ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TÔ THỊ HẠNH QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC G
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TÔ THỊ HẠNH
QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH
HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA
HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN CÔNG GIÁP
Trang 2DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3.Mục tiêu nghiên cứu 4
4.Đối tượng nghiên cứu 4
5.Khách thể nghiên cứu 4
6.Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7.Nhiệm vụ nghiên cứu 5
8.Giả thuyết nghiên cứu 5
9.Phương pháp nghiên cứu 5
10.Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC 7
1.1.Một số cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu 7
1.1.1.Quản lý và các chức năng quản lý 7
1.1.2.Chất lượng dạy học và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học tiếng Anh 12
1.1.3.Đặc thù của dạy học tiếng Anh 15
1.1.4.Quá trình dạy học và quản lý quá trình dạy học 19
1.2.Quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh 22
1.2.1.Quản lý xây dựng và triển khai chương trình , kế hoạch dạy học 22
1.2.2.Quản lý hoạt động giảng dạy 23
1.2.3.Quản lý hoạt động học tập tiếng Anh của SV 24
1.2.4.Quản lý các điều kiện phục vụ công tác quản lý và dạy học 25
1.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý QTDH môn tiếng Anh hệ VLVH 25
1.3.1.Yếu tố chủ quan 25
1.3.2.Yếu tố khách quan 26
Trang 4Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
MÔN TIẾNG ANH HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC
QUỐC GIA HÀ NỘI 30
2.1 Thông tin chung về Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN 30
2.1.1 Giới thiệu chung về Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN 30
2.1.2 Quy mô đào tạo hệ VLVH của Trường 31
2.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học của Trường 33
2.1.4 Đôi nét về các đơn vị giảng dạy ngoại ngữ tại Trường 34
2.2 Thực trạng dạy học môn tiếng Anh hệ VLVH tại Trường 37
2.2.1 Thực trạng về đội ngũ GV tiếng Anh hệ VLVH 37
2.2.2.Thực trạng chương trình giảng dạy môn tiếng Anh hệ VLVH 39
2.2.3 Những khó khăn của GV khi giảng dạy tiếng Anh hệ VLVH 40
2.2.4 Thực trạng về khả năng sử dụng tiếng Anh của SV hệ VLVH 42
2.3 Thực trạng quản lý QTDH môn tiếng Anh hệ VLVH tại Trường 43
2.3.1 Thực trạng quản lý xây dựng và triển khai chương trình giảng dạy 44
2.3.2 Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy 46
2 3.3 Thực trạng quản lý hoạt động học tập 52
2.3.4 Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ công tác quản lý và dạy học 56
2.4 Đánh giá chung 59
2.4.1 Những ưu điểm 59
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 60
Tiểu kết chương 2 62
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY MÔNTIẾNG ANH HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 63
3.1 Căn cứ chính và các nguyên tắc lựa chọn biện pháp 63
3.1.1 Căn cứ chính để xây dựng các biện pháp 63
3.1.2 Các nguyên tắc xây dựng các biện pháp 64
3.2 Các biện pháp quản lý QTDH môn tiếng Anh hệ VLVH tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN 65
Trang 53 2.1 Thống nhất quy trình quản lý QTDH môn tiếng Anh trên cơ sở
phân công, phân cấp hợp lý 65
3.2.2 Đổi mới phương pháp quản lý và dạy học môn tiếng Anh phù hợp với đặc điểm hệ VLVH 67
3.2.3 Nâng cao các điều kiện phục vụ công tác quản lý và dạy học môn tiếng Anh 69
3.2.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh 70
3.3 Khảo sát về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 73
3.3.1 Mục đích khảo sát 73
3.3.2 Nội dung khảo sát 73
3.4 Kết quả khảo sát 73
Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Khuyến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trên thế giới, hiện nay, Tiếng Anh đang được hơn một tỷ người sử dụng Tiếng Anh cũng được coi là một ngôn ngữ chính thức của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Nhóm G8, Tổ chức Bắc Đại Tây dương (NATO).v.v và trong thời đại bùng nổ thông tin, nhiều thông tin được phát trên vệ tinh được sử dụng là tiếng Anh
Tại Việt Nam, Trong thời kỳ hội nhập và với xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì ngoại ngữ - phổ biến là tiếng Anh - có một vai trò vô cùng quan trọng Vì thế, Đảng và Nhà Nước đã có mối quan tâm đặc biệt đến vấn đề dạy và học ngoại ngữ Ngoại ngữ nhất là Tiếng Anh cũng được Bộ Giáo dục và Đào tạo coi trọng và được đưa vào giảng dạy ở tất cả các bậc học của hệ thống đào tạo Ngày 30/9/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1400/QĐ-TTg,
phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân” (gọi
tắt là Đề án ngoại ngữ 2020) Theo đề án này, tất cả học sinh, sinh viên, học viên sau đại học của các hệ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân đều
được đào tạo ngoại ngữ trong đó có tiếng Anh với mục tiêu đặt ra: “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ… để đến năm 2015, đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ; đến năm 2020, thanh niên tốt nghiệp ĐH, CĐ, TCCN có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập trong học tập và làm việc, coi đây là thế mạnh của người dân Việt Nam” Đặc biệt, mục tiêu cụ thể có nêu rõ: “Đối với các ngành học không chuyên ngữ, sau khi tốt nghiệp sinh viên phải đạt trình độ tối thiểu bậc 3 theo khung năng lực ngoại ngữ… ” (khung tham chiếu chung Châu Âu).
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội (Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN) là một cơ sở đào tạo đại học, sau
Trang 7đại học và nghiên cứu khoa học Trường có chức năng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở các trình độ cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ về các ngành khoa học cơ bản và ứng dụng thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Mục tiêu của nhà trường hiện nay là phấn đấu đạt ngang tầm các đại học tiên tiến trong khu vực, tiến tới đạt trịnh độ quốc tế Để tiến tới đạt được mục tiêu trên, công tác đào tạo tiếng Anh được coi trọng và là môn học điều kiện để sinh viên (SV) được xét tốt nghiệp
Qua thực tiễn quan sát việc dạy học môn tiếng Anh cho SV hệ vừa làm vừa học (VLVH) của Trường, chúng tôi nhận thấy còn tồn tại một số bất cập: việc dạy nặng về ngữ pháp, ít chú trọng đến rèn luyện năng lực sử dụng ngoại ngữ của SV, phương pháp giảng dạy của (GV) còn khá đơn điệu, chưa quan tâm nhiều đến việc học của SV, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
SV còn mang nặng tính hình thức, chương trình đào tạo chưa tính đến đặc điểm người học, SV tốt nghiệp hầu như không đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ
QTDH đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm và
có nhiều công trình nghiên cứu nên đã hình thành được cơ sở lý luận cho QTDH Việc nghiên cứu QTDH tiếng Anh không chuyên ở các trường đại học cũng được đề cập đến ở nhiều công trình nghiên cứu
