1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ

114 631 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Với chức năng cơ bản tổ chức, quản lý, giáo dục và hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập tại trường, quản lý sinh viên là hoạt động lớn trong công tác giáo dục và đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM ĐÌNH LƯỢNG

QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI PHÙ HỢP VỚI YÊU CẦU

ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM ĐÌNH LƯỢNG

QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI PHÙ HỢP VỚI YÊU CẦU

ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Xuân Hải

HÀ NỘI – 2010

Trang 3

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CT&CTHSSV: Chính trị và Công tác học sinh sinh viên

ĐHKHXH&NV: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Trang 4

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Trang

Bảng 2.2: Thống kê kết quả thực hiện Quy chế rèn luyện của sinh viên 40 Bảng 2.3: Quy mô đào tạo sinh viên đại học hệ chính quy của Trường Đại

học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

48

Bảng 2.4: Số liệu về học bổng khuyến khích học tập những năm gần đây

của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

53

Bảng 2.5: Thống kê sinh viên được hưởng chế độ chính sách từ 2006-2009 55 Bảng 2.6: Kết quả đánh giá rèn luyện của sinh viên từ năm 2006-2009 56 Bảng 2.7: Thực trạng về các phương thức tổ chức hoạt động tập thể sinh

viên, Đoàn, Hội

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN 5

1.2.2 Đặc điểm của công tác sinh viên trong giai đoạn hiện nay 12

Trang 6

13.4 Vài nét về quản lý sự thay đổi 16

1.5.1 Khái quát về phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ 24 1.5.1.1 Sự ra đời và phát triển của học chế tín chỉ trên thế giới 24

lý sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ

1.6.4 Vấn đề sinh hoạt tập thể và đoàn thể (Đoàn, Hội) trong bối cảnh đào

tạo tín chỉ và cách thức quản lý các hoạt động này

34

1.7 Những đối tượng tham gia quản lý sinh viên trong học chế tín chỉ 35

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở TRƯỜNG

ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

37

2.1 Khái quát về Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội 37 2.1.1 Quá trình thành lập Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN 37

Trang 7

2.1.2 Mục tiêu chiến lược phát triển của Nhà trường 37

2.2 Việc áp dụng, triển khai học chế tín chỉ ở Trường Đại học Ngoại ngữ 44 2.2.1 Nhà trường đã điều chỉnh các chương trình đào tạo 45 2.2.2 Về áp dụng phương pháp dạy học và hình thức kiểm tra đánh giá

phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ

46

2.2.3 Về phần mềm quản lý đào tạo và quản lý người học 47 2.3 Thực trạng quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ hiện nay 48 2.3.1 Một vài nét khái quát về quản lý sinh viên của Trường Đại học

Ngoại ngữ

48

2.3.1.1 Quy mô sinh viên hệ đại học chính quy tập chung 48

2.4 Thực trạng hoạt động quản lý sinh viên của Trường Đại học Ngoại ngữ 51 2.4.1 Về hoạt động giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống 51

Trang 8

2.4.9 Hoạt động hỗ tợ học tập, sinh hoạt 58 2.5 Quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ trong bối cảnh chuyển

đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

66

3.4 Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 83

Trang 9

2 Khuyến nghị 86

PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với chức năng cơ bản tổ chức, quản lý, giáo dục và hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập tại trường, quản lý sinh viên là hoạt động lớn trong công tác giáo dục và đào tạo nói chung và của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN nói riêng

Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang tiến sâu trên con đường hội nhập toàn diện với thế giới Cùng với sự phát triển của đất nước, trong những năm qua, giáo dục đại học nước ta đã có những bước đổi mới khá rõ nét trên tất cả các mặt, tạo ra một diện mạo mới cho giáo dục đại học Việt Nam bước vào thế kỷ 21 Bên cạnh những thuận lợi, nền giáo dục đại học của nước ta cũng gặp không ít thách thức, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, chuyển đổi phương thức đào tạo đáp ứng được những chuẩn chung của thế giới

Nhằm tăng tính liên thông của hệ thống giáo dục đại học nước ta và hội nhập với giáo dục đại học thế giới, trong những năm gần đây Nhà nước đã đưa ra chủ trương mở rộng áp dụng học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học Trong

“Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001-2010” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 47/2001/QĐ-TTg có nêu: các trường cần “thực hiện quy trình đào tạo linh hoạt, từng bước chuyển việc tổ chức quy trình đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ ” Trong “Báo cáo về tình hình giáo dục” của Chính phủ trước kỳ họp Quốc hội tháng 10 năm 2004 lại khẳng định mạnh mẽ hơn: “Chỉ đạo đẩy nhanh việc mở rộng HCTC ở các trường ĐH, CĐ, THCN&DN ngay từ năm học 2005-2006, phấn đấu để đến năm 2010 hầu hết các trường đại học, cao đẳng đều áp dụng hình thức tổ chức đào tạo này”

Thực hiện chủ trương đó của Đảng và Nhà nước, ĐHQGHN cũng đã có những chủ trương được thể hiện ở chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Đảng

uỷ ĐHQGHN về lộ trình đưa chất lượng đào tạo đạt chuẩn khu vực, từng bước đạt chuẩn quốc tế, ban hành theo quyết định số 192/ĐT ngày 10/7/2003 của Giám đốc

ĐHQGHN đã nêu: "Các nội dung và giải pháp chính: …6 Đổi mới công tác quản

lý đào tạo: … 6.3 Thí điểm và từng bước mở rộng đào tạo theo hệ thống tín chỉ"

Trang 11

Tại Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ ĐHQGHN tại Đại hội đại

biểu Đảng bộ lần thứ III (25/10/2005) cũng đã nêu: "Chỉ đạo các đơn vị xây dựng

đề án đào tạo theo học chế tín chỉ, triển khai thí điểm để rút kinh nghiệm, chuẩn bị các phương tiện, thiết bị, tài liệu, giảng đường, phần mềm quản lý đào tạo … trước khi nhân rộng"

Kết luận của Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Đảng bộ ĐHQGHN (khoá III)

về các giải pháp đột phá nâng cao chất lượng đào tạo (số 57/KL - ĐU, ngày

13/1/2006) đã nêu: "Đồng thời với việc ưu tiên áp dụng các giải pháp đột phá … vẫn phải từng bước thực hiện các biện pháp cơ bản, có tính thường xuyên, lâu dài sau đây: … Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp theo hướng từng bước

áp dụng phương thức đào tạo theo hình thức tích luỹ tín chỉ và tiếp cận các chuẩn khu vực, quốc tế"

Thực hiện những chủ trương trên, ĐHQGHN đã và đang chỉ đạo các trường thành viên chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang HCTC Yêu cầu đó đòi hỏi mọi hoạt động của nhà trường phải được chuyển đổi một cách đồng bộ và phù hợp, trong đó có hoạt động QLSV

Trường Đại học Ngoại ngữ được thành lập từ năm 1955, với vị trí là trường Ngoại ngữ đầu ngành của cả nước, Nhà trường đã hình thành một bộ máy quản lý mới tương ứng với chức năng, nhiệm vụ của mình Trong đó bộ phận QLSV được hình thành và hoạt động theo mô hình của các đơn vị trong ĐHQGHN, hoạt động theo hướng đáp ứng cho phương thức đào tạo theo niên chế

Hiện nay, cùng với việc chuyển đổi về tổ chức và quy mô, theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục & Đào tạo và ĐHQGHN, Trường Đại học Ngoại ngữ cũng đang thực hiện việc triển khai chuyển đổi phương thức đào tạo từ học chế niên chế sang HCTC, đòi hỏi hoạt động QLSV cũng phải đổi mới về mặt tổ chức và hoạt động cho phù hợp

để đáp ứng được yêu cầu của phương thức đào tạo mới

Với chủ trương của Nhà trường là xây dựng bộ máy quản lý hành chính gọn nhẹ,

có hiệu quả cao phù hợp với phương thức đào tạo tín chỉ, trong đó có bộ phận QLSV

Vì vậy, vấn đề QLSV của Trường Đại học Ngoại ngữ cần được nghiên cứu để tìm ra

Trang 12

các giải pháp tổ chức quản lý hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ trong thời gian tới

