ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC DƯƠNG DOÃN TRUNG QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DƯƠNG DOÃN TRUNG
QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Nhật Thăng
HÀ NỘI - 2011
Trang 2CHÚ THÍCH NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Đối tượng khảo sát thực trạng 33 Bảng 2.2 Ý kiến của học sinh về sự cần thiết của GDĐĐ ….……… 34 Bảng 2.3 Ý kiến xếp loại ĐĐ theo tiêu chuẩn của học sinh …… … 34 Bảng 2.4 Nhận thức của học sinh về các phẩm chất đạo đức cần
được giáo dục trong trường THPT ……….… 35 Bảng 2.5 Thái độ của học sinh đối với các quan niệm về đạo đức … 36 Bảng 2.6 Ý kiến của học sinh về vị trí ĐĐ và GDĐĐ ………… … 37 Bảng 2.7 Thực trạng biểu hiện về đạo đức của học sinh …… …… 40 Bảng 2.8 Những nguyên nhân dẫn đến hành vi sai phạm của học sinh 42 Bảng 2.9 Nhận thức của GV về việc GDĐĐ cho học sinh ………… 46 Bảng 2.10 Ảnh hưởng của các lực lượng đến GDĐĐ học sinh …… 48 Bảng 2.11 Nhận thức của quần chúng về ý nghĩa của sự phối hợp … 50 Bảng 2.12 Nhận thức của quần chúng về trách nhiệm của các lực
lượng trong việc GDĐĐ học sinh ……… …… 50 Bảng 2.13 Bảng kết quả điều tra nhận thức của quần chúng về lí do
tại sao phải phối hợp các lực lượng nhằm GDĐĐ cho học
Bảng 2.14 Nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình ………… 53 Bảng 2.15 Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình ……… ……… 54 Bảng 2.16 Nội dung phối hợp giữa nhà trường với XH
55 Bảng 2.17 Các biện pháp phối hợp giữa nhà trường và XH nhằm
Bảng 2.18 Hiệu quả của sự phối hợp giữa các lực lượng nhằm
Bảng 2.19 Nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của sự phối hợp giữa
các lực lượng nhằm GDĐĐ cho học sinh ……… … 59 Bảng 3.1 Đối tượng khảo nghiệm ……… 91 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm các biện pháp ……… 92
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Chức năng quản lí ……… ……… 10 Biểu đồ 3.1 Mức cần thiết và tính khả thi % ……… 93
Trang 5MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài……… ……… ……… 1
2 Mục đích nghiên cứu……… ….…….…… 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… ….……… 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu……….….…… 4
5 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu……… ….…… 4
6 Giả thuyết khoa học……….…….… 4
7 Phương pháp nghiên cứu……….…… 5
8 Cấu trúc luận văn……….….… 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.………….……… ………… 6
1.1 Sơ lược về vấn đề đạo đức và nghiên cứu giáo dục đạo đức hiện nay 6 1.2 Một số khái niệm công cụ ……….….… … 8
1.2.1 Khái niệm về quản lý ……… ……….… 8
1.2.2 Quản lí giáo dục……….….….… 10
1.2.3 Quản lí nhà trường……… …… … …… 12
1.2.4 Đạo đức ……… …… ……… 12
1.2.5 Giáo dục đạo đức……… ……….… … 15
1.2.6 Các lực lượng trong giáo dục……… ….…… 17
1.2.7 Phối hợp, quản lý sự phối hợp……… ……….……… 18
1.3 Ý nghĩa của việc GDĐĐ đối với sự phát triển tâm lực của học sinh phổ thông nói riêng, con người nói chung trong giai đoạn hiện nay… 19
1.4 Nội dung phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh THPT 21 1.4.1 Các lực lượng xã hội cần tham gia giáo dục đạo đức học sinh 21
1.4.2 Nội dung phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức học sinh 22 1.5 Những yêu cầu của việc quản lý sự phối hợp giữa các lực lượng trong quá trình giáo dục đạo đức 22
1.5.1 Khảo sát, đánh giá tiềm năng xã hội phục vụ cho hoạt động GDĐĐ 22
Trang 61.5.2 Kế hoạch hoá nội dung và hình thức các hoạt động giáo dục đạo
đức cho phù hợp 23 1.5.3 Xây dựng được một cơ chế phối hợp các lực lượng 23 1.5.4 Chỉ đạo, kiểm tra, rút kinh nghiệm, tổng kết 23 1.6 Những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý sự phối hợp giữa nhà
trường, gia đình và xã hội 23 1.6.1 Hoàn cảnh xã hội của địa phương trong thời kỳ hội nhập 24 1.6.2 Định hướng giáo dục giá trị của con người Việt Nam và giáo dục
phổ thông thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá……… ……… 24 1.6.3 Trình độ nhận thức và năng lực của các chủ thể tham gia vào sự
phối hợp trong giáo dục 26 1.6.4 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT 27 1.6.5 Những điều kiện cơ sở vật chất , kinh phí phục phụ cho hoạt động
giáo dục đạo đức 29 Tiểu kết chương 1……….……… 30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP CÁC LỰC
LƯỢNG TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC SƠN,
trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trên địa
bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn……….………
Trang 7Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ SỰ PHỐI HỢP CÁC LỰC
LƯỢNG TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC
SINH THPT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN…. 62
3.1 Một số nguyên tắc xây dựng các biện pháp……… 62
3.1.1 Phải đảm bảo mục tiêu giáo dục THPT……… 62
3.1.2 Biện pháp phải đồng bộ……….……… …… 63
3.1.3 Phù hợp với thực tiễn……… ……… 63
3.1.4 Phát huy tính tích cực của các chủ thể………….……… 64
3.2 Một số biện pháp……… ……… 64
3.2.1 Xây dựng một chương trình, kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phù hợp với đặc điểm, chức năng của các lực lượng xã hội trong suốt năm……… 64
3.2.2 Xây dựng và xác định cơ chế phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn……… 70
3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh……… 79
3.2.4 Chỉ đạo tổ chức xây dựng tạo dư luận xã hội lành mạnh, thông qua các phong trào thi đua học tập, xây dựng điển hình……… 85
3.2.5 Sử dụng hợp lí và tăng cường cơ sở vật chất , kinh phí cho những hoạt động GDNGLL, hoạt động giáo dục đạo đức……….…… 87
3.2.6 Kiểm tra đánh giá việc tổ chức phối hợp giữa các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông…… ….… 89
3.3 Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các biện pháp………….…… 91
Tiểu kết chương 3……….… 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 96
1 Kết luận:……… …… 96
2 Khuyến nghị:……… ……… ….……… 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….………… 99
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đạo đức và giáo dục đạo đức là một phạm trù xã hội, xuất hiện khi có
xã hội loài người, tồn tại và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người Đạo đức là một mặt quan trọng trong nhân cách của mỗi con người, nói lên mối quan hệ giữa con người với các quan hệ mà họ tham gia Đạo đức
là kết quả của một quá trình giáo dục, là kết quả của sự tu dưỡng, rèn luyện của bản thân
Ngày 21 tháng 10 năm 1964 Bác Hồ khi về thăm trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã nói: “công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường là một
bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường XHCN Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả đức lẫn tài Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng” Nhiệm vụ của nhà trường là phải làm sao tìm những biện pháp có hiệu quả trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Hội nghị lần II của BCH TW khoá VIII đã khẳng định “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững để thực hiện mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”[10] Phát triển nguồn lực con người là phát triển đức và tài, hai mặt của nhân cách mà nhà trường giữ vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục
xã hội và giáo dục gia đình
Từ năm 1986 khi Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có giáo dục Trước xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ và trở thành quy luật tất yếu của thời đại nên một
số giá trị và chuẩn mực đạo đức truyền thống gặp những thách thức lớn trước
sự xâm nhập của văn hoá nước ngoài, của lối sống phương tây cũng như sự