Trang 8Là một trường Đại học lớn như ĐHQGHN nói chung và Trường ĐHKXH&NV nói riêng, cũng đã coi trọng công tác giảng dạy ngoại ngữ nhất
là tiếng Anh không chuyên cho SV Điều đó thể hiện ở việc có nhiều công trình nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh không chuyên Các công trình nghiên cứu đã mô tả thực trạng công tác dạy học tiếng Anh không chuyên, công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV và việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của người học Một số đề tài còn nghiên cứu những thay đổi từ hình thức đào tạo tiếng Anh theo niên chế sang hình thức đào tạo theo tín chỉ Tiêu biểu cho các nghiên cứu này có thể kể đến:
Tác giả Vũ Thị Ninh và nhóm cộng sự (2006): Thực trạng giảng dạy ngoại ngữ không chuyên ở các ngành khoa học xã hội và nhân văn, đề tài đặc
biệt cấp ĐHQGHN
Tác giả Phạm Thị Thủy (2007): Kiểm tra, đánh giá trình độ SV nhóm I,
M, N ở trường ĐHKHXH&NV: thực trạng và giải pháp
Tác giả Nguyễn Thị Linh Yên (2010): Cơ sở lý luận dạy học tích cực
trong đào tạo ngoại ngữ (tiếng Anh) theo học chế tín chỉ tại Trường ĐHKHXH-NV, ĐHQGHN
Tác giả Nguyễn Hồng Loan (2008): Quản lý chất lượng giảng dạy môn
tiếng Anh chuyên ngành: Thực trạng tại Trường Đại học KHXH&NV và đề xuất một số giải pháp
Tác giả Phạm Thị Hoa (2010): Biện pháp quản lý QTDH môn tiếng Anh theo phương thức tín chỉ tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Các công trình kể trên đã có những đóng góp quan trọng trong việc nhìn nhận thực trạng dạy học tiếng Anh không chuyên và đóng góp những biện pháp phù hợp, khả thi cho công tác dạy học tiếng Anh cho sinh viên hệ chính quy Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN Tuy nhiên còn một mảng đào
Trang 9tạo quan trọng với số lượng SV lớn đó là mảng đào tạo tiếng Anh cho SV hệ VLVH tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN lại chưa được ai quan tâm nghiên cứu đến
Vì các lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội”, với hy vọng tìm ra những biện
pháp phù hợp hơn để nâng cao hiệu quả quản lý môn tiếng Anh hệ VLVH tại Trường ĐHKHX&NV, ĐHQGHN Trong phạm vi cho phép, tác giả chỉ đề cập đến vấn đề quản lý QTDH môn tiếng Anh hệ VLVH tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN từ năm 2005 đến 2010
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích cuối cùng của đề tài là nâng cao chất lượng dạy và học và trình độ tiếng Anh của SV hệ VLVH tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Để làm được việc này, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý QTDH môn tiếng Anh cho hệ VLVH tại trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, luận văn đề xuất một số biện pháp phù hợp và hiệu quả hơn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Anh hệ VLVH tại trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
4 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý QTDH môn tiếng Anh hệ VLVH Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
5 Khách thể nghiên cứu
QTDH môn tiếng Anh tại hệ VLVH tại Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN: quá trình dạy học và người GV,SV hệ VLVH
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Biện pháp quản lý QTDH môn tiếng
Trang 10- Giới hạn thời gian nghiên cứu: từ năm 2005 đến năm 2010
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Đánh giá thực trạng dạy học môn tiếng Anh hệ VLVH tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
- Đánh giá thực trạng quản lý QTDH môn tiếng Anh hệ VLVH tại Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN
- Đề xuất một số biện pháp quản lý QTDH môn tiếng Anh hệ VLVH tại Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN
8 Giả thuyết nghiên cứu
Trong thực tiễn quản lý QTDH môn tiếng Anh hệ VLVH tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn tồn tại một số bất cập ảnh hướng đến chất lượng và hiệu quả đào tạo Nếu khảo sát, nghiên cứu thực trạng công tác dạy học, công tác quản lý QTDH môn tiếng Anh hệ VLVH, để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp quản lý mang tính khoa học, phù hợp với thực tiễn thì thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy học môn tiếng Anh hệ VLVH tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
9 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
9.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: các văn bản của nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, ĐHQGHN, Trường ĐHKHXH&NV; các nguồn sách, báo, các tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học, các bài tham luận khoa học
9.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Lập phiếu điều tra, sử dụng bảng
câu hỏi nhằm thu thập ý kiến đánh giá về các vấn đề nghiên cứu
Trang 11- Phương pháp tọa đàm (trò chuyện, phỏng vấn): Thu thập thông tin qua
việc trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý cấp trường, cấp khoa, các GV, SV của hệ VLVH, Trường ĐHKHXN&NV, ĐHQHN
- Phương pháp điều tra, thống kê, phân tích, so sánh số liệu, thống kê toán học: Sử dụng thông tin điều tra, thống kê từ đó phân tích, so sánh các
đánh giá của các đối tượng từ đó đưa ra kết luận
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh
hệ vừa làm vừa học
Chương 2: Thực trạng quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3: Các biện pháp quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
MÔN TIẾNG ANH HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
1.1 Một số cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.1.1 Quản lý và các chức năng quản lý
1.1.1.1 Khái niệm quản lý
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, 1998, thuật ngữ
quản lý được định nghĩa là: “ Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị,
Theo quan điểm chính trị xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một
hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [ 26, tr.7]
Trang 13Theo quan điểm hệ thống: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” [27, tr.43]
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên rất phổ biến và được sự quan tâm đặc biệt, Khoa học quản lý được coi là chìa khoá vàng cho những thành công của cá nhân hay tổ chức
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến.” [23, tr.15]
Theo tác giả Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định.” [25, tr.8]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý là làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra và tiến đến trạng thái có chất lượng mới Hệ ổn định mà không phát triển thì tất dẫn đến suy thoái Hệ phát triển mà không ổn định thì tất yếu dẫn đến rối ren.” [9,tr.4]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [10, tr.3]
Qua những định nghĩa trên ta thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản
Trang 14- Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể và khách thể quản lý
- Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau, chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý
Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự
nỗ lực của người khác Cũng có ý kiến cho rằng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định Tuy vậy, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người
Dù được hiểu theo cách nào về quản lý cũng cần quan tâm một số điểm sau:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận của chủ thể quản lý và khách thể quản lý, là quan hệ không đồng cấp, có tính bắt buộc
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin
Tóm lại, những khái niệm về quản lý nêu trên đều có các đặc trưng chủ yếu là: tính tự giác, tính mục đích và tính quần chúng trong quản lý Đây được xem là cơ sở phương pháp luận của mọi hoạt động quản lý
1.1.1.2 Các chức năng quản lý
Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý Chức năng
Trang 15quản lý có chức năng cơ bản, chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau bao gồm:
a Chức năng lập kế hoạch:
Người quản lý phán đoán trước toàn bộ quá trình và các hiện tượng mà tương lai có thể xảy ra mang tính định hướng và chuẩn bị các giải pháp thực hiện hoạt động mong muốn này bằng cách xác định rõ:
- Hoạt động nào mà tổ chức muốn thực hiện
- Cách thực hiện các hoạt động này được thực hiện như thế nào, khi nào thì thực hiện
- Ai sẽ là người thực hiện, nguồn lực nào cần có để thực hiện các hoạt động đó (tiền bạc, thiết bị, con người)
- Các hoạt động này được thực hiện ở đâu, khi nào kết thúc
Việc lập kế hoạch sẽ kết nối khoảng trống giữa vị trí hiện tại với mục tiêu mà tổ chức mong muốn đạt đến trong tương lai Chức năng này được coi
là chức năng cơ bản nhất của tất cả các chức năng quản lý Nhà quản lý lập kế hoạch bao gồm cả việc tuyển chọn nhân viên, tổ chức các nguồn lực, kiểm tra
và phối hợp con người và các hoạt động để đảm bảo đạt được các mục tiêu
b Chức năng tổ chức:
Tổ chức là đảm bảo tất các các hoạt động và các tiến trình được sắp xếp, giúp cho một tổ chức có thể đạt được các mục tiêu đề ra Nội dung quan trọng nhất của tổ chức là tìm được đúng người, đúng việc, xác định được trách nhiệm của họ, thiết kết một tổ chức và cơ cấu đảm bảo các nhân viên đều hiểu rõ họ làm việc gì, ở đâu và với ai hay báo cáo cho ai, phải rõ ràng quyền lực, trách nhiệm để tránh tình trạng hỗn loạn Đảm bảo một môi trường làm việc lành mạnh, tích cực và khuyến khích làm việc hiệu quả
Tiến trình tổ chức gồm 5 bước:
Trang 16- Xác định các hoạt động
- Phân loại và nhóm các hoạt động
- Phân bổ công việc và các hoạt động
- Đánh giá kết quả để quyết định xem có cần những thay đổi hay điều chỉnh nào không
c Chức năng lãnh đạo, điều khiển:
Các nhà quản lý phải là những người lãnh đạo hiệu quả, họ phải học cách làm việc với người khác, cách chi phối và động viên người khác để đảm bảo công việc được thực hiện Các công nhân, nhân viên trong mỗi tổ chức đều có cách suy nghĩ riêng và cũng sẽ làm những việc họ muốn nếu họ không thích những mệnh lệnh hoặc các chỉ dẫn của các nhà quản lý đưa ra Chức năng quản lý điều khiển của cán bộ bao gồm:
- Chỉ đạo
- Gây ảnh hưởng
- Giám sát
- Hướng dẫn
d Chức năng kiểm tra:
Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý Để cho chức năng này có hiệu quả, nhà quản lý phải thiết lập được các tiêu chuẩn, quy trình kiểm tra, đo lường và phân tích các kết quả các nhà quản lý xác định được là
tổ chức có đạt được các mục tiêu đề ra hay không, và có được liên kết chặt chẽ với việc lập kế hoạch hay không, và nếu không đạt được thì phải cải thiện việc thực hiện nhằm tăng cơ hội đạt được mục tiêu Việc cải thiện này nằm trong quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau:
- Nhà quản lý đặt ra mục tiêu hoạt động
- Nhà quản lý đối chiếu, đo lường kết quả đạt được so với mục tiêu hoạt động đã đề ra
Trang 17- Nhà quản lý tiến hành điều chỉnh sai lệch
- Nhà quản lý điều chỉnh, bổ sung mục tiêu hoạt động (nếu cần)
Vì vậy, ta có thể nói quản lý vừa là một khoa học vừa có tính nghệ thuật, nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động của đời sống con người quản lý là sự chi phối và dẫn dắt mọi hoạt động của cá nhân,
tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
1.1.2 Chất lượng dạy học và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học tiếng Anh
1.1.2.1 Khái niệm chất lượng dạy học
Chất lượng dạy học tập trung ở sản phẩm nhân cách đáp ứng được những yêu cầu của mục đích dạy học đề ra Chất lượng dạy học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là được thể hiện ở chất lượng nhân cách của người học với những đặc trưng cơ bản về thể chất, tâm lý và xã hội phù hợp với những tiêu chuẩn nhất định hoặc là thể hiện ở năng lực và phẩm chất của nhân cách người học được hình thành và phát triển trải qua quá trình đào tạo với sự tham gia của nhiều yếu tố như: xác định mục tiêu, chương trình, phương pháp, hình thức, điều kiện, môi trường, chất lượng đội ngũ GV, sự nỗ lực của người học
và tựu trung lại ở kết quả dạy học
Có nhiều quan niệm về chất lượng dạy học Ở đây, chúng tôi xin đề cập đến hai quan niệm chính về về chất lượng dạy và học
Theo quan niê ̣m he ̣p : Chất lươ ̣ng da ̣y- học = Chất lươ ̣ng của người ho ̣c Theo quan niê ̣m rô ̣ng hơn : Chất lươ ̣ng da ̣y - học = Chất lươ ̣ng các thành tố ta ̣o nên quá trình da ̣y ho ̣c và chất lượng của người được đào ta ̣o Các thành tố của chất lượng dạy và học bao gồm:
- Chương trình giáo dục
- Chất lượng của người da ̣y : Đó là kiến thức, PPDH của người da ̣y
Trang 18- Chất lượng của người ho ̣c : Đó là kiến thức , kỹ năng và thái độ học tập của người học
- Chất lượng của các điều kiê ̣n đảm bảo cho chất lượng da ̣y - học: Đó là CSVC, là chính sách đối với giáo viên khiến họ yên tâm công tác
Quan điểm hiện nay của các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới là chất lượng giáo dục là một khái niệm phức hợp và đa diện (Grisay & Mahlck, 1991; Hawes & Stephens, 1990) Grisay và Mahlck (1991) cho rằng không nên giới hạn khái niệm chất lượng giáo dục ở trình độ hay kết quả học tập của người học mà cần tính đến các yếu tố tác động đến chất lượng giáo dục như
GV, cơ sở vật chất của nhà trường, chương trình học và các yếu tố khác Như vậy, nói một cách khái quát thì chất lượng giáo dục bao gồm ba khía cạnh có quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là: chất lượng nguồn lực con người và nguồn lực vật chất phục vụ giảng dạy và học tập, (nguồn ngôn ngữ hay tiếng Anh gọi là input), chất lượng giảng dạy (quá trình hay process) và chất lượng sản phẩm (đầu ra hay outcome)
1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học tiếng Anh
Chất lượng dạy và học tiếng Anh tuỳ thuộc nhiều yếu tố Trong đó phải
kế đến ba yếu tố chính là:
Yếu tố đầu tiên là thái độ, động lực học tập của SV Học ngoại ngữ là
một quá trình phức tạp và gian khổ Trong quá trình đó nếu SV không có thái
