Ở phương tây ngay từ những năm cuối thế kỉ XX,chương trình giáo dục các giá trị sống được triển khai từ một dự án quốc tế bắt đầu từ năm 1995 do trường đại học Brahmakumarit thực hiện
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN MINH NGỌC
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THANH NIÊN CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa
HÀ NỘI – 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, cho phép em bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập,
nghiêncứu tại trường và hoàn thành luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, giáo viên, các tổ chức đoàn thể,cha mẹ học viêv và các em học viên TTGDTX huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã nhiệt tình tham gia đóng góp ý kiến, cung cấp thông tin, tư liệu cho tác giả trong quá trình điều tra, khảo sát phục vụ cho việc nghiên cứu Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Đinh Thị Kim Thoa - người đã dành cho em sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cùng những kiến thức, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học quý báu giúp em hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện, nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót về mặt ngôn ngữ, cách hành văn và kiến thức khoa học Rất mong các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp góp ý để em tiếp tục hoàn thiện luận văn của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả
NGUYỄN MINH NGỌC
Trang 3DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 41.4 Nội dung giáo dục, quản lý các hoạt động giáo dục và lực lượng
1.4.2 Quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường 19 1.4.3 Các lực lượng tham gia giáo dục trong nhà trường 21
1.6.1 Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống 26
Trang 51.6.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống trong trường
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐOÀN
THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH CHO HỌC VIÊN
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN LỘC
2.3 Thực trạng quản lý giáo dục giá trị sống thông qua hoạt động
Đoàn thanh niên cho học viên Trung tâm giáo dục thường xuyên Lộc
2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, Ban chỉ đạo trung tâm và giáo
viên về vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục giá trị sống 43 2.3.2 Nhận thức của GVCN và BCH Đoàn TT về giá trị sống 45 2.3.3 Nhận thức của Học viên và cha mẹ học viên về giá trị sống 46 2.4 Thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống thông qua
hoạt động Đoàn thanh niên cho học viên Trung tâm giáo dục thường
2.4.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục giá trị sống của Ban giám đốc trung 50
Trang 6tâm
2.4.2 Thực trạng tổ chức triển khai hoạt động giáo dục giá trị sống của
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục giá trị sống thông qua
2.4.4 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục giá trị
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
GIÁ TRỊ SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THANH
NIÊN CHO HỌC VIÊN TTGDTX LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN 64
3.1 Một số nguyên tắc xây dựng các biện pháp 64 3.1.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính mục tiêu của hoạt động giáo dụ 64 3.1.2 Nguyên tắc 2: Nguyên tắc bảo đảm giáo dục trong tập thể 65 3.1.3 Nguyên tắc 3: Đảm bảo thống nhất về nội dung và hình thức khi
thực hiện giáo dục giá trị sốngthông qua hoạt động Đoàn thanh niê 65 3.1.4 Nguyên tắc 4: Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi của hoạt động
3.2 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục gí trị sống 67
3.2.1.Kế hoạch hóa quá trình quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống
phù hợp với học viên và điều kiện thực tế của TT 67
3.2.2 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục giá trị sống
cho mọi lực lượng giáo dục có trách nhiệm trong và ngoài TT 69
3.2.3.Bồi dưỡng cán bộ Đoàn về kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục
3.2.4 Bồi dưỡng cho các giáo viên trong trung tâm về phương pháp
Trang 7giáo dục giá trị sống 73
3.2.5 Xây dựng nhà trường là cầu nối giáo dục giữa gia đình, nhà
3.2.6 Xây dựng cơ sở dữ liệu trong kiểm tra đánh giá 77
3.3 Khảo sát tính khả thi và sự cần thiết của các biện pháp đề xuất 79
Trang 8Bảng 2.4 Thái độ của học viên khi tham gia các hoạt động của Đoàn
Bảng 2.5 Mức độ tham gia tìm hiểu về giá trị sống của học viên
thông qua các buổi hoạt động của Đoàn thanh niên.( đơn vị %) 49 Bảng 2.6 Kết quả đánh giá hiệu quả quản lý xây dựng kế hoạch hoạt
động giáo dục GTS của Ban giám đốc TT (n= 12) 50 Bảng 2.7 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị sống
của Ban chỉ đạo trung tâm đối với tổ chức Đoàn TN (n=12) 52 Bảng 2.8 Kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện công tác kiểm tra đánh
giá hoạt động giáo dục GTS của Ban chỉ đạo TT ( n= 12) 59 Bảng 2.9 Kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện công tác kiểm tra đánh
giá hoạt động giáo dục GTS của Đoàn thanh niên đối với Ban chỉ đạo
Bảng 3.2 Thống kê kết quả khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa Ban chấp hành Đoàn trường với một số
Biểu đồ 2.1: Xếp loại hạnh kiểm Học viên theo năm học (%) 43 Biểu đồ 2.2 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện GDGTS của ban chỉ
Biểu đồ 2.3 Kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện công tác kiểm tra
đánh giá hoạt động GDGTS của đoàn TN đối với ban chỉ đạo TT 60
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bác Hồ dạy “ Thanh niên là bô ̣ phâ ̣n quan tro ̣ng của dân tô ̣c , nước nhà thịnh hay suy , yếu hay ma ̣nh phần lớn là do các thanh niên” Đảng ta chỉ rõ thanh niên là lực lượng ta ̣o ra xã hô ̣i mới , là nguồn lực để thực hiện công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa đất nước Thanh niên có vai trò và khả năng to lớn trong sự nghiê ̣p cách ma ̣ng từ trước đến nay và trong tương lai
Bác Hồ và Đảng ta nhìn nhâ ̣n thanh niên theo quan điểm toàn diê ̣n , nghĩa là luôn thấy rõ những ưu khuyết điểm của thanh niên trong từng giai đoa ̣n và thời kì cu ̣ thể Bác và Đảng luôn bồi dưỡng , cổ vũ thanh niên phát triển mă ̣t ma ̣nh và luôn c hỉ rõ cho thanh niên thấy mặt yếu của mình Qua đó vừa giúp cho thanh niên tự tin , lại vừa đặt ra yêu cầu cao về sự rèn luyện , tu dưỡng để trở thành lớp người kế tu ̣c sự nghiê ̣p cách ma ̣ng có đủ Đức và Tài
Bác Hồ lu ôn nêu tư tưởng chiến lược “ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Phát triển tư tư ởng đó, Đảng ta chỉ rõ: “Đất nước bước vào thế kỉ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, Viê ̣t Nam có vững bước theo con đường XHCN hay không phần lớn phu ̣ thuô ̣c vào lực lượng thanh niên” Chính vì vậy, mục tiêu trước mắt và lâu dài của sự nghiê ̣p giáo du ̣c , đào ta ̣o là nhằm hình thành thế
hê ̣ thanh niên kế tu ̣c sự nghiê ̣p cách ma ̣ng Vì vậy Nghị quyết đại hội lần thức
IX của Đảng ta đă ̣t ra yêu c ầu cao đối với thế hệ trẻ phải học tập , rèn luyện
mô ̣t cách toàn diê ̣n trên cơ sở lấy Đức và Tài làm ha ̣t nhân Quan điểm giá o dục toàn diện là sự khẳng định những giá trị lớn lao và ý nghĩa quan trọng của nhân tố con người.Thanh niên phát triển toàn diê ̣n về trí tuê ̣, văn hóa, thể chất,
đa ̣o đức, lối sống….vừa là đô ̣ng lực vừa là mu ̣c tiêu của chủ nghĩa xã hội