Ở nước ta, đào tạo theo tín chỉ là một vấn đề còn mới, hiện đã có một số trường đại học đã thực hiện phương đào tạo này, song mô hình hoạt động QLSV vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi, thử nghiệm Trước những đòi hỏi và tình hình như vậy, vấn đề đổi mới mô hình, nội dung hoạt động QLSV cho phù hợp với phương thức đào tạo mới, đồng bộ với các hoạt động khác của Trường Đại học Ngoại ngữ là một vấn đề cần được nghiên cứu, góp phần giúp nhà trường thực hiện chuyển đổi thành công phương thức đào tạo từ niên chế sang HCTC

Là một cán bộ làm công tác QLSV của Trường Đại học Ngoại ngữ, trước yêu cầu thực tế đặt ra, với mong muốn góp phần vào sự phát triển chung của Nhà trường, hoàn thiện và nâng cao chất lượng công việc của mình, tôi quyết định chọn

đề tài: “Quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc Gia Hà

Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn

tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cở sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu lý luận về quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ

3.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN hiện nay khi thực hiện phương thức đào tạo theo tín chỉ

3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ

- ĐHQGHN trong phương thức đào tạo theo tín chỉ

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Công tác sinh viên trong trường đại học

Đối tượng nghiên cứu: Quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 13

5 Giả thuyết khoa học

Xuất phát từ việc chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ kéo theo những thay đổi trong học tập và sinh hoạt của sinh viên Quản lý sinh viên của Trường Đại học Ngoại ngữ như hiện nay sẽ không còn phù hợp Nếu có những biện pháp đổi mới hợp lý trong quản lý sinh viên thì sẽ làm cho hoạt động này phát huy tác dụng trong học chế mới đó

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp chính sau:

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu tập, phân tích xử lý tài liệu, hệ thống, khái quát hóa tài liệu

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Khảo sát thực tế

- Tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp chuyên gia

6.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ

Sử dụng toán học thống kê số liệu

7 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu biện pháp quản lý sinh viên trong giai đoạn chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sinh viên trong phương thức đào tạo theo tín chỉ Chương 2: Thực trạng quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học

Quốc gia Hà Nội

Chương 3: Một số biện pháp quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại

học Quốc gia Hà Nội

Trang 14

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN

1.1 Những khái niệm cơ bản của đề tài

1.1.1 Sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “discipulus” có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức Nó được dùng tương đương với từ “student” trong tiếng Anh, từ “etudiant(e)” trong tiếng Pháp thường để chỉ những người đang theo học ở bậc đại học, được phân biệt với học sinh đang học ở phổ thông

Theo quan niệm của X.L.Rubinstêin - nhà Tâm lý học, nhà Triết học Nga: “sinh viên” là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bị cho hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội Nhóm sinh viên rất cơ động được tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong xã hội, sinh viên là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo thành người lao động có tay nghề cao tham gia hoạt động tích cực

Điều 1 Quy chế Công tác HSSV trong các trường đào tạo, ban hành kèm theo quyết định số 1584/BGD-ĐT ngày 27/7/1993 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: Những người đang học trong hệ đại học và cao đẳng được gọi là sinh viên

Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu với đối tượng là sinh viên hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này như sau:

- Đó là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông

- Họ đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh đại học và đỗ vào trường

- Họ thuộc nhóm thanh niên nam, nữ từ 17 đến 25 tuổi

- Họ chưa thuộc nhóm người có nghề nghiệp ổn định, do đó còn lệ thuộc gia đình về kinh tế

- Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các tầng lớp

xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn để bước vào một nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ

Trang 15

1.1.2 Quản lý, các chức năng quản lý nói chung

1.1.2.1 Quản lý

Thuật ngữ “Quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích nhau Quá trình

“quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định” Quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống (tổ chức) vào thế “phát triển” Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì tổ chức phát triển không bền vững Do đó trong “quản” phải có “lý” và ngược lại để làm cho hệ thống ở trạng thái cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài tổ chức [20]

Như chúng ta đều biết, khoa học quản lý đã xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động, thúc đẩy xã hội phát triển; khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp và dân tộc Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích Vì vậy, người ta có thể hiểu khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích hoạt động Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm sau:

Theo K.Marx, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao

động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý Tác giả viết: “Tất cả mọi lao động (xã hội) trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm

tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng ” [32, tr.480]

Trang 16

Theo F.W Taylo (1856-1915): “Quản lý là biết được chính xác điều mình

muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [21, tr.13]

Theo Henri Fayol (1841-1925), xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng :

“ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [21, tr.15]

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản

lý là tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [21, tr1]

Từ các cách tiếp cận trên, chúng ta thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa chung, đó là:

- Quản lý là quá trình hoạt động có mục đích để điều khiển lao động

- Có sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý

- Có liên quan tới môi trường xác định

Như vậy, có thể khái quát lại như sau: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức đặt ra trong một môi trường luôn luôn thay đổi

1.1.2.1 Các chức năng quản lý

Chức năng của quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt mục đích, mục tiêu quản lý đề ra Có nhiều cách phân chia về chức năng quản lý nhưng cơ bản thống nhất ở bốn chức năng cơ bản sau đây:

Trang 17

+ Lập kế hoạch là phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt những mục tiêu định trước, là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai

Chức năng kế hoạch hoá có 3 nội dung cơ bản:

+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức

+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này

+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên

- Chức năng tổ chức

Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực

để thực hiện các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học cho con người, công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần Công tác tổ chức bao gồm:

+ Xác định cấu trúc bộ máy

+ Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy

+ Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức

- Chức năng chỉ đạo

Chỉ đạo là quá trình điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ con người, tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức

Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:

+ Chỉ huy, ra lệnh

+ Động viên, khen thưởng

+ Theo dõi, giám sát

+ Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý

Trang 18

- Chức năng kiểm tra

Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần thiết và phải thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo

Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong

QL Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:

+ Xây dựng chuẩn thực hiện

+ Đánh giá việc thực hiện trên chính sách so với chuẩn

+ Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động

Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham gia của hai yếu

tố quan trọng: thông tin và quyết định Trong đó, thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo

Sơ đồ 1.1: Các chức năng trong một chu trình quản lý

1.1.3 Quản lý sinh viên

- Quản lý sinh viên là việc tổ chức, điều hành, phối hợp các lực lượng trong nhà trường nhằm thực hiện công tác giáo dục, quản lý, trợ giúp sinh viên góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo và yêu cầu phát triển của xã hội trong mỗi nhà trường

Lập

kế hoạch

Chỉ đạo

Trang 19

- Quản lý sinh viên với đặc trưng cơ bản là quản lý con người nên đòi hỏi tính khoa học và tính nghệ thuật cao trong quá trình quản lý

- Hiệu quả của quản lý sinh viên được đo bằng kết quả thực hiện các mục tiêu của công tác sinh viên là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực

của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

1.2 Sinh viên đại học

1.2.1 Đặc điểm của sinh viên đại học

Sinh viên thuộc đối tượng dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi

và sáng tạo Đây cũng là đối tượng khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt Một đặc điểm rất đáng chú ý đang xuất hiện trong những người trẻ hôm nay, liên quan đến sự phát triển của công nghệ thông tin với tư cách là một cuộc cách mạng, đó là sự hình thành một môi trường

ảo, hình thành một lối sống ảo Đặc điểm này chỉ biểu hiện trong giới trẻ, đặc biệt những người có tri thức như sinh viên Hình thành một phương pháp tư duy của thời đại công nghệ thông tin: ngôn ngữ ngắn gọn, viết bằng bàn phím thay vì cây bút, có tính lắp ghép chính xác, hệ thống, hạn chế sự bay bổng về mặt hình tượng trực quan Con người vì thế sống trong một môi trường ảo, và cái hiện thực ở đây là cái hiện thực ảo, giao tiếp ảo Về môi trường sống, sinh viên thường theo học tập trung tại các trường đại học thường ở các đô thị, sinh hoạt trong một cộng đồng (trường, lớp) gồm chủ yếu là những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, lứa tuổi, với những quan hệ có tính chất bạn bè khá gần gũi

