Đó cũng là xu thế chung của Giáo dục kỹ thuật GDKT và Dạy nghề DN trong khu vực và trên thế giới "cải cách" theo hướng thực hành trên cơ sở vận dụng phương thức đào tạo theo tiếp cận năn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN NGỌC HÙNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2006
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS - TS ĐẶNG BÁ LÃM PGS - TS NGUYỄN ĐỨC TRÍ
HÀ NỘI - 2006
Trang 3Ch-ơng 1 - Cơ sở lý luận của quản lý dạy học thực hành
theo tiếp cận năng lực thực hiện
cho sinh viên S- phạm kỹ thuật 20 1.1.Tổng quan những công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu 20
1.4 Nội dung quản lý dạy học thực hành theo tiếp cận NLTH 48
1.4.2 Nội dung quản lý dạy học thực hành theo tiếp cận NLTH 50 1.5 Dạy học thực hành theo tiếp cận NLTH trong đào tạo GVDN 59 Ch-ơng 2 - Thực trạng quản lý dạy học thực hành
tại các tr-ờng s- phạm kỹ thuật 69
2.1.1 Quy mô và ngành nghề đào tạo của các tr-ờng, khoa SPKT 69
2.2 Tình hình việc làm và sử dụng GVDN (Hiệu quả đào tạo ngoài) 81 2.3 Thực trạng quản lý dạy học thực hành tại các tr-ờng SPKT 82
Trang 4cho sinh viên s- phạm kỹ thuật 105
3.1.3 Ph-ơng h-ớng xây dựng và phát triển đội ngũ GVDN 107 3.2 Những nguyên tắc đổi mới quản lý DHTH theo tiếp cận NLTH 109
3.3.2 Giải pháp 2: Đổi mới quản lý ph-ơng pháp DHTH theo tiếp cận
3.3.3 Giải pháp 3: Đổi mới quản lý quá trình luyện tập kỹ năng thực hành
3.5 Thực nghiệm ứng dụng các giải pháp đã đề xuất tại tr-ờng s- phạm kỹ
3.5.1 Thực nghiệm giải pháp đổi mới quản lý mục tiêu, nội dung ch-ơng
trình DHTH theo tiếp cận NLTH tại tr-ờng SPKT Nam Định 146
3.5.2 Thực nghiệm giải pháp đổi mới quản lý ph-ơng pháp dạy thực hành
theo tiếp cận NLTH cho đội ngũ GV các chuyên ngành kỹ thuật 150
3.5.3 Thực nghiệm giải pháp đổi mới quản lý quá trình luyện tập KNTH
Trang 5- 1 -
MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và quy hoạch mạng lưới
trường Dạy nghề giai đoạn 2002-2010 đã đề ra việc hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành Kết luận của Hội nghị TW Đảng lần thứ VI khóa IX cũng nêu rõ: "…Hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành với nhiều cấp trình độ…" Đó cũng là xu thế chung của Giáo dục kỹ thuật (GDKT) và Dạy nghề (DN) trong khu vực và trên thế giới "cải cách" theo hướng thực hành trên cơ sở vận dụng phương thức đào tạo theo tiếp cận năng lực thực hiện (NLTH) (Competency Baset Training) Đổi mới phương thức đào tạo Giáo viên dạy nghề (GVDN) theo tiếp cận NLTH được thể hiện ở bộ ba tiêu chí: Kiến thức - Kỹ năng - Thái độ mà người GVDN cần phải có để hành nghề Hiện nay các trường Sư phạm kỹ thuật (SPKT) mới có khả năng đào tạo được khoảng 20 ngành nghề, trong khi đó các trường Trung học chuyên nghiệp (THCN) và DN đang cần từ 10.000 đến 12.000 giáo viên (GV) với gần 400 ngành nghề khác nhau chưa có nơi đào tạo Người GVDN không chỉ có kiến thức vững về chuyên môn kỹ thuật cũng như kỹ năng sư phạm, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng quản lý mà còn phải có NLTH các hoạt động nghề nghiệp Song, việc quản lý (QL) rèn luyện kỹ năng thực hành (KNTH) và nâng cao NLTH cho sinh viên (SV) ngay trong quá trình đào tạo đang là một bất cập ở các trường SPKT Do
đó, cần nghiên cứu vận dụng phương thức đào tạo theo tiếp cận NLTH ở nước ta, trước hết là vào các trường SPKT, đặc biệt ở khâu QL dạy học thực hành (DHTH) để đào tạo GVDN cho hệ thống Giáo dục nghề nghiệp (GDNN)
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Đề xuất các giải pháp đổi mới QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu: DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT 3.2 Đối tƣợng nghiên cứu: Các giải pháp quản lý DHTH theo tiếp cận
NLTH cho SV SPKT
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC: Hiện nay, việc QL DHTH tại các trường SPKT còn nhiều yếu kém trên các mặt nội dung, phương pháp, phương tiện và cách thức tổ chức thực hiện đã dẫn đến tình trạng SV tốt nghiệp GVDN chậm thích ứng với thực tiễn, bỡ ngỡ khi hướng dẫn thực hành và chậm
Trang 6- 2 -
phát triển NLTH Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp đổi mới QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT thì sẽ góp phần nâng cao được chất lượng đào tạo tại các trường SPKT
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV
6 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu
về đổi mới QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT Việc khảo sát, đánh giá thực trạng QL DHTH được tiến hành ở một số trường CĐ/ĐH SPKT, THCN&DN Tổ chức thực nghiệm về các giải pháp QL DHTH ngành Cơ khí - Hàn tại trường SPKT Nam Định.