Quán triệt quan điểm “ Trồng người” của Bác Hồ , của Đảng và Nhà Nước, đă ̣t “ giáo dục là quốc sách hàng đầu” , Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đă ̣t giáo dục, bồi dưỡng là chức năng cơ bản nhất trong công tác của Đoàn, Đoàn
là trường học Xã hội chủ nghĩa của đoàn viên thanh niên Tạo môi trường đưa
Trang 11thanh niên vào các hoa ̣t đô ̣ng giúp hoàn thiê ̣n nhân cách , năng lực của người lao đô ̣ng mới phù hợp với xã hô ̣i hiê ̣n nay
Với những nhiê ̣m v ụ trên , tổ chức Đoàn ngày càng có vai trò to lớn trong mo ̣i hoa ̣t đô ̣ng của đời sống kinh tế - xã hôi, đă ̣c biê ̣t là trong các cơ sở của hệ thống giáo dục , vai trò của Đoàn la ̣i càng cần được phát huy vì đây chính là môi trư ờng rèn luyện cả về Đức và Tài cho thanh niên , những đối tượng quần chúng đă ̣c thù , lớp người đang trong quá trình hoàn thiê ̣n nhân cách Chính vì vậy, ở các cơ sở giáo dục trường học , viê ̣c thực hiê ̣n các mă ̣t giáo dục đư ợc quan tâm đặc biệt trong đó đối với tổ chức Đoàn là thực hiện nhiê ̣m vu ̣ tro ̣ng tâm về giáo du ̣c đa ̣o đức cho đoàn viên thanh niên , Giáo dục
đa ̣o đức là con đường dẫn đến sự hình thành và phát triển nhân cách cho thanh niên
Trong công tác giáo đa ̣o đức ở trường ho ̣c , mô ̣t nô ̣i dung mà tổ chức Đoàn hiê ̣n nay cần chú ý đến đó chính là viê ̣c giáo du ̣c giá tri ̣ sống cho thanh niên.Vâ ̣y ta ̣i sao viê ̣c giáo du ̣c giá tri ̣ sống cho thanh niên trong trường h ọc hiê ̣n nay la ̣i được sự quan tâm đă ̣c biê ̣t của tổ chức Đoàn
Trên thực tế, có những giá trị sống đích thực, trở thành những giá trị chung cho nhiều người và toàn xã hội như lòng trung thực, hoà bình, tôn trọng, yêu thương, công bằng, tình bằng hữu, lòng vị tha
Nhưng không phải ai cũng nhận đúng giá trị của cuộc sống Có người cho rằng trở thành người giàu có mới là "giá trị đích thực" Khi ấy, họ sẽ phấn đấu để có tiền bằng mọi giá, kể cả giết người, buôn lậu, trộm cắp
Có người lấy danh vọng làm thước đo giá trị Vậy là họ cố gắng bằng mọi cách để có được những chức vị nào đó Nhưng khi những chức vị ấy mất,
bị tước bỏ, con người trở nên "trắng tay", vô giá trị
Có người coi sự nhàn hạ là giá trị cuộc sống Họ trốn tránh trách nhiệm, lười lao động, chọn những công việc, nghề nghiệp không vất vả Cuối cùng,
họ chẳng làm được gì cho bản thân và xã hội
Trang 12Đặc biệt trong một xã hội cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, nếu không được trang bị vốn sống, thanh niên khó có thể ứng phó sao cho tích cực nhất khi phải đối mặt trước những tình huống thử thách, hoặc sẽ dễ dàng bị sa ngã,
bị ảnh hưởng tiêu cực bởi môi trường sống
Mặt khác, nếu thanh niên không có nền tảng giá trị sống rõ ràng và vững chắc, dù cho được học nhiều kỹ năng đến đâu, các em sẽ không biết cách sử dụng nguồn tri thức ấy sao cho hợp lý, mang lại lợi ích cho bản thân
và cho xã hội Không có nền tảng giá trị, các em sẽ không biết cách tôn trọng bản thân và người khác, không biết cách hợp tác, không biết cách xây dựng và duy trì tình đoàn kết trong mối quan hệ, không biết cách thích ứng trước những đổi thay, có khi còn tỏ ra tham lam, cao ngạo về kỹ năng, khả năng vốn có của mình.Thiếu nền tảng giá trị sống vững chắc, các em rất dễ bị ảnh hưởng bởi những giá trị vật chất, và mau chóng định hình chúng thành mục đích sống, đôi khi đưa đến kiểu hành vi thiếu trung thực, bất hợp tác, vị kỷ cá nhân
Vì vậy , học tập để nhận diện đúng đâu là giá trị đích thực của cuộc sống là điều cần thiết với tất cả mọi người Đặc biệt là đối với đoàn viên thanh niên, khi các em còn đang ngồi trên ghế nhà trường phải được trang bị
sự hiểu biết về các giá trị của cuộc sống, biết ứng phó trước tình huống, quản
lý cảm xúc, học cách giao tiếp, ứng xử với mọi người xung quanh, làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ, làm thế nào để thể hiện bản thân một cách tích cực, lành mạnh
Là một cán bộ phụ trách công tác Đoàn trường ho ̣c, Bản thân tôi nhận thức thấy vai trò to lớn của viê ̣c giáo du ̣c giá tri ̣ sống cho đoàn viên thanh niên của mình nhằm chuẩn bị hành trang cho các em bước vào cuộc sống mới với những nền tảng của giá tri ̣ chân chính Tôi ma ̣nh da ̣n lựa cho ̣n đề tài:
“Quản lí hoạt động giáo dục giá tri ̣ sống t hông qua hoạt động Đoàn thanh niên cho học viên trung t âm giáo dục thường xuyên Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn” làm luận văn Cao học, chuyên nghành Quản lí giáo du ̣c
Trang 132.Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống thông qua hoạt động Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động giáo dục giá trị sống cho học viên
3 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cƣ́u
- Nghiên cứu lý luận của viê ̣c quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống
- Khảo sát thực trạng hoạt đô ̣ng giáo dục giá trị sống thông qua hoa ̣t
đô ̣ng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cho học viên TTGDTX Lộc Bình - Tỉnh Lạng Sơn
- Thực trạng công tác quản lý hoa ̣t động giáo dục giá trị sống thông qua hoa ̣t đô ̣ng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cho ho ̣c viên tại TTGDTX Lộc Bình - Tỉnh Lạng Sơn
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống thông qua hoa ̣t đô ̣ng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cho ho ̣c viên tại TTGDTX Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo du ̣c giá tri ̣ số ng thông qua hoa ̣t
đô ̣ng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cho ho ̣c viên ta ̣i TTGDTX Lô ̣c Bình, Tỉnh Lạng Sơn
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống thông qua tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cho học viên TTGDTX Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn
4.3 Đối tượng khảo sát: Ban chỉ đạo TT, Ban chấp hành đoàn TT, Ban chấp
hành các chi đoàn, Giáo viên chủ nhiệm lớp,Cha mẹ học viên, Học viên Trung tâm GDTX Lô ̣c Bình, Tỉnh Lạng Sơn
5 Giả thuyết nghiên cứu
Việc quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống thông qua hoa ̣t đô ̣ng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cho ho ̣c viên tại TTGDTX Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn chưa thực sự hiệu quả
Trang 14Nếu xây dựng được một số biện pháp quản lý ho ̣ at động giáo dục giá trị sống thông qua tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phù hợp thì hiệu quả của việc giáo dục giá trị sống sẽ tốt hơn , góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung: Xác định một số biện pháp quản lý của Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh TTGDTX Lô ̣c Bình, Tỉnh Lạng Sơn về hoạt động giáo dụ c giá tri ̣ sống cho ho ̣c viên
6.2 Về không gian: Đề tài nghiên cứu ở TTGDTX Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn 6.3 Đối tượng khảo sát: Học viên trung tâm, các giáo viên chủ nhiệm, cán
bộ đoàn và ban lãnh đạo trong TTGDTX Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1.Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ
thống hóa các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài
7.2 Phương pháp điều tra
7.2.1.Mục đích điều tra: Thu thập các số liệu nhằm nhận định khách quan thực
trạng hoạt động giáo dục giá trị sống tại TTGDTX Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn
7.2.2 Nội dung điều tra: Điều tra tìm hiểu nhận thức về giá trị sống, nhận
thức về tầm quan trọng của giáo dục giá trị sống đối với giáo viên chủ nhiệm
và đoàn viên thanh niên là học viên của TT
Điều tra thực trạng việc triển khai hoạt động giáo dục GTS và thực trạng quản lí hoạt động giáo dục GTS của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cho họ c viên ta ̣i TTGDTX Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn
7.2.3 Tổ chức điều tra
Thông qua các cuộc họp hội đồng của TT , Các cuộc sinh hoạt chuyên môn, sinh hoa ̣t Đoàn
7.3 Phương pháp phỏng vấn
7.3.1.Mục đích: Thu thập thông tin dựa trên cơ sở quá trình giao tiếp, hỏi- trả
lời về hoạt động tổ chức giáo dục giá trị sống trong TT
Trang 157.3.2 Nội dung: Chuẩn bị hệ thống câu hỏi, phỏng vấn khéo léo, tế nhị theo
những nội dung chủ định của nhà nghiên cứu
7.3.3 Tổ chức: Gặp gỡ riêng các cá nhân hoặc tập thể GVCN và học viên để
phỏng vấn thu thập thông tin
7.4 Phương pháp xử lý thông tin
Phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả điều tra được
Xử lý phần mềm tin học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống Chương 2 : Thực trạng công tác quản lý hoa ̣t đô ̣ng giáo dục giá trị sống thông qua hoa ̣t đô ̣ng Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cho học viên ta ̣i Trung tâm giáo dục thường xuyên Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống thông qua hoa ̣t đô ̣ng Đoàn thanh niên trung tâm giáo dục thường xuyên Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước
Từ thời cổ đại Khổng Tử (551- 479 TCN) trong các tác phẩm: "Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu" đã rất xem trọng việc giáo dục đạo đức, trong các lời giáo huấn của ông đều nhấn mạnh đến "lý" đó là cách ứng xử thích hợp, đúng mức Ông coi đạo hiếu là đức tính cao quý nhất, là nền tảng của đạo đức gia đình
và đất nước Gia đình là hạt nhân, tế bào của xã hội và 5 mối quan hệ (ngũ thường): Quân - Thần; Phụ - Tử; Phu - Thê; Bằng - Hữu; Huynh - Đệ là nòng cốt được nhấn mạnh bởi ba đức tính: Hữu ái, chính trực và biết tôn trọng
Ở phương tây ngay từ những năm cuối thế kỉ XX,chương trình giáo dục các giá trị sống được triển khai từ một dự án quốc tế bắt đầu từ năm 1995 do trường đại học Brahmakumarit thực hiện để kỉ niệm 50 năm ngày thành lập Liên hợp quốc(LHQ), nhằm kêu gọi sự chia sẻ cho một thế giới tốt đẹp hơn,
dự án này tập trung vào 12 giá trị sống mang tính phổ quát, chủ đề được lấy trong lời mở đầu của hiến chương LHQ, khẳng định lòng tin vào quyền cơ bản của con người, về phẩm chất, nhân cách giá trị của mỗi người: sáng kiến
GD (LVEP:LivingValues-Edducation Program) ra đời và được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, được bắt đầu từ sự kiện 20 nhà giáo dục trên thế giới tập hợp tại trụ sở của UNICEF ở thành phố New York vào tháng 8 năm 1996 để thảo luận về nhu cầu của trẻ em, những trải nghiệm khi tiếp xúc
với các giá trị Hai tập sách Hướng dẫn các giá trị sống và Công ước về quyền trẻ em được các nhà giáo dục trên thế giới xem là nguồn tư liệu chính
cho việc giảng dạy, trong đó mục tiêu của chương trình là giáo dục các giá trị
ở cả những nước phát triển và những nước đang phát triển Chương trình được đưa vào thử nghiệm từ tháng 2 năm 1997 và từ đó chương trình các giá trị sống đã và đang phát triển rộng khắp
Trang 17Bước vào thế kỷ 21, khủng hoảng về giá trị đã diễn ra trên toàn cầu và tại mỗi quốc gia Tổ chức UNESCO đã có khuyến cáo về vấn đề này và các quốc gia đều đã có những quan tâm nhất định Trên thế giới nhiều ngành khoa học trong đó có Tâm lý học, Giáo dục học đã chú ý nghiên cứu việc giáo dục giá trị sống cho thế hệ trẻ Thực tiễn giáo dục cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI cho thấy chỉ thông qua con đường giáo dục, giá trị mới có thể tạo nên cơ
sở bền vững cho việc giải quyết khủng hoảng trong phát triển nhân cách của học sinh
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, năm 1979 Bộ Chính trị và TW Đảng CSVN đã ra Nghị quyết cải cách giáo dục, theo đó “Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho học sinh từ mẫu giáo đến đại học, nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều Bác Hồ dạy Tiếp sau đó có nhiều nhà khoa học, giáo dục là tác giả nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh như PSG.TS Hà Nhật Thăng viết bài “Thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của Thanh niên – Học sinh – Sinh viên” - Tạp chí Nghiên cứu giáo dục Số 39/2002 PGS.TS Đặng Quốc Bảo có bài “Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục”,
Hà Nội, 1998 Năm 1998, PGS TS Hà Nhật Thăng đã cho ra đời cuốn sách
"Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn" trong đó nêu lên giá trị cốt lõi, nhân cách và chuẩn mực đạo đức Những giá trị này đã được áp dụng vào
trong việc giảng dạy chuyên môn của bộ môn giáo dục công dân từ năm 2000
Với nhiều năm nghiên cứu, nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên đã cho ra đời cuốn sách
“Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THPT” Cuốn sách được viết lồng ghép giữa giáo dục GTS và KNS, trong đó GD GTS luôn là nền tảng, KNS là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống Đây là những tiền đề đưa công tác giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông vào các nhà trường mạnh mẽ, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng
Trang 18nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Trong giai đoạn hiện nay của đất nước ta, đang trong quá trình hội nhập với quốc tế và khu vực, việc giáo dục nhân cách học sinh là nhiệm vụ, là mục tiêu cơ bản của sự nghiệp giáo dục đào tạo
Tại tỉnh Lạng Sơn, Ngành giáo dục đã có nhiều văn bản chỉ đạo về triển khai giáo dục giá trị sống trong các nhà trường và tổ chức nhiều lớp tập huấn cho các cán bộ đoàn của các trường, tuy nhiên việc bồi dưỡng giáo dục giá trị sống tích hợp vào các bộ môn chưa được chú ý, chủ yếu là bộ môn giáo dục công dân Chính vì vậy mặc dù đã có văn bản chỉ đạo nhưng hoạt động giáo dục gía trị sống ở các trường chủ yếu là do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đảm nhận, vì vậy đối với tổ chức Đoàn cần có những biện pháp quản lí hoạt động giáo dục giá trị sống để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trong trường học
1.2 Một số khái niệm và lý luận về Quản lý
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hôi, mọi quốc gia và ở mọi thời đại.Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của loài người, để tồn tại và phát triển con người đã biết liên kết với nhau thành các nhóm để chống lại thú dữ và thiên nhiên, do đó xuất hiện mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội.Trong quá trình ấy đã xuất hiện một số người có khă năng chi phối được người khác, họ điều khiển hoạt động của người khác sao cho đạt mục tiêu chung Những người ấy đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều này làm nảy sinh nhu cầu về quản lý Như vậy quản lý xuất hiện từ rất sớm và tồn tại, phát triển cho đến ngày nay
Khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng
và nghĩa hẹp Hơn nữa do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề
Trang 19nghiệp nên quản lý có nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất và sự mở rộng hiểu biết của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý ngày càng trở nên rõ rệt Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong nước và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: Theo F.W Taylor (1856 - 1915) Là một trong những người đầu tiên khai sinh
ra khoa học quản lý và của trường phái “Quản lý theo khoa học” cho rằng: Quản lý là hoàn thành cồng việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Theo Henrry Fayol (1886 - 1925) là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời kì cận hiện đại tới nay quan niệm rằng Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu : lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt mục tiêu đề ra