độ, động lực học tập đúng đắn thì không thể đạt kết quả mong muốn Tuy nhiên, khái niệm động lực là một khái niệm trừu tượng và là một khái niệm động Nói cách khác, động lực của SV thay đổi theo thời gian Trong quá trình học tập động lực của SV có thể tăng lên và cũng có thể giảm đi, thậm chí mất hẳn Động lực của SV chỉ có thể được duy trì và phát triển khi môi trường học tập thuận lợi, khi người học nhìn thấy được những tiến bộ của cá nhân trong quá trình học tập và khi SV được học tập trong mối quan hệ tốt
Trang 19đẹp với thầy cô giáo và với bạn bè Ngoài ra, động lực học tập còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, kinh tế, và xã hội nữa Khi môi trường xã hội không đem lại cho người học cơ hội được sử dụng những gì đã học được trong lớp thì đương nhiên họ sẽ thấy những điều họ được các thầy cô dạy trên lớp là không cần thiết và từ đó động lực học tập sẽ giảm đi
Yếu tố thứ hai là chất lượng GV Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra
rằng, GV là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng QTDH GV, ngoài năng lực chuyên môn, cần có những năng lực phẩm chất nhất định Nhà nghiên cứu Ebata (2008) đã chỉ ra rằng người học thích những GV có những phẩm chất sau:
- Biết cách làm việc với học sinh
- Không áp đặt ý kiến cá nhân của mình cho người học
- Có thái độ khoan dung, có tinh thần trách nhiệm và có khiếu hài hước
- Vui vẻ nhưng biết nghiêm túc khi cần thiết
- Quan tâm chăm sóc người học
- Thân thiện, gần gũi với người học
- Tích cực, năng động
- Hiểu được kỳ vọng của người học
- Có thể tin cậy được
Để giúp người học hoàn thành được mục tiêu học tập, GV cần có hiểu được những sở trường, sở đoản, mục đích học tập, những khó khăn trong học tập của SV, hiểu được tính cách SV Những hiểu biết đó giúp GV biết cách áp dụng những thủ thuật, những hoạt động và những yêu cầu phù hợp với SV, từ
đó tạo ra sự tin cậy lẫn nhau giữa người dạy và người học Từ đó lớp học sẽ trở nên thoải mái và vui vẻ để người học lĩnh hội tri thức và kỹ năng mới GV cũng cần phải hiểu được SV mong đợi ở họ những gì để có thể giúp học sinh
Trang 20Yếu tố thứ ba là tài liệu học tập và hình thức học tập Trong dạy học
ngoại ngữ, tài liệu học tập có tác dụng khuyến khích người dạy và người học nếu phù hợp với trình độ của SV hoặc ngược lại Để tài liệu học tập khuyến khích được người dạy và người học trong quá trình dạy học thì tài liệu học tập
là phải đảm bảo tính cập nhật, mới mẻ đồng thời đảm bảo thực hiện được mục
tiêu dạy học
Trong giờ học ngoại ngữ, các hình thức dạy học là yếu tố có tác dụng khuyến khích người học rất lớn Chất lượng học tập sẽ được nâng cao khi người học có điều kiện tiếp xúc và làm quen với các hình thức học đa dạng như làm việc nhóm, thuyết trình hoặc thông qua các hoạt động tương tác với
GV như trả lời câu hỏi hay đặt câu hỏi cho GV Vì vậy mà GV cần sử dụng
đa dạng các phương pháp giảng dạy kết hợp với các phương tiện dạy học hiện
đại phù hợp với đặc điểm của SV
Trong ba yếu tố trên thì yếu tố chất lượng GV và môi trường học tập, điều kiện học tập là hai yếu tố quyết định chất lượng dạy học ngoại ngữ vì những yếu tố này có thể làm thay đổi thái độ và động lực của người học, giúp người học tự tin hơn hay mất niềm tin vào học tập
1.1.3 Đặc thù của dạy học tiếng Anh
Đặc thù của dạy học tiếng Anh là dạy học thực hành và luyện tập các
kỹ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh bao như kỹ năng nghe (Listening skill), nói (Speaking skill), đọc (Reading skill) và viết (Writing skill)
Các hoạt động luyện đọc nhằm giúp SV hiểu bài đọc, áp dụng sự hiểu biết vào những bài tập cần đến sự hiểu biết tổng quát của toàn bài đọc, liên hệ thực tế, chuyển hoá nội dung thông tin và kiến thức có được từ bài đọc, qua
đó thực hành luyện tập sử dụng ngôn ngữ đã học
Trang 21Các hoạt động luyện nghe nhằm giúp SV hiểu bài nghe thông qua các hoạt động như nghe ý chính trả lời các câu hỏi; nghe chi tiết nội dung hay nghe để tự tìm hết đáp án hay tự sửa lỗi
Hiện nay trong đổi mới phương pháp dạy học, kỹ năng nói đã được hình thành qua tiết riêng cho mỗi bài, vì rõ ràng mục đích của việc luyện nói
là nhằm giúp SV có thể nói được với người bản xứ, hạn chế dần sự rụt rè khi nói chuyện với người bản xứ, dù rằng với những câu đơn giản nhất Các hoạt động luyện nói được phối hợp thường xuyên bằng các hình thức luyện theo cặp và luyện theo nhóm để các em có nhiều cơ hội sử dụng ngoại ngữ trong lớp, từ đó các em cảm thấy tự tin, mạnh dạn hơn trong giao tiếp
Các bài luyện viết thường bắt đầu bằng một bài mẫu, thông qua hoạt động đọc hiểu có hướng dẫn, hoặc có gợi ý của GV Sau khi nắm bắt cách trình bày một bài viết, SV thực hiện các bài tập viết theo yêu cầu đề ra một cách sáng tạo và tự do hơn
Môn học tiếng Anh có mục đích nâng cao trình độ hiểu biết của người học trong hai lĩnh vực chủ yếu là ngôn ngữ học và đất nước học, đồng thời góp phần nâng cao năng lực tư duy cho người học Bởi vì, để thực hiện tốt chức năng giao tiếp, ngoài kiến thức về ngôn ngữ như từ vựng, ngữ pháp, kiến thức về văn hóa ứng xử… người học cần có năng lực tư duy như phân tích, đối chiếu, tổng hợp để phát triển tư duy logic như diễn đạt ý tưởng một cách mạch lạc, sáng sủa, gãy gọn và đúng lý lẽ
Với đặc thù trên đòi hỏi người dạy và người học phải chuẩn bị những phẩm chất, năng lực tương ứng để thực hiện nhiệm vụ dạy và học nhằm đạt hiệu quả cao:
a Người học (SV) cần:
- Có thái độ tích cực đối với ngôn ngữ mà họ đang muốn học, và với cả
Trang 22- Có động cơ cá nhân mạnh mẽ để học ngôn ngữ đó
- Tự tin rằng họ sẽ thành công trong việc nắm bắt ngôn ngữ
- Luôn chuẩn bị tinh thần sẵn sàng với việc có thể mắc lỗi và rút kinh nghiệm từ những lỗi mắc phải
- Học tất cả những gì liên quan đến ngôn ngữ
- Sắp xếp thời gian thích hợp cho việc thực hành ngôn ngữ
- Chủ động tìm mọi cách để được thực hành nói về những thứ mà họ không biết phải diễn đạt như thế nào cho chính xác bằng thứ ngôn ngữ mà họ đang học
- Nhập vai trong các tình huống để thực hành ngôn ngữ và chủ động sử dụng ngôn ngữ đó càng nhiều nhất có thể
- Tư duy trực tiếp từ ngôn ngữ đang học hơn là chuyển dịch từ ngôn ngữ
mẹ đẻ sang
- Có những kế hoạch cụ thể cho việc học và ghi nhớ những điều cần nhớ
về ngôn ngữ và có quyết tâm để thực hiện những kế hoạch đó
b Người dạy (GV) cần:
- Chia sẻ hiểu biết về văn hóa và ngôn ngữ với người GV cần phải nhạy cảm với sự khác biệt xã hội và nên cố gắng tìm hiểu nhu cầu mục đích và đặc tính của từng người học
- Biết sử dụng các phương pháp, phương tiện đa dạng: GV cần biết cách biến lớp học thành một nơi mà ở đó những đặc tính tốt của mỗi người học đều được khuyến khích để thể hiện bằng cách sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với đặc điểm nhận thức của từng đối tượng người học
Ví dụ, một số SV có thể học tốt hơn qua những minh họa thực tế, số khác lại thiên về tự nghiên cứu số khác lại tiếp thu ngôn ngữ tốt hơn qua thực hành