Ở nước ta, một thực tế là trong số họ hiện nay đang diễn ra quá trình phân hoá, với hai nguyên nhân cơ bản: tác động của cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo; sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ sinh viên chênh lệch lớn ngay từ đầu vào Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đó những đặc điểm tương đồng dưới đây

Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa

chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những

Trang 20

công việc đem lại thu nhập cao, v.v Nói chung là tính mục đích trong hành động

và suy nghĩ rất rõ

Tính năng động: Nhiều sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời

gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty), hình thành tư duy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh, muốn tự mình lập công ty ngay khi đang còn là sinh viên), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình nguyện) Nhiều sinh viên cùng một lúc học hai trường

Tính cụ thể của lý tưởng: Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắn

liền với sự định hướng cụ thể Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là: sinh viên hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không? Có thể khẳng định là có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích

cá nhân

Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các

mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận: Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong sinh viên trước

xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng

Tính cá nhân: Trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc

nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là sinh viên Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân Sự hy sinh vì quan tâm đến người khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận nhỏ sinh viên

Trang 21

* Đặc điểm sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngoài các đặc điểm chung như trên đã nêu, sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN dự thi tuyển sinh đại học là khối D nên ngoại ngữ là môn học chính và cũng là niềm say mê, hứng thú của sinh viên Mỗi ngoại ngữ gắn liền với một đất nước, một nền văn hoá khác nhau Với đặc điểm của môn học là phải được thực hành trong môi trường giao tiếp (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp) nên nhìn chung sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ rất nhanh nhẹn, tháo vát, cởi mở, thích các hoạt động tập thể và rất nhanh nhạy trong việc tiếp thu và nắm bắt những cái mới Hơn nữa, do yếu tố giao thoa văn hoá nên sinh viên của Trường có một tính cách chung là thẳng thắn, mạnh bạo, dám nghĩ, dám làm và có một lối sống khá tự

do, phóng khoáng Tính năng động cũng là một đặc điểm nổi trội của sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

1.2.2 Đặc điểm của công tác sinh viên trong giai đoạn hiện nay

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói chung và trong các trường đại học nói riêng thì quản lý sinh viên góp phần hỗ trợ tích cực cho giảng dạy (thầy) và học tập (trò), cũng như đảm nhận mọi mặt của công tác quản lý Quản lý sinh viên từ các khâu hành chính, giáo vụ, đến giáo dục ngoài giờ, giáo dục chính trị

tư tưởng, đạo đức và tổ chức phong trào sinh viên (kết hợp với ĐTN, HSV ) sẽ

hỗ trợ và tạo điều kiện về vật chất, tinh thần để sinh viên học tập và rèn luyện trở thành nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao Công tác sinh viên có ý nghĩa quyết định trong việc đổi mới và phát triển bền vững yếu tố con người về chất lượng nhận thức tri thức và hành động QLSV là mảng công tác trọng tâm thiết yếu của nền giáo dục đại học nước ta trong việc đảm bảo kỷ cương pháp luật nhà trường và rèn luyện sinh viên Công tác này do Phòng (Ban) CT&CTHSSV (hoặc Phòng QLSV), Phòng (Ban) Đào tạo phụ trách (đơn vị

tham mưu cho Ban Giám hiệu trong công tác sinh viên)

Trong các văn bản của Bộ GD&ĐT, thường dùng chung cho các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp (nay là trường trung cấp) cụm từ “công tác học sinh sinh viên” (CTHSSV) là danh từ dùng chung để chỉ hoạt động và tên tổ chức phụ trách công việc này

Trang 22

Đối với một số trường có cả hệ đại học, cao đẳng, trung cấp, khối trung học phổ thông thường dùng cụm từ “công tác học sinh sinh viên” trong các văn bản và tên tổ chức phụ trách công việc này

Công tác sinh viên được xác định trong “Quy chế HSSV các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy” ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 13/8/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT: “CTHSSV là một trong những công tác trọng tâm của Hiệu trưởng nhà trường, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Với mục tiêu của CTHSSV nêu trên, nội dung CTHSSV cũng có sự điều chỉnh qua từng giai đoạn cho phù hợp với phương thức và bối cảnh của hoạt động đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp

1.3 Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục

1.3.1 Các nội dung của quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục (QLGD) là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý tới mọi cấp độ khác nhau, đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế

hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vân dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực của con người Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vì, khi nói đến QLGD phải nói đến quản lý nhà trường cùng với hệ thống QLGD

Theo cuốn Giáo dục học, tác giả Phạm Viết Vƣợng đã viết : “Mục đích

cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội” [32, tr.206]

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “Quản lý giáo

dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp QLGD tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục

Trang 23

tiêu của nó” Trong thời đại “ Giáo dục cho tất cả mọi người ” như hiện nay, mục tiêu của giáo dục được cụ thể hóa là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Đối tượng của QLGD là toàn thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, sinh viên và các cơ sở vật chất kỹ thuật như trường, lớp, các trang thiết bị dạy học,…và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng của giáo dục

Quản lý giáo dục có hai chức năng cơ bản:

- Ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế - xã hội

- Đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh tế - xã hội

Chính vì vậy, có thể nói QLGD là hoạt động điều hành các nhà trường để giáo dục Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp, phương pháp nhằm đảm bảo cho sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục và cơ sở giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng

Như vậy, ở nước ta quản lý giáo dục là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ hoạt động của giáo dục, nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã xác định Quản lý giáo dục được thể hiện thông qua quản lý mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ, dạy và học, quản lý đội ngũ cán bộ giảng dạy, quản lý người học và chất lượng giáo dục đào tạo

1.3.2 Các phương pháp quản lý giáo dục

Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đặt ra Trong quản lý hiện đại, phương pháp quản lý được đúc kết từ nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học xã hội và khoa học hành vi Phương pháp quản lý rất phong phú, đa dạng và tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau Cũng như quản lý nói chung, trong QLGDcó 4 phương pháp quản lý cơ bản sau:

- Phương pháp hành chính tổ chức: là cách thức tác động của chủ thể tới đối

tượng trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chínhn bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định

Trang 24

- Phương pháp thuyết phục: là phương pháp dùng lý lẽ để tác động đến nhận

thức của con người

- Phương pháp kinh tế: là sự tác động của chủ thể đến đối tượng thông qua

các lợi ích kinh tế

- Phương pháp tâm lý, giáo dục: đây là cách thức tác động đến đối tượng

thông qua tâm lý, tình cảm, tư tưởng

1.3.3 Quản lý nhà trường

Nhà trường là một thiết chế hiện thực hóa sứ mệnh của nền giáo dục trong đời sống kinh tế - xã hội Trong nền kinh tế công nghiệp, nhà trường không chỉ là thiết chế sư phạm đơn thuần Những hoạt động diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “nhân cách – sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng cả nguồn vốn người (human capital), vốn tổ chức (organization capital), và vốn xã hội (social capital)

Bàn về vấn đề này, trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ

XXI”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1999, GS.Phạm Minh Hạc viết : “Quản lý

nhà trường ở Việt Nam là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [24, tr.12] Trong

cuốn “Giáo dục học, Nxb ĐHQGHN, 2000”, tác giả Phạm Viết Vƣợng viết: “Quản

lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [31, tr.21]

Trong cuốn “Tâm lý học quản lý”, tác giả Hoàng Minh Thao nêu rõ: “Quản

lý trường học là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường làm cho quá trình này vận hành một cách tối ưu tới việc hình thành mục tiêu dự kiến” [29, tr.11]

Trang 25

Tóm lại, quản lý nhà trường là một quá trình tác động có ý thức (tác động thông qua các chức năng quản lý theo các nguyên tắc định hướng vào mục tiêu giáo dục, bằng các biện pháp quản lý hợp với các đối tượng quản lý …) của bộ máy quản

lý nhà trường lên các khách thể quản lý

1.3.4 Vài nét về quản lý sự thay đổi

Trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều sự thay đổi trong nhà trường Một trong số đó là việc đổi mới QLSV hiện nay của các nhà trường Sự đổi mới này vừa

là do yêu cầu của xã hội, của các cấp QLGD, vừa là do yêu cầu tự thân của các nhà trường cho phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ Nó bao gồm kế hoạch hóa, điều hành, chỉ đạo triển khai và kiểm tra những đổi mới để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo chung trong nhà trường Lý thuyết quản lý sự thay đổi tạo cho người quản lý tư duy “lộ trình” rất phù hợp với vấn đề nghiên cứu của luận văn nên tác giả muốn đề cập tư duy đó trong việc giải quyết vấn đề nghiên cứu