7 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp luận: Vận dụng phương pháp luận duy vật lịch sử
và duy vật biện chứng, tiếp cận hệ thống khi triển khai nghiên cứu đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát hóa các tư liệu, tài liệu, các văn bản, các số liệu thống kê
có liên quan đến đề tài Nghiên cứu tài liệu QL giáo dục, đào tạo nghề theo tiếp cận NLTH của một số nước phát triển nhằm kế thừa, vận dụng lý luận, kinh nghiệm trong QL DHTH và tìm ra các giải pháp phù hợp
7.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, điều tra thông qua
bộ phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp, lấy ý kiến chuyên gia, quan sát, dự giờ, tổng kết kinh nghiệm Thực nghiệm về các giải pháp QL DHTH theo tiếp cận NLTH và phân tích, xử lý, thống kê số liệu thực nghiệm
8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
8.1 Về lý luận: Luận án làm rõ thêm nội hàm của một số khái niệm
như: SPKT, SV SPKT, DHTH, NLTH, đào tạo theo tiếp cận NLTH, xác định các nội dung của QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT
Đã làm rõ các phạm trù cơ bản của QL DHTH để minh chứng cho một
phương thức đào tạo mới; phân tích được đặc điểm, sự khác biệt so với phương thức đào tạo truyền thống Khẳng định tính ưu việt của DHTH theo tiếp cận NLTH Đã xác định cơ sở khoa học của các giải pháp đổi mới QL
Trang 7- 3 -
DHTH theo tiếp cận NLTH bằng phân tích lý luận, phân tích thực tiễn và thực nghiệm khoa học
8.2 Về thực tiễn: Luận án đã đề xuất và thực nghiệm ba giải pháp đổi
mới QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT Nội dung của việc đổi mới đảm bảo được các nguyên tắc chủ yếu phải mang tính đồng bộ, tính thực tiễn và tính khả thi bao gồm các nội dung đổi mới QL DHTH về: 1/ Xây dựng được nội dung, chương trình đào tạo ngành Cơ khí - Hàn dựa trên phương pháp mới theo kỹ thuật DACUM đã đảm bảo tính khoa học,
cơ bản coi trọng DHTH theo tiếp cận NLTH từ yêu cầu của thực tiễn đào tạo GVDN cho các cơ sở dạy nghề Nội dung của chương trình đã phù hợp với khung chương trình đào tạo trình độ cao đẳng của Bộ GD&ĐT 2/ Bồi dưỡng kỹ năng dạy thực hành theo tiếp cận NLTH cho đội ngũ GV chuyên ngành kỹ thuật thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyển giao kỹ năng dạy thực hành 3/ Thực nghiệm đối chứng cho SV SPKT thuộc các chuyên ngành kỹ thuật với các bài KNTH tiếp cận NLTH được biên soạn theo phương pháp 4D gồm: Xác định chính xác tên năng lực; Lập phiếu 4D; Phiếu hướng dẫn thực hiện; Phiếu giao bài tập theo nhóm Kết quả thu được bằng việc phân tích kết quả định tính, định lượng qua các phiếu đánh giá NLTH của từng ngành đào tạo theo phương pháp toán thống kê: Lập bảng phân phối, bảng tần suất hội tụ, vẽ các đường đặc trưng phân phối, tính các tham số đặc trưng thống kê Đã chứng tỏ việc QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT là có tính khoa học và có tính khả thi trong thực tiễn
9 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án bao gồm các phần mở đầu, ba chương, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, phụ lục, 16 bảng biểu, 9 sơ đồ, biểu đồ và đồ thị
Phần mở đầu được trình bày từ trang 8 đến 18
Chương 1: Cơ sở lý luận của QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV
SPKT được trình bày từ trang 19 đến 65
Chương 2: Thực trạng QL DHTH tại các trường SPKT được trình bày
từ trang 66 đến 99
Chương 3: Các giải pháp đổi mới QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho
SV SPKT được trình bày từ trang 100 đến 156
Phần kết luận và khuyến nghị được trình bày từ trang 157 đến 159 Phần thư mục các tài liệu tham khảo liệt kê 80 công trình tiếng Việt
Trang 8- 4 -
và tiếng nước ngoài mà nội dung có liên quan đến công trình này
Phần phụ lục được trình bày từ trang 168 đến 244
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ DẠY HỌC THỰC HÀNH THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC THỰC HIỆN CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM KỸ
THUẬT
1.1 TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Ở nước ngoài : Từ một vài thập kỷ qua đến nay, hệ thống giáo dục
kỹ thuật nghề nghiệp ở nhiều nước trên thế giới đã và đang được cải cách
theo phương thức đào tạo tiếp cận NLTH Quá trình phát triển của phương
thức này được chia ra ba giai đoạn chủ yếu như: Trước năm 1960, từ 1960 đến 1980 và từ 1980 đến nay
Giai đoạn trước năm 1960: Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX,
phương thức GD-ĐT nghề theo tiếp cận NLTH đã xuất hiện ở một số nước công nghiệp phát triển Nhiều nơi, việc đào tạo các ngành, nghề đã thực hiện theo nguyên tắc "cần gì học nấy" mà không nhất thiết phải học toàn bộ hệ thống kiến thức, kỹ năng cần cho một nghề, người học có nhu cầu đến đâu thì học đến đó, nhà trường không quy định cứng nhắc về thời gian học tập
Giai đoạn từ 1960 đến trước 1980: Ở Anh, các nhà nghiên cứu nhận ra
rằng việc học tập dựa theo tiếp cận NLTH cần được tiến hành nghiên cứu để giải quyết như phát triển chương trình, các kỹ thuật đánh giá v.v… có liên quan đến học tập theo tiếp cận NLTH trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp
Ở Bắc Mỹ trong thập kỷ 60, cách thức đào tạo tiếp cận NLTH đã được quan tâm, phát triển mạnh và vận dụng một cách phổ biến, có hiệu quả
Giai đoạn từ 1980 đến nay: Cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 ở Mỹ và
Canada, phương thức đào tạo theo tiếp cận NLTH đã được ứng dụng Năm
1983, Viện Hàn lâm khoa học quốc gia Mỹ cho rằng, việc xây dựng các chương trình đào tạo nghề thủ công cần phải đào tạo theo tiếp cận NLTH Ngoài việc sử dụng các phương tiện dạy học một cách hợp lý đồng thời cải tiến PPDH theo tiếp cận NLTH để cung cấp tốt hơn những biện pháp tạo điều kiện thuận lợi về mặt tâm lý cho người học nhằm nắm vững kỹ năng hành nghề Ở Canada, người ta cho rằng chất lượng kỹ năng hành nghề có mối quan hệ logic với sự thực hiện hơn là thời gian học Vì vậy, cần đầu tư nhiều hơn cho phương thức đào tạo theo tiếp cận NLTH và tiến hành song song với việc xây dựng các chuẩn quốc gia về đào tạo nghề nghiệp Ở Úc,
Trang 9- 5 -
vào cuối thập kỷ 80, đã thiết lập ra một hệ thống đào tạo theo tiếp cận NLTH
ổn định trong toàn quốc Ở nhiều nước Châu Á như Singapore, Ấn Độ, Philippin, Bruney, Malaysia, v.v…phương thức đào tạo nghề theo tiếp cận NLTH cũng đã và đang được vận dụng ở các mức độ khác nhau
1.1.2 Ở trong nước: Trong lĩnh vực SPKT, phương thức đào tạo GVDN đã
được đặt ra từ thập kỷ 70 Công việc đó đã gắn liền với việc hình thành, phát triển các trường đào tạo GVDN trước đây và SPKT ngày nay Từ những năm
