ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM PHẠM THỊ MAI LAN CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở ĐẠI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
PHẠM THỊ MAI LAN
CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN
LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI – 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
PHẠM THỊ MAI LAN
CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở ĐẠI HỌC
QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS Đặng Văn Cúc
HÀ NỘI - 2007
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.2 Hoạt động thông tin – thư viện trong trường đại học 17
1.3 Quản lý hoạt động thông tin trong trường đại học 22
1.4 Hoạt động thông tin – thư viện trong trường ĐH với nhiệm vụ phục vụ đào tạo học chế tín chỉ 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 35
2.1 Vài nét khái quát về Đại học Quốc gia Hà Nội 35
2.2 Vài nét khái quát về Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐHQGHN 38
2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội 41
2.4 Nhận xét và đánh giá chung về tình hình quản lý các hoạt động của Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội 66
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN ĐÁP ỨNG YEU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 70
3.1 Các căn cứ để đề xuất biện pháp 70
3.2 Một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động thông tin – thư viện phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ oqr ĐHQGHN 74
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 87
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 4Nghị quyết Hội Nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định: “Thực sự coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu” Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự nghiệp GD-ĐT càng có vai trò và vị trí quan trọng Trong các cuộc họp của Trung ương Đảng bàn về CNH, HĐH đất nước, vấn đề được quan tâm đầu tiên cũng là về GD-ĐT Đất nước không thể CNH, HĐH nếu không có một đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học, kỹ thuật
và công nghệ, các chuyên gia có trình độ cao, các nhà quản lý kinh tế và kinh doanh giỏi, các công nhân lành nghề Nhìn lại lịch sử cận đại của thế giới và các nước phát triển nhanh trong khu vực, chúng ta đều thấy họ rất coi trọng giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học (GDĐH) Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc đại học có vị trí rất quan trọng Nó đảm trách nhiệm vụ đào tạo ở bậc cao nhất là đào tạo đại học và sau đại học,
là nơi đào tạo chủ lực nguồn nhân lực với trình độ cao và nhân tài cho nền kinh tế quốc dân và cho xã hội Chất lượng đào tạo đại học liên quan chặt chẽ với yêu cầu kinh tế-xã hội của đất nước Sản phẩm đào tạo được xem là có chất lượng cao khi nó đáp ứng tốt mục tiêu đào tạo mà yêu cầu của kinh tế-xã hội đặt ra đối với mỗi cấp học, ngành học của bậc đại học "Muốn có chất lượng đào tạo tốt cần phải có đội ngũ thầy giáo giỏi cùng với cơ sở vật chất, trang thiết bị, giáo trình, sách giáo khoa, thư viện phục vụ giảng dạy và học tập Những đIều kiện đảm bảo chất lượng là vô cùng quan trọng, không thể đòi hỏi chất lượng đào tạo cao khi điều kiện phục vụ cho đào tạo quá thấp Thư viện và trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học ở các trường đại học, cao đẳng
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo, là thành phần không thể thiếu trong quá trình đào tạo" [2]
Hiện nay, yêu cầu đổi mới giáo dục đại học đòi hỏi các trường đại học phải đổi mới cơ bản, toàn diện: mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy-học, đội ngũ
Trang 52
giảng viên, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học Trong các yếu tố đó, thư viện nhà trường là yếu tố rất đáng được quan tâm và đặc biệt chú trọng, vì thư viện đại học là trung tâm tri thức của một trường đại học, là bộ phận không thể thiếu trong việc cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho người học phát triển toàn diện, là nơi mà thầy và trũ cựng phỏt huy tinh thần "tự học, học liờn tục, học suốt đời" Bởi vậy, trước sự đổi mới của nền giáo dục đại học buộc các các nhà quản lý thư viện đại học phải nắm bắt và kịp thời tự điều chỉnh hoạt động quản lý của mình để nhanh chóng đón nhận và đáp ứng với sự đổi mới đó
Hoạt động giáo dục đại học luôn gắn liền với hoạt động chuyển giao tri thức và nghiên cứu khoa học Trong đó, một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng chuyển giao tri thức và nghiên cứu khoa học là khả năng cung cấp nguồn tin để thúc đẩy việc tự học, tự nghiên cứu trước hết của các nhà quản lý, của giảng viên, của sinh viên trong trường đại học Đây chính là sứ mệnh của các Trung tâm Thông tin-Thư viện trong các trường đại học Vì vậy quá trình đổi mới giáo dục đại học phải đồng nghĩa với quá trình đổi mới các Trung tâm TT-TV đại học nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu thông tin cho người dùng tin ở mọi lúc, mọi nơi
Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là một trong những trung tâm đại học đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao của cả nước Trong những năm qua, được sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước, ĐHQGHN đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc thực hiện sứ mệnh của Đảng và Nhà nước giao cho, đặc biệt là khẳng định thế mạnh về khoa học cơ bản và một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn Với mục tiêu đào tạo và nghiên cứu khoa học (ĐT & NCKH) chất lượng cao, ĐHQGHN là nơi đào tạo nhân tài và nguồn nhân lực có trình độ cao nhằm đáp ứng thị trường lao động
đa dạng trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
Để thực hiện được những mục tiêu trên, ngay từ những năm đầu ĐHQGHN đã chú trọng phát triển các cơ sở phục vụ ĐT & NCKH, trong đó có Trung tâm Thông tin
- Thư viện (TT-TV) Trung tâm TT-TV có chức năng thông tin và thư viện phục vụ các công tác ĐT & NCKH của ĐHQGHN và có nhiệm vụ nghiên cứu, thu thập, xử lý, cung cấp tin, tài liệu khoa học phục vụ cán bộ, giảng viên và sinh viên ĐHQGHN Trải
Trang 63
qua 10 năm hoạt động, cùng với sự đổi mới và phát triển của ĐHQGHN, Trung tâm TT-TV đã đạt được những thành tích đáng kể trong công tác phục vụ TT -TV, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng ĐT & NCKH của ĐHQGHN
Trong đề án “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam”, ĐHQGHN nằm trong số 14 trường ĐH được Chính phủ chọn để xây dựng thành những trường tiên tiến, sẽ là những “đầu tàu” để kéo hệ thống GDĐH đi lên Với dự án này, trước mắt trong năm
2007, ĐHQGHN và một số trường đại học sẽ chuyển sang mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ để đến năm 2010, toàn bộ hệ thống GDĐH chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, tạo thuận lợi cho người học tích luỹ dần kiến thức theo khả năng và điều kiện của mình, có thể chuyển tiếp học tập dễ dàng trong nước và quốc tế Đào tạo theo học chế tín chỉ đòi hỏi nhà trường phải chuyển biến toàn diện, từ việc thiết kế lại chương trình, giáo trình, bài giảng, đổi mới phương pháp dạy-học, phương pháp kiểm tra - đánh giá, đến việc thay đổi cách thức quản lý đào tạo cũng như hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy và học tập Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn tới chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ là hiệu quả hoạt động thông tin-thư viện trong ĐHQGHN Vai trò của Trung tâm TT-TV ĐHQGHN sẽ trở nên ngày càng lớn hơn trong quá trình đào tạo khi chuyển đổi sang học chế tín chỉ vì giảng viên và sinh viên
sẽ được tạo điều kiện tốt hơn trong việc tìm kiếm và sử dụng tài liệu tham khảo theo yêu cầu của môn học, giúp hình thành tính tích cực trong học tập của sinh viên, cũng như khả năng cập nhật thông tin trong bài giảng của giáo viên – yếu tố hàng đầu bảo đảm chất lượng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ
Tuy nhiên, để thực sự trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình học tập của sinh viên cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên trong giai đoạn chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ ở ĐHQGHN, Trung tâm TT-TV cần phải đổi mới hoạt động thông tin-thư viện, phát triển vốn tài liệu thư viện đa dạng và phong phú, đặc biệt phát triển dạng tài liệu điện tử, cải tiến phương thức phục vụ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các hoạt động thông tin- thư viện Đó là những yêu cầu cấp bách đòi hỏi Trung tâm TT-TV ĐHQGHN tìm
ra các giải pháp và hướng đi phù hợp để đáp ứng các yêu cầu trên trong giai đoạn mới
Trang 74
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt
động của Trung tâm thông tin-thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại Đại học Quốc gia Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý và thực trạng quản lý hoạt động của Trung tâm thông tin-thư viện, đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động
của Trung tâm thông tin-thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ ở Đại
học Quốc gia Hà Nội
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận của đề tài: Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý hoạt động thông tin-thư viện trong trường ĐH
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động của Trung tâm thông tin-thư viện ĐHQGHN
- Đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt đông của Trung tâm thông thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ ở ĐHQGHN trong giai đoạn mới
tin-4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động của Trung tâm TT-TV ĐHQGHN
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động của Trung tâm thông tin-thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 85
Trong những năm qua, Trung tâm TT-TV đã đạt được những thành tích đáng kể trong công tác phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của ĐHQGHN Trước yêu cầu đổi mới phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ ở ĐHQGHN, nếu có những biện pháp quản lý phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin-thư viện, một trong các yếu tố quyết định chất lượng đào tạo của ĐHQGHN
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Thu thập tài liệu, sách, tạp chí, các báo cáo, các trang web liên quan đến đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp phân tích sử lý số liệu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động của Trung tâm thông tin- thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3: Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động của Trung tâm thông tin- thư
viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 96
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm quản lý
Theo từ điển tiếng Việt: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập
thể người khác để phối hợp điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu chung”.[28]
Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức nhằm đạt những mục tiêu chung Hoạt đông quản lý là hoạt động chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành tập thể Nếu mỗi cá nhân tự mình hoạt động, sống một mình thì không có hoạt động quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và chịu một sự quản
lý nào đó
Quản lý được Các- Mác coi là chức năng đặc biệt, sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn
bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [4]
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn Đó chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra
Quản lý là vấn đề rất rộng và phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nên có rất nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau:
Định nghĩa về quản lý của một số nhà khoa học nước ngoài:
Trang 107
- Nhà khoa học quản lý người Mỹ F.W Taylor cho rằng: “Quản lý là một nghệ thuật biết rừ chớnh xỏc cỏi gỡ cần làm và cỏi đó làm thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” Ông đã đưa ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động
- Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H Fayol thì cho rằng: “Quản lý là đưa
xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tôt các nguồn lực của nó ”
- Các nhà nghiên cứu người Mỹ Paul Hersey và Ken Blanc Hard định nghĩa:
“Quản lý là một quỏ trỡnh cựng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm
thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [24]
- Định nghĩa của Harold Koontz, Cyril O'donnell: "Quản lý là quá trình lập kế
hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc hệ thống đơn
vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp đề đạt được những mục đích đã định"[13]
Định nghĩa về quản lý của một số nhà khoa học Việt Nam:
- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là quá trình tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các
luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo
ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [18]
- Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ lộc và Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành
và đạt được mục đích của tổ chức” [20]
- PGS.TS Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [9]
- Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động
Trang 118
của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [30]
Mặc dù với những cách tiếp cận khác nhau, song các khái niệm quản lý đó có
thể thấy rõ được nội hàm như sau:
- Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích, có tổ chức từ chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng hệ thống các nguyên tắc, luật lệ, chính sách, phương pháp, biện pháp tạo điều kiện cho sự phát triển đối tượng và uy tín của người quản lý
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa 2 bộ phận: đó là chủ thể quản lý (là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (là bộ phận chịu
sự quản lý), đây là quan hệ ra lệnh-phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc
Như vậy, bản chất của quản lý là một loại lao động điều khiển lao động Đó là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
1.1.2 Chức năng của quản lý
Chức năng quản lý là nội dung cơ bản của quá trỡnh quản lý, là nhiệm vụ khụng thể thiếu được của chủ thể quản lý Lao đông quản lý là một dạng lao động đặc biệt, lao động sáng tạo, hoạt động quản lý cũng phỏt triển khụng ngừng
từ thấp đến cao; gắn liền với quy trỡnh phỏt triển, đó là sự phân công, chuyên
môn hoá lao động quản lý Sự phân công chuyên môn hoá lao động quản lý là cơ sở hỡnh thành cỏc chức năng quản lý
Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt đông tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiờu
Tất cả các chức năng quản lý gắn bó qua lại và quy định lẫn nhau Chúng phản ánh lôgic bên trong của sự phát triển của hệ quản lý Việc phân chia chức năng quản lý bắt nguồn từ sự phân công và chuyên môn hoá lao động quản lý Khi phân tích cụ thể,
Trang 129
ta thấy quản lý gồm có 4 chức năng cơ bản, đó là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
a Chức năng kế hoạch hoá
Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt mục tiêu, mục đích đó
Có 3 nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá:
- Xác định, hỡnh thành mục tiờu (phương hướng) đối với tổ chức;
- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này và;
- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt các mục tiêu đó
Có ba loại kế hoạch:
- Kế hoạch chiến lược
- Kế hoạch chiến thuật
- Kế hoạch tác nghiệp
b Chức năng tổ chức
Định nghĩa (trong Từ điển tiếng Việt): “Tổ chức là sự sắp xếp các bộ phận cho
ăn nhịp với nhau để toàn bộ là một cơ cấu nhất định” [32]
Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, hình thành nên cấu trúc quan
hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức của đơn vị cũng khác nhau Người quản lý cần lựa chọn cấu trúc tổ chức cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có Quá trình đó gọi là thiết kế tổ chức và quan trong nhất là tổ chức thực hiện kế hoạch để đạt mục tiêu
Tổ chức được coi là điều kiện của quản lý, đúng như V.I Lênin đó khẳng định:
"Chúng ta phải hiểu rằng, muốn quản lý tốt cũn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa" Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con người, giữa các bộ phận trong hệ thống quản lý nhằm làm cho họ thực hiện thành cụng cỏc kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý
Trang 1310
c Chức năng chỉ đạo (lónh đạo)
Chỉ đạo là quá trỡnh tỏc động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành vi và thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đó đề ra Chỉ đạo thể hiên quá trỡnh ảnh hưởng qua lại giũa chủ thể quản lý và mọi thành viờn trong tổ chức nhằm gúp phần thực hiện hoá các mục tiêu đó đặt ra
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy động lực của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó do họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu
Quỏ trỡnh chỉ đạo (lónh đạo) bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Như vậy, việc lónh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy
đó hoàn tất, mà nú thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia
d Chức năng kiểm tra
Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những giải pháp tốt nhất để đạt tới các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để hiện thực hoá các mục tiêu đó cần phải tiến hành những hoạt động giám sát, kiểm tra để xem xét việc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết
Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
+ Xây dựng chuẩn thực hiện;
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn;
+ Nếu có sự chênh lệch thì điều chỉnh hoạt động
Quản lý mà không có kiểm tra thì không còn là quản lý Kiểm tra có vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác quản lý như: đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác
tổ chức, chỉ đạo cũng như đối với cơ chế quản lý, phương pháp quản lý nhằm nõng cao chất lượng và hiệu quả quản lý
Trang 1411
Qua phân tích các chức năng quản lý, chúng ta thấy rằng các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại với nhau, chi phối lẫn nhau tạo thành một thể
thống nhất của hoạt động quản lý Mối quan hệ đó thể hiện ở sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chức năng trong quản lý
1.1.3 Quản lý giáo dục
a Khái niệm “Quản lý giáo dục”
Cũng như mọi hoạt động khác của xó hội loài người, giáo dục cũng được quản
lý trờn bỡnh diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới hỡnh thành QLGD là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xó hội, đó xuất hiện từ lõu và tồn tại dưới mọi chế độ xó hội
Nếu hiểu giáo dục là hoạt động diễn ra trong xã hội nói chung, thì quản lý giáo dục( QLGD) là quản lý mọi hoạt động GD trong xã hội Nếu hiểu GD là hoạt động chuyên biệt trong các cơ sở GD thì QLGD là quản lý các hoạt động trong một đơn vị
cơ sở giáo dục như : trường học, trung tâm GD, các đơn vị phục vụ ĐT…QLGD là một loại hình quản lý đặc biệt Một số tác giả đưa ra các khái niệm quản lý GD như sau:
Theo tác giả M.I Konđacốp: "Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, kế hoạch, kiểm tra…) nhằm đảm bảo vận hành bình thường các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng ".[14]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà
Kế hoạch hoá
Kiểm tra, đánh giá Thông tin
Trang 15+ Chủ thể quản lý: Bộ máy QLGD các cấp
+ Khách thể quản lý: Hệ thống GDQD ( các trường học, trung tâm GD, các cơ
sở đào tạo và phục vụ đào tạo…)
+ Quan hệ quản lý: Giữa người dạy- người học; giữa người quản lý- người dạy; người quản lý - người học; giữa người dạy- người dạy; người dạy- cộng đồng
Các mối quan hệ này có ảnh hưởng đến chất lượng GD, ĐT chất lượng hoạt động của các nhà trường và toàn bộ hệ thống GD
b Mục tiêu của quản lý giáo dục
Mục tiêu của quản lý giáo dục chính là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục, đối với trường học, hoặc đối với những thông số chủ yếu của hệ thống giáo dục trong mỗi nhà trường Những thông số này được xác định trên
cơ sở đáp ứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế xã hội trong từng gia đoạn phát triển kinh tế của đất nước Mục tiêu này được xác định gồm:
- Đảm bảo quyền học sinh vào các ngành học, các cấp học, lớp học đúng chỉ tiêu và tiêu chuẩn;
- Đảm bảo chỉ tiêu và chất lượng đạt hiệu quả đào tạo;
- Phát triển tập thể sư phạm đủ và đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đời sống vất chất
- Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức chính quyền, Đảng, đoàn thể , quần chúng
để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo
- Phát triển các mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội để làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ
c Đối tượng của quản lý giáo dục
Trang 1613
