Giả thuyết khoa học Thực trạng đội ngũ giáo viên tại trung tâm GDTX huyện An Lão, Hải Phòng còn nhiều bất cập, chất lượng chưa cao, nếu ta có các biện pháp quản lý phát triển đồng bộ th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHAN HỮU THÀNH
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
NHIỆM VỤ GIÁO DỤC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHAN HỮU THÀNH
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
NHIỆM VỤ GIÁO DỤC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Viết Vượng
HÀ NỘI - 2011
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Lý luận về quản lý và quản lý giáo dục 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý giáo dục 13
1.3 Giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân 16
1.3.1 Giáo dục thường xuyên 16
1.3.2 Nhiệm vụ của trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện 18
1.3.3 Giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên 19
1.4 Lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên giáo dục thường xuyên 21
1.4.1 Khái niệm phát triển 21
1.4.2 Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên 21
Kết luận chương 1 26
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 28
2.1 Khái quát về Trung tâm Giáo dục Thường xuyên huyện An Lão, thành phố Hải Phòng 28
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội huyện An Lão, thành phố Hải Phòng 28
Trang 42.1.2 Quá trình phát triển của Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện
An Lão 29
2.1.3 Các thành tựu đã đạt được của Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện An Lão 30
2.2 Thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở Trung tâm GDTX huyện An Lão, thành phố Hải Phòng 36
2.2.1 Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện An Lão thành phố Hải Phòng 36
2.2.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện An Lão thành phố Hải Phòng 37
2.2.3 Phương pháp, hình thức tổ chức phát triển đội ngũ giáo viên của cán bộ quản lý Trung tâm GDTX huyện An Lão thành phố Hải Phòng 43 2.3 Đánh giá thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên Trung tâm GDTX huyện An Lão thành phố Hải Phòng 52
2.3.1 Những thành tựu 52
2.3.2 Những hạn chế 53
Kết luận chương 2 54
Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 56
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 56
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 56
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 56
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 57
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 57
3.2 Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện An Lão thành phố Hải Phòng 57
3.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên cho Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện An Lão thành phố Hải Phòng 57
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện An Lão thành phố Hải Phòng 62 3.2.3 Biện pháp 3: Tuyển dụng, phát triển đội ngũ giáo viên Trung tâm
Trang 5giáo dục thường xuyên huyện An Lão thành phố Hải Phòng 64
3.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng môi trường thuận lợi để phát triển đội ngũ giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện An Lão thành phố Hải Phòng 68
3.3 Mối quan hệ của các biện pháp 78
3.4 Trưng cầu ý kiến về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp phát triển ĐNGV Trung tâm GDTX huyện An Lão thành phố Hải Phòng 78
Kết luận chương 3 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Khuyến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 6GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay bất cứ lĩnh vực hoạt động xã hội nào cũng cần đến quản lý Quản lý là khoa học về phương pháp điều hành, phối hợp các hoạt động và khai thác sử dụng các nguồn lực để đạt được mục đích của một
tổ chức xã hội hay một đơn vị sản xuất
Trong lĩnh vực giáo dục cũng vậy, quản lý có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục Quản lý giáo dục trước hết là quản lý nguồn nhân lực, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên, đúng như chỉ thị 40- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ghi rõ:
“…phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục một cách toàn diện”
Trong chiến lược phát triển giáo dục 2010-2020, quản lý được xem là giải pháp đột phá, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là trọng tâm hàng đầu
Giáo dục thường xuyên (GDTX) là ngành học có vị trí đặc biệt trong
hệ thống giáo dục quốc dân, nhà nước cho mở các trung tâm GDTX ở các địa phương để thu hút mọi người dân đến học, nhằm nâng cao dân trí và xây dựng xã hội học tập Các trung tâm GDTX có các đối tượng học sinh rất đa dạng, từ thiếu niên đến người lớn tuổi, từ hệ bổ túc văn hóa, đến có các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, các lớp đào tạo liên thông, giáo viên của trung tâm phải
là những người có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục và phải có năng lực mới
có thể hoàn thành được nhiệm vụ được giao
Trung tâm GDTX huyện An Lão, thành phố Hải Phòng trong những năm qua đã có những cố gắng về nhiều mặt, từ một trường Bổ túc văn hóa đã phát triển lên thành Trung tâm GDTX cấp huyện, đã vươn lên đáp ứng những yêu cầu đa dạng hóa các loại hình đào tạo, giúp mọi người dân được học tập suốt đời Tuy nhiên Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện An Lão vẫn
Trang 8- Chất lượng đào tạo học sinh còn thấp, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp lớp
12 chưa cao, tỷ lệ thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp không nhiều
- Học viên các lớp liên kết đào tạo tốt nghiệp tỷ lệ khá, giỏi không nhiều, kỹ năng tay nghề còn yếu, áp dụng kiến thức đã được học vào công việc hàng ngày ở cơ quan đơn vị nơi công tác hiệu quả chưa cao
- Đội ngũ giáo viên của Trung tâm còn thiếu về số lượng, một bộ phận giáo viên còn yếu về năng lực sư phạm, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của ngành học GDTX Mỗi giáo viên GDTX ngoài việc giảng dạy văn hóa, còn phải tham gia liên kết đào tạo, làm công tác phong trào và nhiều việc khác nữa
- Công tác quản lý giáo dục hiệu quả còn thấp, chậm đổi mới cả về tư duy và phương pháp quản lý
Trước những yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương, chúng tôi nhận thấy cần phải nghiên cứu việc quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của Trung tâm một cách hệ thống, để có biện pháp thu nạp đủ số lượng giáo viên, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục của địa phương