Đầu thế kỉ XX nhà văn quản lý Mary Parker Follett định nghĩa quản lý
là "nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác"
Khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau Dựa trên những ý tưởng cho rằng quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người
Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì
“con người nên hiểu con người” Với học thuyết này giúp con người quản lý ứng xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền
Trang 20Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng định nghĩa quản lý một cách kinh điển nhất là: Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của
tổ chức [3, tr.9]
Ngày nay hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo), và kiểm tra
Theo tác giả Trần Khánh Đức: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu
Còn Nguyễn Ngọc Quang quan niệm:“Quản lý la tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động
“khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [15, tr.31]
Tổng hợp lại tất cả những nội dung trên, ta có thể hiểu chung nhất:
Quản lý là tác động có định hướng có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hệ thống đạt đến mục tiêu đã định và làm cho nó vận
hành tiến lên một trạng thái mới về chất [3, tr.9]
Trang 21kết quả mong muốn Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Để tồn tại và phát triển, con người phải trải qua quá trình lao động, học tập và cuộc sống hàng ngày, con người nhận thức thế giới xung quanh, dần dần tích luỹ được kinh nghiệm, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục
Theo P.V Khuđôminxky cho rằng: “QLGD là tác động có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD&ĐT đến trường học) nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện
và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật về giáo dục, của
sự phát triển cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em” [17, tr.33]
Còn theo học giả nổi tiếng M.I Kônđacốp: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hoá nhằm đảm bảo vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng
“Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiểu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về chất" [18, tr.39]
Theo GS Phạm Minh Hạc: “QLGD là tổ chức các hoạt động dạy học
Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức
là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối ấy thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [6, tr.67]
Trang 22Còn theo tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động
tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,….một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục( nhân lực, vật lực, tài lực ) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội” [9, tr.10]
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục Ở tầm vi mô là quản lý của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường phổ thông Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội Phải có một lực lượng đông đảo những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật tương ứng Quản lý giáo dục có tính xã hội cao, bởi vậy cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng phục vụ công tác giáo dục
Tóm lại: Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo
1.2.3 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN mới, quản lý được giáo dục tức là cụ thể hóa đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh Bản chất
Trang 23của việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục.[15, tr.61]
Có nhiều cấp quản lý trường học: cấp cao nhất là Bộ GD - ĐT, nơi quản
lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô Có hai cấp trung gian quản lý trường học là Sở GD - ĐT ở tỉnh, thành phố và các Phòng Giáo dục ở các quận, huyện Cấp quản lý quan trọng trực tiếp của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lý trong các nhà trường
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang
có, tiến lên một trạng thái phát triển mới, bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý nhà trường được hiểu là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [19, tr.205]
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục Trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể tự hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng rèn luyện và phát triển theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận
Tóm lại: Quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục Thực chất của quản lý nhà trường, suy cho cùng là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
Trang 24hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà điểm hội tụ là
quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ [4, tr.372]
1.3 Giá trị sống và giáo dục giá trị sống
1.3.1 Giá trị sống
Theo từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: Giá trị là cái dựa vào đó để xem xét một con người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng Giá trị cũng là những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của một xã hội
Giá trị sống (hay còn gọi là “giá trị cuộc sống”) là những điều mà một con người cho là tốt, là quan trọng, phải có cho bằng được và vì thế giá trị sống chi phối hành vi hướng thiện của con người Động cơ là điều kiện bên trong, là cái thúc đẩy con người hành động, định hướng cho những hành vi có mục đích Động cơ gắn liền với nhu cầu và lợi ích Lợi ích cũng như nhu cầu của con người rất đa dạng Vì vậy, con người có thể hành động vì những động
cơ rất khác nhau Đơn giản nhất là vì nhu cầu sinh lý như ăn uống, mặc, ở, nhu cầu an toàn Cao cấp hơn có thể là nhu cầu được khẳng định, được thừa nhận, được thể hiện sự sáng tạo của bản thân Tương tự như động cơ, giá trị sống của con người cũng đa dạng, nên giáo dục giá trị sống không được cào bằng
Những giá trị sống cơ bản thường được nhắc đến là hòa bình, công bằng xã hội, sự tôn trọng, đoàn kết, sự trung thức, tình bạn, tính vị tha… Chung quy là tất cả hững gì mà con người cho là tốt đẹp
Giá trị sống với định hướng cuộc sống (orientation of life): Kỹ năng
sống (life skills), hứng thú (interests), nhân cách (personality) và giá trị sống (values) là bốn thành tố tạo nên định hướng cuộc đời của mỗi con người
Tóm lại: Giá trị sống là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong mối quan hệ của con người với con người Giá trị sống về bản chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận Giá trị sống là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời sống,
Trang 25và định hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội [10, tr.16]
Giá trị sống có ý nghĩa và vai trò quan trọng tạo ra động lực thúc đẩy con người phát triển: tạo ra động cơ cho hành động, hành vi; thúc đẩy ham muốn hướng đến chân, thiện, mỹ; giải quyết tốt những mâu thuẫn của cá nhân với cộng đồng, với tự nhiên
1.3.2 Giáo dục giá trị sống
Giáo dục GTS là quá trình giúp học sinh tiếp thu, lĩnh hội được những giá trị phổ quát của xã hội, biến thành những giá trị đặc trưng của bản thân mỗi học sinh, giúp cho các em có suy nghĩ, thái độ và hành động tích cực, hiệu quả, phù hợp với bản thân và đáp ứng mong đợi của cộng đồng, xã hội