Trong tập Bài giảng “Quản lý sự thay đổi” dành cho lớp Cao học QLGD năm

2009 của PGS.TS Đặng Xuân Hải [26], Quản lý sự thay đổi sẽ diễn ra theo 3 giai

đoạn, cụ thể như sau:

Giai đoạn 1 : Nhận diện trạng thái hiện hành của vấn đề định “thay đổi” ở tổ chức, bao gồm :

- Nhận diện vấn đề tổ chức đang phải đối mặt cần sự thay đổi

- Xác định điểm “ tối ”, những điểm bất cập và phát triển các tiếp cận mới

- Chọn vấn đề lớn nhất ưu tiên giải quyết vấn đề “cần thay đổi” và tận dụng các cơ hội liên quan

Giai đoạn 2 : Mô tả trạng thái mong đợi của tổ chức, bao gồm :

- Quán triệt cho mọi thành viên về đặc điểm của “trạng thái tương lai”

- Lựa chọn lộ trình tối ưu đi đến đích cần đạt

- Thống nhất lộ trình và đề nghị cam kết từ những người liên quan đến

lộ trình đã thống nhất để tạo sự đồng thuận

Giai đoạn 3 : Kế hoạch hoá cho sự thay đổi

Bước 1 : Xây dựng kế hoạch hành động tiến tới trạng thái mong đợi

- Thống nhất những kết quả mong đợi có khả năng đạt được

Trang 26

- Chọn bước đi cụ thể thích hợp để đạt được kết quả đó

Bước 2 : Hiện thực hóa kế hoạch hành động

- Triển khai những nội dung cụ thể của kế hoạch

- Giải quyết các “vấn đề” nảy sinh trên đường đi đến đích

Bước 3 : Điều chỉnh và duy trì những kết quả đã đạt được

- Đánh giá và khẳng định mức độ đạt được mục tiêu của sự thay đổi

- Phát triển cho chu kỳ tiếp theo của sự thay đổi

- Bảo đảm tính bền vững của kết quả đạt được

Ngoài ra, cũng có tác giả cho rằng cần cụ thể hóa sự thay đổi theo 11 bước sau :

- Bước 1: Nhận thức những vấn đề liên quan đến sự thay đổi

- Bước 2: Chuẩn bị cho sự thay đổi

- Bước 3: Thu thập số liệu, dữ liệu

- Bước 4: Tìm các yếu tố khích lệ, hỗ trợ sự thay đổi

- Bước 5: Xác định mục tiêu cụ thể cho các bước chỉ đạo sự thay đổi

- Bước 6: Xác định trọng tâm của các mục tiêu

- Bước 7: Liệt kê các giải pháp thúc đẩy sự thay đổi

- Bước 8: Lựa chọn giải pháp trên cơ sở khả năng chỉ đạo của người quản lý

và điều kiện hoàn cảnh cụ thể

- Bước 9: Lập kế hoạch chỉ đạo việc thực hiện sự thay đổi

- Bước 10: Đánh giá sự thay đổi

- Bước 11: Đảm bảo sự tiếp tục đổi mới

1.4 Quản lý sinh viên

1.4.1 Công tác sinh viên trong trường học

Công tác sinh viên là một hoạt động quan trọng của quá trình giáo dục, đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, nó cần được thực hiện tốt góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các chính sách của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ

Quản lý sinh viên là một hoạt động trong CTHSSV của nhà trường nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển

Trang 27

toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.4.2 Nội dung quản lý sinh viên

Sinh viên là nhân vật trung tâm trong nhà trường Vì vậy, cần phải quản lý được đối tượng này theo mục đích quản lý để hướng sinh viên vào mục tiêu đào tạo của nhà trường Chính vì vậy, bên cạnh công tác đào tạo thì QLSV là một hoạt động lớn của nhà trường Nội dung QLSV trong “Quy chế HSSV các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy” ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT là: “CTHSSV là một trong những công tác trọng tâm của Hiệu trưởng nhà trường, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2]

Với mục tiêu của CTHSSV nêu trên, nội dung QLSV cũng có sự điều chỉnh qua từng giai đoạn cho phù hợp với phương thức và bối cảnh của hoạt động đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp

Trong Quy chế CTHSSV trong các trường đào tạo, ban hành kèm theo quyết định số 1584/BGD-ĐT ngày 27/7/1993 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã quy định những nội dung của CTHSSV như sau:

Điều 3: Nội dung công tác học sinh sinh viên của nhà trường:

- Tổ chức tiếp nhận HSSV trúng tuyển vào học

- Tổ chức quản lý việc học tập của HSSV theo đúng chương trình, kế hoạchs

đã định và thực hiện đúng các quy chế, quy định hiện hành

- Tổ chức và quản lý đời sống vật chất của HSSV: ăn, ở, sinh hoạt của HSSV nội trú trong ký túc xá

Trang 28

- Tổ chức và quản lý đời sống tinh thần của HSSV: công tác chính trị tư tưởng, hoạt độngvăn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động khác của HSSV

- Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với HSSV về học bổng, học phí, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác có liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần của HSSV

- Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương nơi trường đóng (phường, xã, quận, huyện, thị, tỉnh, thành phố tuỳ theo nội dung, quy mô của vấn đề) xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn nơi trường đóng; giải quyết kịp thời, đúng đắn các vụ việc, các vấn đề liên quan đến HSSV Hướng dẫn HSSV nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế

- Biểu dương khen thưởng những HSSV đạt thành tích cao trong học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa học, trong các hoạt động xã hội, xử lý kỷ luật đối với HSSV vi phạm pháp luật và nội quy, quy chế Chỉ đạo thực hiện tốt công tác thanh tra

Nội dung CTHSSV trong nhà trường còn được cụ thể hoá tại điều 8 của quy chế này như sau:

Phòng (hoặc bộ phận tuỳ theo đặc điểm tổ chức và nhiệm vụ chức năng do Hiệu trưởng quy định) CTHSSV là cơ quan tham mưu giúp Hiệu trưởng trong CTHSSV với các nhiệm vụ sau:

- Tổ chức tiếp nhận HSSV trúng tuyển vào trường Sắp xếp bố trí HSSV vào các lớp theo đúng ngành nghề được tuyển chọn, chỉ định Ban đại diện lớp HSSV (lớp trưởng, lớp phó) Xử lý những trường hợp HSSV không đủ điều kiện và các thủ tục, hồ

sơ vào trường Tiến hành làm thẻ HSSV, thẻ ký túc xá, thẻ thư viện cho HSSV

- Tổ chức khám sức khoẻ cho HSSV mới vào trường, khám sức khoẻ định kỳ cho HSSV trong thời gian học tập theo quy định tại Thông tư Liên Bộ Y tế - ĐH THCN&DN (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo), xử lý những trường hợp không đủ tiêu chuẩn sức khoẻ để học tập Triển khai công tác bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn thân thể cho HSSV, phối hợp với các cơ quan bảo hiểm, các phòng ban có liên quan giải quyết các trường hợp HSSV bị ốm đau, tai nạn, rủi ro

- Phối hợp với các phòng ban, tổ chức "Tuần sinh hoạt công dân học sinh sinh viên" vào đầu mỗi năm học cho HSSV với nội dung sau: Phổ biến tình hình trong nước

Trang 29

và quốc tế, các chính sách và chế độ của Nhà nước đối với HSSV (học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, nghĩa vụ quân sự trong thời bình, về an ninh, trật tự trị an…), các quy chế, nội quy, các thông tư, chỉ thị liên quan đến HSSV, các kiến thức pháp luật thường thức, các vấn đề thời đại: môi trường, dân số, HIV/AIDS

