang 66)
Bảng 2.13: Phối hợp của phụ huynh HS với các lực lƣợng - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Bảng 2.13 Phối hợp của phụ huynh HS với các lực lƣợng (Trang 67)
Bảng 2.14. Thực trạng kiểm tra đánh giá GDĐĐ HS - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Bảng 2.14. Thực trạng kiểm tra đánh giá GDĐĐ HS (Trang 68)
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm các biện pháp GDĐĐ HS - Quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức học sinh THCS Bảo Khê, Thành phố Hưng Yên, Hưng Yên
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm các biện pháp GDĐĐ HS (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w