- GV cần hiểu rõ những điểm mạnh và điểm chưa mạnh của người học
và điều quan trọng hơn nữa là chỉ cho họ biết đâu là sở trường của mình
Trang 23Dạy học Ngoại ngữ là thu hút học viên với các đề tài hấp dẫn sắp xếptheo chủ đề, phát triển các kỹ năng giao tiếp hàng ngày , phát triển toàn diện bốn kỹ năng chính (nghe, nói, đọc, viết) Đặc điểm của việc dạy học Tiếng Anh đươ ̣c các GV thể hiê ̣n như sau:
- Tổ chức: người học phải cảm thấy rằng mọi hoạt động của họ tại lớp
học là có chủ đích và đáng tin cậy đối với người học GV cần những chỉ dẫn cho người học để họ biết hướng hành động, đồng thời họ cũng cần có khoảng tự do nhất định để có chỗ cho tính sáng tạo của họ phát triển
- Tạo sự an toàn: Nếu người học cảm thấy an toàn họ có thể yên tâm
tham gia vào các hoạt động của lớp học mà không sợ mắc lỗi khi thực hành tiếng Anh
- Tạo động cơ: GV tạo động cơ cho người học bằng cách huyến khích tất
cả các thành viên trong lớp học tham gia vào các hoạt động chung của lớp Giáo viên sẽ nhìn thấy ngay kết quả khi người học được kích thích hoạt động bằng các bài tập thú vị, khi họ hoàn thành tốt các bài tập đó và đặc biệt là khi
họ thấy mối liên hệ của các hoạt động ở lớp học với cuộc sống ngoài đời thực
- Chỉ dẫn: người học đến lớp để được học những điều mới và được
hướng dẫn cách để làm sao tiếp nhận được các điều mới mẻ đó
- Làm mẫu: người học cần được chỉ cho thấy những điều mới và giáo
viên là người làm mẫu cho họ thấy những điều đó được thực hiện như thế nào
- Trợ giúp: người học cần sự giúp đỡ từ phía GV để khám phá những
điều mới và cũng để thực hành những kỹ năng mới
- Cung cấp thông tin: người học cần thêm những thông tin hỗ trợ cho
vấn đề đang nghiên cứu, GV sẽ là người đem lại những thông tin sát thực nhất với vấn đề mà người học đang quan tâm
Trang 24- Phản hồi: trong mỗi buổi học, GV cần phản hồi cho người học về sự
tiến bộ của họ trong cách đặt câu, dùng từ để người học biết họ đã và đang tiến gần đến mục tiêu tới mức nào
- Khuyến khích: GV phải nhận thức rõ ràng rằng mỗi lời động viên
khuyến khích của mình có thể là một động lực kích thích người học tiếp tục khám phá, tiếp tục chinh phục những mục tiêu học tập phía trước Người học cần phải được cảm thấy rằng ngôn ngữ đang phát triển bên trong họ, thậm chí đôi khi ngôn ngữ họ đang sử dụng chưa thật sự gần với tiếng Anh chuẩn
- Đánh giá: người học cần phải có những chuẩn cần đạt tới, việc đỗ hay
trượt một kỳ thi là rất quan trọng Họ cần phải biết kết quả công việc mình đang làm GV chính là người đo lường chính xác nhất kết quả công việc của từng người học Quan trọng hơn GV phải công khai việc đánh giá đó để người học tự điều chỉnh việc học của mình
Vậy có thể nói rằng GV phải là người tổ chức, tạo sự yên tâm, khơi dậy động lực, chỉ dẫn, làm mẫu, hướng dẫn, cung cấp thông tin, cung cấp thông tin phản hồi về quá trình học, khuyến khích và đánh giá kết quả của người học.Ngoài ra GV còn phải là người biết hướng người học tham gia một cách có trách nhiệm vào các hoạt đông trên Nhiệm vụ của GV là giúp người học dần tự lập và có thể vận dụng những điều đã học để tiếp tục nâng cao kiến thức
1.1.4 Quá trình dạy học và quản lý quá trình dạy học
1.1.4.1 Khái niệm quá trình dạy học
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về QTDH:
Theo quan điểm hệ thống: “QTDH là một chỉnh thể, có cấu trúc gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố có vị trí xác định, có chức năng riêng và chúng
có mối quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau Mỗi thành tố vận động theo quy luật riêng và đồng thời theo quy luật chung của toàn bộ hệ thống Hệ
Trang 25thống bao giờ cũng nằm trong một môi trường, giữa hệ thống và môi trường
có mối quan hệ tác động lẫn nhau [31, tr58]
Cũng có những định nghĩa QTDH từ hai định nghĩa chính: dạy và học như sau:
Theo Giáo Sư Nguyễn Ngọc Quang (bài Bản chất QTDH - sách GD học đại học - Hà Nội 2000) cho rằng học là thu nhận kiến thức của nhân loại
và mục đích của việc học là để “khai trí tiến đức” như cố nhân đã dạy Quan niệm học đó sẽ tương ứng với khái niệm “dạy là truyền thụ kiến thức mà nhân loại đã tích luỹ được” Cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã viết “học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực, chiếm lĩnh khái niệm khoa học (nội dung học) dưới sự điều khiển sư phạm của GV Trong quan niệm này chúng ta thấy rõ học mà chỉ ghi chép những gì GV nói thì không phải là học, học phải tích cực, tự giác, tự lực nếu không thì quá trình học sẽ không có kết quả Như vậy học là một hoạt động với đối tượng, trong đó học sinh là chủ thể, khái niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh Cũng theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang:“Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình người học chiếm lĩnh nội dung học, trong và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân cách (năng lực, phẩm chất)” Nhân cách ở đây được hiểu là tri thức, kĩ năng và thái độ Dạy học là hai mặt của một quá trình luôn luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau, quyết định lẫn nhau thông qua hoạt động cộng tác nhằm tạo cho người học khả năng phát triển trí tuệ, góp phần hoàn thiện nhân cách Bản chất của QTDH là một hệ thống toàn vẹn bao gồm ba thành tố cơ bản là nội dung dạy học, hoạt động dạy và hoạt động học Cụ thể như sau:
- Nội dung dạy học là nội dung của bài học và là đối tượng lĩnh hội của
người học; nó là một trong hai yếu tố khách quan, quyết định logic của bản thân QTDH về mặt khoa học
Trang 26- Hoạt động dạy là sự điều khiển tối ưu hóa quá trình người học lĩnh hội
nội dung dạy học Hoạt động dạy gồm hai chức năng truyền đạt và điểu khiển, luôn luôn tác động và thống nhất với nhau Dạy phải xuất phát từ logic khoa học của khái niệm và logic sư phạm của tâm lý học lĩnh hội
- Hoạt động học là quá trình tự giác tích cực tự lực chiếm lĩnh nội dung
dạy học dưới sự điều khiển sư phạm của GV Hoạt động học là yếu tố khách quan thứ hai quy định logic của QTDH về mặt lý luận daỵ học; nghĩa là trình
độ trí dục và quy luật lĩnh hội người học có ảnh hưởng quyết định đến việc tổ chức QTDH; nó bao gồm hai chức năng thống nhất với nhau: lĩnh hội và tự điều khiển nhận thức
Tóm lại, QTDH là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng giữa dạy với học, truyền đạt với điều khiển trong dạy và lĩnh hội với tự điều khiển trong học Về thực chất QTDH là bồi dưỡng cho người học một trình độ học vấn nhất định, làm cho họ trở thành những người lao động có kiến thức, kỹ năng hoạt động nghề nghiệp, hoạt động thực tiễn sáng tạo QTDH là một hoạt động phức tạp, chịu sự tác động qua lại của nhiều nhân tố cấu trúc, tạo thành một hệ thống: mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức dạy học, hoạt động của người dạy và người học
1.1.4.2 Quản lý quá trình dạy học