- Phối hợp với các khoa tiến hành phân loại xếp hạng HSSV theo từng học

kỳ, năm học, giai đoạn và kết thúc khoá học theo quy chế hiện hành làm căn cứ để thực hiện chế độ học bổng, trợ cấp xã hội và học phí cho HSSV Kiến nghị biểu dương khen thưởng tập thể và cá nhân HSSV đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện Kiến nghị các hình thức kỷ luật đối với những HSSV vi phạm quy chế, nội quy Giải quyết các thủ tục hành chính, chuyển các HS, SV bị thi hành kỷ luật ở mức đình chỉ học tập, buộc thôi học về địa phương

- Căn cứ chế độ học bổng, học phí và trợ cấp xã hội hiện hành, trên cơ sở kết quả điểm tuyển sinh hoặc kết quả phân loại, xếp hạng, căn cứ đơn xin cấp học bổng, hoặc trợ cấp xã hội, đơn xin miễn giảm học phí, tiến hành tổ chức xét cấp học bổng trợ cấp xã hội và mức học phí cho HSSV, kể cả học bổng do các tổ chức và cá nhân tài trợ cho Trường Đôn đốc việc thu học phí và kiến nghị xử lý những HSSV không đóng học phí đầy đủ theo qui định

- Phối hợp với phòng Đào tạo tổ chức kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện kế hoạch, chương trình học tập, thực tập, thi và kiểm tra học phần, môn học, học kỳ, lên lớp, thi chuyển giai đoạn và thi tốt nghiệp cho các lớp, khoá học

- Phối hợp với phòng Đào tạo và các khoa, phòng, ban liên quan tổ chức cho HSSV tham gia thi HSSV giỏi, nghiên cứu khoa học, xét cấp học bổng khuyển khích tài năng cho những HSSV xuất sắc trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Trực tiếp hoặc phối hợp với các bộ phận chức năng được Hiệu trưởng uỷ quyền tiến hành việc thu nhận đơn xin ở nội trú của HSSV, xem xét và bố trí chỗ ở cho HSSV trong Ký túc xá, kiểm tra HSSV trong việc chấp hành quy chế ký túc xá, kiến nghị xử lý các trường hợp vi phạm

- Phối hợp với ĐTN Cộng sản Hồ Chí Minh, HSV và các phòng ban tổ chức và tạo điều kiện cho HSSV tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, các CLB sở thích và các hoạt động giải trí lành mạnh khác Định kỳ tổ chức các cuộc

Trang 30

tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo nhà trường với HSSV, làm đầu mối giải quyết và trả lời khiếu nại của HSSV

- Cùng với Phòng Bảo vệ và Ban quản lý Ký túc xá, chủ động phối hợp với chính quyền ở quận (huyện) phường (xã) nới trường đóng trong việc giữ gìn trật tự

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là trong quan hệ giữa HSSV của trường với trường khác và với nhân dân địa phương nơi trường đóng Phối hợp xử lý nghiêm minh và kịp thời các vụ việc vi phạm quy tắc bảo vệ trật tự trị an

- Phối hợp với các phòng, ban có liên quan giải quyết các thủ tục hành chính cho HSSV chuyển trường, chuyển ngành học; tổ chức cấp chứng chỉ, bằng tốt nghiệp và các hồ sơ giấy tờ khác cho HSSV tốt nghiệp và kết thúc giai đoạn Thực hiện việc bồi hoàn kinh phí đào tạo đối với HSSV tốt nghiệp không chấp hành phân công công tác

và HSSV đang học xin đi định cư ở nước ngoài

- Tiến hành giới thiệu và tìm việc cho HSSV sau khi tốt nghiệp và cho những HSSV nghèo có khó khăn ngay trong quá trình học tập

- Tiếp nhận và quản lý lưu học sinh nước ngoài đến học tập tại trường theo quy chế tiếp nhận và quản lý lưu học sinh nước ngoài đến học tập tại Việt Nam

Tới quy chế 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007, trước bối cảnh chuyển đổi phương thức ĐT từ niên chế sang học chế tín chỉ, nội dung của CTHSSV đã có

sự điều chỉnh so với trước và được nêu tại chương 3, từ điều 7 đến điều 12 như sau:

Điều 7: Công tác tổ chức hành chính

- Tổ chức tiếp nhận thí sinh trúng tuyển vào học theo quy định của BGD&ĐT

và Nhà trường, sắp xếp bố trí vào các lớp HSSV; chỉ định Ban cán sự lớp HSSV lâm thời (lớp trưởng, lớp phó) trong thời gian đầu khoá học; làm thẻ cho HSSV

- Tổ chức tiếp nhận HSSV vào ở nội trú

- Thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý hồ sơ của HSSV

- Tổ chức phát bằng tốt nghiệp cho HSSV

- Giải quyết các công việc hành chính có liên quan cho HSSV

Điều 8: Công tác tổ chức, quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của HSSV

- Theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của HSSV; phân loại, xếp loại HSSV cuối mỗi học kỳ hoặc năm học, khoá học; tổ chức thi đua khen thưởng cho

Trang 31

tập thể và cá nhân HSSV đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện; xử lý kỷ luật đối với HSSV vi phạm quy chế, nội quy

- Tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân học sinh sinh viên” vào đầu khoá, đầu năm và cuối khoá học

- Tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, thi học sinh giỏi, Olympic các môn học, thi sáng tạo tài năng trẻ và các hoạt động khuyến khích học tập khác

- Tổ chức triển khai công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho HSSV; tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt độngvăn hoá, văn nghệ và các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác; tổ chức đối thoại định kỳ giữa Hiệu trưởng nhà trường với các HSSV

- Theo dõi công tác phát triển Đảng trong HSSV; tạo điều kiện thuận lợi cho HSSV tham gia tổ chức Đảng, các đoàn thể trong trường; phối hợp với ĐTN Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên và các tổ chức chính trị - xã hội khác có liên quan trong các hoạt động phong trào của HSSV, tạo điều kiện cho HSSV có môi trường rèn luyện, phấn đấu

- Tổ chức tư vấn học tập, nghề nghiệp, việc làm cho HSSV

Điều 9: Công tác y tế, thể thao

- Tổ chức thực hiện công tác y tế trường học; tổ chức khám sức khoẻ cho HSSV khi vào nhập học; chăm sóc, phòng chống dịch, bệnh và khám sức khoẻ định

kỳ cho HSSV trong thời gian học tập theo quy định; xử lý những trường hợp không

đủ tiêu chuẩn sức khoẻ để học tập

- Tạo điều kiện cơ sở vật chất cho HSSV luyện tập thể dục, thể thao; tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt độngthể dục thể thao

- Tổ chức nhà ăn tập thể cho HSSV bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm

Điều 10: Thực hiện các chế độ chính sách đối với HSSV

- Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với HSSV về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, bảo hiểm, tín dụng đào tạo và các chế

độ khác có liên quan đến HSSV

Trang 32

- Tạo điều kiện giúp đỡ HSSV tàn tật, khuyết tật, HSSV diện chính sách, HSSV có hoàn cảnh khó khăn

Điều 11: Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn, phòng chống

tội phạm và các tệ nạn xã hội

- Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương trên địa bàn nơi trường đóng, khu vực có HSSV ngoại trú xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn cho HSSV; giải quyết kịp thời các vụ việc liên quan đến HSSV

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống tội phạm ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS và các hoạt động khác có liên quan đến HSSV; hướng dẫn HSSV chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế

- Tư vấn pháp lý, tâm lý, xã hội cho HSSV

Điều 12: Thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú

Tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú theo

quy định của Bộ GD&ĐT

Như trên đã nêu, kết cấu trình bày nội dung về công tác HSSV của 2 quy chế tuy có sự khác nhau về cấu trúc, cách trình bày, song về cơ bản các nội dung nêu trong quy chế 42/2007/QĐ-BGDĐT là sự kế thừa có chỉnh lý, cụ thể hoá từ quy chế 1584/GD-ĐT và được bổ sung thêm các hoạt động tư vấn và trợ giúp sinh viên về các mặt như: học tập, nghề nghiệp, việc làm, pháp lý, tâm lý, xã hội cho sinh viên Đây là một nội dung mới trong CTHSSV ở nước ta, nhằm làm cho CTHSSV phù hợp và hỗ trợ tốt hơn cho việc thực hiện phương thức đào tạo theo HCTC