Xuất phát từ thực tế trên, với tư cách là phó giám đốc TTGDTX của
huyện ngoại thành, chúng tôi chọn đề tài “
ngũ giáo viên của Trung tâm trong giai đoạn mới
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
+ Khách thể nghiên cứu: Quá trình tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, phát
triển đội ngũ giáo viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 9+ Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo
viên tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
4 Giả thuyết khoa học
Thực trạng đội ngũ giáo viên tại trung tâm GDTX huyện An Lão, Hải Phòng còn nhiều bất cập, chất lượng chưa cao, nếu ta có các biện pháp quản
lý phát triển đồng bộ thì sẽ có một đội ngũ giáo viên đáp ứng được những yêu
cầu mới của sự nghiệp giáo dục trong huyện
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên
- Đánh giá thực trạng về công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên An Lão, thành phố Hải Phòng
- Đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn trong phạm vi:
- Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của Trung tâm GDTX huyện An Lão, Hải Phòng
- Tài liệu được sử dụng trong thời gian 5 năm từ 2006 đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 10+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
+ Phương pháp chuyên gia
7.3 N ó ươ ỗ ợ
- Phương pháp thống kê
- Sử dụng phần mềm máy tính trên word – excel
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có cấu trúc 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trung tâm GDTX
Chương 2: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên trung tâm GDTX huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trung tâm GDTX huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
Trang 11
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Về giáo dục thường xuyên:
Trên thế giới có một công trình nghiên cứu được thừa nhận như một triết lý giáo dục thế kỷ XXI đó là báo cáo của Ủy ban Quốc tế về giáo dục, với tên gọi “học tập, một kho báu tiềm ẩn” dưới sự chủ trì của Jacques Delors, do UNESCO công bố tháng 4 năm 1996, theo đó một nền giáo dục
cần thiết cho thế kỷ XXI phải là họ ậ s ờ x ọ ậ
Học tập suốt đời được coi là chìa khóa mở cửa vào thế kỷ XXI, xã hội học tập là xã hội mà ở đó tất cả mọi người dân đều có cơ hội học tập để phát huy hết tiềm năng của mình
Các nhà giáo dục hàng đầu thế giới như Alvin Toffler, Warren Bennis, Stephen Covey, Gary Hamel, Kevin Kelly, Philip Kotler, John Kotter Michael Porter, Perer Senge, Thoms L Friedman, Raja.Roysingh, Tsunesaburo Makiguchi đã phân tích các đặc trưng của xã hội hiện đại, một
xã hội được xây dựng trên nền tảng của tri thức đang phát triển rất nhanh, biến đổi rất mau lẹ ở cấp độ toàn cầu, từ đó các ông kết luận rằng cần phải xây dựng một xã hội học tập giúp cho mọi người dân được học tập thường xuyên và suốt đời
Ở Việt Nam xã hội học tập được hình thành từ tư tưởng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh: “Làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự
do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Ngay trong những ngày đầu chính quyền cách mạng còn non trẻ, Người coi việc diệt giặc dốt quan trọng và cấp bách như diệt giặc ngoại xâm, kêu gọi toàn dân “ phải
Trang 12Học mãi để tiến bộ mãi Càng tiến bộ, càng phải học thêm.” Đối với cán bộ Bác khuyên “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời…không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi Thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”
- Trong những năm 80 - 90 của thế kỷ XX nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến ý nghĩa của xu thế phát triển giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời, tiêu biểu như: Phạm Minh Hạc, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Minh Đường,
Vũ Ngọc Hải, Phạm Tất Dong, Đặng Quốc Bảo, Mạc Văn Trang, Tô Bá Trượng, Đào Thái Lai, Tạ Ngọc Thanh, Thái Xuân Đào, Vũ Đình Ruyệt, Ngô Văn Cát v.v với nhiều công trình nghiên cứu được công bố
- Về đào tạo phát triển giáo viên:
Lịch sử xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên gắn liền với lịch sử phát triển của ngành giáo dục Việt Nam Hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành nước ta đã có một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học và cùng với các thành tựu ấy, chúng ta đã có một đội ngũ giáo viên hùng hậu như ngày nay
Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng giáo viên luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “không có thầy giáo thì không có giáo dục”, “các thầy, cô giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán
bộ cho dân tộc”, nhà nước cần chăm lo đào tạo và bồi dưỡng giáo viên và các
“trường sư phạm phải là trường mô phạm”
Thực hiện tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn nửa thế
kỷ qua Nhà nước ta đã có nhiều giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên và tổ chức nghiên cứu về giáo viên, trong đó có giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên
Từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước, nhiều công trình nghiên cứu
về giáo viên nói chung và giáo dục thường xuyên nói riêng đã được triển
Trang 13khai, tiêu biểu nhất là những công trình nghiên cứu về mô hình nhân cách giáo viên và người cán bộ quản lý nhà trường của hệ thống giáo dục quốc dân Nhiều công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên được thực hiện dưới góc độ quản lý giáo dục Nhiều hội thảo khoa học về chủ đề về đào tạo giáo viên theo ngành học, bậc học đã được tổ chức
Trong những năm 80 - 90 có các công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sĩ Hồ, Trần Bá Hoành, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thanh Hoàn …
Các nhà nghiên cứu giáo dục rất quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Trong bài viết “Chất lượng giáo viên” đăng trên Tạp chí Giáo dục tháng 11 năm 2001 của tác giả Trần Bá Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng giáo viên từ đặc điểm lao động sư phạm của người giáo viên Theo ông chất lượng giáo viên bao gồm hai yếu tố cấu thành đó là phẩm chất và năng lực Phẩm chất giáo viên đựơc thể hiện ở thế giới quan, lòng yêu nghề, yêu trẻ, đạo đức và tính gương mẫu Năng lực của giáo viên thể hiện ở sự nắm vững đặc điểm tâm, sinh lý các lứa tuổi học sinh, năng lực thiết kế và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực đánh giá học sinh, năng lực giải quyết các tình huống nảy sinh trong giáo dục Bốn yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giáo viên là: đào tạo, sử dụng và bồi dưỡng giáo viên và năng lực tự học của chính giáo viên