Trang 9tác động của cơ chế thị trường Hội nghị BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam lần II khoá VIII, khi đánh giá về công tác giáo dục đào tạo trong thời gian qua đã nêu “Đặc biệt đáng lo ngại trong một bộ phận học sinh, sinh viên có trình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”[10]
Tầng lớp thanh, thiếu niên vốn rất nhạy cảm với cái mới, nhưng kinh nghiệm cuộc sống còn hạn chế nên rất dễ bị cuốn vào vòng xoáy của những cám dỗ về vật chất, dễ mắc các tệ nạn xã hội và xa vào vòng ảnh hưởng của lối sống thực dụng, hưởng thụ vật chất, kích động bạo lực, tình dục, muốn thoát ly sự kiểm soát của gia đình, nhà trường, xã hội… coi thường và xa rời các chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc Tình trạng thanh thiếu niên mắc vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng và có chiều hưóng diễn biến phức tạp Đặc biệt là các tệ nạn và tiêu cực xã hội, những hiện tượng làm ăn phi pháp, tham nhũng, lối sống thực dụng, chạy theo những giá trị vật chất coi nhẹ những giá trị đạo đức ngày càng có tính phổ biến Một bộ phận không nhỏ các gia đình không quan tâm giáo dục con cái, mải làm ăn, ở một số cán bộ quản lý không quan tâm giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, phó mặc cho nhà trường
Trong những năm gần đây các tệ nạn xã hội, tình trạng bạo lực, lối sống buông thả… đã xâm nhập vào học đường gây rất nhiều lo lắng cho các bậc phụ huynh Tình trạng học sinh vô lễ, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật, tình trạng bạo lực, quan hệ nam nữ thiếu lành mạnh, một bộ phận thanh thiếu niên sống thiếu lý tưởng, sống thiếu trách nhiệm… ngày càng tăng mà một trong những nguyên nhân quan trọng là do những vấn đề còn bất cập trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, đặc biệt là học sinh bậc THPT Vậy chúng ta phải làm gì để khắc phục tình trạng trên, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục phụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 10Bắc Sơn là một huyện của tỉnh Lạng Sơn, cách thủ đô Hà Nội khoảng 160Km, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 70 km, thành phố thủ phủ tỉnh Lạng Sơn khoảng 80 km Huyện Bắc Sơn dễ dàng và nhanh chóng tiếp thu ảnh hưởng những mặt tích cực cũng như tiêu cực đã xẩy ra trong cơ chế thị trường và quá trình hội nhập của các thành phố đặc biệt là lối sống thành thị với những nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần rất cao Những thực trạng trên đã, đang xẩy ra ở huyện Bắc Sơn và có chiều hướng ngày càng gia tăng,
vì vậy các nhà quản lý giáo dục cần nhận thức sâu sắc về vấn đề này đặc biệt
là việc nghiên cứu quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trên địa bàn huyện Bắc Sơn Cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm
để rút ra những kết luận khoa học về biện pháp quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Vì vậy tôi
mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý sự phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn” với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn việc
quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT của huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
2 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lí luận về quản lý giáo dục đạo đức, thực trạng về đạo đức của học sinh THPT ở Huyện Bắc Sơn và công tác quản lý giáo dục đạo đức ở các trường THPT huyện Bắc Sơn, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý sự phối hợp giữa các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu lí luận về việc quản lý sự phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Trang 113.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý sự phối hợp của nhà trường với các tổ chức xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Bắc Sơn
3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Sự phối hợp của các lực lượng xã hội tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn (các trường Bắc Sơn, Vũ Lễ và TTGDTX Bắc Sơn)
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Xác định các biện pháp quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
5 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Để đảm bảo tính khả thi, đề tài tập trung nghiên cứu các Biện pháp quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác GDĐĐ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
6 Giả thuyết khoa học
Quá trình giáo dục đạo đức học sinh THPT trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn vẫn còn những hạn chế Một trong những nguyên nhân của hạn chế đó là công tác QL sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và XH trong công tác giáo dục ĐĐ cho học sinh THPT trên địa bàn huyện còn những bất cập
Nếu đề xuất được những biện pháp quản lý khoa học, khả thi sẽ góp phần nâng cao chất lượng ĐĐ cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Bắc
Trang 12Sơn, tỉnh Lạng Sơn
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu lí thuyết về giáo dục, giáo dục đạo đức , quản lý gíáo dục, quản lý sự phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức
Nghiên cứu tài liệu về quản lý, giáo dục, giáo dục đạo đức Phân tích tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra cơ bản bằng phiếu hỏi
- Quan sát các hoạt động nhà trường: Họp hội đồng giáo dục, giờ chào cờ đầu tuần, sinh hoạt Đoàn thanh niên, sinh hoạt lớp chủ nhiệm
- Nghiên cứu sản phẩm
- Tổng kết kinh nghiệm
- Lấy ý kiến chuyên gia qua trao đổi, toạ đàm
7.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lí dự liệu nghiên cứu
- Sử dụng thống kê (bảng số liệu, biểu đồ)
- Sử dụng lí thuyết toán học và phần mềm tin học
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý sự phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Chương 2: Thực trạng việc quản lý sự phối hợp các lực lượng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Một số biện pháp quản lý sự phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Bắc Sơn,
tỉnh Lạng
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT 1.1 Sơ lược về vấn đề đạo đức và nghiên cứu giáo dục đạo đức hiện nay
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, được hình thành và phát triển cùng với lịch sử XH loài người và luôn được mọi tầng lớp, mọi giai cấp và mọi thời đại quan tâm Với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, những tư tưởng ĐĐ đã xuất hiện khá sớm trong lĩnh vực triết học Trung Hoa,
Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại
Đạo đức biểu hiện đặc trưng về nhân cách, văn hoá; là những yêu cầu, những nguyên tắc, chuẩn mực do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo Đạo đức phản ánh các mối quan hệ, ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với xã hội và con người với thế giới tự nhiên Đạo đức không chỉ gắn liền với những con người cụ thể mà nó còn gắn chặt với mỗi dân tộc, mỗi giai cấp tạo nên nền tảng đạo đức của mỗi xã hội nhất định trong một giai đoạn lịch sử nhất định
Theo chiều dài lịch sử, đã có rất nhiều quan điểm về đạo đức, nhưng chỉ có quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin là khoa học nhất, tiến bộ nhất Chủ nghĩa Mác-Lê Nin cho rằng đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng, nó phản ánh và chịu
sự chi phối của tồn tại xã hội, khi tồn tại xã hội được thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo, như vậy đạo đức là một phạm trù mang tính vĩnh hằng nhưng lại mang những đặc điểm của giai cấp, của dân tộc và thay đổi chuẩn mực trong từng giai đoạn lịch sử
Ở Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản ra đời, Đảng, Bác Hồ thường xuyên quan tâm đến vấn đề đạo đức và GD đạo đức cách mạng, đạo đức XHCN, là “Cần-Kiệm-Liêm-Chính, chí công vô tư”, là “Nhân-Nghĩa-Trí-
Trang 14Dũng-Liêm”, Bác đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, nhằm giúp cho họ có được những phẩm chất và năng lực để kế tục sự nghiệp cách mạng