Tại quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, ban hành kèm theo Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra quy định về hoạt động công tác sinh viên tại các trường đại học cần đạt được tại điều 9, tiêu chuẩn 6 về người học là:

- Người học được hướng dẫn đầy đủ về chương trình giáo dục, kiểm tra đánh giá và các quy định trong quy chế đào tạo của Bộ GD&ĐT

- Người học được đảm bảo chế độ chính sách xã hội, được khám sức khoẻ theo quy định y tế học đường; được tạo điều kiện hoạt động, tập luyện văn nghệ, thể dục thể thao và được đảm bảo an toàn trong khuôn viên của nhà trường

Trang 33

- Công tác rèn luyện chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho người học được thực hiện có hiệu quả

- Công tác Đảng, đoàn thể có tác dụng tốt trong việc rèn luyện chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho người học

- Có các biện pháp cụ thể, có tác dụng tích cực để hỗ trợ việc học tập và sinh hoạt của người học

- Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, tinh thần trách nhiệm, tôn trọng luật pháp, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước và các nội quy của nhà trường cho người học

- Có các hoạt động hỗ trợ hiệu quả nhằm tăng tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo

- Người học có khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm sau khi tốt nghiệp Trong năm đầu sau khi tốt nghiệp, trên 50% người tốt nghiệp tìm được việc làm đúng ngành được đào tạo

- Người học được tham gia đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên khi kết thúc môn học, được tham gia đánh giá chất lượng đào tạo của trường đại học trước khi tốt nghiệp

Đây là những căn cứ để định hướng, xây dựng hoạt động QLSV của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN trong giai đoạn tới

1.5 Phương thức đào tạo theo tín chỉ

Có nhiều tài liệu của nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này, đề cập tới với nhiều góc độ và ý kiến khác nhau Trong đó các tài liệu hướng dẫn; bài viết “Về việc áp dụng học chế tín chỉ” của Ban Đào tạo ĐHQGHN và các bài viết gần đây

đăng tải trên Tạp chí Giáo dục về chuyển đổi quy trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ

đã đề cập tới vấn đề này một cách khá hệ thống và đầy đủ

1.5.1 Khái quát về phương thức đào tạo đại học theo học chế tín chỉ

1.5.1.1 Sự ra đời và phát triển của học chế tín chỉ trên thế giới

Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống

Trang 34

Năm 1872, Viện Đại học Harvard (Mỹ) đã quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách rộng rãi Có thể xem sự kiện đó là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ

Đến đầu thế kỷ 20, học chế tín chỉ (HTTC) được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường ĐH Hoa Kỳ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng HTTC trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippines, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Senegal, Mozambic, Nigeria, Tại Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay HTTC cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học Vào năm 1999, 29 Bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh Châu Âu đã ký Tuyên ngôn Bologna nhằm hình thành Không gian giáo dục đại học Châu Âu (European Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng HCTC (European Credit Transfer System -ECTS) trong toàn hệ thống giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của sinh viên trong khu vực Châu

Âu và trên thế giới

1.5.1.2 Học chế tín chỉ ở Việt Nam

Trước năm 1975, một số trường đại học chịu ảnh hưởng của Mỹ tại miền Nam Việt Nam đã áp dụng học chế TC: Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức, … Trong quá trình “Đổi mới” ở nước ta từ cuối năm 1986, nền kinh tế chuyển từ

kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục đại học ở nước ta cũng có nhiều thay đổi Hội nghị Hiệu trưởng đại học tại Nha Trang hè năm 1987 đã đưa ra nhiều chủ trương đổi mới giáo dục đại học, trong đó

có chủ trương triển khai trong các trường đại học quy trình đào tạo 2 giai đoạn và môđun hoá kiến thức Theo chủ trương đó, học chế “học phần” đã ra đời và được triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳng nước ta từ năm 1988 đến nay Học chế học phần được xây dựng trên tinh thần tích lũy dần kiến thức theo các môđun trong quá trình học tập, tức là cùng theo ý tưởng của HCTC xuất phát từ Mỹ Tuy nhiên, về một số phương diện, học chế học phần chưa thật sự mềm dẻo như HCTC

Trang 35

của Mỹ, do đó nó được gọi là “sự kết hợp niên chế với tín chỉ”, tuy nhiên những khó khăn về đời sống trong xã hội nói chung và trong các trường đại học nói riêng lúc đó chưa cho phép đặt vấn đề thực hiện học chế môđun hóa triệt để

Năm 1990 đã có chủ trương đổi mới quy trình đào tạo và có mong muốn chuyển sang đào tạo theo tín chỉ nhưng do nhiều lý do không thể thực hiện được mong muốn này và quy trình đào tạo “niên chế kết hợp với học phần, đơn vị học trình” ra đời Quy trình đào tạo này một mặt vẫn sử dụng các đặc điểm của quy trình đào tạo theo niên chế nhưng đã bắt đầu làm quen với các khái niệm mới đó là khái niệm học phần và đơn vị học trình (ĐVHT) Học phần là khối lượng kiến thức

“tương đối trọn vẹn” (khác với môn học là khối kiến thức “trọn vẹn”) và nó là bội

số của ĐVHT (thường thì chứa tối đa là 5- 6 ĐVHT để bố trí học tối đa 5-6 tiết/tuần cho học phần đó), đôi khi học phần trùng với môn học nếu môn học đó có thời lượng học tập khoảng dưới 90 tiết và nếu môn học nào có số tiết lớn hơn 75-90 tiết thì “chia ra” thành các học phần cấu thành ĐVHT là đơn vị đo khối lượng kiến thức, về hình thức thì giống tín chỉ, nghĩa là nó được định danh tương đương 15 tiết lên lớp lí thuyết hoặc 30 tiết thực hành (nhưng không bắt buộc 1 tiết lên lớp phải

“có thêm” 2 giờ “ngoài lớp” để hoàn thành yêu cầu tích luỹ khối lượng kiến thức,

kỹ năng như của khái niệm tín chỉ); bên cạnh “cái mới” đó việc sắp xếp kế hoạch dạy học cũng “cải tiến” theo cách một học phần có “x” ĐVHT mỗi tuần chỉ bố trí

“x” tiết, rải đều trong suốt học kỳ để hoàn thành học phần đó và đây là đặc điểm của đào tạo theo tín chỉ) Các lãnh đạo Vụ Đại học - Bộ Giáo dục và Đào tạo coi quy trình đào tạo này là quy trình “quá độ” để chuyển từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo HCTC và thực tế thì thời kỳ quá độ này đã kéo dài hơn 15 năm

1.5.2 Đặc điểm của học chế tín chỉ

1.5.2.1 Khái niệm tín chỉ

Hệ thống đào tạo theo tín chỉ là phương thức đào tạo cho phép sinh viên đạt

được văn bằng đại học qua việc tích luỹ các loại tri thức khác nhau được đo lường bằng một đơn vị xác định, căn cứ trên khối lượng học tập của một sinh viên đã tích lũy được, đơn vị tích lũy được gọi là tín chỉ tương ứng với 15 giờ tín chỉ

Trang 36

1.5.2.2 Đặc điểm của học chế tín chỉ

- Kiến thức được cấu trúc thành các mô-đun (học phần)

+ Học phần là môn học có cấu trúc chặt chẽ, được giảng dạy trọn vẹn trong một học kỳ và được đánh giá độc lập với các học phần khác

+ Đơn vị đo khối lượng học tập của sinh viên là tín chỉ Một tín chỉ được quy định bằng một số tiết học trên lớp tương đương với 15 tiết lý thuyết; 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn

+ Đối với học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị bài ở nhà

- Đánh giá thường xuyên, và sử dụng thang điểm 4 bậc (A, B, C, D hay 4, 3, 2, 1)

- Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng Dựa vào khối lượng tín chỉ đã tích luỹ để xếp năm học phù hợp cho người học

- Có hệ thống cố vấn học tập (CVHT): Hệ thống CVHT để tư vấn cho sinh

viên lựa chọn và lên kế hoạch học tập phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ

CVHT là người nắm chắc chương trình dẫn đến một loại văn bằng và kế hoạch ĐT cũng như năng lực, điều kiện của người học để tư vấn cho họ lựa chọn tiến độ và khả năng đạt được các văn bằng tuỳ vào tiến độ và năng lực mà người học có