Trong bài viết “Nghề và nghiệp của người giáo viên” tại hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, tác giả Trần Bá Hoành đã nhấn mạnh đến vấn đề “lý tưởng sư phạm” đó là cái tạo nên động cơ, thôi thúc người giáo viên sáng tạo và không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ của mình Từ đó tác giả đề nghị cần phải quản lý xây dựng tập thể sư phạm theo
mô hình “đồng thuận” ở đó giáo viên sẻ chia “bí quyết nhà nghề” để lao động sáng tạo và có hiệu quả
Trang 14Trong bài “Chất lượng giáo viên và những chính sách cải thiện chất lượng giáo viên” đăng trên Tạp chí Phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả Nguyễn Thanh Hoàn đã trình bày khái niệm chất lượng giáo viên bằng cách phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên OECD Tác giả đã đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một giáo viên có năng lực qua sự phân tích qua 22 năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục Tác giả cũng đề cập tới những chính sách quản lý cải thiện và duy trì chất lượng giáo viên ở cấp độ vĩ mô và vi mô; từ đó tác giả nhấn mạnh đến ba vấn đề quyết định đến chất lượng giáo viên là: Bản thân người giáo viên, nhà trường, môi trường chính sách bên ngoài
Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong các giải pháp cho việc phát triển giáo dục - đào tạo Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010 - 2020 đã xác định phải “phát triển đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu
và chuẩn chất lượng”
Trong chương trình đào tạo sau đại học, chuyên ngành quản lý giáo dục, vấn đề đội ngũ giáo viên cũng được triển khai nghiên cứu và giảng dạy một cách có hệ thống
Hiện nay trong các trường đại học sư phạm và đại học giáo dục có nhiều luận văn tốt nghiệp cao học chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản
lý phát triển đội ngũ giáo viên Các công trình tập trung vào các bậc học phổ thông, các trường đại học, cao đẳng và khối trung học chuyên nghiệp Các nghiên cứu còn đựơc thực hiện dưới góc độ quy hoạch phát triển ở các địa phương, vùng, miền và lãnh thổ
Ta có thể kể đến các công trình của các tác giả: Nguyễn Thị Yến (2008) “Dự báo, quy hoạch, phát triển đội ngũ nhà giáo của huyện Nho Quan, Ninh bình đến năm 2015” “Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010” của tác giả
Trang 15Vũ Hồng Hiên “Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Hoàng Ngọc Dũng “Quy hoạch đội ngũ cán
bộ quản lý trường trung học cơ sỏ thuộc phòng Giáo dục huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2006-2015” của tác giả Ngô Thanh Tùng; “Quy hoạch phát triển giáo dục mầm non các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam đế năm 2015” của tác giả Nguyễn Bá Hứa
Tuy vậy cho đến nay còn rất ít đề tài nghiên cứu về giáo viên GDTX, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên cho các trung tâm giáo dục thường xuyên – một bộ phận đặc thù của đội ngũ nhà giáo cần phải lưu ý trong quản lý, tổ chức đào tạo, sử dụng và bồi dưỡng
Do vậy, nghiên cứu đề tài này là một đòi hỏi cấp thiết, đang được lãnh đạo trung tâm GDTX An Lão, đồng nghiệp quan tâm mong đợi
1.2 Lý luận về quản lý và quản lý giáo dục
1.2.1 Quản lý
Từ khi xuất hiện loài người, con người đã biết quy tụ thành từng bày, thành nhóm để tồn tại và phát triển Từ lao động giản đơn đến lao động phức tạp, con người đã biết phân công, hợp tác với nhau trong lao động và sinh hoạt cộng đồng nhằm tạo ra được năng suất cao hơn, giá trị hơn Sự phân công, hợp tác đó đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, đó chính là
quản lý
Các quan điểm truyền thống hay các học thuyết quản lý cổ điển, học thuyết quản lý thời văn minh công nghiệp, hay hậu công nghiệp đều có những nét chung của tổ chức quản lý là: cai quản, chỉ huy, lãnh đạo Theo góc độ điều khiển quản lý là: điều chỉnh, điều khiển Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm tổ chức phối hợp các quá trình sản xuất, phát triển xã hội để đạt được mục đích đã định
Trang 16Theo học thuyết Mác- Lênin “ x ô k a ọ sự
Một số tác giả như Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí cho rằng:
“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản
lý (người quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu đề ra” [10, tr 3]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng trong cuốn Quản lí hành chính nhà
nước và quản lí ngành giáo dục đào tạo thì “ í sự ó
ủa ủ q í ượ q í ằ ỉ , ề , ướ
dẫ q ì x ủa â ướ ế ụ í ạ
ù ợ ớ q ậ k q a ” [27, tr 40]
Như vậy, với các cách tiếp cận, các quan niệm của các nhà khoa học về quản lý thì hình như chúng bao hàm những khía cạnh khác nhau, song mục tiêu cuối cùng mà họ đưa ra thì lại hoàn toàn giống nhau Nghĩa là quản lý để đạt đến chất lượng của sản phẩm bởi quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết định hợp quy luật và có hiệu quả quản lý đồng thời phải tuân theo những nguyên tắc nhất định nhằm đạt đến mục tiêu chung của tổ chức mình
Từ những khái niệm trên ta có thể rút ra:
Trang 17- Quản lý phải bao hàm hai yếu tố: chủ thể và khách thể quản lý;
- Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích có kế hoạch
và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó;
- Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống Nó có cấu trúc và vận hành trong môi trường xác định.(môi trường xã hội và môi trường tự nhiên)
MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN - MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI
1 C ă kế ạ óa
Kế hoạch hóa là bước lập kế hoạch, xác định mục tiêu, xác định các bước đi để đạt được mục tiêu, trong đó bao gồm các công việc như xác định con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu đó
Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa:
Trang 18Tổ chức là hình thành các mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các
bộ phận trong một đơn vị nhằm làm cho đơn vị thực hiện thành công các kế hoạch và mục tiêu tổng thể Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực
Thành công của một tổ chức phụ thuộc nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả cao nhất
3 C ă ạ ( ỉ ạ )