Quản lý QTDH là thực hiện các chức năng quản lý lên đối tượng quản
lý là QTDH Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, các chức năng quản lý bao gồm:
- Lập kế hoạch gồm các bước: phân tích tình hình, Xác định nhu cầu, thiết kế chính sách, cụ thể hóa thành nhiệm vụ, kế hoạch hóa, lựa chọn chiến lược hành động, nhận diện các định mức tiêu chuẩn
Trang 27- Tổ chức gồm các bước: phát hiện nguồn lực, tìm kiếm nguồn lực, huy động nguồn lực, tổ chức phân công nhiệm vụ, phân phối nguồn lực
- Chỉ đạo gồm các bước: triển khai công việc thực tiễn, Chỉ đạo đồng bộ
- Kiểm tra gồm các bước: kiểm tra, đánh giá, tổng kết, phản hổi.[9 tr.8] Như vậy, quản lý QTDH môn tiếng Anh là thực hiện 4 chức năng quản
lý trên lên đối tượng quản lý là QTDH bao gồm:
- Quản lý nội dung dạy học: Quản lý xây dựng, triển khai kế hoạch, chương trình, nội dung dạy học
- Quản lý hoạt động giảng dạy của GV là thực hiện quản lý: đội ngũ GV, việc thực hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy của GV, việc sử dụng các phương pháp , hình thức tổ chức da ̣y học của GV , công tác kiểm tra đánh giá kết quả hoc tâ ̣p cho SV, việc chuẩn bị hồ sơ môn học của GV
- Quản lý hoạt động học tập của SV: quản lý các hoạt động học tập trên lớp và hoạt động tự học của SV
- Quản lý các điều kiện phục vụ công tác quản lý và dạy học
1.2 Quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh
Quản lý QTDH dạy học môn tiếng Anh là thực hiện 4 chức năng quản
lý trên lên đối tượng quản lý là QTDH môn tiếng Anh bao gồm: Quản lý xây dựng và triển khai chương trình, kế hoạch dạy học, quản lý hoạt động giảng dạy của GV, quản lý hoạt động học tập của SV và quản lý các điều kiện phục
vụ công tác quản lý và dạy học môn tiếng Anh
1.2.1 Quản lý xây dựng và triển khai chương trình, kế hoạch dạy học
Chương trình da ̣y ho ̣c là văn bản pháp lý do Bộ GD & ĐT ban hành trong đó đã quy đi ̣nh mô ̣t cách cụ thể : Vị trí, mục đích môn học phạm vi và hệ thống nô ̣i dung môn ho ̣c , số tiết dành cho môn ho ̣c nói chung cũng như từng chương từng phần từng bài nói riêng
Trang 28Chương trì nh da ̣y ho ̣c là công cụ chủ yếu để Bô ̣ GD &ĐT chỉ đa ̣o và giám sát công tác dạy học của nhà trường thông qua các cơ quan quản lýGD các cấp Đồng thời nó cũng là căn cứ để GV dựa vào đó để lâ ̣p kế hoa ̣ch da ̣y học, tiến hành tổ chức công tác giảng da ̣y của mình
Kế hoa ̣ch da ̣y ho ̣c là văn bản pháp lý của Bô ̣ GD &ĐT ban hành trong đó quy đi ̣nh các môn ho ̣c , trình tự dạy các môn học qua từng năm học , số tiết cho từng môn từng khối lớp cho mỗi ho ̣c kỳ , mỗi năm ho ̣c,từng tuần ho ̣c
Quản lý viê ̣c thực hiê ̣n chương trình kế hoa ̣ch da ̣y ho ̣c của GV là quản
lý việc thực hiê ̣n phân phối chương trình kế hoa ̣ch da ̣y ho ̣c của GV đã đươ ̣c duyê ̣t
1.2.2 Quản lý hoạt động giảng dạy
Quản lý hoạt động gi ảng dạy thực chất là quản lý viê ̣c thực hiê ̣n nhiê ̣m
vụ của GV GV truyền đa ̣t kiến thức , kỹ năng và những giá trị về tư tưởng , phẩm chất cần đươ ̣c trang bi ̣ cho SVQuản lý hoạt động giảng dạy bao gồm
mô ̣t số nô ̣i dung cơ bản :
- Giám sát việc lập kế hoạch giảng dạy và thực hiện chương trình giảng dạy (nô ̣i dung giảng da ̣y và tiến trình giảng da ̣y ) Công viê ̣c này đòi hỏi GV dạy đúng, dạy đủ bài, đúng tiến đô ̣ quy đi ̣nh trong đề cương ho ̣c phần và thời khóa biểu
- Giám sát việc đổi mới phương pháp dạy học và sử dụng phương tiện dạy học hiện đại
- Quản lý việc thực hiê ̣n quy chế kiểm tra đánh giá Kiểm tra đánh giá kết quả ho ̣c tâ ̣p của người học là quá trình thu thâ ̣p và sử l ý thông tin về trình
đô ̣ và khả năng của người ho ̣c , trên cơ sở đó để ra những biê ̣n pháp phù hợp giúp họ học tập tiến bộ Viê ̣c kiểm tra đánh giá kết quả ho ̣c tâ ̣p của người học phải được thực hiện đúng quy định
Trang 29- Quản lý hồ sơ chuyên môn củ a GV Đây là nô ̣i dung rất quan tro ̣ng vì
nó là phương tiện giúp người quản lý nắm đươ ̣c tình hình thực hiê ̣n nhiê ̣m vụ chuyên môn của GV Hồ sơ môn học của GV gồm có những nội dung cơ bản sau:
Chương trình những ho ̣c p hần được phân công giảng da ̣y
Kế hoa ̣ch năm học
Kế hoa ̣ch giảng da ̣y ho ̣c phần
Giáo án, bài giảng
Sổ lên lớp
Sổ dự giờ
Hồ sơ nghiên cứu khoa ho ̣c
Hồ sơ tự ho ̣c, tự bồi dưỡng
1.2.3 Quản lý hoạt động học tập tiếng Anh của SV
Quản lý hoạt động học tập tiếng Anh là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện và nghiên cứu của người học trong suốt quá trình học tập môn học tiếng Anh, bao gồm một số nội dung sau:
- Quản lý phương pháp học tập của người học Thông qua các giờ lên lớp, người học được hướng dẫn các phương pháp học tập tiếng Anh phù hợp
- Xây dựng nội quy, quy định về học tập, đặc biệt là hoạt động tự học, tự nghiên cứu của người học và có quy định cụ thể về thực hiện nề nếp học tập của người học Trong viê ̣c giảng da ̣y ti ếng Anh , GV giữ vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn , cung cấp nguồn tài liệu cho người học tự học , tự nghiên cứu và giúp ho ̣ có niềm say mê trong viê ̣c ho ̣c tiếng Anh
- Quản lý việc đánh giá, phân tích kết quả học tập của người học Đây
là kênh thông tin quan trọng giúp người học xác định được năng lực học
Trang 30tập của mình, từ đó có những điều chỉnh nhất định nhằm tìm ra những phương pháp học tập hiệu quả hơn nhằm đạt kết quả ngày càng cao hơn
1.2.4 Quản lý các điều kiện phục vụ công tác quản lý và dạy học
Cơ sở vâ ̣t chất phục vụ hoa ̣t đô ̣ng da ̣y và ho ̣c phải đáp ứng đươ ̣c nhu cầu của hoa ̣t đô ̣ng da ̣y và ho ̣c như :
- Hệ thống giảng đường phải phù hợp về kích cỡ: Phòng học vừa đủ chỗ ngồi cho số lượng SV, không nên quá rộng, không nên quá hẹp
- Các giảng đường đều phải trang bị hệ thống thiết bị hỗ trợ giảng dạy cố
đi ̣nh với chất lượng tốt
- Thư viện phải đạt chuẩn , bổ sung các loại sách tham khảo Nâng cao khả năng hoạt động của thư viện để thu hút và tạo điều kiện cho học sinh tham gia đọc sách, tích lũy kiến thức từ thư viện
- Các phần mềm dạy học và quản lý QTDH tiếng Anh để hỗ trợ công tác dạy học theo các mặt giáp mặt truyền thống
Để hỗ trợ QTDH tiếng Anh, ngoài việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại, nhà quản lý phải đảm bảo các điều kiện vật về tiền công, tiền lương, các chính sách đãi ngộ cho cán bộ QL
và GV nhằm tạo các điều kiện tốt nhất có thể cho hoa ̣t đô ̣ng da ̣y và học tiếng Anh
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý QTDH môn tiếng Anh hệ VLVH
1.3.1 Yếu tố chủ quan
Thứ nhất là sự ủng hộ và tạo điều kiện của các cấp quản lý Công tác
quản lý QTDH có tốt hay không cần phải được sự ủng hộ, tạo điều kiện của các cấp quản lý cao hơn về các vấn đề như: cho đầu tư kinh phí đào tạo và mua sắm thiết bị, các phương tiện nghe nhìn, phần mềm quản lý, đầu tư xây
Trang 31dựng cơ sở vật chất trường lớp, đầu tư phát triển độ ngũ giáo viên và cán bộ quản lý v.v
Thứ hai là năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo Cán bộ là “cái