1980, đã có những công trình nghiên cứu đào tạo nghề theo môđun dựa vào nguồn tài liệu của ILO và một số nước như Úc, Mỹ, Nga, Hà Lan Trong những năm gần đây, nhiều cơ sở DN đã tiến hành vận dụng phương thức đào tạo theo môđun kỹ năng hành nghề thực hiện dưới dạng tổ hợp các đơn nguyên học tập như ILO khởi xướng và phổ biến rộng rãi trên thế giới Cách đào tạo này về thực chất là một dạng của phương thức đào tạo tiếp cận NLTH Công trình nghiên cứu "Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên NLTH và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề" (đề tài cấp Bộ B93 - 38 - 24) (1996) là thể hiện rõ nét phương thức về đào tạo nghề theo tiếp cận NLTH Từ tổng quan vấn đề nghiên cứu còn cho thấy các công trình đã đi vào tìm hiểu để giải quyết các vấn đề chung trong đào tạo nghề và chủ yếu trong lĩnh vực sư phạm Trên lĩnh vực SPKT hiện nay vẫn chưa có công trình chuyên biệt đi vào nghiên cứu QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT Do đó, đề tài này có thể được xem như lần đầu đề cập, nghiên cứu có hệ thống về vấn đề này
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Sư phạm kỹ thuật: SPKT là một bộ phận của khoa học giáo dục
nghiên cứu bản chất và quy luật của việc hình thành nhân cách trong đào tạo GVDN Đào tạo về SPKT là một loại hình đào tạo nghề với mục tiêu tổng quát là đào tạo GV dạy các môn học kỹ thuật nghề nghiệp
1.2.2 Sinh viên sư phạm kỹ thuật: SV SPKT là thuật ngữ dùng để chỉ
những người đang học tập, rèn luyện trong các khoa, các trường SPKT để trở thành GVKT - DN Chức trách của họ sẽ là giáo viên kỹ thuật (GVKT), GVDN khi đã tốt nghiệp các trường SPKT Nhiệm vụ của họ là tiến hành giảng dạy các bộ môn kỹ thuật - nghề nghiệp và giáo dục nhân cách cho học sinh các trường kỹ thuật, dạy nghề
1.2.3 Dạy học thực hành: DHTH được hiểu là quá trình tổ chức các hoạt
động dạy của GV và hoạt động học của SV hướng vào giải quyết nhiệm vụ
Trang 10- 6 -
thực hành theo mục đích, yêu cầu và điều kiện thực tế của quá trình dạy học đặt ra Nhiệm vụ chủ yếu của DHTH là rèn luyện và hình thành năng
lực tư duy kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp cho SV Đây là
hình thức DHTH có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc thực hiện mục tiêu đào tạo GVKT- DN ở các trường SPKT
1.2.4 Năng lực thực hiện: Thuật ngữ “NLTH” được nhiều tác giả sử dụng
khi trình bày các phương thức, quan điểm về "Giáo dục - Đào tạo dựa trên NLTH” Hiện tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về NLTH Ở Anh, người ta hiểu NLTH - phản ánh những mong đợi của việc làm hơn là vào các công việc Các tiêu chuẩn hay NLTH được kết hợp để tạo ra các đơn vị của sự đánh
giá các hoạt động tại chỗ làm việc [5,tr 9] Ở Mỹ, NLTH được hiểu " không
phải là các công việc của nghề, (nhưng mà) nó là cái làm cho con người có thể làm được các nhiệm vụ của công việc đó" NLTH là thuộc tính tâm lý cơ bản của một con người, nó dẫn đến sự thực hiện một cách hiệu quả nhiệm vụ lao động trong một nghề [75] Người ta rèn luyện các NLTH trong quá trình học tập Theo G.Debling “NLTH” là khả năng thực hiện các hoạt động trong phạm vi nghề nghiệp đạt tới các trình độ, mức độ thực hiện mong đợi cần thiết [74] Theo B Mansfield thì "NLTH" được hiểu là khả năng thực hiện được toàn bộ vai trò lao động hay phạm vi công việc theo các tiêu chuẩn mong đợi ở
công việc trong các môi trường làm việc thực [78] [18, tr 10] Kết quả nghiên
cứu đề tài: “Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên NLTH và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề”, tập thể các nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa về NLTH là khả
năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu
chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó [5, tr 14] Như vậy, theo