Tuy, nhiên nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng trong quá trình hội nhập quốc tế, trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đạo đức, nhân cách của con người có nhiều biểu hiện thiếu lành mạnh, trong sáng, phần nào làm ảnh hưởng đến đạo đức XHCN mà Đảng ta và Bác Hồ đã dầy công vun đắp Những biểu hiện tiêu cực, thiếu văn hoá, mất đạo đức của một bộ phận trong cộng đồng dân cư, trong xã hội đã làm ảnh hưởng đến nhà trường đặc biệt là trường THPT
Đứng trước thực tế này, giáo dục đạo đức cho học sinh là vấn đề đã được Đảng, nhà nước quan tâm và được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu Chúng ta có thể tìm hiểu qua các tác giả như: Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Hà Nhật Thăng, Phạm Khắc Chương,
Về mặt lí luận cũng như thực tiễn, vấn đề giáo dục ĐĐ trong nhà trường phổ thông đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm, song phải kể đến sự đóng góp của tiểu ban xây dựng chương trinhg môn Đạo Đức (ở tiểu học), môn Giáo dục công dân (ở THCS và THPT) và chương trình hoạt động GDNGLL do Trung tâm nghiên cứu GDĐĐ cùng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam làm nòng cốt Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong hệ thống sách giáo khoa và sách GV từ lớp 1 đến lớp 12 Phải coi đó là một công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn lớn lao, có quy mô toàn quốc vì nó định hướng cho hệ thống GD nhà trường thực hiện thống nhất một hệ thống chuẩn mực đạo đức phù hợp với lứa tuổi ở GD phổ thông
Về việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong GDĐĐ phải kể đến những đóng góp của PGS.TS Hà Nhật Thăng thể hiện trong tác phẩm “Sổ tay giáo viên chủ nhiệm ” nhà xuất bản Giáo dục năm 2010 và cuốn “Rèn luyện
kỹ năng Sư phạm” nhà xuất bản Giáo dục năm 2010, trong các công trình
Trang 15trên tác giả đã đề cập tới vai trò của GVCN lớp, của nhà trường trong việc chịu trách nhiệm phối hợp với GĐ và các tổ chức XH nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu các biện pháp quản lý sự phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, một địa phương giàu truyền thống cách mạng và có nhiều tiềm năng trong việc phát triển kinh tế
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm về quản lý
Từ khi con người sống thành xã hội có sự phân công hợp tác trong lao động thì bắt đầu xuất hiện sự quản lý Tính chất của việc quản lý thay đổi
và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, nhằm bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội đã có nhiều quan niệm về quản lý như:
Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [37, tr.789]
Harol Koontz định nghĩa: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo
sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” [13, tr.31]
F.W Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất [6, tr.1]
Theo Thomas.j.Robins, Wayned Morryn: “Quản lý là một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học [35, tr.19]
Tác giả M.Follet lại cho rằng, quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của mình được thực hiện thông qua người khác
Trang 16Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng có những quan niệm khác nhau về quản lý:
Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cùng thống nhất quan điểm:
“Quản lý là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định [27, tr.17]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý), đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [6, tr.2]
Tác giả Đỗ Hoàng Toàn định nghĩa: “Quản lý là sự tác động của tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến chuyển của môi trường [36, tr.43]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung [3, tr.17]
Quản lý là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích, đúng với sự mong đợi của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan bằng các phương pháp thích hợp
Bản chất của quản lý là một quá trình điều khiển mọi quá trình xã hội khác Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý diễn ra một mối quan hệ tương tác, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và chính nhờ mối quan hệ đó mà hệ thống vận động đến mục tiêu
Có bốn chức năng cơ bản liên quan mật thiết với nhau và tạo thành chu trình quản lý là: Lập kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra 4 chức năng
cơ bản này được thể hiện ở sơ đồ sau:
Trang 17Sơ đồ 1.1 Chức năng quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục
GD là một bộ phận quan trọng của xã hội, vì vậy QLGD là một bộ
phận không thể tách rời của hệ thống QL xã hội
Quản lý giáo dục là QL mọi hoạt động giáo dục trong xã hội và như vậy theo nghĩa tổng quát, QLGD là hoạt động điển hình phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, hoạt động giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành các cơ sở GD&ĐT trong hệ thống giáo dục quốc dân
Có rất nhiều định nghĩa về QLGD nhưng theo chúng tôi: “QLGD là sự
tác động có ý thức của chủ thể QL tới khách thể QL nhằm đa dạng hoá hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”
Như vậy, bản chất của QLGD là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục
KT: Kiểm tra TTQL: Thông tin quản lí
Trang 18QLGD cũng có bốn chức năng cơ bản chung của QL, cụ thể là:
- Lập kế hoạch:
Kế hoạch hoá là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản
lý, bao gồm xác định mục tiêu, xây dựng chương trình hành động và bước đi
cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý giáo dục
+ Xác định mục tiêu, phân tích thực trạng của đơn vị Xác định một bộ máy hợp lí, cấu trúc tối ưu trong nhà trường: Đó là các tổ, các bộ môn
+ Dự báo đánh giá triển vọng, lựa chọn và phân công cán bộ, giáo viên, nhân viên vào các nhiệm vụ trên cơ sở tính toán kỹ càng đúng người, đúng việc, phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân để phát huy được tối đa năng lực của mọi người
+ Xác định cơ chế quản lý bao gồm các chủ trương, chính sách đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường, khuyến khích động viên cán
bộ, giáo viên, nhân viên trong hoạt động giáo dục
- Tổ chức:
+ Tổ chức trong QLGD là triển khai các hoạt động giáo dục một cách khoa học, huy động được sức mạnh của tất cả các bộ phận trong bộ máy giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục
+ Nội dung của tổ chức trong QLGD bao gồm các công việc: xác định biên chế, sắp xếp nhân sự và liên kết các bộ phận trong bộ máy giáo dục
- Chỉ đạo:
Chỉ đạo, điều khiển, hướng dẫn, động viên, khuyến khích nhằm tác động đến các thành viên của các tổ chức trong nhà trường làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu giáo dục
- Kiểm tra, đánh giá:
Kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm các hoạt động giúp cho các nhà quản lý GD thâu tóm được các hoạt động GD&ĐT của nhà
Trang 19trường qua mỗi thời kỳ Trên cơ sở đó các biện pháp chấn chỉnh kịp thời, mặt khác thấy được các điểm mạnh, tích cực để phát huy Tổng kết sư phạm phải dựa trên cơ sở của phân tích sư phạm, phải nêu được các kinh nghiệm, bài học cho các hoạt động sau Muốn làm được như vậy, nhà quản lý phải theo dõi sát cả quá trình thực hiện nhiệm vụ của các bộ phận
Các chức năng QL gắn bó mật thiết với nhau, đan xen lẫn nhau, khi thực hiện chức năng này thường cũng có mặt các chức năng khác ở các mức
độ khác nhau Ngoài ra, trong mọi hoạt động QLGD, thông tin QLGD đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như là “mạch máu” của hoạt động quản lý giáo dục
1.2.3 Quản lý nhà trường
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [14, tr 17]
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (các cấp QL của hệ thống GD) nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của đất nước Quản lý nhà trường thực chất là QLGD trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi một nhà trường