Mục tiêu giáo dục giá trị sống là một quá trình tổ chức tác động có chủ định của các lực lượng giáo dục, trong đó giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo để tạo ra sự thống nhất tác động giáo dục, tận dụng những yếu tố tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh nhằm phát huy tính tích cực tự giác rèn luyện, tạo ra động cơ, thái độ đúng đắn trong cuộc sống, học tập và hoạt động xã hội, để học sinh sống tốt đẹp hơn, làm việc chất lượng hơn, hiệu quả hơn, đem lại lợi ích trước hết cho học sinh đồng thời cho gia đình, nhà trường
và xã hội
Đối với học sinh THPT, nội dung giáo dục giá trị sống cần hệ thống hoá những giá trị sống phổ quát, nhưng mở rộng và nâng nội dung lên một tầm cao đáp ứng yêu cầu của cuộc sống đương đại Hướng các em vươn tới nhân cách lý tưởng mang những giá trị phổ quát của một thanh niên thời đại, không chỉ của dân tộc mà còn của nhân loại trong một thế giới mở
Giáo dục GTS là một quá trình tổ chức tác động có chủ định của các lực lượng giáo dục, trong đó giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo, để tạo ra sự thống nhất tác động giáo dục, phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh, nhằm phát huy tính tích cực tự giác rèn luyện, tạo ra động cơ, thái độ đúng đắn trong cuộc sống, học tập và hoạt động
Trang 26xã hội, để học sinh học tập, làm việc hiệu quả hơn có lối sống nếp sống tốt đẹp mang lại lợi ích cho chính học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội
Nội dung của những giá trị sống đối với học sinh trung học phổ thông cần hướng các em đến hoàn thiện nhân cách một người thanh niên, một công dân, hướng đến một nhân cách nghề nghiệp, một thanh niên thời đại mang những giá trị tinh hoa bản sắc dân tộc và những giá trị phổ quát của nhân loại, hướng đến một lối sống hài hoà giữa đời sống cá nhân - bạn bè – tình yêu - sự nghiệp – trách nhiệm xã hội Hướng các em vươn tới nhân cách lý tưởng mang những giá trị phổ quát của một thanh niên thời đại, không chỉ của dân tộc mà còn của nhân loại trong một thế giới mở
Bên cạnh việc học cách để làm (doing) nhằm chuẩn bị mưu sinh cho cuộc sống, con người cũng cần biết nên sống (being) ra sao Nghĩa là làm thế
nào để ứng phó trước tình huống, quản lý cảm xúc, học cách giao tiếp, ứng xử với mọi người xung quanh, làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ, làm thế nào để thể hiện bản thân một cách tích cực, lành mạnh
Đặc biệt trong một xã hội cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, nếu không được trang bị sẵn vốn sống, chúng ta khó có thể ứng phó sao cho tích cực nhất khi phải đối mặt trước những tình huống thử thách, hoặc sẽ dễ dàng bị sa ngã,
bị ảnh hưởng tiêu cực bởi môi trường sống
Mặt khác, nếu con người không có nền tảng giá trị sống rõ ràng và vững chắc, dù cho được học nhiều kỹ năng đến đâu, chúng ta sẽ không biết cách sử dụng nguồn tri thức ấy sao cho hợp lý, mang lại lợi cho bản thân và cho xã hội Không có nền tảng giá trị sống, chúng ta sẽ không biết cách tôn trọng bản thân và người khác, không biết cách hợp tác, không biết cách xây dựng và duy trì tình đoàn kết trong mối quan hệ, không biết cách thích ứng trước những đổi thay, có khi còn tỏ ra tham lam, cao ngạo về kỹ năng mình có Thiếu nền tảng giá trị sống vững chắc, con người rất dễ bị ảnh hưởng bởi những giá trị vật chất, và rồi mau chóng định hình chúng thành mục đích sống, đôi khi đưa đến kiểu hành vi thiếu trung thực, bất hợp tác, vị kỷ cá
Trang 27nhân Giá trị sống giúp chúng ta cân bằng lại những mục tiêu vật chất Những giá trị sống tích cực là chiếc neo giúp chúng ta ổn định, vững chãi giữa những biến động của cuộc đời, có thể sẽ không dễ dàng gì nhưng ta vẫn vượt qua được mà không cảm thấy bị thua thiệt, mất mát
Các kỹ năng sống trọng yếu là các kỹ năng cá nhân hay xã hội giúp học
sinh truyền đạt những điều họ biết (Kiến thức), những gì họ suy nghĩ hay cảm nhận (Thái độ) và những gì họ tin (Giá trị) trở thành khả năng thực tiễn về
những gì cần làm và làm như thế nào
Học sinh phải đối mặt với rất nhiều thử thách Bằng việc nâng cao nhận thức và đưa các thành tố trọng yếu của KNS vào cuộc sống của các em, sẽ giúp các em nâng cao năng lực để có được sự lựa chọn lành mạnh hơn, có được sự kháng cự tốt hơn với những áp lực tiêu cực và kích thích những thay đổi tích cực trong cuộc sống của các em Chính vì vậy trước khi hình thành KNS nào đó, các em cần cảm nhận rõ ràng về các giá trị sống và sự lựa chọn của mình đối với các giá trị
Có thể hiểu kỹ năng sống là biểu hiện những giá trị sống trong hoạt động
và giao tiếp hàng ngày và ngược lại với kỹ năng thể hiện giá trị bằng hành động sẽ cho kết quả tích cực và nó lại củng cố các giá trị
Kỹ năng sống giúp người ta học tập, làm việc hiệu quả hơn; giao tiếp, ứng xử với mọi người thân thiện, vui vẻ, hợp tác thành công hơn, biết tự điều chỉnh bản thân làm việc tốt, tránh việc xấu
Giá trị sống là cái định hướng, thúc đẩy cá nhân hành động, kỹ năng sống giúp cá nhân hành động hiệu quả, tránh những sai lầm “kỹ thuật”, tạo ra
sự thống nhất, nhất quán giữa nhận thức và hành động, giữa động cơ và hành
vi, giữa nội dung và hình thức [10, tr 64 - 65]
Tuy nhiên để có được kĩ năng tốt, con người cần nắm bắt được những giá trị của cuộc sống Nếu đã hình thành được nhưng giá trị cuộc sống trong bản thân minh thì từ đó sẽ dẫn tới việc hình thành một số kĩ năng sống
Trang 281.4 Nội dung giáo dục, quản lý các hoạt động giáo dục và lực lượng giáo dục trong nhà trường
1.4.1 Nội dung giáo dục
Nội dung giáo dục là một vấn đề lớn của lý luận giáo dục, là thành tố quan trọng của quá trình giáo dục, nó quy định toàn bộ các hoạt động giáo dục trong thực tiễn Nội dung giáo dục trong nhà trường rất toàn diện, nó được xây dựng xuất phát từ mục đích giáo dục xã hội và các yêu cầu khách quan của đất nước và thời đại
Nội dung giáo dục gồm các mặt sau đây:
- Giáo dục đạo đức, ý thức công dân;
- Giáo dục văn hóa - thẩm mỹ;
- Giáo dục lao động hướng nghiệp;
Một trong những nội dung giáo dục hiện nay đang được chú ý và đưa vào làm một nội dung giáo dục quan trọng đó là giáo dục đạo đức cho học sinh
“Đạo đức là quy tắc sống, tuy không ghi thành văn bản nhưng có vị trí to lớn trong đời sống nhân loại Đạo đức định hướng giá trị cho cuộc sống của mỗi
cá nhân và điều chỉnh hành vi của xã hội, đưa xã hội đến văn minh hiện đại
Đạo đức về bản chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ
xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận
và tự giác thực hiện.” [19, tr.155]
Trang 29Những giá trị phổ biến của đạo đức thể hiện trong khái niệm thiện ác, lẽ phải, công bằng, văn minh, lương tâm, trách nhiệm….Thang giá trị của đạo đức diễn biến theo lịch sử Giáo dục đạo đức giúp mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ xã hội và sự phồn vinh của đất nước
Đạo đức bao giờ cũng phải là những hành vi cụ thể được biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày Nhưng để hình thành được giá trị đạo đức trong mỗi con người thì bản thân người đó phải nhận rõ được giá trị của bản thân và của cuộc sống Vì vậy, để thực hiện thành công giáo dục đạo đức, các nhà trường hiện nay cần chú ý đến việc giáo dục giá trị sống cho học sinh Vì chỉ khi nhận diện được các giá trị của cuộc sống thì hành vi đạo đức của con người mới được hình thành
Giá trị sống là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm
về cái thiện, cái ác trong mối quan hệ của con người với con người Giá trị sống về bản chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận Giá trị sống là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời sống, và định hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội
Như vậy, có thể khẳng định, giáo dục giá trị sống là một phần rất quan trọng trong việc giáo dục đạo đức và hình thành các giá trị đạo đức cho học sinh
1.4.2 Quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường
Giáo dục có từ khi con người xuất hiện, do nhu cầu tồn tại và phát triển.Quá trình truyền thụ kiến thức của giáo dục bắt nguồn từ trong lao động Thực chất của quá trình giáo dục là sự lĩnh hội về truyền thống lịch sử xã hội Hoạt động giáo dục là quá trình phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh và tập thể học sinh khi tham gia vào các hoạt động học tập và giáo dục trong và ngoài trường Quá trình tổ chức này được đặt trong mối quan hệ thuận lợi hài hòa giữa cá nhân với môi trường tự nhiên và xã hội,
Trang 30giữa cá nhân với tập thể, giữa giáo viên và học sinh với các lực lượng xã hội khác trong mối quan hệ biện chứng giữa quá trình tác động có mục đích của nhà giáo dục với hoạt động giáo dục của học sinh
“Học sinh THPT ngày nay có những bước nhảy vọt về chất trong quá trình học tập và rèn luyện Các em mạnh dạn hơn, suy nghĩ táo báo hơn, có những nhu cầu mới hơn, đặc biệt là nhu cầu về hoạt động….”[1, tr.63 ]
Hoạt động giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách Đứng dưới góc độ của giáo dục học và quan điểm của duy vật biện chứng thì việc hình thành và phát triển nhân cách của con người bao gồm 4 yếu tố tác động đó là: Môi trường, giáo dục, sinh học và hoạt động cá nhân
Hoạt động giáo dục là một quá trình sư phạm tổng thể bào gồm quá trình dạy học và quá trình giáo dục Dạy học cung cấp kiến thức học vấn và ý thức đạo đức nhưng theo khuôn mẫu, còn giáo dục là hình thành phẩm chất đạo đức Trong qua trình giáo dục hình thành nên các hệ thống tri thức, thái
độ, kĩ năng, hành vi ứng xử, thói quen cộng động từ đó hình thành cho người học các mặt về mối quan hệ xã hội, tâm lý, thể chất và cách ứng xử đúng đắn
Nếu không có giáo dục thì không có cuộc sống Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển nhân cách
Như vậy, quản lý hoạt động giáo dục có thể nhận thấy là quản lý các nội dung sau:
- Quản lý hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh
- Quản lý các hoạt động giáo dục : Hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục thể chất, giáo dục môi trường…
Nếu không có giáo dục thì không có cuộc sống Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển nhân cách
Trang 311.4.3 Các lực lượng tham gia giáo dục trong nhà trường
Việc tham gia giáo dục trong nhà trường phổ thông có rất nhiều lực lượng, nhưng trong đó có ba lực lượng chính không thể thiếu trong công tác giáo dục học sinh hoàn thiện và phát triển nhân cách
1.4.3.1 Cán bộ quản lý
Ở đây trực tiếp chính là người hiệu trưởng Người hiệu trưởng vừa có vai trò quản lý, vừa có vai trò lãnh đạo nhà trường Trong đó quan trọng là lãnh đạo và quản lý các hoạt động dạy học, giáo dục trong trường, giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẫm mỹ và các kỹ năng
cơ bản hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc
đi vào cuộc sống, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc Vì vậy đối với người quản lý cần phải trang bị cho mình cách nhìn đúng về chương trình giáo dục
Để làm được điều này, người lãnh đạo và quản lý phải không ngừng nâng cao
về chuyên môn nghiệp vụ, đầu tư nghiên cứu và đưa ra được kế hoạch cũng như chiến lược phát triển phù hợp với đơn vị trường mình trong đó cần chú trọng đến đội ngũ giáo viên trong quá trình giảng dạy cũng như kết quả học tập và rèn luyện đạo đức của học sinh Để làm được điều này nhà quản lý phải xây dựng cho mình những tổ chức lớn mạnh trong nhà trương, đặc biệt là Tổ chuyên môn và Đoàn thanh niên là hai lực lượng giáo dục quan trọng của nhà trường Trong đó, đối với tổ chuyên môn cần quan tâm đến công tác giáo dục của giáo viên chủ nhiệm, đối với Đoàn thanh niên là nội dung của các hoạt động tập thể Có như vậy người quản lý mới xây dựng được một môi trường giáo dục có chất lượng về học tập cũng như rèn luyện về đạo đức, tạo ra những lớp học sinh có văn hóa, biết quý trọng tri thức cũng như những giá trị nhân văn của thế giới và dân tộc
1.4.3.2 Giáo viên chủ nhiệm
Trong trường phổ thông công tác giáo viên chủ nhiệm lớp(GVCNL) có
vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động giáo dục học sinh nhằm
Trang 32nâng cao chất lượng giáo dục cũng như việc hình thành nhân cách cho học sinh để công tác GVCN trong nhà trường phát huy được hiệu quả giáo dục thì người giáo viên chủ nhiệm lớp phải nhận thức rõ được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của mình trong các hoạt động giáo dục học sinh trong nhà trường
Trong hệ thống tổ chức của nhà trường phổ thông hiện nay, lớp học là đơn vị cơ sở, mọi hoạt động của nhà trường đều được triển khai tại các lớp thông qua công tác giáo viên chủ nhiệm lớp (GVCNL) Do đó, công tác giáo viên chủ nhiệm lớp giữ một vị trí quan trọng trong việc triển khai và tổ chức thực hiện các họat động và nhiệm vụ giáo dục trong nhà trường phổ thông Vì vậy, công tác giáo viên chủ nhiệm luôn luôn được Ban giám hiệu các nhà trường đặc biệt quan tâm Giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp được hiệu trưởng lựa chọn từ những giáo viên có kinh nghiệm giáo dục, có uy tín trong học sinh và đồng nghiệp, được Hội đồng giáo dục nhà trường nhất trí phân công phụ trách những lớp học xác định
Trong nhà trường, giáo viên chủ nhiệm lớp là thay mặt Ban Giám hiệu, thay mặt nhà trường chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục toàn diện của một lớp học sinh, một tập thể, một đơn vị hành chính của một trường học Được sự phân công của nhà trường, người làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp thường là giáo viên giảng dạy một môn học, đồng thời là người phụ trách,
tổ chức, điều khiển mọi hoạt động của lớp, là nhân vật trung tâm, là linh hồn của lớp Vì vậy, những chủ trương kế hoạch của nhà trường được các giáo viên chủ nhiệm lĩnh hội và thực hiện việc triển khai, tổ chức các hoạt động của lớp thông qua hệ thống cán bộ lớp, Đoàn Thanh niên, Ban đại diện cha
mẹ học sinh và những tổ chức xã hội có liên quan Đối với mỗi lớp học, GVCNL là người chịu trách nhiệm trước nhà trường về kết quả hoạt động của tập thể cũng như của mỗi học sinh trong lớp, là người động viên khích lệ, xử
lí các tình huống tiêu cực của học sinh Với vốn sống và kinh nghiệm trong hoạt động giáo dục, vị trí của giáo viên chủ nhiệm là rất cần thiết đối với sự phát triển toàn diện của lớp học cũng như học sinh
Trang 33Đặc điểm của lứa tuổi học sinh phổ thông, các em chưa hẳn là người lớn nhưng cũng không còn là trẻ con Lứa tuổi này các em chịu sự thay đổi mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tâm lí tư duy, suy nghĩ Đây là thời kỳ phát triển phong phú, đa dạng, phức tạp nhưng vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách và trí tuệ của mỗi cá nhân Tâm lí các em chưa ổn định, dễ thay đổi khi chịu sự tác động của gia đình, nhà trường và xã hội Như vậy, người giáo viên chủ nhiệm lớp sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Bản thân mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương sáng cho học sinh noi theo Đối với giáo viên chủ nhiệm yêu cầu đó phải được đặt ra với mức độ cao hơn, toàn diện hơn người giáo viên chủ nhiệm lớp không chỉ trang bị cho mình những kiến thức cần thiết cho việc giảng dạy, những vốn sống sâu sắc về con người và cuộc đời mà còn cần rèn luyện cho mình đạt được những phẩm chất đạo đức có tính chuẩn mực Có như vậy sức cảm hóa đối với các em sẽ rất tự nhiên và mang lại hiệu quả giáo dục Thực tế cho thấy từ hành vi, ngôn ngữ, cách cư xử, cách suy nghĩ, đánh giá những sự việc trong đời sống, những thói quen trong sinh hoạt tất cả phải luôn được người giáo viên chủ nhiệm xem xét, điều chỉnh để có thể không ngừng hoàn thiện mình trong mắt học trò