chúng tôi hiểu NLTH là khả năng hoàn thành các hoạt động nghề trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, thái độ theo tiêu chuẩn đặt ra ở hoạt động đó
1.2.5 Quản lý: Khi nói đến QL, người ta phải đề cập đến chủ thể và đối
tượng QL Chủ thể và đối tượng QL đều có thể là người hoặc tổ chức do con người lập nên Trên cơ sở tiếp cận hệ thống đối với QL giáo dục, chúng ta có thể có quan niệm chung cho rằng QL là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều hành và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định [39]
1.2.5.1 Vai trò của quản lý: Các nhà lý luận khởi đầu cho khoa học QL
như Taylor (1856 - 1915) - Mỹ; Fayol (1841 -1925) - Pháp; Max Weber
Trang 11- 7 -
(1864 - 1920) - Đức đều khẳng định rằng QL là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội Vì vậy, ở khía cạnh này, có thể khẳng định rằng trong thực tại QL còn được xem là công nghệ - công nghệ điều hành, phối hợp và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin của một tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra" [12,tr 10]
1.2.5.2 Chức năng của quản lý: Quản lý có bốn chức năng cơ bản là:
Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Kế hoạch hoá là việc chủ thể QL căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ
chức, căn cứ vào nhiệm vụ được giao mà xác định mục tiêu và lựa chọn phương tiện, con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu đó
Tổ chức là việc chủ thể QL thiết lập ra các cơ cấu bộ máy, bố trí nhân
lực, thiết lập cơ chế hoạt động của tổ chức và việc điều phối các nguồn lực vật chất nhằm thực hiện mục tiêu đã định theo nội dung của kế hoạch
Chỉ đạo là việc chủ thể QL có các tác động QL nhằm hướng dẫn công
việc, liên kết, liên hệ và động viên các đơn vị cùng các cá nhân của tổ chức
để họ thực hiện mục tiêu đã đặt ra trong kế hoạch
Kiểm tra là việc chủ thể QL biết định ra các chuẩn mực của hoạt động,
theo dõi để so sánh, đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức với các chuẩn mực đó, tìm hiểu nguyên nhân của các sai lệch do các khâu kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để có điều chỉnh cần thiết
1.3 QUAN NIỆM VỀ ĐÀO TẠO THEO TIẾP CẬN NLTH: Trong kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ (B93 - 38 - 24), các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm
đào tạo dựa trên NLTH "là phương thức đào tạo dựa vào khái niệm trung
tâm là NLTH, coi nó vừa là khởi điểm, vừa là mục tiêu cuối cùng của quá trình đào tạo" [5, tr 15] Đào tạo theo tiếp cận NLTH cũng có những mục tiêu, cấu trúc và nội dung xác định Sự khác nhau bắt đầu từ việc thiết kế chương trình Trong đào tạo theo tiếp cận NLTH "một cách rõ ràng là các tiêu chuẩn dựa trên kết quả đầu ra luôn luôn được sử dụng làm cơ sở cho việc lập kế hoạch" [5, tr 16]
1.3.1 Đặc điểm của phương thức đào tạo theo tiếp cận NLTH
Định hướng đầu ra là đặc điểm cơ bản nhất của đào tạo theo tiếp cận
NLTH Người có NLTH là người có thể làm được một việc cụ thể nằm trong chương trình đào tạo Việc làm đó phải đáp ứng các chuẩn mong đợi
và được đánh giá như là kết quả học tập của người học Người học thật sự được coi là trung tâm do vậy, họ có cơ hội để phát huy tính tích cực, chủ
Trang 12- 8 -
động của mình
Đào tạo theo tiếp cận NLTH được bao gồm các tác động dạy và học,