Theo tác giả Nguyễn Đức Trí: đối tượng của quản lý quá trình giáo dục đào tạo
là sự hoạt động của cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên và tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện kế hoạch và chương trình GD-ĐT nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã quy định với chất lượng cao
1.1.4 Quản lý trường học
Theo Cố GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý GD nói chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thể hiện đúng tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.[19]
Về khái niệm quản lý nhà trường GS Phạm Minh Hạc đã đưa ra định nghĩa:
"Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi GD của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu
ĐT đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [25]
Trên cơ sở quan niệm về quản lý trường học, ta thấy: Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các bộ phận khác nhằm tận dụng các nguồn lực do nhà nước đầu tư cũng như các lực lượng xã hội đóng góp, hoặc vốn tự có của nhà trường, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà tiêu điểm hội tụ là quá trình ĐT thế hệ trẻ Tất cả nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch ĐT, đưa nhà trường phát triển
Vậy,” Quản lý trường học là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả” [29]
Trang 1714
Quản lý nhà trường nói chung và quản lý trường ĐH nói riêng là tổ chức, chỉ đạo, điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò Đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất và tinh thần phục vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục đích GD và ĐT
Trong nhà trường, có thể phân tích quá trình GD&ĐT như là một hệ thống gồm
6 thành tố cơ bản kết hợp chặt chẽ với nhau:
M : Mục tiêu đào tạo
N : Nội dung đào tạo
P : Phương pháp đào tạo
Th : Lực lượng đào tạo (thầy)
Tr : đối tượng đào tạo (trò)
Đ : Điều kiện đào tạo
Ba nhân tố MNP: Mục tiêu ĐT; Nội dung ĐT; Phương pháp ĐT tuy là vô hình nhưng chúng là nền tảng của quá trình ĐT Sự quản lý phải làm cho 3 nhân tố này gắn
Sơ đồ mối quan hệ giữa Th, Tr, Đ dưới sự tác động của hoạt đông quản lý:
Th Tr
QL
Trang 181.1.5 Thư viện trường đại học
1.1.5.2 Nhiệm vụ của thư viện đại học
Thư viện trường đại học có những nhiệm vụ chính sau:
Trang 1916
1) Nghiên cứu đề xuất phương hướng, chủ trương, kế hoạch phát triển vốn tư liệu văn hoá khoa học kỹ thuật phù hợp với nhiệm vụ đào tạo và NCKH của nhà trường đại học, đồng thời chịu trách nhiệm bảo quản vốn tư liệu đó
2) Tổ chức cho cán bộ, nghiên cứu sinh, sinh viên và học sinh của trường khai thác, sử dụng thuận lợi và có hiệu quả các tư liệu do thư viện quản lý:
- Phân loại và sắp xếp tài liệu theo từng chuyên ngành khoa học, kỹ thuật
- Xây dựng các biện pháp tra cứu để bạn đọc tìm tài liệu được nhanh chóng
- Thông báo kịp thời những tài liệu mới được bổ sung
- Tổ chức các hình thức tuyên truyền giới thiệu các tài liệu, tạp chí, sách báo và biên soạn bản thông tin tóm tắt giứi thiệu thư mục thông tin
- Tổ chức các loại phòng phục vụ bạn đọc, phòng đọc cho cán bộ giảng dạy và cán bộ nghiên cứu, phòng đọc cho sinh viên, phòng tạp chí và phòng giới thiệu tài liệu sách báo quý hiếm
3) Có kế hoạch, quy hoạch chủ động thường xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ cho cán bộ thư viện để không ngừng nâng cao chất lượng
và hiệu quả phục vụ
4) Thư viện trường đại học được đặt quan hệ đối ngoại với thư viện các nước để trao đổi tài liệu, kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ trong phạm vi quy định của Nhà nước
5) Thư viện trường đại học có trách nhiệm phối hợp, hợp tác tốt về mặt nghiệp
vụ với các Liên hiệp Thư viện, với thư viện các trường ĐH khác nằm trong khu vực hoặc cùng chuyên ngành
6) Thư viện trường đại học được quyền thu nhận những ấn phẩm do trường xuất bản, cũng như các luận án tốt nghiệp, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ được bảo vệ tại trường, hoặc người viết luận án, luận văn là cán bộ, sinh viên của trường
7) Tổ chức việc kiểm kê định kỳ các loại kho tài liệu theo quy định
8) Thư viện trường đại học có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng khác trong trường để làm tốt nhiệm vụ được giao [33]
Trang 2017
Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin đã kéo theo sự phát triển của các chuyên ngành, các lĩnh vực khoa học khác, trong đó có chuyên ngành thông tin-thư viện Đặc biệt, cùng với xu thế phát triển của lĩnh vực thông tin-thư viện trên thế giới, các thư viện ở Việt Nam trong đó có các thư viện trường ĐH đã và đang thay đổi về chất, đó là cùng với thư viện truyền thống, đã ra đời những thư viện điện
tử, thư viện số, thư viện đa phương tiện Vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, hầu hết các thư viện trường đại học ở nước ta được gọi với tên mới là Trung tâm Thông tin-Thư viện <trường đại học> Ví dụ như: Trung tâm TT-TV ĐHQGHN, Trung tâm TT-TV ĐH Sư phạm Hà Nội, Trung tâm TT-TV ĐH văn hoá HN… Tên gọi này đã phản ánh rõ các chức năng chủ yếu bao gồm:
- Là một tổ chức đảm nhận việc tạo lập và phát triển thông tin của trường đại học;
- Là một tổ chức đảm nhận việc bảo đảm thông tin phục vụ công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của cán bộ và sinh viên trong toàn trường [17]