Tóm lại, quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi hoạt động QL mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể CBGV, nhân viên
và học sinh, đến các lực lượng GD trong nhà trường nhằm làm cho quá trình giáo dục và đào tạo vận hành một cách tối ưu tới mục tiêu đã được dự kiến
1.2.4 Đạo đức
Con người là một thực thể của tự nhiên và xã hội vì thế con người có nhiều mối quan hệ trong đó có mối quan hệ với tự nhiên và với xã hội (giữa
Trang 20cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với gia đình, giữa cá nhân với tập thể, tổ chức cộng đồng xã hội) Sự nhận thức của mỗi người về những mối quan
hệ tuân theo những quy định chuẩn mực của xã hội được biểu hiện bằng những hành động cụ thể hàng ngày Những hoạt động đó bảo đảm quyền lợi cho các thành viên và cho sự phát triển của cộng đồng Trong Từ điển tiếng Việt – Viện ngôn ngữ – Viện khoa học XH Việt Nam có nêu: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận XH thừa nhận, quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với XH” “Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người, do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn ĐĐ mà có” [37, tr 297]
Đạo đức là một hệ thống những quy tắc những chuẩn mực mà qua đó con người tự nhận thức và điều chỉnh hành vi của mình vì hạnh phúc của cá nhân, lợi ích của tập thể và cộng đồng Theo quan điểm của tập thể tác giả nghiên cứu về con người thời kỳ CNH-HĐH do GS.VS Phạm Minh Hạc
làm chủ biên đã định nghĩa “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lí, những quy
định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ con người với con người Nhưng trong điều kiện hiện nay chỗ quan hệ con người cũng được mở rộng
và ĐĐ bao gồm những quy định, những chuẩn mực của con người với con người, với công việc, với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống” [16, tr 153] Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với việc mở rộng khái niệm
ĐĐ của GS VS Phạm Minh Hạc khi bàn về mối quan hệ của con người trong thời đại ngày nay
Đạo đức được hình thành rất sớm trong xã hội nguyên thuỷ và biến đổi phát triển cùng với sự biến đổi phát triển của xã hội Những quan niệm
về chính và tà, thiện và ác, có đạo đức và vô đạo đức cũng thay đổi theo sự thay đổi của xã hội Đạo đức mang tính giai cấp, các phạm trù đạo đức luôn phản ảnh địa vị và lợi ích giai cấp nhằm giải quyết những mâu thuẫn giữa cái chung - riêng trong nội bộ giai cấp và trong xã hội
Trang 21Đời sống đạo đức của mỗi người gồm có: ý thức đạo đức, tình cảm, niềm tin đạo đức, hành vi đạo đức, vận động trong mối quan hệ biện chứng
Ý thức đạo đức: là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, lương tâm trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội, ý thức đạo đức phản ảnh khả năng tự chủ của con người là sức mạnh đặc biệt của đạo đức, là nét cơ bản quy định gương mặt đạo đức của con người,cũng là biểu hiện bản chất xã hội của con người Với ý nghĩa đó,
sự phát triển ý thức đạo đức là nhân tố biểu hiện tiến bộ XH
Ý thức đạo đức bao gồm hệ thống tri thức về giá trị và định hướng giá trị đạo đức, tình cảm và niềm tin đạo đức Trong đó tình cảm đạo đức là yếu tố quan trọng nhất là động lực thúc đẩy cá nhân, thể hiện những ý thức đạo đức qua hành vi của mình
Sự biểu hiện của ý thức đạo đức bằng những hành động cụ thể gọi là hành vi đạo đức Hành vi đạo đức được thực hiện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày sẽ trở thành những thói quen đạo đức Tuy nhiên khi xem xét đạo đức không nên căn cứ vào kết quả của hành vi mà phải lưu ý đến sự hiểu biết về những chuẩn mực đạo đức và những động cơ cá nhân thể hiện qua hành vi đó
Các giá trị đạo đức trong xã hội chúng ta hiện nay là thể hiện sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại, của nhân loại, đó là:
- Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một nguyên tắc đạo đức có ý nghĩa chỉ đạo trong sự GD và tự GD của con người hiện nay
- Yêu nước, thống nhất với yêu quê hương và yêu CNXH, thực hiện nghĩa vụ công dân, sống và làm việc theo hiến pháp pháp luật yêu hoà bình, tinh thần cộng đồng và quốc tế là giá trị ĐĐ cao cả của con người Việt Nam
Trang 22- Lòng nhân ái XHCN, tinh thần đoàn kết, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau là một phẩm chất đạo đức của nhân cách đã được hình thành, củng cố và phát triển trong lịch sử của dân tộc ta
Vậy đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối liên hệ hiện thực của cuộc sống con người
Đạo đức có ba chức năng cơ bản là: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi trong đó chức năng điều chỉnh hành vi là quan trọng nhất
+ Về chức năng nhận thức: Đạo đức là công cụ giúp con người nhận
thức XH về mặt đạo đức, các quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực là kết quả của sự phản ánh tồn tại XH, được mọi ngưiưù đánh giá, thừa nhận và khái quát thành những khuôn mẫu, thước đo các giá trị XH
+ Chức năng GD: Trên cơ sở nhận thức về đạo đức, chức năng GD
giúp con người hình thành những phẩm chất, nhân cách, hình thành hệ thống định hướng các giá trị và chuẩn mực ĐĐ, điều chỉnh ý thức và hành
vi con người
+ Điều chỉnh hành vi: Cùng với chức năng giáo dục, chức năng điều
chỉnh hành vi đạo đức có tác dụng làm cho hoạt động của con người phù hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng, biến yêu cầu đạo đức của XH thành nhu cầu của bản thân
1.2.5 Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong toàn bộ công tác giáo dục ở nhà trường XHCN Bác Hồ đã dạy “Dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc quan trọng, đạo đức là cái gốc quan trọng của con người phát triển toàn diện mà nhà trường phổ thông có trách nhiệm đào tạo, do đó công tác giáo dục đạo đức phải được xem là then chốt trong nhà trường Nếu công tác này được quan tâm đúng mức sẽ có tác dụng thúc đẩy việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện”
Trang 23Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức của học sinh dưới những tác động có mục đích có kế hoạch được lựa chọn về nội dung phương pháp phương tiện phù hợp với đối tượng giáo dục và sự phát triển kinh tế xã hội nhất định
Giáo dục đạo đức trong nhà trường THPT là một quá trình giáo dục
bộ phận trong tổng thể cả quá trình giáo dục và có quan hệ biện chứng với các bộ phận giáo dục khác như: giáo dục trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất, giáo dục lao động và hướng nghiệp, giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện
Quá trình giáo dục đạo đức giống như các quá trình giáo dục khác là có
sự tham gia của chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục Chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh là: thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, và các lực lượng giáo dục trong xã hội Học sinh là đối tượng của quá trình giáo dục, chịu tác động của giáo viên và các lực lượng giáo dục khác Học sinh còn là chủ thể tích cực, tự giác tiếp thu các chuẩn mực đạo đức và tham gia các hoạt động giao lưu để thể hiện các giá trị đạo đức
Mục đích của giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là hình thành những phẩm chất tốt đẹp trong nhân cách của học sinh
Nội dung cơ bản của giáo dục đạo đức cho học sinh THPT hiện nay cũng chính là những phẩm chất đạo đức quan trọng của thế hệ trẻ Việt Nam cần phải có: đó là lao động sáng tạo, yêu nước, yêu CNXH, yêu hoà bình, có tinh thần cộng đồng và quốc tế, có lòng nhân ái XHCN, tinh thần đoàn kết, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau có thái độ xây dựng và bảo vệ môi trường, có thái
độ đúng đắn với tự nhiên và bản thân