các đánh giá và xác nhận NLTH Do có sự định hướng đầu ra nên muốn xây dựng một chương trình đào tạo theo tiếp cận NLTH thì trước hết phải xác định các NLTH mà người học cần phải nắm vững như là kết quả đầu ra của quá trình đào tạo Các NLTH được xác định từ việc phân tích nghề do một Tiểu ban hay Hội đồng gồm những người đang hành nghề thành thạo trong thực tế và những người QL trực tiếp của họ tiến hành theo quy trình DACUM (Development of A Curriculum) Các NLTH được trình bày dưới dạng các công việc thực hành hoặc dưới dạng các hành vi về mặt kiến thức,
kỹ năng và thái độ, tình cảm liên quan đến nghề Việc dạy và học các NLTH được thiết kế, thực hiện sao cho các tài liệu dạy học thích hợp với NLTH Kiến thức lý thuyết phải được học ở mức độ cần thiết đủ để hỗ trợ
cho việc hình thành và phát triển NLTH Sự nắm vững các NLTH của người
học được đánh giá và xác nhận theo các quan điểm như: Người học phải thực hành các công việc theo cách thức giống như của người lao động thực hiện trong thực tiễn nghề nghiệp; Đánh giá riêng rẽ từng người; Các tiêu chuẩn dùng trong việc đánh giá được đặt ra ở mức tối thiểu; Các tiêu chuẩn dùng cho đánh giá được công bố công khai cho người học biết trước khi kiểm tra, thi cử
So sánh đào tạo truyền thống và đào tạo theo tiếp cận NLTH: Đòi hỏi
khách quan và đổi mới quản lý dạy học trong việc thiết kế một chương trình đào tạo, chúng ta thường dựa vào 3 yếu tố là nội dung, thời gian và kết quả sự thành thạo Các trường SPKT thường dựa vào khung thời gian đào tạo cho mỗi trình độ, nghề để xây dựng chương trình cũng như yêu cầu về mức độ thành thạo không cho vượt khỏi khung thời gian đã quy định sẵn Đào tạo theo tiếp cận NLTH không quy định về thời gian học tập, được phép tích luỹ tín chỉ, có khả năng thực hiện theo tiêu chuẩn quy định Việc hoàn thành chương trình
là dựa trên sự nắm vững tất cả các NLTH đã xác định trong khung chương trình Sự phân hạng người học phản ánh mức độ đạt được trong sự nắm vững NLTH Tốc độ học tập là một yếu tố thích hợp để phân loại người học Để đổi mới cơ chế QL theo kiểu truyền thống sang QL DHTH theo tiếp cận NLTH cần thiết kế lại cơ cấu tổ chức để đem lại kết quả và gắn nội dung QL với chất lượng đào tạo GVDN Sự phân công, phân cấp, quy định
rõ trách nhiệm, quyền hạn, đảm bảo sự hợp lý trong quản lý từ Hiệu trưởng đến các khoa, tổ bộ môn, GV Tạo lập mối liên hệ ngược thường xuyên,
Trang 13- 9 -
bền vững, làm khép kín chu trình QL, tìm ra nguyên nhân, tiên đoán được kết quả và đề ra những giải pháp QL hiệu quả Hoàn thành hệ thống văn bản pháp quy, các thể chế, chính sách về xây dựng, QL đội ngũ GV và cán
bộ QL, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và tinh thần trách nhiệm tới từng đơn
vị, từng cá nhân tham gia vào quá trình QL DHTH theo tiếp cận NLTH
1.3.2 Tiêu chuẩn NLTH: Trong phương thức đào tạo nghề theo tiếp cận
NLTH, tiêu chuẩn NLTH (cũng chính là tiêu chuẩn nghề) được hiểu như
sau: Tiêu chuẩn NLTH là một tập hợp các quy định về các công việc cần làm và chuẩn mực cần đạt được trong thực hiện các công việc đó tại chỗ làm việc ứng với các trình độ của nghề
1.4 NỘI DUNG QUẢN LÝ DHTH THEO TIẾP CẬN NLTH
1.4.1 Khái quát về quản lý DHTH: QL DHTH được thực hiện theo một
kế hoạch, có sự tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá Theo
chúng tôi hiểu: QL DHTH theo tiếp cận NLTH cho SV SPKT là quá trình
QL sự cộng tác tối ưu giữa người dạy với người học bằng cách phát huy các yếu tố chủ quan của họ, biết sử dụng hiệu quả các yếu tố khách quan
do các cấp QL tạo ra để QL, tự QL, truyền đạt, lĩnh hội tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo nghề và thái độ nhằm đạt được mục tiêu DHTH