1.2 Hoạt động thông tin-thư viện trong trường đại học
1.2.1 Đặc điểm của hoạt động thông tin-thư viện trong trường đại học
1.2.1.1 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu thông tin trong trường đại học
Trường ĐH có nhiệm vụ cơ bản là ĐT và NCKH, trong đó nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có trình độ ĐH và trên ĐH cho đất nước là quan trọng nhất Tuy nhiên,
để nâng cao chất lượng đào tạo, các trường đại học thường phải tham gia NCKH Công tác NCKH gắn kết với đào tạo và làm tăng thêm vai trò của nhà trường đại học với xã hội Công tác ĐT và NCKH trong trường ĐH đều rất cần thông tin khoa học Người dùng tin /bạn đọc với nhu cầu tin của họ là một bộ phận cấu thành của một hệ thống TT-TV
Đặc điểm người dùng tin là cán bộ và nhu cầu thông tin của họ trong trường ĐH:
Đội ngũ người dùng tin là cán bộ trong trường ĐH khá đa dạng và có trình độ cao, thường chiếm khoảng 15-20% tổng số bạn đọc/người dùng tin trong TV Theo nghề nghiệp có thể phân chia nhóm bạn đọc này thành các lớp như: cán bộ giảng dạy
Trang 2118
và cán bộ nghiên cứu; cán bộ quản lý và phục vụ Hầu hết các đối tượng này đều là người chủ trì hoặc tham gia đề tài nghiên cứu khoa học các cấp: cấp nhà nước, cấp bộ, cấp cơ sở Sự phân chia này mang tính chất tương đối, vì một cán bộ giảng dạy trong trường đại học thường có nhiệm vụ chính là giảng dạy, ngoài ra còn tham gia NCKH
và có thể làm công tác quản lý Tuy nhiên, việc phân chia này rất có ích và thuận lợi cho công tác phục vụ thông tin có chọn lọc của các thư viện/ trung tâm TT-TV trong trường ĐH
Nhu cầu tin của bạn đọc là cán bộ trong trường ĐH có thay đổi do mục tiêu ĐT
và NCKH của các trường ĐH quy định, đó là tác động của đổi mới GD & ĐT đại học ở nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH Nhu cầu thông tin của đội ngũ cán bộ giảng dạy là các tài liệu truyền thống và phi truyền thống không chỉ về chuyên ngành ĐT của từng trường mà còn các thông tin giáp ranh, liên ngành và những vấn đề về sự phát triển KT-XH nói chung
Đặc điểm người dùng tin là nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên và nhu cầu thông tin của họ
Trong thư viện ĐH, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh là nhóm bạn đọc đông đảo nhất, chiếm đa số từ 80 - 85% tổng số bạn đọc của TV Nhu cầu tài liệu của bạn đọc SV chủ yếu là sách giáo khoa, giáo trình, các tài liêu tham khảo nhằm
mở rộng kiến thức về chuyên ngành Đối với SV năm cuối làm đồ án tốt nghiệp, viết khoá luận, nhu cầu các sách tham khảo chuyên ngành nghiên cứu không thể thiếu được đối với nhóm bạn đọc này Ngoài ra họ còn cần các bài báo, tạp chí chuyên ngành hẹp trong nước và nước ngoài để đi sâu tìm hiểu nghiên cứu Còn đối với nghiên cứu sinh
và học viên cao học, tài liệu cho họ chủ yếu là các tài liệu tra cứu, luận án, luận văn, báo, tạp chí chuyên ngành hoặc liên ngành, tài liệu về phát minh sáng chế, tiêu chuẩn, báo cáo tổng kết các công trình nghiên cứu, bộ sưu tập CSDL các bài trích, toàn văn về các lĩnh vực KHTN, KHXH &NV, kinh tế, giáo dục
Tóm lại Thư viện các trường ĐH với các nhóm bạn đọc không đa dạng như ở
hệ thống TV công cộng, nhưng qua phân tích trên ta thấy nhu cầu của nhóm bạn đọc rộng hơn và ở mức độ cao hơn, đòi hỏi các TV phải có các hình thức xử lý, phục vụ
Trang 2219
thông tin một cách phù hợp với từng đối tượng bạn đọc; ứng dụng công nghệ thông tin mới trong quản lý, lưu trữ và chuyển giao thông tin Thư viện tổ chức, quản lý tốt công tác này sẽ nâng cao hiệu quả phục vụ ĐT & NCKH của nhà trường
1.2.1.2 Đăc điểm nguồn lực thông tin trong trường đại học
Nguồn lực thông tin trong trường ĐH tập trung chủ yếu trong TV/ Trung tâm TT-TV trường, còn được gọi là vốn tài liệu thư viện Nguồn lực thông tin là khái niệm khá mới, nó phản ánh phần thông tin tiềm tàng trong xã hội, được con người kiểm soát đưa về dạng thức mà dễ dàng khai thác, có giá trị phục vụ cho sự phát triển xã hội
Hiệu quả của hoạt động thông tin-thư viện phụ thuộc vào 4 yếu tố có quan hệ hữu cơ trong quá trình thông tin:
- Nguồn lực thông tin (NLTT)
- Cán bộ thông tin - thư viện
- Người dùng tin
- Cơ sở vật chất-kỹ thuật, phương tiện thông tin
Trong 4 yếu tố trên đây, yếu tố NLTT là tài sản quý giá, là tiềm lực của thư viện NLTT càng phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu tin càng lớn và do vậy càng
có sức lôi cuốn đối với ngưòi dùng tin
Căn cứ vào đặc điểm, tính chất, hình thức thể hiện thông tin, người ta phân chia NLTT thành 2 loại:
- NLTT truyền thống (còn gọi là NLTT dạng in ấn)
- NLTT điện tử (còn gọi là NLTT số hoá)
NLTT truyền thống được thể hiện dưới dạng tài liệu in ấn như: sách, báo, tạp chí, các chuyên khảo, đề tài, luận án, luận văn, các văn bản… về mọi lĩnh vực
NLTT điện tử là các dạng tài liệu phi in ấn, là các sản phẩm thông tin được thể hiện nhờ vào ứng dụng CNTT như các tài liệu âm thanh, đĩa hát, đĩa quang CD, CD-ROM mà người dùng tin có thể tiếp cận thông qua các thiết bị tin học trong môi trường phát triển CNTT Trong thời đại ngày nay, NLTT điện tử là NLTT tích cực của
xã hội hiện đại
Trang 2320