Chỉ đạo là hoạt động dẫn dắt, điều khiển cuả người quản lý đối với các hoạt động của các thành viên, để điều hành hoạt động của hệ thống thực hiện đúng kế hoạch và mục tiêu đã đề ra Trong quá trình chỉ đạo phải bám sát các hoạt động, các trạng thái vận hành của hệ thống cho đúng tiến trình, đúng kế hoạch, kịp thời phát hiện và sửa chữa các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động
4 C ă k a
Kiểm tra là chức năng quản lý, thông qua đó mọi cá nhân, mọi nhóm hoặc một tổ chức được theo dõi, giám sát các hoạt động và tiến hành các sửa chữa, điều chỉnh, uốn nắn nếu cần thiết Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu chưa tương xứng thì phải tiến hành điều chỉnh hoặc tự điều chỉnh, trong đó người quản lý phải:
- Đặ a ữ ẩ ự ạ ủa ạ
- ườ x ườ , ế kế q ớ ẩ ự ề a
- T ế ề ỉ ữ sa
- H í , sửa ạ ẩ ự ế
Trang 19Các chức năng của quản lý luôn được thực hiện đan xen, phối hợp và
bổ sung cho nhau tạo thành chu trình Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các khâu, các công đoạn, nó vừa là điều kiện, vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện chức năng quản lý và ra quyết định quản lý
Sơ đồ 1.2 Quan hệ giữa các chức năng quản lý
Kế hoạch
Kiêm tra
Đánh giá Thông tin
Tổ chức thực hiện
Chỉ đạo
1.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hoạt động xã hội, nhờ có giáo dục mà mỗi cá nhân có
cơ hội học tập để trưởng thành mau chóng, nền văn hoá các dân tộc và nhân loại được bảo tồn, nguồn nhân lực xã hội được phát triển Giáo dục là quá trình có nhiều lực lượng tham gia, được tổ chức thành một hệ thống từ trung ương tới địa phương, với mạng lưới các trường học, các cơ sở giáo dục, được phân thành các cấp học, bậc học, ngành học, do vậy hệ thống giáo dục cần được quản lý một cách thống nhất
Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội, là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội, để đẩy mạnh hoạt động của cả hệ thống giáo dục nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển của nền kinh tế, văn hóa
xã hội
Trang 20Theo Nguyễn Kỳ và Bùi Trọng Tuân: “ dụ ượ
Theo Phạm Minh Hạc:“ ườ ự ườ
dụ ủa Đ ạ ủa ì , ưa ườ
ậ e dụ , ế ớ ụ dụ , ụ
ạ ớ dụ , ớ ế ẻ ớ ừ ọ s ” [5, tr71]
Một số tác giả đưa ra khái niệm quản lý giáo dục như sau:
- “Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã
hội nhằm đấy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay ” [19, tr 8]
- “Quản lý giáo dục là sự điều hành hệ thống Giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống Giáo dục quốc dân” (25,tr.35)
Phân tích các định nghĩa trên ta thấy quản lý giáo dục được thực hiện ở hai cấp: vĩ mô và vi mô Cấp vĩ mô là cấp độ quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục từ trung ương đến các địa phương, cấp vi mô là cấp quản lý các hoạt động giáo dục và dạy học trong nhà trường
Ở ấ ĩ ô: Quản lí nhà nước về giáo dục là sự điều chỉnh các hoạt
động của hệ thống giáo dục quốc dân bằng quyền lực nhà nước
- Chủ thể quản lý là bộ máy quản lý giáo dục các cấp
Trang 21- Khách thể quản lý là hệ thống giáo dục quốc dân (các trường học, trung tâm giáo dục, các cơ sở đào tạo và phục vụ đào tạo);
Quản lí nhà nước về giáo dục có hai nguyên tắc cơ bản là: kết hợp quản lí theo ngành và theo lãnh thổ và nguyên tắc tập trung, dân chủ
Ở ấ ô: Trường học là các đơn vị hạt nhân cấu thành hệ thống
giáo dục quốc dân, ở đó tiến hành quá trình giáo dục và đào tạo Quản lý trường học có chức năng định hướng và kiểm soát các hoạt động chuyên môn theo mục tiêu giáo dục Quản lý trường học vừa mang bản chất xã hội, vừa mang bản chất sư phạm
- Chủ thể quản lý trường học là ban giám hiệu đứng đầu là hiệu trưởng
- Đối tượng quản lý là các tổ chức của nhà trường, là tập thể cán bộ,
giáo viên, học sinh và các nguồn lực giáo dục khác
Quản lý trường học là sự tác động, điều hành của hiệu trưởng đến cán
bộ, giáo viên, học sinh, phụ huynh và các lực lượng xã hội khác: đoàn thể, hội phụ huynh, đến các nguồn lực giáo dục: cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tài chính, thông tin
N d q ườ :
- Tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách giáo dục của nhà nước, chỉ thị của các cơ quan cấp trên, thông qua việc tổ chức thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục và bảo đảm các quy chế chuyên môn
- Quản lí đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất, tài chính theo các quy định chung của nhà nước
- Điều hành các hoạt động của nhà trường theo điều lệ nhà trường đã được nhà nước ban hành
- Quản lý hoạt động của các tổ chuyên môn, các hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh, theo kế hoạch của từng năm học và mục tiêu của cấp học
Trang 22Bản chất của quản lý giáo dục trong nhà trương là quá trình tác động
có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục Các mối quan hệ này có ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng hoạt động của các nhà trường và toàn bộ hệ thồng giáo dục
Mục tiêu của quản lý giáo dục trong nhà trường chính là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục, trường học, hoặc đối với những thông số chủ yếu của hệ thống giáo dục trong mỗi nhà trường Những thông số này được xác định trên cơ sở đáp ứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước
Mục tiêu này bao gồm: đảm bảo quyền của người học, ngành học, cấp học, lớp học đúng tiêu chuẩn Đảm bảo tiêu chí, chất lượng và hiệu quả đào tạo, phát triển tập thể sư phạm đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đời sống vật chất, tinh thần Xây dựng các mối quan hệ phối hợp hiệu quả giữa các tổ chức với chính quyền để thực hiện thắng lợi các mục tiêu của giáo dục và đào tạo
Đối tượng của quản lý giáo dục trong nhà trường là toàn bộ các hoạt động của cán bộ, giáo viên, học sinh và các tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện kế hoạch và chương trình giáo dục và đào tạo nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đảm bảo chất lượng cao
1.3 Giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1 Giáo dục thường xuyên
Trên thế giới thuật ngữ giáo dục thường xuyên (Continuing Education) được sử dụng tương đương với các thuật ngữ “Giáo dục người lớn”, (Adult Education), “Giáo dục ngoài nhà trường” (Out - of - shool Education), “Giáo dục cộng đồng” (Community Education), hoặc giáo dục không chính quy
Trang 23(Non-formal Education) Năm 1987, UNESCO đưa ra khái niệm:
dụ ó ấ ơ d ọ ườ ó ọ ậ
Theo điều 4 của Luật Giáo dục hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, như vậy GDTX là một bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập
Theo “Từ điển giáo dục học” GDTX là “phương thức giáo dục không chính quy (KCQ) nhằm giúp mọi người được học liên tục, học suốt đời để mở rộng kiến thức, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội”
Với quan niệm này GDTX có chức năng thay thế, tiếp nối, bổ sung cho giáo dục chính quy, đảm bảo tính liên thông giữa các cấp học, bậc học và giữa các loại hình giáo dục GDTX có các hình thức đa dạng và linh hoạt tuỳ thuộc vào mục tiêu và các điều kiện thực tế, bao gồm: vừa học vừa làm, học
từ xa, tự học có hướng dẫn, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng lao động,
kỹ năng sống; chuyển giao công nghệ v.v
Giáo dục thường xuyên được tổ chức thành các trung tâm giáo dục thường xuyên, bao gồm:
- Trung tâm GDTX của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Trung tâm GDTX cấp tỉnh)
- Trung tâm GDTX của các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Trung tâm GDTX cấp huyện)
- Trung tâm giáo dục cộng đồng được tổ chức tại các xã, phường, thị trấn 9goij chung là cấp xã)
Trung tâm GDTX cấp huyện là một cơ sở giáo dục thu hút các tầng lớp nhân dân trong huyện đến học tập đáp ứng yêu cầu về giáo dục thế hệ trẻ và
Trang 241.3.2 Nhiệm vụ của trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện
Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện có các nhiệm vụ sau đây:
1 Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục:
- Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;
- Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác tại vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm của địa phương;
- Chương trình giáo dục cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông
2 Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng
3 Tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 của Điều này dành riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn tật, khuyết tật, theo kế hoạch hằng năm của địa phương
4 Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập
5 Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên
Việc giảng dạy tại các Trung tâm GDTX cấp huyện cho học viên theo học các chương trình bổ túc văn hoá THCS, THPT, lao động hướng nghiệp
và dạy nghề phổ thông, tin học ngoại ngữ và các chương trình đào tạo bồi
Trang 25dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức đều phải đảm bảo nguyên tắc chung của việc đổi mới chương trình giáo dục nói chung
và đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nói riêng
Giáo dục thường xuyên tuân theo các nguyên tắc:
- Quán triệt mục tiêu của giáo dục thường xuyên: Việc giảng dạy tại các Trung tâm GDTX cấp huyện phải cụ thể hoá mục tiêu giáo dục được quy định trong Luật Giáo dục hình thành và phát triển trên nền tảng kiến thức, kỹ năng phù hợp với từng đối tượng người học, cấp học, bậc học
- Đảm bảo tính khoa học và sư phạm: Việc giảng dạy tại các Trung tâm GDTX cấp huyện phải được tổ chức một cách khoa học và đảm bảo tính
sư phạm, phải lựa chọn được các nội dung cơ bản, phổ thông, cập nhật những tiến bộ của khoa học và công nghệ đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Phải đổi mới phương pháp dạy học và áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy các chương trình giáo dục, đào tạo bồi dưỡng tại Trung tâm
- Đảm bảo đáp ứng yêu cầu của từng đối tượng người học: Các chương trình giáo dục - đào tạo bồi dưỡng, chuyển giao công nghệ tại Trung tâm phải đáp ứng yêu cầu của từng đối tượng học viên, phù hợp với lứa tuổi Chương trình học phải đảm bảo tính vừa sức, tâm lý lứa tuổi, phù hợp với sự tiến bộ của khoa học - công nghệ đồng thời đảm bảo sự tiếp thu của đa số học viên
1.3.3 Giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên
Theo Luật Giáo dục và Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm GDTX ban hành theo Quyết định 01/2007/ QĐ-BGD&ĐT: Giáo viên của Trung tâm giáo dục thường xuyên là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục tại Trung tâm giáo dục thường xuyên, thực hiện các chương trình quy định cụ
thể là:
- Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp sau xoá mù chữ
Trang 26- Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: Chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng; công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức tại các vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hang năm của địa phương
- Chương trình giáo dục thường xuyên cấp THCS, THPT:
ủa t â ó m vụ sau:
- Thực hiện nhiệm vụ giảng dạy theo mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học, quản lý học viên theo sự phân công của Giám đốc Trung tâm GDTX
- Rèn luyện đạo đức, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy
- Thực hiện các quyết định của Giám đốc, các quy định của pháp luật
và quy định của quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDTX ban hành theo Quyết định 01/2007/ QĐ-BGD&ĐT
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, đoàn kết giúp đỡ các đồng nghiệp, gương mẫu trước học viên, tôn trọng nhân cách học viên, đối sử công bằng với học viên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho học viên
ủa t â ó ững quyền lợi sau â :
- Được Trung tâm tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ được giao
- Được hưởng mọi quyền lợi theo quy định đối với nhà giáo
- Được trực tiếp hoặc thông qua tổ chức của mình quản lý Trung tâm
- Được tham gia các hoạt động nghiên cứu khó học, lao động sản xuất, dịch vụ chuyển giao công nghệ do Trung tâm tổ chức
Trang 27- Được dự các buổi họp của hội đồng khen thưởng và hội đồng kỷ luật khi các hội đồng này giải quyết các vấn đề có liên quan đến học viên của lớp mình được phân công phụ trách
Giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên có định mức giờ dạy, định mức làm công tác kiêm nhiệm như quy định đối với giáo viên cùng cấp học ở các cơ sở giáo dục phổ thông
Như vậy, nhiệm vụ của GV trung tâm GDTX so với giáo viên của các trường phổ thông trung học hoặc dạy nghề đa dạng và phức tạp hơn, cần phải
là những người có kinh nghiệm sư phạm, có tay nghề cao và đặc biệt là phải biết hy sinh, tận tụy thì mới có thể hoàn thành được tất cả các công việc được phân công
1.4 Lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên giáo dục thường xuyên
1.4.1 Khái niệm phát triển
Phát triển theo nghĩa thông thường là biến đổi từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Phép biện chứng duy vật đã khẳng đinh: Mọi sự vật hiện tượng không chỉ tăng lên hay giảm đi về số lượng mà chúng luôn biến đổi, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước, tạo thành một quá trình chuyển hoá từ trình độ thấp đến trình độ cao hơn