1.4.2 Nội dung quản lý DHTH theo tiếp cận NLTH
1.4.2.1 Quản lý mục tiêu DHTH: Thực chất của việc này là xác định
hướng đi của quá trình DHTH không để nó chệch hướng mục tiêu đã xây dựng, phải kịp thời điều chỉnh khi cần thiết đồng thời nhà QL phải thấy rõ mối quan hệ giữa mục tiêu DHTH với các thành tố của quá trình đào tạo Cái đích cuối cùng cần đạt được của người học sau quá trình đào tạo tựu
chung ở ba thành tố cơ bản là kiến thức, kỹ năng và thái độ
Về kiến thức có 6 cấp trình độ: 1- Biết được; 2- Hiểu được; 3- Vận
dụng được; 4- Phân tích được; 5- Tổng hợp được; 6- Đánh giá được
Về kỹ năng có 5 cấp trình độ: 1- Bắt chước được; 2- Làm được; 3- Làm
được chính xác; 4- Làm được thuần thục; 5- Biến hoá được
Về thái độ đối với các mối quan hệ xã hội, nghề nghiệp, tính kỷ luật, tác
phong công nghiệp
1.4.2.2 Quản lý nội dung DHTH: Là QL tổng hợp hệ thống kiến thức
văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, các chuẩn mực về thái độ - nhân cách, các kỹ năng lao động chung và chuyên nghiệp cần thiết để hình thành những phẩm chất, năng lực nghề nghiệp phù hợp với một loại hình lao
Trang 14- 10 -
động cụ thể Vậy QL nội dung đào tạo chính là QL các yếu tố để phát triển tri thức đối với người học, góp phần tăng cường NLTH đối với ngành nghề
cụ thể trong tương lai
1.4.2.3 Quản lý phương pháp và phương tiện DHTH: QL PPDH là QL
những cách thức hoạt động có quan hệ qua lại theo một trình tự nhất định giữa GV và SV nhằm đạt được mục tiêu đào tạo mà cụ thể là giúp cho SV nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thế giới quan, thái độ nghề nghiệp một cách đúng đắn Khi dạy học, GV cần biết lựa chọn và vận dụng phương pháp hợp lý, tùy thuộc vào trình độ cần đạt tới Trong mọi hoạt động QL, đặc biệt QL hoạt động dạy học, cần tìm chọn phương pháp thích ứng với mục đích và nội dung
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục đã cho thấy
rằng phương tiện dạy học phải là một trong những thành tố, điều kiện chủ yếu tạo nên chất lượng giảng dạy và học tập trong nhà trường Như vậy, phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, nâng cao hiệu quả giảng dạy cho GV, nâng cao tri thức và khả năng vận dụng chúng vào
thực tế theo nghề nghiệp được đào tạo trong tương lai cho người học
1.4.2.4 Quản lý kiểm tra, đánh giá DHTH: Là khâu rất quan trọng của
QL quá trình đào tạo chẳng những nó phản ánh kết quả học tập, NLTH theo nghề nghiệp được đào tạo của SV nói riêng mà còn có tác dụng điều chỉnh, đổi mới nội dung, phương pháp, sao cho phù hợp với đối tượng đào tạo Vì vậy, nội dung kiểm tra, đánh giá cần phản ánh được nội dung cơ bản về kiến thức lý thuyết, thực tiễn và NLTH Về phương pháp kiểm tra, đánh giá nên phối hợp nhiều phương pháp khác nhau một cách linh hoạt nhằm đảm bảo tính chính xác, tính khách quan và tính hiệu quả
1.5 DHTH theo tiếp cận NLTH trong đào tạo GVDN: Đào tạo GVDN
tại các trường SPKT cần chú ý đến ba loại năng lực thực hiện như: 1/ Năng lực dạy nghề, 2/ Năng lực GD nghề nghiệp, 3/ Năng lực tham gia hoạt động KH - CN Bên cạnh năng lực SPKT mà đội ngũ GVDN cần có thì các
nhiệm vụ và công việc của GV trong các trường SPKT rất đa dạng, phức
tạp và có những nội dung cơ bản sau: Thực hiện nhiệm vụ giảng dạy; Thực hiện nhiệm vụ sản xuất dịch vụ; Thực hiện nhiệm vụ NCKH, học tập và tự bồi dưỡng; Thực hiện nhiệm vụ xã hội
Tóm lại: Từ việc phân tích các khái niệm cơ bản trên cho thấy NLTH
của SV các trường SPKT được nâng cao phụ thuộc chủ yếu vào các các