Mỗi khoa có một đội ngũ CVHT Mỗi CVHT phụ trách một số sinh viên kể

từ lúc vào trường cho đến khi ra trường Khi sinh viên thực hiện đầy đủ các quy định của nhà trường, tích luỹ kiến thức thông qua việc tích luỹ đủ số tín chỉ quy định cho chương trình theo sự hướng dẫn của CVHT, họ sẽ được cấp bằng tốt nghiệp Sinh viên toàn thời gian và sinh viên bán thời gian tuy học chung nhưng

Trang 37

được xét tốt nghiệp ở những thời điểm khác nhau, tuỳ theo thời gian họ hoàn thành toàn

bộ chương trình học tập

- Chương trình đào tạo mềm dẻo, có nhiều khả năng lựa chọn cho sinh viên

và tạo điều kiện dễ dàng cho sinh viên chuyển ngành hoặc cùng một lúc học hai chương trình

- Không có thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khoá luận tốt nghiệp đối với các chương trình cao đẳng và đại học [4]

1.5.3 Sự khác nhau giữa phương thức đào tạo theo niên chế và tín chỉ

Điểm khác nhau cơ bản nhất giữa HCTC với niên chế là việc giành quyền lựa chọn và quyết định cho sinh viên trong quá trình đào tạo, từ chọn lựa ngành đào tạo cụ thể, tới chọn các môn học, phương thức học và cả kế hoạch học tập

Với HCTC, người ta trình bày các mục tiêu đào tạo có thể có trong một phạm

vi chuyên môn nhất định về khoa học và công nghệ, chỉ dẫn các con đường đi khác nhau để đạt tới các mục tiêu này, bao gồm nội dung học tập, phương thức học tập,

kế hoạch học tập Sinh viên được tự chọn nội dung, phương pháp, kế hoạch học để đạt tới mục tiêu đã chọn Trong quá trình học có thể tuỳ yêu cầu của xã hội, sở thích

và khả năng của mình để thay đổi mục tiêu, và liên quan tới nội dung, phương pháp học tập Nhà trường giữ vai trò hướng dẫn, sinh viên giữ quyền tự quyết Nói một cách hình tượng là tổ chức đào tạo đã vạch cho sinh viên một bản đồ trên đó có những hướng đi khác nhau để đi tới các mục tiêu đào tạo mà sinh viên có thể chọn

từ đầu và cũng có thể điều chỉnh trong quá trình học tập HCTC tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi mục tiêu đào tạo, cho hợp tác đào tạo giữa các trường, các bậc học, thậm chí giữa các quốc gia với nhau

Trong đào tạo theo niên chế, sinh viên là thành viên của một lớp ổn định trong cả khóa học và nhà trường quản lý các tập thể ổn định này

Trong đào tạo theo tín chỉ, đối với mỗi học phần, sinh viên là thành viên của các nhóm làm việc dưới sự quản lý của giáo viên phụ trách học phần, môn học đó (gọi là lớp môn học) Trong đào tạo theo tín chỉ, nhà trường thực hiện sự phân chia sinh viên theo các hình thức: lớp khóa học (thuận tiện cho việc sinh hoạt tập thể nên

có thể gọi là lớp sinh hoạt) và lớp học phần Lớp sinh hoạt đối với những sinh viên

Trang 38

cùng khóa tuyển có thể gọi là cách “cắt ngang”, còn các lớp môn học là cách “cắt dọc” trong việc phân chia sinh viên trong công tác quản lý Trong đào tạo theo tín chỉ, sinh viên là thành viên của các lớp học phần, lớp môn học khác nhau và các lớp học phần, lớp môn học này thay đổi theo học kỳ

1.5.4 Chủ thể quản lý sinh viên trong học chế tín chỉ

Đào tạo theo HCTC là một mô hình mới với giáo dục đại học Việt Nam về nội dung và phương pháp cũng như những phương tiện, cách thức điều hành giảng dạy, quản lý, đòi hỏi một sức mạnh tổng hợp của cả nhà trường mới đưa đến sự thành công và phát triển bền vững Tuy nhiên, với chức năng và nhiệm vụ được giao thì các đơn vị như Phòng CT&CTHSSV và Phòng Đào tạo, các Khoa đào tạo, ĐTN-HSV là những đối tượng cùng tham gia QLSV trong Nhà trường Trong đó, Phòng CT&CTHSSV và các Khoa đào tạo là những đơn vị quản lý trực tiếp sinh viên từ lúc nhập trường đến khi ra trường

Hiện nay, Ban Giám hiệu nhà trường phân công một Phó Hiệu trưởng phụ trách công tác đào tạo và công tác học sinh sinh viên Phòng CT&CTHSSV là đơn

vị tham mưu, giúp việc cho Ban Giám hiệu về lĩnh vực CT&CTHSSV Đối với công tác sinh viên, Phòng có 1 đồng chí Phó Trưởng phòng phụ trách CTHSSV, 3 cán bộ làm đầu mối QL SV các khoa, 1 cán bộ phụ trách mảng việc chế độ chính sách của học sinh sinh viên

Tham gia vào công tác QLSV ở cấp khoa là hệ thống giáo vụ các khoa, giáo viên chủ nhiệm lớp, cố vấn học tập và hệ thống cán bộ tự quản (lớp trưởng, lớp phó,

bí thư ) Đây là đội ngũ lực lượng đông đảo và cần thiết để đảm bảo các học phần được tổ chức giảng dạy liên tục trong tất cả các học kỳ, là lực lượng cán bộ quản lý

và giảng dạy vừa có nhiệt tình, vừa có vai trò cố vấn học tập để hướng dẫn sinh viên lựa chọn kế hoạch, tiến độ học tập và giúp sinh viên định hướng cũng như chuyển đổi nghề nghiệp trên cơ sở hiểu thấu năng lực sở trường và điều kiện cũng như hoàn cảnh của sinh viên Các khoa là đơn vị chịu trách nhiệm quản lý về mặt chuyên môn, quản lý việc học, quản lý thái độ của sinh viên đối với ngành nghề mà

họ đang theo học

Trang 39

1.6 Những khác biệt cơ bản và những vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ

Sự khác biệt cơ bản giữa hai phương thức tổ chức đào tạo như đã trình bày dẫn tới sự khác biệt trong hoạt động của công tác QLSV trong nhà trường Những khác biệt đó là:

Trong đào tạo theo HCTC, sinh viên được giành quyền chủ động rất lớn trong quá trình đào tạo

Trong đào tạo theo niên chế các sinh viên học tập theo một kế hoạch chung

và được biên chế thành các lớp sinh viên chặt chẽ, bền vững, giữa các sinh viên có

sự gắn kết chặt chẽ theo khóa tuyển sinh và “lớp khóa học” Trong khi đó dào tạo theo tín chỉ, sinh viên học tập theo những kế hoạch riêng biệt, các khái niệm truyền thống như lớp sinh viên, năm học thứ nhất, thứ hai, khoá học này, khoá học kia…

có thể vẫn tồn tại, song ý nghĩa rất mờ nhạt và chủ yếu dùng để sinh hoạt tập thể mà các tổ chức chính trị xã hội (tổ chức đoàn ) trong trường thường sử dụng Sự cá thể hoá cao độ quá trình học tập, đào tạo đã dẫn đến những khó khăn trong việc QLSV,

tổ chức các hoạt động tập thể và các phong trào chung, ý thức tập thể, ý thức cộng đồng giảm sút đáng kể Do vậy các hoạt động quản lý, tổ chức sinh viên theo lớp như trước không còn ý nghĩa, việc quản lý của Nhà trường đòi hỏi phải trực tiếp đến từng sinh viên đã làm cho khối lượng công việc quản lý tăng lên rất nhiều Các hoạt động của công tác sinh viên trước đây chỉ cần triển khai tới từng lớp thì nay phải triển khai trực tiếp tới từng sinh viên vì HCTC đề cao tư tưởng “cá thể hóa” người học Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trước đây, không còn ý nghĩa trong hoạt động quản lý, cần được thay thế bằng đội ngũ CVHT với vai trò trợ giúp , hướng dẫn sinh viên xây dựng kế hoạch học tập và tư vấn cho sinh viên giải quyết các vấn đề trong sinh hoạt, và đời sống