Phát triển là một quá trình nội tại chứa đựng dưới dạng tiềm năng các khuynh hướng tiến bộ, hoàn thiện của cả tự nhiên và xã hội Phát triển có thể
là một quá trình hiện thực nhưng cũng có thể còn ở dạng tiềm ẩn của sự vật hay hiện tượng
1.4.2 Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
W.L French cho rằng “Quản trị nhân sự là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức”
Trang 28Theo Nguyễn Quang Truyền, quản lý đội ngũ giáo viên là “xây dựng
một đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, loại hình, đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối giáo dục của Đảng và ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đủ sức thực hiện có chất lượng mục tiêu và
kế hoạch đào tạo” [23, tr 9]
Như vậy, quản lý phát triển ĐNGV là quản lý phát triển nhân sự bao gồm quá trình tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nhằm đạt được mục đích phát triển nhân sự của tổ chức nhà trường
Quản lý phát triển ĐNGV trong các trung tâm GDTX là thực hiện những nội dung cơ bản trong pháp lệnh công chức, bao gồm: lập kế hoạch, quy hoạch đội ngũ, quy định biên chế, quy định chức danh, tiêu chuẩn giáo viên, phân cấp quản lý giáo viên, đào tạo bồi dưỡng, nâng ngạch, kiểm tra, đánh giá, và giải quyết những vấn đề về chế độ chính sách, chế độ tiền lương, khen thưởng, kỷ luật…
Phát triển đội ngũ giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên có quan
hệ mật thiết với phát triển đội ngũ giáo viên nói chung Làm tốt việc phát triển đội ngũ giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên là góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành học GDTX, góp phần nâng cao dân trí và tạo tiền
đề cho sự phát triển nguồn nhân lực cho xã hội
Phát triển đội ngũ giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện là tạo ra một đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng (có trình độ, được đào tạo đúng quy định, có phẩm chất đạo đức, có năng lực trong các hoạt động dạy học và giáo dục học sinh ở các Trung tâm GDTX cấp huyện) Trên cơ sở đó, đội ngũ này đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu của chương trình dạy học được đưa vào giảng dạy ở các Trung tâm GDTX và các yêu cầu của ngành học giáo dục thường xuyên
Phát triển đội ngũ giáo viên GDTX gồm các nội dung sau đây:
Trang 291.4.2.1 ọ
Quản lý phát triển đội ngũ cán bộ, nhân viên trước hết cần chú ý tới các bước tuyển mộ và lựa chọn “tuyển mộ là một thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng ký, nộp đơn xin việc”, còn “lựa chọn là quyết định xem trong số các ứng viên ấy ai là người hội đủ các tiêu chuẩn để làm việc ”[20, tr.112]
Từ cách hiểu trên ta có thể suy luận tuyển chọn giáo viên bao gồm hai bước:
- Tuyển mộ giáo viên là một tiến trình thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng ký, nộp đơn xin làm việc tại các cơ
sở giáo dục Hiện nay, việc tuyển mộ giáo viên cho các trường THPT cũng như các trung tâm GDTX được thực hiện theo các hướng: tuyển giáo viên tốt nghiệp từ các trường đại học, hoặc tuyển từ dạng tự do những người chưa có việc làm hoặc xin chuyển từ các địa phương khác tới
- Lựa chọn giáo viên là quá trình xem xét, lựa chọn những người có đủ các tiêu chuẩn làm giáo viên, các tiêu chuẩn này căn cứ vào Luật Giáo dục, Pháp lệnh công chức và nhu cầu sử dụng của trung tâm GDTX
Thực tế cho thấy, hiệu quả của việc tuyển chọn giáo viên phụ thuộc vào tính khách quan của các khâu tuyển dụng
Đây là các hình thức phổ biến có tác dụng phát huy năng lực cá nhân Đánh giá cần phải có định hướng, có tiêu chí thống nhất, có mục tiêu xác định, thống nhất mục tiêu cá nhân với mục tiêu của nhóm của tập thể
1.4.2.2 Sử dụ
Sử dụng đội ngũ giáo viên là sắp xếp, bố trí, giao nhiệm vụ, đề bạt, bổ nhiệm giáo viên gắn với chức danh cụ thể, nhằm phát huy khả năng hiện có của ĐNGV để vừa hoàn thành được mục tiêu của tổ chức và tạo ra sự đồng thuận trong cơ quan đơn vị
Trang 30Sử dụng là bước tiếp theo sau của tuyển chọn giáo viên Khái niệm sử dụng được hiểu theo nghĩa rộng bao hàm cả sử dụng (bổ nhiệm) trong cả hiện tại và dự định giai đoạn tiếp theo (điều động, thăng chức, thời gian sử dụng
và phát triển tiếp theo), gắn với các thành tố khác như tuyển chọn, bồi dưỡng
và tạo môi trường phát triển (chính sách, chế độ đãi ngộ)
1.4.2.3 Bồ dưỡ
Bồ dưỡ theo nghĩa chung nhất là làm tăng thêm trình độ hiện có của
giáo viên với nhiều hình thức, mức độ khác nhau Tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng, còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ” [14, tr.13] Hoặc “Bồi dưỡng là bồi bổ, làm tăng thêm trình độ hiện có về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để làm tốt hơn việc đang làm” [29, tr 29]
Với ý nghĩa đó, bồi dưỡng giáo viên trung tâm GDTX là quá trình tác động tổ chức tạo cơ hội cho tập thể giáo viên để họ được cập nhật, bổ sung kiến thức, năng lực sư phạm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục và đào tạo ơ trung tâm GDTX qua các giai đoạn khác nhau
Các hình thức bồi dưỡng giáo viên gồm có: tập trung, không tập trung, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng theo chu kỳ, tổ chức trao đổi rút kinh nghiệm, hội thảo, thăm quan, đi thực tế và quan trọng nhất là tự bồi dưỡng, thường xuyên tham giá nghiên cứu, viết sáng kiến kinh nghiệm giáo dục
Nội dung bồi dưỡng GV hết sức phong phú bao gồm: bồi dưỡng năng lực sư phạm; bồi dưỡng cập nhật kiến thức về nội dung chương trình, sách giáo khoa mới; bồi dưỡng các kiến thức hỗ trợ, triết học, tin học, ngoại ngữ, môi trường
Bồi dưỡng giáo viên là hoạt động cực kỳ quan trọng, nhà trường có phát triển hay không trước hết nhìn ở tiềm lực phát triển của chính đội ngũ giáo viên
Trang 311.4.2.4 Đ
Đánh giá là xác nhận việc thực hiện các mục tiêu và tiêu chuẩn của tổ chức, thông qua các tiêu chí ghi nhận và hỗ trợ Kích thích, động viên, cán bộ giáo viên Đặc trưng của của bước này liên quan đến khen thưởng, thuyên chuyển, cải tiến cơ cấu tổ chức, cung cấp phản hồi … Trong thực tế có nhiều cách thức kiểm tra đánh giá, điều quan trọng là quá trình kiểm tra đánh giá đảm bảo tính công bằng, dân chủ làm cho đối tượng được kiểm tra cảm thấy tin tưởng và nhiệt tình trong công việc
Có ều ì
- Cấp trên trực tiếp đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ cấp dưới;
- Đồng nghiệp trong nhóm đánh giá lẫn nhau;
- Tự đánh giá
- Đánh giá tổng hợp