Phương pháp giáo dục đào tạo cho học sinh gồm:
+ Phương pháp tác động vào nhận thức tình cảm: đàm thoại, tranh luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn
+ Phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn: giao việc, rèn luyện, tập thói quen…
Trang 24+ Phương pháp kích thích tình cảm và hành vi: thi đua, nêu gương, khen thưởng, trách phạt…
Khi sử dụng các phương pháp trên nhà giáo dục cần lưu ý :
• Bảo đảm tính nguyên tắc quá trình giáo dục
• Bảo đảm tính mục tiêu, nội dung của giáo dục
• Phối hợp các phương pháp với nhau
• Hiểu hoàn cảnh và đặc điểm tâm lí đối tượng
Các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh như:
- Giáo dục thông qua các giờ dạy văn hoá trên lớp
- Giáo dục thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí
- Hoạt động tham quan, du lịch, cắm trại
- Hoạt động chính trị xã hội nhân đạo
1.2.6 Các lực lượng trong giáo dục
+ Nhà trường: là một tổ chức XH đặc thù với thiết chế tổ chức chặt chẽ,
có nhiệm vụ chuyên biệt là GD, đào tạo nhân cách học sinh theo những định hướng của XH
Quá trình thể hiện các chức năng này là quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, GD…theo hệ thống chương trình, nội dung được tổ chức một cách
hệ thống, bài bản
+ Gia đình: “Gia đình là tế bào của XH, là tập hợp những người cùng
chung sống, là một đơn vị nhỏ nhất trong XH, họ gắn bó với nhau bằng quan
hệ hôn nhân, mỗi gia đình thường gồm vợ, chồng, cha mẹ, con cái” [8, tr 4] Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình là yếu tố đặc biệt trong sự hình thành và phát triển nhân cách Gia đình lại là môi trường XH đầu tiên,
có tác dụng tiếp nhận chọn lọc, điều chỉnh hình thành hệ thống giá trị XH, trước hết là hệ thống đạo đức văn hoá của dân tộc và của nhân loại Gia đình hạnh phúc dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi người đều phải yêu thương, quý mến tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau trong công việc gia đình và XH
Trang 25+ Các lực lượng XH bao gồm: Các cơ quan, tổ chức chính trị XH, các tổ
chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng…
Trong các lực lượng GD, nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc GD đạo đức học sinh vì:
* Nhà trường có chức năng thực hiện mục tiêu GD đào tạo nhân cách
* Nhà trường có nội dung GD và phương pháp GD được chọn lọc và tổ chức chặt chẽ
* Môi trường GD trong nhà trường là tốt, có tác dụng tích cực trong quá trình GD đạo đức học sinh
Nếu nhà trường có sự liên hệ, phối hợp với gia đình và các lực lượng XH…thì sẽ có những tác động đồng thời tạo ra hiệu quả cao đối với quá trình
GD đạo đức học sinh
1.2.7 Phối hợp, quản lý sự phối hợp
Giáo dục Việt Nam là giáo dục toàn dân, nhà trường Việt Nam cũng là trường học của nhân dân Nhà trường nào cũng gắn với cộng đồng, hoạt động theo mục tiêu phát triển cộng đồng Nhà trường là vầng trán của cộng đồng, cộng đồng là trái tim nhà trường nên cộng đồng phải cùng tham gia phát triển giáo dục trong nhà trường
Phối hợp các lực lượng nghĩa là nhà trường chủ động lên kế hoạch hoạt động phối hợp trong năm học và có ký kết giao ước thực hiện trong đó có các chuyên đề sâu liên quan đến chuyên môn của các tổ chức nói trên như: Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, phòng chống ma tuý, HIV/AIDS, thế giới không khói thuốc, thanh niên lập nghiệp, thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Xây dựng nội dung thực hiện vào thời gian cụ thể trong năm đối với từng chuyên
đề trong đó phân công cụ thể trách nhiệm, nhiệm vụ của nhà trường, trách nhiệm, nhiệm vụ các tổ chức phối hợp
Quản lý sự phối hợp theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu
Trang 26cầu phát triển xã hội Có sự đánh giá, rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động, lấy
ý kiến đánh giá phản hồi từ phía học sinh, giáo viên, các lực lượng về hiệu quả các hoạt động đã thực hiện
1.3 Ý nghĩa của việc GDĐĐ đối với sự phát triển tâm lực của học sinh phổ thông nói riêng, con người nói chung trong giai đoạn hiện nay
Giáo dục khai thác tiềm năng con người toàn diện là mục tiêu của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay: Mục tiêu của việc học, hay mục tiêu của nền
giáo dục mà ta đang hướng tới, phải là hình thành và phát triển con người Việt Nam trong thế kỷ XXI có các phẩm chất chủ yếu:
+ Có những hiểu biết cơ bản về tri thức của thời đại, đồng thời có những cảm thụ sâu sắc đối với tinh hoa của truyền thống văn hóa dân tộc, trên cơ sở
đó thường xuyên rèn luyện một năng lực tư duy độc lập, cụ thể hơn là một tư duy phê phán và tư duy sáng tạo, cơ sở của một năng lực thích nghi và sáng
tạo trong môi trường mới luôn biến động của cuộc sống
+ Có ý thức trách nhiệm trong cuộc sống và một đạo đức cộng đồng, cụ thể hơn là có ý thức trách nhiệm của một con người và một công dân (đối với gia đình, với cộng đồng, với đất nước, với thế giới, với thiên nhiên )
Phát triển tâm lực là sự phát triển nhân cách: Quá trình hình thành và
phát triển nhân cách là quá trình con người nắm lấy kinh nghiệm đời sống xã hội Ở mỗi giai đoạn lịch sử, kinh nghiệm đó thể hiện trình độ làm chủ của con người đối với lực lượng tự nhiên và lực lượng xã hội Nó thể hiện một cách khách quan, được vật thể hóa trong nền văn hóa vật chất và tinh thần của xã hội Nó có thể ở trong những vật thể cụ thể, trong công cụ sản xuất, trong các quan hệ xã hội, trong ngôn ngữ hoặc trong những hình thức và phương pháp tư duy Nhân cách là mức độ "nội tâm hoá" bản chất xã hội của con người trong những điều kiện lịch sử cụ thể Vậy phát triển tâm lực chính là sự phát triển nhân cách
Trang 27Giáo dục đạo đức cũng như giáo dục văn hoá tạo ra nội lực của sự phát triển nhân cách bền vững: Theo quan niệm của Bác thì người được coi là có
nhân cách, trước hết là người có đạo đức, được đánh giá về đạo đức bởi những người khác, bởi dư luận xã hội Sự đánh giá này tập trung vào lối sống của con người, trong quan hệ với công việc, với những người xung quanh, với cả bản thân mình từ thái độ đến hành vi, ứng xử Vậy có thể nói rằng, nhân cách và văn hoá, nhân cách liên quan trên toàn bộ chất lượng phát triển con người ảnh hưởng và có sức chi phối sâu xa đến cuộc sống của con người với sự toàn vẹn của chỉnh thể cá nhân, cá thể của nó cũng như sự tác động qua lại giữa nó với những cá nhân, cá thể khác với cộng đồng xã hội mà nó là một phần tử hợp thành, không thể tách rời
Nêru, nhà hoạt động văn hoá lỗi lạc Ấn Độ nhấn mạnh rằng, “Văn hoá chính là khả năng hiểu biết người khác và làm cho người khác hiểu mình” Còn viện sĩ Likhachốp coi “Văn hoá là biết lắng nghe” và Xukhômlinxki, nhà giáo dục xô viết nổi tiếng, người đã dồn hết tâm huyết và tinh lực cả đời mình cho công việc giáo dục thế hệ trẻ, với tác phẩm vĩ đại “Giáo dục con người chân chính như thế nào?” lại đặc biệt chú ý tới phẩm chất làm người thông qua giáo dục văn hoá nhân cách Ông quan niệm “Văn hoá chính là khả năng biết nhìn thấy người bên cạnh”
Sự phối hợp đồng bộ các lực lượng giáo dục cũng như sự thống nhất giữa mục tiêu và phương pháp giáo dục trở nên hết sức cần thiết Nó tạo ra những tác động tích cực cùng chiều tới sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ Muốn vậy, phải khai thác tối đa sức mạnh của giáo đục truyền, thống lịch sử dân tộc, truyền thống cách mạng; kết hợp giáo dục khoa học để rèn luyện phương pháp tư duy sáng tạo và phát triển trí tuệ với GDĐĐ và trau dồi sự tinh tế trong cảm thụ nghệ thuật, nâng cao khiếu thẩm mỹ để làm phong phú thế giới tinh thần của họ Đó là những lực đẩy cần thiết giúp con người phát triển và hoàn thiện nhân cách Vấn đề nhân cách và giáo dục văn hoá nhân
Trang 28cách phải được nhìn nhận là điểm cốt lõi nhất, là chỗ sâu sắc và tinh tế nhất của triết lí giáo dục