Trong TV trường ĐH, đặc biệt chú ý loại hình tài liệu là sách giáo khoa và giáo trình, sách chuyên khảo, tài liệu tra cứu, báo, tạp chí, các CSDL bao quát các lĩnh vực tri thức thuộc chuyên ngành đào tạo của trường ĐH Ngoài ra, nguồn tài liệu “xám” là luận án, luận văn khoa học các cấp, báo cáo khoa học, đề cương và giáo trình các bài giảng, kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học, là nguồn tài liệu đặc thù của nhà trường Đây là nguồn tin khoa học nội sinh ( tức là nguồn tin được tạo ra trong qua trình ĐT và NCKH của bản thân trường ĐH) phản ánh tiềm lực, thành tựu đào tạo của mỗi trường
ĐH - là một trong những nguồn lực thông tin quan trọng nhất của một trường ĐH
1.2.1.3 Tổ chức hoạt đông thông tin-thư viện trong trường đại học
Trong trường đại học, hoạt động TT –TV nhằm bảo đảm việc cung cấp thông tin khoa học cho công tác ĐT và NCKH của nhà trường
Công tác TT –TV trong trường đại học thường được giao cho một bộ phận gọi
là trung tâm TT TV, hay thư viện trường đại học đảm nhiệm Chủ thể quản lý hoạt động TT –TV trong trường đại học có thể xem xét ở hai mức độ: chủ thể quản lý trực tiếp là hiệu trưởng / giám đốc trường đại học; chủ thể quản lý gián tiếp là Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch), thông qua cơ quan quản lý ngành
là Vụ Thư viện Trong đó, chủ thể quản lý trực tiếp là nhà trường đại học, mà cụ thể là hiệu trưởng là đầu mối quản lý quan trọng nhất Thư viện hay Trung tâm TT-TV là đối tượng quản lý của giám đốc hoặc hiệu trưởng Việc quản lý của Vụ Thư viện - Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, chỉ mang tính chất chỉ đạo nghiệp vụ theo ngành, chứ không
phải là cấp quản lý hành chính.[22]
1.2.2 Vị trí,vai trò của hoạt động thông tin-thư viện trong trường đại học
Thư viện trường ĐH là trung tâm thông tin văn hoá, khoa học kỹ thuật của một trường
ĐH, là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của trường ĐH Cơ cấu một trường ĐH thường được hình thành bởi 2 khối: Khối đào tạo và khối phục vụ đào tạo Trong cơ cấu đó, thư viện trường ĐH/Trung tâm TT-TV thuộc vào khối phục vụ cho sự nghiệp
ĐT & NCKH của nhà trường Thường thì khối này gồm: thư viện, nhà xuất bản, nhà
in, tạp chí khoa học [22]
Trang 2421
Trong trường ĐH, thư viện là một bộ phận không thể thiếu được đối với hoạt động dạy và học, nó đảm bảo cung cấp thông tin, tư liệu tạo điều kiện cho người học phát triển toàn diện, góp phần giúp nhà trường hoàn thành sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Đã có lần cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: "Trường đại học cần phải có thư viện, mà thư viện không đồng nghĩa với nghĩa của nó thì không phải là trường đại học"[27] Trong trường đại học, thư viện là một bộ phận không thể thiếu, mang tính tất yếu để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường “Muốn có chất lượng ĐT tốt cần phải có đội ngũ thầy giáo giỏi
cùng với CSVC, trang thiết bị, giáo trình, sách giáo khoa, thư viện phục vụ giảng dạy
và học tập Những điều kiện đảm bảo chất lượng là vô cùng quan trọng, không thể đòi hỏi chất lượng đào tạo cao khi điều kiện phục vụ cho đào tạo quá thấp Thư viện và trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học ở các trường ĐH, CĐ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo, là thành phần không thể thiếu trong quá trình đào tạo”.[2]
Nếu xác định từ góc độ cấu trúc của hoạt động giáo dục-dạy học (GD-DH) thì
TV là công cụ, phương tiện, điều kiện đảm bảo chất lượng GD-DH của trường ĐH Hoạt đông GD nói chung và dạy học nói riêng (gọi tắt là GD-DH) có cấu trúc gồm nhiều thành tố có mối quan hệ mật thiết và tác động tương hỗ nhau để tạo ra chất lượng, hiệu quả GD nói chung và dạy học nói riêng, đó là các thành tố: thầy, trò, mục
đích DH, nội dung DH, phương pháp DH, phương tiện - điều kiện
GD-DH, hình thức tổ chức GD-DH và kiểm tra-đánh giá Hai thành tố trung tâm và quan
trọng nhất là thầy và trò
Bất cứ một hoạt động nào, muốn chiếm lĩnh đối tượng, chủ thể phải có những phương tiện nhất định, những điều kiện cần thiết Phương tiện-điều kiện trong GD–DH chính là nguồn lực vật chất, đó là tài chính, CSVC, thiết bị trường học, thư viện được thầy và trò sử dụng trong quá trình GD và DH Đặc biệt, hoạt động TT-TV nó có tác động rộng rãi nhất đến các thành viên của trường ĐH, tạo nên sự bình đẳng cho mọi thành viên trước các cơ hội phát triển thông qua các nguồn tin mà họ được thụ hưởng,
Trang 2522
giúp cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu của mình Vì vậy, thông tin- thư viện là
yếu tố cơ bản mang tính tất yếu để đảm bảo chất lượng GD và DH của trường ĐH
Thư viện nói chung và trung tâm thông tin- thư viện trường ĐH nói riêng là kho tàng chứa đựng nguồn tri thức của nhân loại, trong khi đó hoạt động dạy học mặt bản chất là trang bị cho người học những kinh nghiệm, những tri thức nhân loại, cho nên hoạt động thông tin-thư viện trong trường ĐH có tác dụng và giá trị rất cao đối với hoạt động giáo dục - dạy học Sách, báo, các công trình NCKH (đề tài khoa học, luận án, luận văn, sáng kiến, kinh nghiệm,…) và các tư liệu khác trong thư viện là những sản phẩm khoa học và là những phương tiện cần thiết phục vụ cho hoạt động dạy-học trong nhà trường Thư viện là nơi người dạy và người học đến khai thác tri thức, tự nghiên cứu nhằm củng cố, mở rộng, nâng cao các bài giảng, bài học trên lớp, đáp ứng các nhu cầu học tập, nghiên cứu và giải trí Chính vì vậy, nó có tác dụng và giá trị đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục - dạy học