Người giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp có vai trò chức năng là tổ chức tập thể học sinh hoạt động tự quản trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện, sinh hoạt để trên cơ sở đó phát huy được sức mạnh (của tập thể) tính tích cực, chủ động của học sinh
Đối với học sinh phổ thông, công tác GVCNL có vai trò và tầm quan trọng được xác định là người cố vấn cho tập thể lớp Giáo viên chủ nhiệm lớp
là tổ chức, phối hợp điều tiết các tác động giáo dục giữa nhà trường với các tổ chức, đoàn thể xã hội trong công tác giáo dục học sinh GVCNL tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục Tạo ra sự thống nhất trong giáo dục Sự liên kết với gia đình, cộng đồng, nơi ở để tổ chức hoạt động giáo dục, tạo ra môi trường giáo dục, tạo ra sự thống nhất tác động, phát huy tiềm năng sẵn có của quần chúng là điều đặc biệt quan trọng
Trang 341.4.3.3 Tổ chức Đoàn thanh niên
Xã hội là môi trường có tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành nhân cách của thanh niên Thanh niên là lứa tuổi đang hình thành và phát triển nhân cách Do vậy, mọi sự tác động của môi trường xã hội dù tác động tích cực hay tiêu cực đều có ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách của thanh niên Nếu thanh niên được sống trong môi trường xã hội lành mạnh, đầy tính nhân văn, nhân ái thì nhân cách của thanh niên sẽ phát triển theo chiều hướng tốt và ngược lại Vì vậy, để giáo dục nhân cách cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay cần phải kết hợp song hành cả 3 yếu tố gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng
Vì Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng Sản Việt Nam, là đội xung kích cách mạng, trường học xã hội chủ nghĩa, đại diện chăm
lo và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên, là lực lượng nòng cốt chính trị trong các tổ chức thanh niên Việt Nam đã và đang đóng vai trò là chỗ dựa về chính trị và tinh thần của thế hệ trẻ Chính vì vậy, việc giáo dục nhân cách cho thanh niên là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trước yêu cầu khách quan và cấp bách của công cuộc đổi mới, việc tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng nhân cách thanh niên thời đại mới, là tạo tiền
đề quan trọng giúp thanh niên được cống hiến và trưởng thành
Giáo dục nhân cách cho thanh niên là hoạt động được thực hiện trong tổng thể nhiều yếu tố, vì vậy Đoàn thanh niên cần chủ động phối kết hợp chặt chẽ với nhà trường, gia đình và xã hội để phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục nhân cách cho thanh niên
1.5 Các chức năng quản lý giáo dục
Cũng như bất kì một thực thể xã hội nào khác, các thiết chế giáo dục là một tổ chức, và vì vậy, có thể và phải được quản lý trên cơ sở phân chia hoạt động có tính chuyên biệt hóa, hay thường gọi là chức năng quản lý
Quản lý, về sơ bộ có 4 chức năng sau:
Trang 35Chức năng kế hoạch hóa: Là một chức năng quản lý Nó xác định mục
tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa: Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức, xác định
và bảo đảm về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này, Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó
Chức năng tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần
phải chuyển hóa những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa như thế Xét
về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của
tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả
Chức năng lãnh đạo: Sau khi kế hoạch hóa đã được xác lập, cơ cấu bộ
máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đaoh, dẫn dắt tổ chức
Qua trình lãnh đạo bao hàm việc liên kết, lien hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu tổ chức Lãnh đạo không chỉ bắt đầu việc lập kế hoạc và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà
nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới chức năng kế hoạch hóa và tổ chức
Chức năng kiểm tra:Kiểm tra là một chức năng quản lý, thong qua đó
một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một kết quả hoạt động phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh [3, tr.12 -13]
Trang 361.6 Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống
Quản lý hoạt động giáo dục GTS, KNS là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới các đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục GTS, KNS đạt được kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất Quản lý hoạt động giáo dục GTS, KNS cho học sinh THPT là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên tất cả các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục KNS nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục
Quản lý hoạt động giáo dục GTS, KNS là bộ phận của quản lý trường học, bao gồm hàng loạt những hoạt động tiến hành lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của nhà quản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng giáo dục theo kế hoạch chủ động và chương trình giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết
1.6.1 Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục GTS
Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục GTS cho học sinh THPT là quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường kể cả hoạt động dạy học nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của học sinh từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực, có hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng cuộc sống
Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục GTS cho học sinh THPT là hướng tới quản lý các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục giúp học sinh hình thành các khả năng tâm lý xã hội, để học sinh nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại, củng cố mở rộng kiến thức đã học với đời sống thực tiễn, củng cố các kỹ năng, hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu(Năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực tổ chức, quản lý, hợp tác
và cạnh tranh, năng lực hoạt động chính trị xã hội giải quyết tốt các vấn đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân
Trang 371.6.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục GTS trong trường THPT
Hoạt động giáo dục GTS cho học sinh THPT là một công việc quan trọng nhưng rất mới mẻ Để quản lý tốt hoạt động giáo dục GTS trong nhà trường cần chú ý những nội dung sau:
* Quản lý hoạt động giáo dục GTS trong các hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học là quá trình thống nhất biện chứng giữa giáo viên và học sinh, dưới tác động tổ chức điều khiển của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đặt ra, tổng hợp thành quả các bài học, các môn học, các mặt giáo dục, học sinh hình thành được nhân cách của bản thân thông qua kiến thức, kỹ năng, thái độ với các hiện tượng của đời sống thực tiễn Quản lý hoạt động giáo dục GTS trong các hoạt động dạy học chính là quản lý việc thực hiện các nội dung trong chương trình có liên quan đến việc giáo dục GTS; Quản lý phương pháp dạy học của giáo viên giúp học sinh không chỉ nắm vững, nắm chắc nội dung bài học mà còn nhận thức được các giá trị đạo đức và nhân văn cao cả, hình thành các thái độ, hành vi ứng xử tốt đẹp trong cuộc sống; Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ đơn thuần là chú trọng đến việc nắm kiến thức của học sinh mà còn quản