1.4 Nội dung phối hợp các lực lƣợng trong GDĐĐ cho học sinh THPT
Chất lượng và hiệu quả của GDĐĐ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, các yếu tố có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau làm tăng hoạc giảm hiệu quả giáo dục đạo đức Việc phối hợp cần có nội dung và hình thức cụ thể
1.4.1 Các lực lượng xã hội cần tham gia giáo dục đạo đức học sinh
Trong nhà trường giáo dục đạo đức là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong giáo dục toàn diện cho học sinh Đạo đức là một biểu hiện hành vi con người nhưng một mình nhà trường không thể làm được Ngoài tác động của nhà trường, học sinh còn chịu sự tác động của gia đình và các lực lượng giáo dục khác ngoài xã hội Vì vậy, giáo dục đạo đức cho học sinh phải bằng nhiều hình thức, nhiều con đường, trong đó sự phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục của xã hội là một việc làm quan trọng mang lại nhiều hiệu quả cao Thực tiễn giáo dục ở nước ta cho thấy ở đâu có sự kết hợp giáo dục chặt chẽ giữa những môi trường trên thì ở đó kết quả giáo dục tốt đẹp Bác Hồ đã khẳng định “Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”
Vậy có ba lực lượng chính có thể tham gia giáo dục đạo đức học sinh là: Nhà trường, gia đình và xã hội hiểu theo nghĩa rộng
Tổ chức phối hợp các lực lượng XH trong GD là trách nhiệm của tất cả đội ngũ giáo viên các cấp song quan trọng nhất là cán bộ quản lý trường học
và GVCN các lớp vì họ là những người có cơ hội tổ chức tốt sự phối hợp thực hiện mục tiêu giáo dục
1.4.2 Nội dung phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức học sinh
Phối hợp cùng thực hiện mục tiêu, nội dung GDĐĐ cho học sinh theo chức năng, điều kiện, hoàn cảnh của từng đơn vị XH và gia đình
Thống nhất và tham gia xây dựng môi trường GD lành mạnh
Trang 29Xây dựng thống nhất chương trình, kế hoạch triển khai những hoạt động GD trong và ngoài nhà trường
Thống nhất huy động, sử dụng hợp lý nguồn lực XH (cơ sở vật chất, kinh phí, sức người…) vào tổ chức các hoạt động GDĐĐ theo chuyên đề
Phối hợp trong việc tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi lành mạnh trong nhà trường và tại địa phương, đặc biệt vào các dịp khai giảng, kết thúc học kỳ, kết thúc năm học, nghỉ hè hàng năm
Động viên, khuyến khích học sinh đến trường, thường xuyên có liên hệ
và phối hợp với gia đình, chính quyền địa phương quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh khó khăn, vùng sâu, vùng xa, động viên các em tới trường; bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho học sinh yếu, kém
1.5 Những yêu cầu của việc quản lý sự phối hợp giữa các lực lƣợng trong quá trình giáo dục đạo đức
Trong quá trình thực hiện mục tiêu, nội dung GD các lực lượng tham gia cần phải có sự thống nhất thì mới có hiệu quả vì vậy quản lý sự phối hợp chính là tổ chức thống nhất nhận thức, hành động quá trình thực hiện mục tiêu GDĐĐ cho học sinh Những yêu cầu của quản lý sự phối hợp các lực lượng xã hội gồm những yêu cầu sau
1.5.1 Khảo sát, đánh giá tiềm năng xã hội phục vụ cho hoạt động GDĐĐ
Các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: Cán bộ quản
lý, GVCN, giáo viên bộ môn, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội cha mẹ học sinh của nhà trường, gia đình học sinh, các lực lượng xã hội khác (cộng đồng nơi cư trú của học sinh, cơ quan cha mẹ học sinh, các cơ quan hành pháp, các
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức đoàn thể ở địa phương…) là lực lượng xã hội to lớn tham gia vào sự nghiệp giáo dục nói chung và GDĐĐ nói riêng nhằm giáo dục có hiệu quả học sinh ở trong và ngoài nhà trường, qua đó góp phần nâng cao các điều kiện đảm bảo đối với hoạt động GDĐĐ cho học sinh (về cơ sở vật chất, kinh phí) để từ đó tiếp tục nâng cao chất lượng GDĐĐ và hiệu quả QL GDĐĐ cho học sinh
Trang 301.5.2 Kế hoạch hoá nội dung và hình thức các hoạt động giáo dục đạo đức cho phù hợp
Để thực hiện mục tiêu GD đạo đức cho học sinh việc phối hợp giữa các lực lượng có ý nghĩa rất lớn, đây là những môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành, rèn luyện và phát triển nhân cách học sinh Do vậy các nội dung, hình thức hoạt động cần phải được kế hoạch hoá cụ thể để nhằm tạo ra sự thống nhất giữa các lực lượng tham gia vào quá trình GDĐĐ cho học sinh THPT
1.5.3 Xây dựng được một cơ chế phối hợp các lực lượng
Phối hợp các lực lượng xã hội địa phương nhằm thu hút và phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi nguồn lực, biến quá trình giáo dục học sinh thành nhiệm vụ của toàn dân Các lực lượng xã hội bao gồm: các cơ quan hành pháp quản lý xã hội, các đoàn thể chính trị, các tổ chức, đơn vị kinh tế, các cơ quan chức năng xã hội khác Để các lực lượng xã hội cùng tham gia trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh thì nhà trường, CBQL phải đề xuất,
tham mưu xây dựng một cơ chế phối hợp sao cho có hiệu quả
1.5.4 Chỉ đạo, kiểm tra, rút kinh nghiệm, tổng kết
Trong quá trình tổ chức thực hiện các kế hoạch, các hoạt động GD đạo đức học sinh thì người quản lý cần thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra , giám sát quá trình thực hiện để điều chỉnh các hoạt động sao cho phù hợp, sau đó tiến hành sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm các hoạt động Mục đích của việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm là nhằm đánh giá đúng thực trạng kết quả, hiệu quả của nội dung GD, quá trình tổ chức triển khai thực hiện và đề xuất giải pháp, kiến nghị bổ sung, sửa đổi nội dung của quá trình GD đạo đức cũng như việc tổ chức thực hiện hiệu quả quá trình GD này để cho phù hợp với điều kiện thực tế
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Trong quá trình phối hợp giữa các lực lượng trong việc GD đạo đức cho học sinh cũng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đó là:
Trang 311.6.1 Hoàn cảnh xã hội của địa phương trong thời kỳ hội nhập
Sự đổi mới đường lối kinh tế - xã hội ở nước ta chính là sự lựa chọn mới về hệ thống giá trị cơ bản của xã hội đã và đang đem lại sự phát triển toàn diện, mạnh mẽ và sâu sắc trong đời sống xã hội, kéo theo sự biến đổi hệ thống định hướng giá trị trong mỗi con người Bên cạnh việc hình thành những giá trị mới tích cực, sự phát triển, mở cửa, hội nhập nền kinh tế thị trường và sự phát triển quá nhanh về khoa học công nghệ cũng làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến tư tưởng chính
trị, tình cảm đạo đức, lối sống của một bộ phận học sinh
1.6.2 Định hướng giáo dục giá trị của con người Việt Nam và giáo dục phổ thông thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới kinh tế, phát triển công nghiệp
hoá và hiện đại hoá Trong những năm qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Có thể nói xã hội Việt Nam hiện nay là một xã hội của những sự chuyển đổi toàn diện và sâu sắc
Điều đó tác động đến mỗi thành viên trong xã hội, làm phong phú đa dạng thêm đồng thời cũng phức tạp thêm lối sống của mỗi người, đặc biệt ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của lớp trẻ Hội nghị BCHTW Đảng khóa VII đã khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, phần lớn phụ thuốc vào lực lượng thanh niên”[9] Đây là lực lượng lao động chủ yếu đã và sẽ thực hiện quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng thời là lứa tuổi rất năng động nhạy bén với những cái mới Vì vậy, việc định hướng những giá trị đúng đắn
và xây dựng mô hình nhân cách tuổi trẻ Việt Nam trong thời kỳ mới là một việc làm cần thiết
Thực tiễn cho thấy trong mấy năm gần đây, thang giá trị của xã hội đang có sự thay đổi nhanh chóng Chính sự thay đổi một số giá trị dẫn đến sự