Các hoạt động đoàn thể và các hoạt động phong trào, trước đây được tổ chức theo các đơn vị lớp sinh viên (lớp khóa học - đơn vị hành chính học vụ) và theo phương thức hành chính, nay sẽ phải thay đổi một cách cơ bản về nội dung và phương thức hoạt động học tập nên hoạt động QLSV cũng cần quan tâm đến đặc điểm của quy trình đào tạo theo HCTC đó là tạo điều kiện cho sinh viên “lựa chọn” kế hoạch sinh

Trang 40

hoạt Đoàn, Hội thông qua việc tổ chức các CLB và các nhóm, hội có lồng ghép mục đích sinh hoạt đoàn vào hoạt động các CLB và Hội sinh viên Ở đây vai trò của các

CVHT và các CLB khá quan trọng

1.6.1 Vai trò của cố vấn học tập trong quản lý sinh viên

Như đã trình bày ở phần trên, CVHT là những người được tuyển chọn trong

số những giáo viên nắm vững quy trình đào tạo theo HCTC, có tinh thần trách nhiệm cao, có uy tín đối với sinh viên để giúp đỡ, hướng dẫn từng sinh viên trong việc lựa chọn đăng ký học những học phần sao cho thích hợp với năng lực, sở thích

và kế hoạch riêng của sinh viên vào đầu mỗi học kỳ, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đặt

ra trong chương trình đào tạo của nhà trường

Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của CVHT là rất quan trọng trong quá trình giáo dục và đào tạo sinh viên trong nhà trường đại học Trước xu thế đổi mới về chương trình đào tạo, từ chương trình đào tạo theo niên chế sang HCTC đang đặt ra những yêu cầu mới cho ngành giáo dục Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đại học là lực lượng nòng cốt biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định hiệu quả và chất lượng giáo dục đào tạo Đảng ta cũng xác định: “ để đảm bảo chất lượng giáo dục phải giải quyết tốt vấn đề thầy giáo”

Trước hết, vai trò xã hội của người CVHT trở lên lớn hơn bên cạnh chức năng giảng dạy của một người thầy Ngoài việc trực tiếp giảng dạy, bằng năng lực của mình, người CVHT có tác động tích cực đến nhân cách của sinh viên Họ là cầu nối giữa tập thể sinh viên với các tổ chức đơn vị trong nhà trường Họ là người quản

lý, hướng dẫn sinh viên tự tổ chức các hoạt động sao cho phù hợp với điều kiện, khả năng của sinh viên Sinh viên tự tổ chức không có nghĩa là người cố vấn đứng ngoài hoạt động của tập thể sinh viên mà còn phải có sự theo dõi, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời, tháo gỡ những vướng mắc khi sinh viên gặp phải trong học tập và rèn luyện

Người CVHT có trách nhiệm truyền đạt đầy đủ tư tưởng chỉ đạo của Ban Giám hiệu nhà trường, của Ban Chủ nhiệm khoa đến từng sinh viên Ở góc độ này, người CVHT vừa là nhà quản lý, vừa là nhà sư phạm trong lĩnh vực giáo dục Đồng thời họ còn là người đại diện cho quyền lợi chính đáng của sinh viên, phản ánh với Ban chủ nhiệm Khoa, với Hiệu trưởng về nguyện vọng của sinh viên; có những giải

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, Tháng 11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quyết định về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ, số 31/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, ban hành theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo-Trung ƣơng Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Nghị quyết liên tịch về tăng cường công tác học sinh sinh viên và xây dựng Đoàn, Hội, Đội trong trường học giai đoạn 2003-2007, số 10/2003/NQ- BGD&ĐT-TWĐ ngày 17/3/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết liên tịch về tăng cường công tác học sinh sinh viên và xây dựng Đoàn, Hội, Đội trong trường học giai đoạn 2003-2007
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tìm hiểu Luật Giáo dục 2005, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Luật Giáo dục 2005
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Chính phủ. Nghị quyết về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020,số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020
9. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
10. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
11. Đại học Quốc gia Hà Nội. Bộ Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đơn vị đào tạo ĐHQGHN, ban hành theo quyết định số 05/QĐ-KĐCL ngày 13/12/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đơn vị đào tạo ĐHQGHN
12. Đảng bộ Đại học Quốc gia Hà Nội. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ ĐHQGHN tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ III, ngày 25/10/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ ĐHQGHN tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ III
13. Đại học Quốc gia Hà Nội. Quy chế đào tạo đại học ở ĐHQGHN, ban hành theo Quyết định số 3413/ĐT ngày 10/9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế đào tạo đại học ở ĐHQGHN
14. Đại học Quốc gia Hà Nội. Quy định công tác sinh viên ở ĐHQGHN, ban hành theo Quyết định số 2875/QĐ-CTHSSV ngày 18/8/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định công tác sinh viên ở ĐHQGHN
15. Đại học Quốc gia Hà Nội. Quy chế đào tạo đại học ở ĐHQGHN, ban hành theo Quyết định số 3079/ĐT ngày 26/10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế đào tạo đại học ở ĐHQGHN
16. Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN. Kế hoạch chiến lược phát triển của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN, 2010 - 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch chiến lược phát triển của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN
17. Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN. Lộ trình thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ, tháng 12/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lộ trình thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ
18. Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ Trường Đại học Ngoại ngữ tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVII, ngày 29/5/2010.B. Tác giả, tác phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ Trường Đại học Ngoại ngữ tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVII
19. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hƣng. Giáo dụcViệt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp. Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dụcViệt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
20. Đặng Quốc Bảo, Tổng quan về Tổ chức và Quản lý, Tài liệu dành cho các lớp Cao học QLGD, Trường ĐHGD – ĐHQGHN, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về Tổ chức và Quản lý
21. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Lý luận đại cương về quản lý. Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Trường ĐHGD - ĐHQGHN, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận đại cương về quản lý
33. Trang web: http://vanban.moet.gov.vn 34. Trang web: http://ulis.vnu.edu.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Các chức năng trong một chu trình quản lý - Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
Sơ đồ 1.1 Các chức năng trong một chu trình quản lý (Trang 18)
Bảng 2.1. Thống kê kết quả tốt nghiệp của sinh viên từ 2006-2009 - Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
Bảng 2.1. Thống kê kết quả tốt nghiệp của sinh viên từ 2006-2009 (Trang 48)
Bảng 2.2. Kết quả thực hiện quy chế  rèn luyện của sinh viên từ 2006-2009 - Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
Bảng 2.2. Kết quả thực hiện quy chế rèn luyện của sinh viên từ 2006-2009 (Trang 49)
Bảng 2.3: Quy mô đào tạo sinh viên đại học hệ chính quy Trường Đại học Ngoại ngữ - Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
Bảng 2.3 Quy mô đào tạo sinh viên đại học hệ chính quy Trường Đại học Ngoại ngữ (Trang 57)
Bảng 2.5: Sinh viên được hưởng chế độ chính sách từ năm 2006-2009 - Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
Bảng 2.5 Sinh viên được hưởng chế độ chính sách từ năm 2006-2009 (Trang 64)
Bảng 2.6: Kết quả đánh giá rèn luyện của sinh viên từ năm 2006-2009 - Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
Bảng 2.6 Kết quả đánh giá rèn luyện của sinh viên từ năm 2006-2009 (Trang 65)
Bảng 2.8: Thực trạng về hoạt động QL SV tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
Bảng 2.8 Thực trạng về hoạt động QL SV tại Trường Đại học Ngoại ngữ (Trang 70)
Bảng 2.9: Những thành công và tồn tại trong quản lý sinh viên - Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
Bảng 2.9 Những thành công và tồn tại trong quản lý sinh viên (Trang 72)
Sơ đồ 3.1: Sự phối hợp QLSV giữa các lực lượng trong Nhà trường - Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
Sơ đồ 3.1 Sự phối hợp QLSV giữa các lực lượng trong Nhà trường (Trang 87)
Bảng 3.1. Kết quả thăm dò mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý - Quản lý sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
Bảng 3.1. Kết quả thăm dò mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w