gốc” của mọi công việc Đối với việc quản lý QTDH tiếng Anh đòi hỏi người cán bộ được giao trách nhiệm quản lý vừa phải am hiểu kiến thức về quản lý Nhà nước, về công tác đào tạo, phải có năng lực sư phạm, phải am hiểu tâm lý lứa tuổi, phải có năng lực chuyên môn vững vàng, có khả năng tham mưu cho lãnh đạo vừa phải có kiến thức về chuyên môn về dạy học tiếng Anh cho SV Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ quản lý phải có trình độ, nhiệt tình, năng động
và có kinh nghiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Chất lượng đội ngũ cán bộ QL có vai trò quyết định hiệu quả của công tác quản lý
Thứ ba là các điều kiện cơ sở, vật chất đảm bảo bảo cho việc quản lý
và giảng dạy Cơ sở vật chất là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực
tiếp đến chất lượng đào tạo Ứng với mỗi ngành nghề dù đơn giản hay phức tạp cũng cần có những trang thiết bị, phương tiện cần thiết chuyên dùng phục
vụ dạy học Trang thiết bị dạy học giúp cho SV có điều kiện thực hành để hoàn chỉnh kỹ năng Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học càng tốt, càng hiện đại bao nhiêu, theo sát với sự phát triển của khoa học kỹ thuật bao nhiêu thì người học có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng với thực tiễn công việc được đảm nhiệm trong đơn vị bấy nhiêu Chất lượng của các trang thiết bị, cơ sở vật chất đòi hỏi phải theo kịp tốc độ đổi mới hiện đại của khoa
học kỹ thuật và phù hợp với thực tiễn của cơ sở
1.3.2 Yếu tố khách quan
Dựa vào đặc điểm đối tượng người học nhà quản lý và GV sẽ có những biện pháp quản lý và có những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp Vì vậy yếu tố đặc điểm đào tạo hệ VLVH là một trong những yếu tố ảnh
Trang 32Trước đây hình thức "vừa làm vừa học" thường được gọi là " đào tạo
tại chức" Sau này được chuyển thành "vừa học vừa làm" và gần đây nhất
được chuyển thành tên gọi như hiện nay là hệ "vừa làm vừa học" Hiện tại có
nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hệ VLVH Trong luận văn này, chúng tôi dựa vào quan điểm được nêu trong Nghị định và các văn bản pháp quy khác của Nhà nước ta về vấn đề đào tạo thường xuyên trong đó có hệ VLVH, chúng tôi thấy Hệ VLVH có những đặc điểm sau:
- Đối tượng được đào tạo: là những đối tượng thuộc loại hình này là
người được Ủy ban nhân dân xã, phường hoặc thủ trưởng cơ quan, đơn vị xác nhận đãcó thời gian làm việc hoặc phục vụ tại địa phương hoặc tại cơ quan, đơn vị từ 12 tháng trở lên từ thời điểm tốt nghiệp phổ thông trung học Đối tượng đào tạo hệ VLVH là những người vừa đi làm, vừa đi học nên có sự chênh lệch về độ tuổi cũng như về trình độ và khả năng tiếp thu kiến thức giữa các đối tượng học viên (có đối tượng mới tốt nghiệp phổ thông trung học được một năm có đối tượng lại có thâm niên công tác hàng chục năm)
- Về hình thức tổ chức đào tạo: Học tập không liên tục Là quá trình đào
tạo diễn ra không liên tục hoặc kéo dài, cho phép người học dành một phần thời gian để học, một phần thời gian khác để sản xuất, kinh doanh hoặc làm việc khác Hình thức đào tạo phụ thuộc vào nội dung, chương trình đào tạo và đội ngũ GV Mặt khác, do đa số các lớp đại học VLVH được tổ chức tại các địa phương nên hình thức tổ chức đào tạo chủ yếu là hình thức học “cuốn chiếu” đó là tập trung theo tháng, theo quí Đối với các lớp học tại Trường thì hình thức học là tập trung ngoài giờ hành chính
- Mục tiêu đào tạo: Cơ bản như mục tiêu đào tạo bậc cử nhân hệ chính
qui nhưng bổ sung thêm những năng lực về thự hành và kỹ năng xử lý tình huống Chương trình đào tạo hệ VLVH được thừa hưởng từ chương trình đào tạo của hệ chính quy và có sự điều chỉnh phù hợp với điều kiện và
Trang 33hoàn cảnh người học Đồng thời có sự linh hoạt và mềm dẻo trong sắp xếp cấu trúc, nội dung chương trình để phù hợp với người học và đáp ứng các yêu cầu của xã hội
- Phương pháp đào tạo: Phương pháp giáo dục đại học VLVH coi trọng
việc phát huy vai trò chủ động khai thác kinh nghiệm của người học, coi trọng năng lực tự học
- Hình thức tổ chức dạy – học: hình thức tổ chức dạy học phụ thuộc vào
hình thức tổ chức đào tạo Do hình thức tổ chức đào tạo hệ VLVH chủ yếu là tập trung theo tháng hoặc quí nên hình thức tổ chức dạy học đa phần là thuyết trình Việc áp dụng nhiều hình thức tổ chức dạy – học bị hạn chế do số lượng học sinh đông, thiếu trang thiết bị hỗ trợ giảng dạy nên thường ảnh hưởng đến việc dạy của thầy và việc học của trò
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá: Được thực hiện tương tự như với hệ
đào tạo chính quy Nhưng do đặc thù của đào tạo VLVH là các lớp học thường mở ở các địa phương và đối tượng người học là cán bộ với nhiều độ tuổi khác nhau, theo học với nhiều mục đích khác nhau nên đã gây ra không ít khó khăn trong cách áp dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Thời gian đào tạo: Thời gian đào tạo hệ VLVH dài hơn so với đào tạo
hệ chính quy do đặc điểm người học vừa tham gia học tập đồng thời vừa tham gia công tác nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo
- Các điều kiện tổ chức đào tạo: Đào tạo chính quy và đào tạo hệ VLVH
đều được tổ chức một cách có hệ thống Điểm khác biệt là các điều kiện để tổ chức đào tạo hệ VLVH có sự tham gia từ phía xã hội và sự đóng góp của người học nhiều hơn so với giáo dục chính quy được thừa hưởng từ các chính sách của nhà nước
Như vậy, loại hình đào tạo hệ VLVH ngoài một số đặc điểm riêng để
Trang 34hệ VLVH có những yếu tố tác động riêng cho nên trong quá trình thực hiện công tác này, các cán bộ quản lý và GV cần cần lưu tâm đến những yếu tố trên để có những biện pháp phù hợp với đối tượng người học nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý
hệ VLVH tại Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH
HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2.1 Thông tin chung về Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
2.1.1 Giới thiệu chung về Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Trường ĐHKHXH&NV là đơn vị trực thuộc ĐHQGHN Tổ chức tiền thân của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là Trường Đại học Văn khoa Hà Nội (thành lập theo sắc lệnh số 45 do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 10/10/1945), tiếp đó là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (thành lập ngày 05.06.1956) Ngày 10/12/1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 97/CP thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội
Sau hơn sáu mươi năm xây dựng và phát triển, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN được coi là một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn lớn nhất Việt Nam, có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học cơ bản trình độ cao, phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN phấn đấu trở thành một trong tâm đào tạo và nghiên cứu đa ngành, chất lượng cao của Việt Nam, từng bước đầu trình độ của các trường đại học tiêu biểu trong khu vực và trên thế giới
Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN có sứ mệnh thực hiện nhiệm vụ đào tạo các chuyên gia chất lượng cao về KHXH&NV theo danh mục các ngành đào tạo thuộc tất cả các loại hình đào tạo ở các bậc đại học và sau đại học bao gồm:
- Giảng dạy các môn KHXH&NV ở bậc ĐH và sau đại học
Trang 36- Nghiên cứu cơ bản và triển khai ứng dụng trong các lĩnh vực KHXH&NV
- Làm chuyên viên khoa học trong các cơ quan, tổ chức doanh nghiệp Nhà nước và các thành phần kinh tế khác
- Nghiên cứu và triển khai KHXH&NV trong hệ thống chung của ĐHQGHN nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
- Hỗ trợ các trường ĐH&CĐ và liên kết với các ngành, các địa phương trong hoạt động bồi dưỡng, cán bộ, GV và phát huy mạnh mẽ vai trò của một trong những trường đại học đầu ngành của cả nước
Trải qua nhiều thay đổi, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN hiện nay
có 14 khoa, 1 bộ môn trực thuộc, 12 trung tâm nghiên cứu, 10 phòng ban chức năng và Bảo tàng Nhân học với tổng số cán bộ viên chức gồm 486 người Hiện nay Nhà trường đang thực hiện đào tạo 19 ngành đại học (trong
đó có 4 ngành đào tạo chất lượng cao, 1 ngành đào tạo đạt trình độ quốc tế), quy mô đào tạo hàng năm với gần 6000 sinh viên chính quy, hơn 5000 SV hệ VLVH Bên cạnh đó Nhà trường cũng đào tạo 30 chuyên ngành cao học, 29 chuyên ngành tiến sĩ với gần 2000 học viên cao học và nghiên cứu sinh Hiện tại, số cán bộ GV có trình độ thạc sĩ trở lên đạt khoảng 80%, trong đó có 133 tiến sĩ/tiến sĩ khoa học và 148 thạc sĩ Số GV có chức danh giáo sư (07 người)
và phó giáo sư (70 người) đạt trên 20%
2.1.2 Quy mô đào tạo hệ VLVH của Trường
Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN có các bậc đào tạo: Đại học, sau đại học với các hệ đào tạo chính quy và không chính quy (hệ VLVH và hệ chuyên tu)
Đối với hệ VLVH, Trường ĐHKHXH&NV đã rất chú trọng đến việc
mở các ngành đào tạo đáp ứng được nhu cầu của người học và của sự phát
Trang 37triển kinh tế xã hội Hiện nay, Trường có 11 ngành đào tạo hệ VLVH Dưới
đây là bảng thống kê số lượng SV hệ VLVH theo ngành đào tạo của Trường
Bảng 2.1: Thống kê số lƣợng SV hệ VLVH theo ngành đào tạo
(Nguồn: Phòng Đào tạo, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN)
Nhìn chung, quy mô đào tạo của Trường từ năm 2005 đến nay luôn ổn định là vì nhà trường thực hiện đúng chủ trương của ĐHQGHN và của BGD&ĐT về công tác tuyển sinh và tổ chức đào tạo đối với hệ VLVH Tỉ lệ
SV hệ VLVH so với SV hệ chính quy luôn được giữ ở mức 0.7/1
Trang 38Hàng năm, Nhà trường vẫn tổ chức loại hình đào tạo này và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Học viên đủ chỉ tiêu của ĐHQGHN và các lớp được mở ở nhiều địa bàn đáp ứng phần nào nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực khoa học xã hội và nhân văn
2.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học của Trường
Hiện nay, Trường đã có một hệ thống cơ sở vật chất khá phong phú, thường xuyên được bổ sung đảm bảo mọi yêu cầu đào tạo Nhà trường đã trang bị mạng internet không dây, tạo điều kiện thuận lợi cho GV và SV trong việc dạy học và tra cứu thông tin Hệ thống cơ sở vật chất của Trường được dùng để phục vụ tất hoạt động dạy và học của tất cả các hệ đào tạo trong đó
có hệ VLVH Cụ thể như sau:
Bảng 2.2: Một số cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
(Nguồn: Phòng Hành chính Quản trị - Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN)
Trang 392.1.4 Đôi nét về các đơn vị giảng dạy ngoại ngữ tại Trường
2.1.4.1 Bộ môn tiếng nước ngoài, Trường ĐHKHXH&NV
Trước năm 2009, Bộ môn Tiếng nước ngoài (BMTNN) là đơn vị phối hợp với các khoa để quản lý và giảng dạy môn học ngoại ngữ của các hệ đào tạo trong Trường BMTNN được thành lập từ năm 1958 với nhiệm vụ đào tạo ngoại ngữ không chuyên cho các khoa, bộ môn trong trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Sau 20 năm, BMTNN phát triển thành Khoa Tiếng nước ngoài đào tạo cử nhân ngoại ngữ các ngành Anh văn, Pháp Văn, Nga văn và Trung văn Đến năm 1993, khi ĐHQGHN được thành lập thì Khoa Tiếng nước ngoài được tách ra làm hai đơn vị là BMTNN thuộc Trường ĐHKHXH&NV
và Bộ môn Ngoại ngữ thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Đến năm
2009, theo chủ trương của ĐHQGHN về đào tạo ngoại ngữ không chuyên cho các Trường Đại học trực thuộc, BMTNN bị giải thể, các cán bộ, GV được chuyển công tác về Khoa Tiếng Anh -Trường ĐH Ngoại ngữ để thực hiện
“nhiệm vụ chiến lược” giảng dạy cho SV trong ĐHQGHN
2.1.4.2 Khoa Tiếng Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN
Khoa tiếng Anh được thành lập theo Quyết định số 672 của Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ ký ngày 22 tháng 7 năm 2009 trên cơ sở sáp nhập 4 đơn vị là BMTNN, Trường ĐHKHXH&NV (1995 – 2009); Bộ môn Ngoại ngữ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (1995 – 2009) Tiền thân của 2 bộ môn trên là Bộ môn Ngoại ngữ, Đại học Tổng hợp Hà Nội, thành lập
từ năm 1958; đến năm 1978 phát triển thành Khoa Tiếng nước ngoài, Đại học Tổng hợp Hà Nội; Khoa Ngoại ngữ Chuyên ngành, Trường Đại học Ngoại ngữ (2002 – 2009); và Tổ Ngoại ngữ 2, Trường Đại học Ngoại ngữ
Hiện nay, Khoa Tiếng Anh có những chức năng hoạt động sau:
- Đào tạo tiếng Anh cho toàn bộ sinh viên của ĐHQGHN ở các bậc đào
Trang 40- Bồi dưỡng tiếng Anh cho đội ngũ CBVC, sinh viên ĐHQGHN theo nhu cầu
- Tham gia công tác đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học thuộc các lĩnh vực chuyên môn tại các Khoa về Anh ngữ của Nhà trường
- Tiến hành nghiên cứu ở lĩnh vực khoa học giảng dạy và sử dụng tiếng Anh trong các ngành, chuyên ngành
Khoa được Trường Đại học Ngoại ngữ giao cho thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Giảng dạy tiếng Anh không chuyên ở các chương trình chuẩn, chương trình chất lượng cao, chương trình đạt chuẩn quốc tế, cử nhân tài năng ở bậc đào tạo đại học và sau đại học trong ĐHQGHN
- Tham gia thực hiện các khoá bồi dưỡng và cấp chứng chỉ tiếng Anh theo nhu cầu cho đội ngũ CBVC, sinh viên của ĐHQGHN và các cơ quan, đơn vị ngoài ĐHQGHN
- Tham gia giảng dạy, nghiên cứu và các hoạt động đào tạo khác tại các Khoa Sư phạm tiếng Anh và Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa các nước nói tiếng Anh
- Tham gia giảng dạy và nghiên cứu tiếng Anh ở các Khoa khác theo năng lực của cán bộ và điều động của Hiệu trưởng
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hiệu trưởng giao
Với số lượng cán bộ dưới tuổi 30 chiếm hơn 70% tổng số cán bộ của Khoa và với năng lực chuyên môn vững vàng, nhiệt tình và cống hiến của tuổi trẻ, họ đã trở thành lực lượng chủ chốt, đi đầu trong mọi nhiệm vụ của
Khoa (Nguồn: http://ulis.vnu.edu.vn)
Như vậy, kể từ khi thành lập, Khoa tiếng Anh – Trường ĐHNN chưa được giao nhiệm vụ quản lý chuyên môn môn học ngoại ngữ cho hệ VLVH