Đây là các hình thức phổ biến có tác dụng phát huy năng lực từng cá nhân và tập thể Đánh giá cần có tiêu chí, tiêu chuẩn thống nhất và phải đảm bảo tính khách quan, công bằng và dân chủ
C ươ
Có nhiều phương pháp đánh giá: theo bảng điểm, xếp hạng, đánh giá bằng các sự kiện quan trọng, đánh giá bằng tường thuật, đánh giá theo hành
vi, tiến trình công việc
Các hình thức và phương pháp đánh giá đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, người quản lý phải biết vận dụng linh hoạt, phối hợp các hình thức và phương pháp đánh giá vào những tình huống cụ thể
Đánh giá mức độ hoàn thành công việc là căn cứ vào công việc chứ không quy kết về nhân cách, vào các mối quan hệ, mục đích đánh giá là giúp giáo viên thấy được điểm mạnh, điểm yếu từ đó tìm ra nguyên nhân và hướng khắc phục
Trang 321.4.2.5 Đ
Một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý các nhà trường theo Harold Koont, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich: Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất
Với tư cách thực tế thì quản lý là một nghệ thuật, còn với tri thức thì quản lý là một khoa học Vì vậy để quản lý tốt và có hiệu quả trong sử dụng đội ngũ giáo viên, các nhà quản lý giáo dục phải tạo ra được môi trường đoàn kết, dân chủ thuận lợi cho sự phát triển
Đãi ngộ liên quan đến các quyết định về lương, phúc lợi xã hội, khen thưởng Các chế độ đãi ngộ là một bộ phận quan trọng trong công tác quản lý đội ngũ, bởi lẽ nó quyết định động cơ, sự nhiệt tình và gắn bó của họ với công việc mà nếu không có các yếu tố đó thì đơn vị giáo dục sẽ không thể hoàn thành được công việc cho dù đã lựa chọn đúng Trong bối cảnh hiện nay, thách thức lớn nhất trong lĩnh vực quản lý là cải thiện chế độ tiền lương, tạo môi trường đồng thuận cho giáo viên GDTX tác nghiệp với trách nhiệm
và lương tâm nhà giáo
Kết luận chương 1
1 Trong nền kinh tế thị trường, xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển như vũ bão về khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện nay, các Trung tâm GDTX cấp huyện trở thành cơ sở giáo dục đáp ứng mọi nhu cầu của người học, từng bước xây dựng xã hội học tập, học suốt đời trên địa bàn
2 Để tổ chức tốt việc dạy học và giáo dục trong các Trung tâm GDTX cấp huyện nhất thiết phải phát triển đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng
bộ về cơ cấu, có chuyên môn nghiệp vụ sư phạm vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp Đây là yếu tố quyết định nhất đến việc xây dựng các Trung tâm
Trang 334 Phát triển đội ngũ giáo viên tại các Trung tâm GDTX cấp huyện có
ý nghĩa quan trọng: quản lý được nguồn lực để phát triển giáo dục và đào tạo giáo dục thường xuyên, tạo động lực tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội trên địa bàn, thúc đẩy việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào trong thực tế đời sống và lao động, sản xuất của nhân dân
5 Để công tác quản lí phát triển đội ngũ giáo viên tại các Trung tâm GDTX cấp huyện có hiệu quả cần thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nội dung phát triển giáo viên theo quan điểm, yêu cầu, tham khảo kinh nghiệm phát triển giáo viên theo hướng chuẩn hoá của các nước trên thế giới Thực hiện đồng bộ các khâu từ việc quy hoạch, kế hoạch, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đánh giá việc phát triển đội ngũ giáo viên tại Trung tâm
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 Khái quát về Trung tâm Giáo dục Thường xuyên huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
An Lão là một huyện thuần nông, nằm ở phía tây nam của thành phố
Hải Phòng, với diện tích tự nhiên là 110,85 km2 Huyện An Lão với 17 đơn
vị hành chính (15 xã và 02 thị trấn), có 34321 hộ dân, 129563 nhân khẩu, tỷ
lệ phát triển dân số khoảng 0,095% Kinh tế của huyện chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, mức thu nhập bình quân đàu người thấp so với thu nhập bình quân trong toàn thành phố, khoảng 700.000 đồng/người/tháng
Mặc dù các điều kiện kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn nhưng
An Lão là một huyện có truyền thống hiếu học, có nhiều người đỗ đạt cao như Cao Toàn đỗ Thái học sĩ, Trần Tất Văn đỗ trạng nguyên có con là Trần Văn Tảo đỗ tiến sĩ, Gia đình Nguyễn Kim có hai người đỗ tiến sĩ, một người
đỗ Hoàng giáp
An Lão có các nhà thơ yêu nước nổi danh như Nguyễn Chuyên Mỹ, Lê Khắc Cẩn,….truyền thống hiếu học và trọng người tài, truyền thống đánh giặc ngoại xâm anh dũng quật cường với những nữ dân quân du kích Núi Voi cheo mình trên vách đá, ngang chừng trời ngắm bắn máy bay rơi Những truyền thống quý báu đó của người dân huyện An Lão – nơi địa linh nhân kiệt vẫn được truyền nối đến ngày nay
Trang 35
2.1.2 Quá trình phát triển của Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện
An Lão
Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện An Lão được thành lập từ
năm 1998 trên cơ sở chuyển đổi từ trường Bổ túc văn hóa huyện theo Quyết định số 1660/QĐ- BGD&ĐT Ngày 20/5/1997 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động các trung tâm GDTX cấp
huyện
Trung tâm GDTX huyện An Lão khi đó do Uỷ ban Nhân dân huyện
An Lão quản lý cho đến ngày 01 tháng 1 năm 2007 mới được chuyển giao về
Sở GD&ĐT Hải Phòng quản lý toàn diện
Trong những năm chưa chuyển giao về sở thì công tác chỉ đạo cũng như cơ cấu tổ chức không đồng bộ, hoạt động của Trung tâm GDTX An Lão mang tính tự phát trên cơ sở nhiệm vụ năm học hàng năm, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học thiếu thốn trầm trọng, công tác phát triển đội ngũ giáo viên không được quan tâm đúng mức Đội ngũ giáo viên - cán bộ công nhân viên Trung tâm quá ít (7 đến 10 biên chế chủ yếu là biên chế quản lý, kế toán, hành chính, thủ quỹ còn lại là giáo viên giảng dạy) do phòng GD&ĐT cấp huyện điều động từ các trường THCS lên giảng dạy dẫn đến không đạt chuẩn đào tạo Đội ngũ giáo viên hợp đồng dài hạn do Trung tâm trực tiếp hợp đồng đều đạt chuẩn song không ổn định vì đội ngũ này hưởng lương do Trung tâm cân đối thu chi các nguồn thu học phí để chi trả theo mức lương thoả thuận
Trung tâm khi nào có nguồn thu cao thì trả lương giáo viên hợp đồng
và giáo viên thỉnh giảng cao và ngược lại Cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến đội ngũ giáo viên dạy hợp đồng không an tâm giảng dạy lâu dài giai đoạn đó tại Trung tâm GDTX An Lão Khi có cơ hội là đội ngũ giáo viên này tham gia thi tuyển viên chức vào giảng dạy tại các trường THPT trên địa bàn