lý việc đánh giá thông qua hành vi, thái độ mà học sinh lĩnh hội được thông qua bài học Nói cách khác quản lý hoạt động giáo dục GTS trong các hoạt động dạy học trên cả ba phương diện; Kiến thức, thái độ và hành vi
* Quản lý hoạt động giáo dục GTS trong các hoạt động giáo dục
Quá trình giáo dục giá trị sống cho học sinh là quá trình tác động bền
bỉ, lâu dài bằng nhiều con đường khác nhau Ngoài việc giáo dục giá trị sống thông qua hoạt động dạy học, việc giáo dục giá trị sống còn được thông qua hoạt động giáo dục Nhà trường phải quản lý từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo việc thực thi kế hoạch, đôn đốc, kiểm tra đánh giá sát sao; chỉ đạo phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đoàn thanh niên, với giáo viên chủ nhiệm lóp, giáo viên phụ trách các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,
Trang 38lao động hướng nghiệp, giáo viên giảng dạy bộ môn, phối hợp với các lực lượng xã hội như hội CMHS và hội khuyến học, với chính quyền địa phương trên địa bàn tuyển sinh nhà trường và nơi học sinh cư trú, Công An huyện, Huyện đoàn thanh niên, Trung tâm sức khỏe sinh sản của tỉnh, của huyện nhằm tổ chức các chương trình giáo dục chuyên đề về GTS
* Quản lý về đội ngũ tham gia giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT
Để quá trình giáo dục GTS cho học sinh đạt hiệu quả, nhà trường cần xây dựng phương hướng chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất, nhằm động viên và phát huy tối đa khả năng của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
để tạo nên sức mạnh tổng thể trong quá trình GDGTS.Trong nhà trường phổ thông, nhà trường cần quản lý chỉ đạo phối hợp tốt các lực lượng sau:
+ Quản lý Giáo viên bộ môn trong việc tích hợp giáo dục GTS vào môn học
Từ kiến thức lý thuyết của bài giảng đến thực tế cuộc sống là quảng đường khá xa, một giờ học trên lớp chỉ có 45’, vì vậy để tích hợp được nội dung giáo dục giá trị sống vào bài giảng, đòi hỏi người giáo viên giảng dạy bộ môn phải linh hoạt khéo léo điều khiển giờ dạy, thầy trò cùng tích cực làm việc để có thể truyền tải và lĩnh hội đầy đủ nội dung kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, vừa thông qua kiến thức của bài học để học sinh nhận thức được giá trị của cuộc sống, hình thành giá trị của bản thân, biết lắng nghe, chia sẻ với người khác, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thích ứng xã hội….Như vậy vai trò của giáo viên bộ môn là hết sức quan trọng trong công tác giáo dục GTS, cho học sinh, nhưng việc tích hợp giáo dục GTS vào môn học còn là vấn đề mới mẻ đối với nhiều giáo viên nhà trường, vì vậy nhà quản lý ngoài việc lập kế hoạch chi tiết, cụ thể cho hoạt động còn phải tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ giáo viên, đồng thời phân cấp quản lý cho đội ngũ tổ trưởng, tổ phó, nhóm trưởng chuyên môn để thống kê việc tích hợp giáo dục GTS vào từng chương, từng bài cụ thể Tổ chức làm điểm, rút kinh nghiệm trung và triển khai đại trà Theo dõi sát sao việc thực hiện
Trang 39tích hợp vào bài dạy của đội ngũ giáo viên, đánh giá giờ dạy và kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh
+ Quản lý Giáo viên chủ nhiệm lớp trong hoạt động giáo dục GTS cho học sinh
Giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi nhất với các em học sinh, giáo viên chủ nhiệm cũng chính là những người những người bạn tâm tình chia sẻ tâm tư tình cảm với các em học sinh, là người tổ chức cho các em các hoạt động tập thể, là cố vấn cho các hoạt động Đoàn Giáo viên chủ nhiệm cần sáng tạo để tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng sống trong các hoạt động tập thể, các giờ sinh hoạt lớp theo một kịch bản linh hoạt GVCN phát huy các phương pháp giáo dục truyền thống, chủ động và tích cực, cởi
mở tiếp thu cái mới, chủ động kết hợp với các phương pháp tích cực
Trong nhà trường người giáo viên chủ nhiệm chính là vị thủ lĩnh tinh thần làm điểm tựa để tạo ra một tập thể lớp năng động, sáng tạo, biết học hết mình
và chơi hết mình Một tập thể lớp năng động sẽ tạo ra rất nhiều thành viên năng động và sáng tạo, chính vì vậy mà giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò thổi lửa để các em tự khẳng định được mình Với vai trò đó giáo viên chủ nhiệm sẽ tạo ra được động lực thi đua, tạo môi trường thân thiện giữa thầy, cô và trò, giữa các thành viên trong tập thể, Giữa tập thể lớp với tổ chức Đoàn, với hội cha mẹ học sinh Như vậy việc giáo dục giá trị sống thông qua hoạt động của giáo viên chủ nhiệm sẽ giúp hoàn thiện nhân cách cho các em học sinh, tạo cho các em tự tin hơn khi bước vào ngưỡng cửa của cuộc sống, cùng với hành trang tri thức các
em vững bước vào tương lai Người GVCN là lực lượng quan trọng tham gia hoạt động GDGTS cho học sinh
Để đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp thực thi tốt nhiệm vụ của mình, nhà quản lý cần chỉ đạo GVCN căn cứ kế hoạch tổng thể của nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục GTS phù hợp với từng khối lớp, triển khai kế hoạch
và tổ chức hoạt động cho học sinh, quản lý phát huy hiệu quả của giờ sinh hoạt lớp, đôn đốc, kiểm tra đánh giá thi đua kết quả rèn luyện của học sinh bằng các tiêu chí cụ thể
Trang 40+ Quản lý đội ngũ BCH Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tham gia giáo dục GTS
Tổ chức Đoàn thanh niên trong nhà trường là nơi đoàn kết, tập hợp thanh niên, tham gia các hoạt động tập thể, Đoàn có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, Giáo dục lý tưởng XHCN cho đoàn viên, Giáo dục luật pháp, lối sống, nếp sống, giáo dục về khoa học kỹ thuật công nghệ, về dân số, sức khỏe, môi trường.Giáo dục về phát huy, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.Giáo dục truyền thống Cách mạng, truyền thống lịch sử dân tộc, tự hào với các thế
hệ cha anh đi trước từ đó có trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường
và cả cộng đồng
Bên cạnh việc giáo dục chính trị tư tưởng Đoàn còn tổ chức nhiều phong trào hành động cách mạng cụ thể, thiết thực đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của tuổi trẻ Các phong trào hành động cách mạng của Đoàn là nơi để tuổi trẻ nhà trường xây dựng cho mỉnh nền tảng giá trị sống vững chắc rèn luyện kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phòng vệ… khơi dậy trong ĐVTN tinh thần tình nguyện của tuổi trẻ, dám nhận những nhiệm vụ khó khăn, dám đón nhận sự hy sinh gian khổ từ đó hình thành ý thức trách nhiệm của người thanh niên với cộng đồng
xã hội
Bằng các hoạt động tích cực và các phong trào hành động cách mạng Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thực sự là nơi để tuổi trẻ nhà trường rèn luyện, cống hiến và trưởng thành
Để nâng cao được hiệu quả hoạt động giáo dục GTS trong hoạt động của Đoàn thanh niên Nhà quản lý cần nhận thức đầy đủ các yếu tố có ảnh hưởng tới việc giáo dục GTS ở Đoàn viên thanh niên nhà trường, từ đó có những biện pháp quản lý để tác động vào những yếu tố tích cực, phát huy hiệu quả giáo dục, khắc phục và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực Đồng thời quản lý tốt các giờ sinh hoạt chi đoàn, các tiết chào cờ đầu tuần, các hoạt động chủ điểm, chủ đề nhân các ngày lễ lớn trong năm, các hoạt động phối