Trang 32thay đổi đặc điểm nhân cách của tuổi trẻ Việt Nam trong thời kỳ mới Định hướng giá trị là yếu tố quan trọng nhất của cấu trúc bên trong nhân cách Chúng ta đang trong quá trình vận động và chuyển đổi trên mọi lĩnh vực Vì vậy, không thể không có sự chuyển đổi thang giá trị, biểu định hướng giá trị trong việc kế thừa và duy trì các giá trị truyền thống và hình thành những giá trị chuẩn mực mới, tiếp cận thời đại Những giá trị truyền thống gia đình, tình nghĩa, đề cao cái tâm, chữ tín và đạo hiếu, lễ nghĩa vẫn được duy trì nhằm hạn chế, khắc phục tính ích kỷ, thờ ơ thậm chí là lạnh lùng của một số người dưới tác động của cơ chế thị trường Tính cộng đồng vẫn được quan tâm nhưng bên cạnh đó một số giá trị phẩm chất cá nhân ngày càng được đề cao như: Học vấn, sức khoẻ, sáng tạo, tự lập, tự trọng, tinh thần khám phá, chí tiến thủ,… Mục tiêu, yêu cầu của mô hình nhân cách tuổi trẻ Việt Nam cần phải có sự kết hợp những giá trị chuẩn mực truyền thống và mô hình phát triển của con người Việt Nam XHCN như mục tiêu Đại hội Đảng IX, X đề
ra gồm có: Lòng yêu nước, yêu CNXH, đạo đức lối sống, tính cộng đồng, lòng nhân ái, tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, ý chí tự lập, tự cường xây dựng đất nước…
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, tuổi trẻ Việt Nam là một lực lượng đáng kể, lực lượng nòng cốt để thực hiện các chiến lược, mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra Vì vậy, những chủ nhân tương lai của đất nước phải không ngừng rèn luyện và học tập để có thể tiến kịp cùng thời đại Bên cạnh những đặc điểm mang tính truyền thống của nhân cách con người Việt Nam như: Cần cù, sáng tạo, tiết kiệm, thật thà, giữ chữ tín, đoàn kết
Thanh niên phải đi đầu đấu tranh chống tệ nạn xã hội Hiện nay, tệ nạn
xã hội đang tấn công và hủy hoại cuộc sống và nhân cách của một số người Thanh niên, học sinh rất dễ bị lôi kéo sa vào tệ nạn xã hội Do vậy, lực lượng thanh niên cần có sự nhận thức về tác hại, hậu quả của tệ nạn xã hội Đồng
Trang 33thời biết cách phòng tránh và đấu tranh để xây dựng xã hội Việt Nam thực sự trong sạch và lành mạnh
Xu hướng quốc tế hoá đang diễn ra trên toàn cầu Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin đã mang lại nhiều tiện ích và nâng cao hiệu quả công việc, cũng như trong lĩnh vực giải trí Để sẵn sàng nắm bắt những thời
cơ thuận lợi và sự thay đổi đang diễn ra trên thế giới, mọi người cần sử dụng tốt ngoại ngữ và vi tính, đó là những công cụ phục vụ đắc lực không thể thiếu được trong công việc của mỗi người, đặc biệt là lớp trẻ luôn đi đầu trong việc tiếp cận cái mới
Một đặc điểm quan trọng đối với nhân cách tuổi trẻ Việt Nam hiện nay
là cần có bản lĩnh chính trị vững vàng Điều đó thể hiện ở lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, việc tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, sẵn sàng mang sức trẻ cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Chỉ trên cơ sở bản lĩnh chính trị vững vàng, tuổi trẻ mới tự tin dấn thân vào các hoạt động xây dựng phát triển đất nước Trước âm mưu và thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của kẻ địch, lực lượng thanh niên, học sinh, sinh viên Việt Nam cần tỉnh táo, kiên quyết chống lại những biểu hiện tiêu cực trong đời sống xã hội
Trên đây là những đặc điểm chính về năng lực và phẩm chất của thanh niên trong thời kỳ mới Như vậy, mô hình nhân cách tuổi trẻ Việt Nam thời
kỳ mới cần được nghiên cứu, kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại Bước vào thời kỳ CNH-HĐH, con người Việt Nam nói chung và tuổi trẻ Việt Nam nói riêng cần không ngừng trau dồi tri thức và rèn luyện về mọi mặt để
có bản lĩnh vững vàng ngang tầm với nhiệm vụ mới, góp phần xây dựng xã hội “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
1.6.3 Trình độ nhận thức và năng lực của các chủ thể tham gia vào sự phối hợp trong giáo dục
Trong giai đoạn hiện nay để đào tạo và bồi dưỡng nhân tài nhằm tạo ra những mẫu nhân cách phù hợp với xã hội thì cần phải có sự phối hợp nhịp
Trang 34nhàng đồng bộ, hỗ trợ cho nhau giữa ba môi trường giáo dục là nhà trường, gia đình và xã hội
Nhà trường phải thực sự là hạt nhân của sự phối hợp là điều kiện đảm bảo cho các chủ thể GD thống nhất, song đa dạng về biện pháp tác động, hình thức tổ chức và phương tiện GD để phát huy những mặt mạnh, đồng thời hạn chế các mặt yếu của các chủ thể GD nhằm đạt hiệu quả GD cao
Để thực hiện sự phối hợp giữa các lực lượng một cách hiệu quả thì trình độ nhận thức của thầy, cô giáo, gia đình học sinh và các tổ chức xã hội khác đóng vai trò quan trọng Khi nào họ nhận thức đầy đủ, đúng đắn và đạt tới một mức độ cho phép thì lúc đó sự phối hợp giữa các lực lượng mới đạt hiệu quả cao trong GD nói chung và GD đạo đức nói riêng
1.6.4 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT
Học sinh THPT đang trong giai đoạn phát triển mạnh về thể lực, tâm lí, sinh lí Đây là thời kỳ các em gia nhập tích cực vào cuộc sống xã hội, qua đó hình thành phẩm chất của người công dân và cũng là thời kỳ then chốt của sự phát triển nhân cách, các em phải đối mặt với những thay đổi to lớn trong môi trường học tập khi chuyển từ bậc THCS lên bậc THPT và thêm nhiều yêu cầu mới của xã hội dẫn đến những biến động về tâm lí Có thể thấy một
số đặc điểm nổi bật là:
+ Về mặt thể lực và trí lực: Lứa tuổi này các em dồi dào về thể lực, trí
tuệ nhạy bén thích tìm tòi cái mới, ưa sáng tạo Đây là thời kỳ các em muốn
tỏ rõ là nguời thanh niên cường tráng, có lí tưởng có trí tiến thủ, thân hình phát triển, chuyển hoá trong cơ thể mạnh mẽ, sinh lực dồi dào, hiếu động chân tay, trong hoạt động thi đua luôn thể hiện tính ghanh đua, thách đố cùng với sự tự cao, ý thức hơi thái quá, nôn nóng, tạo sự bất kham, thích mạo hiểm, luôn muốn thử sức để bộc lộ nguyện vọng mãnh liệt của bản thân Các em có ý thức tự khẳng định mình cao,muốn sống tự lập, mong làm việc có ý nghĩa, khả năng phân tích tổng hợp, phán đoán và suy luận được
Trang 35nâng cao, đồng thời có tính hoài nghi khoa học, có khát vọng tìm đến cái
“Chân”,“Thiện”,“Mỹ” Muốn tỏ rõ vai trò của “người lớn” và tích cực tham gia các hoạt động xã hội đặc biệt là “Văn”,“Thể”, “Mỹ”, có khả năng giao lưu phong phú, phóng khoáng và hào hiệp, nhiệt tình và hăng hái trước những công việc nặng nhọc, khó khăn và thử thách của cuộc sống
+ Về mặt tâm lí và giới tính: Giai đoạn từ 15-18 tuổi là giai đoạn mà
các em rất thích thể hiện mình trước bạn khác giới, thích làm dáng, làm điệu Hiện tượng phát dục ở các em đã đưa đến những biến đổi về mặt sinh lí, dẫn đến những biến đổi về mặt tâm lí, các em ý thức được sự khác biệt về mặt giới tính và có nhu cầu mạnh mẽ về tình bạn, tình yêu bên cạnh đó họ cũng đang xây dựng cho mình những quan điểm riêng và đang quyết định viễn cảnh, kế hoạch cho cuộc sống của bản thân Đồng thời, trong các em bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt giữa nhu cầu hứng thú sở thích cá nhân với khả năng vốn có cộng với những quy tắc, quy phạm chặt chẽ của xã hội
+ Về mặt tính cách: Là thời kỳ của sự bộc lộ hết sức mạnh mẽ về tính
cách, các trạng thái tâm lí rất không ổn định, dễ chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ tích cực sang tiêu cực, yêu và ghét, vui vẻ và buồn chán luôn đan xen, thay đổi thất thường Tính khí thất thường là vì ở tuổi này do chức năng nội tiết phát triển mạnh mẽ nhưng tác dụng ức chế của vỏ não thì chưa tới mức hoàn hảo
+ Về mặt phát triển ý thức đạo đức: Đây là giai đoạn các em đã có cảm
nghĩ mình là người lớn vì vậy tính tự giác cũng được nâng cao nhanh chóng luôn hướng về phía trước, về lẽ phải, có ý thức tìm kiếm cái cốt lõi của cuộc sống, ý thức xã hội cũng được thể hiện rõ nét, rất nhạy bén với những biến động của xã hội, dám nghĩ dám làm, dám nói lên những ý kiến và nhận định của bản thân, khao khát được mọi người đánh giá cao về mình, quan tâm đến