Trang 36Giáo viên giảng dạy lao động hướng nghiệp dạy nghề phổ thông cho học sinh cấp lớp văn hóa hệ bổ túc không được giao biên chế giáo viên cơ hữu Muốn thực hiện được nhiệm vụ này Trung tâm GDTX huyện An Lão phải tự hợp đồng giáo viên dạy nghề hoặc tự bồi dưỡng một nghề cụ thể cho đội ngũ giáo viên giảng dạy văn hoá để trực tiếp tham gia giảng dạy nghề phổ thông cho học sinh THCS và BTTHPT bằng cách thông qua các lớp bồi dưỡng ngắn hạn của trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề
thành phố Hải Phòng tổ chức và cấp chứng chỉ dạy nghề phổ thông
Từ ngày 01 tháng 1 năm 2007 Sở GD&ĐT Thành phố Hải Phòng quản
lý toàn diện Trung tâm GDTX cấp huyện/ quận, mọi hoạt động của trung tâm GDTX đã mang tính đồng bộ trên toàn thành phố
Đội ngũ giáo viên vào giảng dạy tại Trung tâm đã được thi tuyển, cơ cấu đội ngũ đang được rà soát và xây dựng cơ chế đồng bộ cho tất cả các bộ môn, công tác đào tạo bồi dưỡng đã được quan tâm Cơ chế chính sách đang được nghiên cứu trình UBND thành phố Hải Phòng phê duyệt để tổ chức thực hiện
2.1.3 Các thành tựu đã đạt được của Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện An Lão
Trung tâm GDTX huyện An Lão từ khi thành lập đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội huyện An Lão trong nhiều năm qua Tổng hợp kết quả sau 05 năm tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học từ năm học 2004 - 2005 đến năm học 2008 - 2009 đã cho thấy những thành tựu đáng kể đã đạt được củaTrung tâm giáo dục thường xuyên huyện An Lão cụ thể như sau:
2.1.3.1 C ựu về ô ng dạ a ướng nghi p dạy nghề phổ ô
Đối với công tác giảng dạy lao động hướng nghiệp dạy nghề phổ thông cho thanh, thiếu niên, học sinh các trường THCS, THPT kết quả đạt được theo từng năm học được tác giả tổng hợp trong bảng sau:
Trang 37Bảng 2.1 Tổng hợp quy mô học sinh học hướng nghiệp dạy nghề của
Trung tâm GDTX huyện An Lão thành phố Hải Phòng
Năm học Tổng số
Chia ra các nghề phổ thông
Tin Ngoại ngữ
Điện dân dụng
Đan len May
Làm hoa
Làm vườn
Sửa xe máy
Điện
tử
2005 – 2006 15 713 90 100 95 98 135 40 50 45 60 20076– 2007 20 760 145 15O 120 60 55 45 55 50 80
2.1.3.2 C ựu về ô ng dạy bổ ú
Đối với công tác giảng dạy bổ túc THPT kết quả đạt được theo từng năm học được tác giả tổng hợp trong bảng sau:
Bảng 2.2: Tổng hợp quy mô học sinh BTVH THPT Trung tâm
GDTX huyện An Lão thành phố Hải Phòng
Năm học
Tổng số Khối 10 Khối 11 Khối 12 HS tốt nghiệp
lớp 12 LỚP HS LỚP HS LỚP HS LỚP HS
Trang 382.1.3.3 Đ b qu ng dạy â dục
ườ x ấp huy H
Tình hình đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên giảng dạy tại Trung tâm
GDTX huyện An Lão thành phố Hải Phòng được tổng hợp tại bảng sau:
Bảng 2.3: Tổng biên chế đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên giảng dạy tại Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện An Lão thành phố Hải Phòng
GV thỉnh giảng
Thạc
sĩ
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp Khác
- Tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên, giáo viên thỉnh giảng: 23 người, trong đó:
+ Cán bộ quản lý là: 3 người; chia ra: Giám đốc 01 người; Phó giám đốc 02 người
+ Nhân viên hành chính sự nghiệp: 5 người; chia ra: kế toán: 01 người; hành chính - thủ quỹ: 02 người; bảo vệ 02 người
+ Giáo viên trực tiếp giảng dạy: 15 người; Chia ra: Giáo viên cơ hữu: 8 người; đạt 53, 3 % Giáo viên hợp đồng dài hạn: 5 người; đạt 33, 3 % Giáo viên hợp đồng thỉnh giảng theo tiết dạy: 2 người; chiếm 13, 3 %
Trang 39Có thể mô tả cơ cấu đội ngũ giáo viên giảng dạy trong Trung tâm GDTX huyện An Lão thành phố Hải Phòng theo các hình thức tuyển dụng như hình 2.1dưới đây
ì 2.1: B ồ ơ ấ â n An
H e ì c tuy n dụng
Qua biểu đồ mô tả cơ cấu đội ngũ giáo viên giảng dạy trong Trung tâm
GDTX huyện An Lão thành phố Hải Phòng tỉnh được thể hiện trên cho thấy đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy thiếu trầm trọng nhất là giáo viên giảng dạy 07 môn văn hoá cơ bản; có tới 13,3% trên tổng số giáo viên là giáo viên giảng dạy tại các trường THPT tham gia giảng dạy các môn văn hoá, 33,3% là giáo viên giảng dạy hợp đồng dài hạn (ký hợp đồng theo tính chất thời vụ hàng năm) dẫn tới đội ngũ giáo viên chính thức của Trung tâm GDTX huyện An Lão vừa thiếu và vừa yếu trong khâu dự giờ thăm lớp, trao đổi rút kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ Từ đó công tác phát triển đội ngũ giáo viên tại Trung tâm GDTX huyện An Lão thành phố Hải Phòng tỉnh
đã khó khăn lại trồng chất khó khăn Đòi hỏi các cấp quản lý giáo dục thành
Cơ cấu đội ngũ giáo viên Trung tâm GDTX huyện An Lão thành phố Hải
Giáo viên cơ hữu
Giáo viên HĐ dài hạn
Giáo viên thỉnh giảng
Trang 40Trung tâm GDTX huyện An Lão trên cơ sở định mức biên chế đối với các trường THPT được qui định tại thông tư số 35 Đồng thời phải bổ sung kịp thời giáo viên cơ hữu dạy nghề phổ thông cho Trung tâm GDTX An Lão vì thực tế hiện nay nhiệm vụ giáo dục lao động hướng nghiệp dạy nghề phổ thông tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên như An Lão thực hiện rất tốt, nhưng lại không có biên chế giáo viên dạy nghề mà giáo viên dạy nghề hiện nay chủ yếu là giáo viên hợp đồng thời vụ, lương hưởng theo thoả thuận, chế
độ chính sách không đảm bảo cho họ thì khó có thể nói nâng cao chất lượng dạy học được
2.1.3.5 ì ô ạo của gi ng dạy tại
T â H
Số giáo viên trực tiếp giảng dạy tại Trung tâm GDTX huyện An Lão thành phố Hải Phòng là 15/23 người chiếm 65,2 % tổng số cán bộ, viên chức ( trong đó có cả giáo viên thỉnh giảng theo thời vụ) Trong đó: Trình độ thạc
sĩ có 1/ 15 gv chiếm 6,6 %; trình độ đại học có 13/15 gv chiếm 86, 6 %; trình
độ cao đẳng có 1/15 giáo viên chiếm 6,6 %; Số giáo viên được đào tạo tại các trường đại học sư phạm là: 11/15 giáo viên: chiếm 73,3 % Số giáo viên được đào tạo tại các trường sư phạm kỹ thuật là: 2/15 giáo viên: chiếm 13,3
%; Số giáo viên được đào tạo tại các trường kỹ thuật khác có chứng chỉ sư phạm đủ điều kiện tham gia giảng dạy nghề phổ thông là: 2/15 giáo viên; chiếm 13, 3%
Từ số liệu trên cho thấy, số giáo viên được đào tạo ở các trường Đại học sư phạm hiện đang giảng dạy tại Trung tâm GDTX huyện An Lão thành phố Hải Phòng chiếm tỷ lệ rất cao (73,3 % ) trong tổng số giáo viên trực tiếp giảng dạy Số còn lại là giáo viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng sư phạm kỹ thuật, các trường đại học công nghệ thông tin trực tiếp tham gia giảng dạy lao động hướng nghiệp dạy nghề phổ thông cho học sinh THCS, THPT và thanh thiếu niên trên địa bàn huyện An Lão thành phố Hải Phòng Số giáo viên