sự phát triển về tài năng của bản thân và thường xuyên trau dồi phẩm chất đạo đức, khả năng tự kiềm chế dần được nâng cao, hành vi thiếu tự chủ được
Trang 36giảm bớt, biết khép mình vào khuôn phép xã hội Tuy nhiên với kinh nghiệm sống chưa nhiều các em dễ bị cán dỗ và ảnh hưởng những tác động của ngoại cảnh Nói chung đặc điểm lứa tuổi thời kỳ này là dồi dào về thể lực, phong phú về tinh thần và phức tạp về tính cách, hành vi
Qua những đặc điểm tâm lí, tính cách trên cho ta nhận thấy nếu chỉ có giáo dục từ một phía nhà trường thì không thể quán xuyến hết toàn bộ cuộc sống sinh hoạt và hoạt động của chủ thể đang trưởng thành Không thể loại trừ được các nhóm tự phát với những đặc tính lứa tuổi mà cần có sự kết hợp giáo dục của nhiều lực lượng, tác động từ nhiều phía với những hoạt động đa dạng nhằm thúc đẩy và phát huy tính tích cực của thế hệ trẻ
1.6.5 Những điều kiện cơ sở vật chất , kinh phí phục phụ cho hoạt động giáo dục đạo đức
Điều kiện kinh tế của địa phương và gia đình có ảnh hưởng trực tiếp tới việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức học sinh Cụ thể:
+ Điều kiện kinh tế của địa phương cung cấp nguồn lực tài chính, những điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí phục phụ cho các hoạt động giáo dục trong nhà trường
+ Nền tảng kinh tế của địa phương và của gia đình góp phần quan trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và
xã hội trong việc GD đạo đức cho học sinh Chính nền tảng kinh tế của địa phương tạo thêm điều kiện cho các trường xây dựng được trường lớp khang trang, sạch đẹp Nền tảng kinh tế gia đình vững chắc sẽ tạo điều kiện, bố mẹ
có điều kiện sẽ trang bị cho con cái những điều kiện học tập tốt và dành nhiều thời gian quan tâm tới sự học tập và rèn luyện tu dưỡng của con Mối quan hệ này dẫn đến sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường một cách tự nhiên, không gò bó
Trang 37+ Các tổ chức Đảng, chính quyền, các lực lượng và tổ chức xã hội khác
ở địa phương được tổ chức tốt sẽ tạo được sự tham gia nhiệt tình với các mối quan hệ xã hội và công tác giáo dục
Để phát huy tiềm năng của các tổ chức trong xã hội thì người quản lý cần biết tận dụng sức mạnh tổng hợp của mọi nguồn lực, thu hút mọi người nhằm biến nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường và gia đình mà trở thành nhiệm vụ của toàn dân, toàn xã hội
Tiểu kết chương 1
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống xã hội Đạo đức chỉ được hình thành thông qua quá trình giáo dục, đó là một quá trình lâu dài, liên tục, xen kẽ giữa giáo dục, tự giáo dục, giáo dục lại và mang tính nghệ thuật
GDĐĐ là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục nói chung trong nhà trường Mục tiêu GDĐĐ trong nhà trường là hình thành nên những phẩm chất đạo đức mới cho học sinh trên cơ sở có nhận thức, tình cảm, thái độ, hành vi đạo đức Nội dung của GDĐĐ là góp phần hướng tới sự phát triển con người, phát triển nhân cách của từng học sinh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhất là trong thời kỳ CNH - HĐH
Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay không chỉ là việc của nhà trường, gia đình mà là công việc của toàn xã hội Nếu sự phối, kết hợp giữa ba lực lượng một cách chặt chẽ thì sẽ đảm bảo sự thành công của công tác GD nói chung và GD đạo đức nói riêng
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN 2.1 Khái quát tình hình Kinh tế - Xã hội - Giáo dục huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
2.1.1 Đặc điểm tình hình Kinh tế - Xã hội huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Huyện Bắc Sơn nằm ở phía Tây - Nam của tỉnh Lạng Sơn giáp với huyện
Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên Bắc Sơn là huyện miền núi với diện tích 697,9 km2
và dân số 69.146 người, mật độ dân số là gần 99,1 người /1km2
ít cát xây dựng Nền kinh tế nông nghiệp thuần nông tự cấp tự túc phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, với trên 80% dân cư nông nghiệp và 95% dân số sống
ở nông thôn, thu nhập đại bộ phận dân cư quá thấp ,tỉ lệ hộ đói nghèo khá cao
18,3%, hộ cận nghèo 3,49% (theo báo cáo tại kỳ họp thứ 16 HĐND huyện
ngày 16/12/2009) Công nghiệp và thủ công nghiệp kém phát triển, không có
dự án kinh tế lớn được đầu tư
Về xã hội: đại bộ phận dân cư là dân tộc thiểu số ít người chiếm 88,5% Tính đến nay có 20/20 xã, thị trấn có điện lưới quốc gia với trên 90% số hộ
sử dụng điện Toàn huyện có 02 trường THPT và 01 TTGDTX với tổng số học sinh theo học cấp THPT, và Bổ túc THPT là gần 3.000 học sinh
2.1.2 Khái quát về giáo dục THPT huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Cùng với sự phát triển mạnh về kinh tế và xã hội, ngành giáo dục đào tạo Lạng Sơn nói chung và huyện Bắc Sơn nói riêng trong những năm gần
Trang 39đây đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Được các cấp chính quyền tỉnh và địa phương quan tâm cùng với sự nỗ lực cố gắng của tập thể cán bộ giáo viên và học sinh, sinh viên trong toàn ngành, giáo dục Bắc Sơn đã có những chuyển biến rõ nét về cả quy mô, chất lượng và hiệu quả
Năm học 2009 - 2010 toàn huyện có 20 trường mầm non, 22 trường tiểu học, 20 trường trung học cơ sở, 2 trường THPT, 01 trung tâm giáo dục thường xuyên Tổng số học sinh, sinh viên trong toàn huyện là 13.181 Riêng
số học sinh các trường THPT là 2.578 em Những năm qua, chất lượng giáo dục trong các nhà trường được nâng lên cả về đại trà cũng như mũi nhọn theo hướng ổn định, thực chất, dần dần đáp ứng yêu cầu của một huyện miền núi
Cơ sở vật chất bắt đầu được đầu tư xây dựng theo xu hướng đồng bộ, hiện đại, trang thiết bị dạy học được quản lý và sử dụng vào nền nếp Công tác quản lý của các nhà trường bước đầu được đổi mới, chú trọng đến tính kế hoạch, tự chủ, dân chủ trong các cơ sở giáo dục Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên được đào tạo bồi dưỡng khá bài bản, chú trọng cả về số lượng và chất lượng
Bên cạnh những thành tựu to lớn mà ngành giáo dục đào tạo Bắc Sơn
đã đạt được, cũng còn những thiếu sót, bất cập cần khắc phục Cơ sở vật chất cho các trường vùng sâu vùng xa còn nhiều khó khăn thiếu thốn Đội ngũ giáo viên chưa đồng bộ về cơ cấu môn học cũng như chất lượng, trình độ chưa đồng đều.Việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học tích cực còn nhiều khó khăn Một bộ phận giáo viên còn bảo thủ trì trệ, chưa nghiêm túc trong việc thực hiện quy chế chuyên môn Một bộ phận học sinh dân tộc ở vùng sâu vùng xa còn nhiều khó khăn về kinh tế cũng như trình độ dân trí tác động không nhỏ đến chất lượng giáo dục chung của huyện
2.2 Thực trạng sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
2.2.1 Tổ chức điều tra thực trạng đạo đức học sinh THPT
* Nhiệm vụ điều tra thực trạng:
Trang 40- Thống kê và đánh giá thực trạng đạo đức học sinh, tìm nguyên nhân dẫn đến những tình trạng đó
- Tìm hiểu nhận thức của học sinh và các bậc phụ huynh về đạo đức và giáo dục đạo đức
- Tìm hiểu các biểu hiện ảnh hưởng của nhà trường, gia đình và xã hội đến đạo đức học sinh và nhận thức về vai trò của việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh
- Thăm dò những hình thức, phương pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh có hiệu quả
* Nội dung điều tra:
Để thực hiện mục tiêu đánh giá thực trạng, chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi 848 người ở huyện Bắc Sơn với các thành phần có ảnh hưởng trực tiếp cụ thể
Bảng 2.1 Đối tượng khảo sát thực trạng
2.2.2.1 Nhận thức của học sinh về vai trò của đạo đức
Để hiểu được suy nghĩ của các em về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức chúng tôi đã trưng cầu ý kiến của 540 học sinh trung học phổ thông trong huyện và đã có kết quả bảng 2.2