Vai trò của họat động thông tin - thư viện tại các trường đại học hiện nay chính
là cầu nối liên kết giữa người dùng tin (Cán bộ, giảng viên, sinh viên, học sinh), các
nguồn/hệ thống thông tin và người tạo lập và cung cấp các sản phẩm thông tin (Cán
bộ TT-TV) nhằm trực tiếp đáp ứng các nhu cầu nghiên cứu và đào tạo, các nhu cầu quản lý của trường đại học và của các cá nhân, tổ chức có liên quan
Trung tâm thông tin –thư viện là nơi chuyển giao tri thức có khả năng đáp ứng một số yêu cầu chính sau đây:
- Có khả năng cung cấp một lượng tài liệu lớn cho nghiên cứu giảng dạy và đào tạo
- Cho phép thu thập và phổ biến thông tin tốt nhất cho GD và ĐT
- Phục vụ cho các chuyên gia GD trong quá trình ĐT
- Đáp ứng nhu cầu tự đào tạo “tự học suốt đời”.[28]
1.3 Quản lý hoạt động thông tin-thư viện trong trường đại học
1.3.1 Khái niệm quản lý thông tin-thư viện trong trường đại học/thư viện đại học
Với những cách tiếp cận quản lý nhà trường ( mục 1.1.1.4), quản lý trung tâm TT-TV/ thư viện ĐH là quá trình tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của
Trang 2623
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (các nguồn lực của TV) nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu các hoạt động của thư viện để đạt hiệu quả cao nhất trong việc phục vụ thông tin, tư liệu cho người đọc, người dùng tin
1.3.2 Các nguyên tắc quản lý cơ quan thông tin- thư viện
* Các nguyên tắc chung của quản lý:
Nguyên tắc quản lý là những quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà công tác quản lý bất kỳ cấp nào đều phải tuân theo khi thực hiện chỉ đạo và điều hành công việc quản lý của mình Các nguyên tắc quản lý một tổ chức gồm:
- Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế;
- Nguyên tắc tập trung dân chủ;
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo vùng lãnh thổ;
- Nguyên tắc kết hợp các lợi ích kinh tế;
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả kinh tế cao nhất
* Các nguyên tắc quản lý cơ quan thông tin-thư viện
a/ Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý
Việc quản lý các thư viện, cơ quan thông tin phải tuân theo nguyên tắc này Một trong những nhiệm vụ quan trọng của các tổ chức Đảng ở cơ sở là cùng với chính quyền chăm lo công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, bố trí sắp xếp cán bộ một cách hợp
lý nhằm phát huy được năng lực, nhiệt tình của đội ngũ cán bộ
b/ Nguyên tắc tập trung dân chủ
Là nguyên tắc kết hợp lãnh đạo tập trung của các cấp lãnh đạo với việc phát huy tính chủ động sáng tạo của cán bộ, tập thể cán bộ trong thư viện Mọi công việc trong thư viện đều được mọi người biết và bàn, từ đó giao trách nhiệm cho một người điều hành và mọi người phải tuân theo sự điều hành đó
c/ Nguyên tắc thủ trưởng lãnh đạo
Là nguyên tắc đảm bảo quyền lãnh đạo tối cao tập trung cho một cá nhân là thủ trưởng cơ quan Người đó có đủ quyền hành cần thiết để chỉ đạo, điều khiển công việc
và phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan trước Nhà nước và pháp luật Tất cả cán bộ, nhân viên trong cơ quan phải phục tùng lệnh điều hành của thủ
Trang 2724
trưởng cơ quan Để tránh độc đoán, cửa quyền, người lãnh đạo phải biết kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể cùng tham gia quản lý, phát huy tinh thần làm chủ tập thể của cán
bộ dưới quyền
d/ Nguyên tắc kiểm tra thường xuyên, kịp thời:
Là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình quản lý Mục đích của việc kiểm tra là giúp người quản lý nắm được những gì đang xảy ra, bảo đảm kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu, kế hoạch đề ra; bảo đảm sử dụng các nguồn lực một cách hữu hiệu; phát hiện kịp thời những vấn đề sai sót để chấn chỉnh, sửa sai ngay
e/ Nguyên tắc khuyến khích vật chất và tinh thần
Các biện pháp khích lệ tinh thần cũng như vật chất có tác dụng to lớn kích thích người lao động, góp phần tăng năng suất lao động Việc đánh giá đúng mức sự cống hiến của tong người thể hiện qua việc khuyến khích động viên tinh thần bằng các danh hiệu thi đua và các phần thưởng vật chất phải luôn được chú trọng đồng thời
1.3.3 Các phương pháp quản lý thư viện
Các phương pháp quản lý một tổ chức
Phương pháp quản lý là tổng thể những cách thức tác động của công tác quản lý đến cá nhân, tập thể người lao động nhằm khuyến khích, động viên thúc đẩy họ hoàn thành tốt công việc Nhìn chung công tác quản lý một tổ chức thường dùng các phương pháp quản lý:
Phương pháp chính trị tư tưởng Phương pháp hành chính – pháp chế Phương pháp tổ chức - điều khiển Phương pháp tâm lý xã hội
Phương pháp kinh tế
Một số phương pháp chủ yếu trong quản lý cơ quan thông tin-thư viện:
Từ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của thư viện trường đại học, công tác quản lý thư viện cần phối hợp sử dụng một số phương pháp quản lý sau:
a) Phương pháp hành chính:
Trang 2825
Là phương pháp tác động tập trung, chỉ đạo trực tiếp của cán bộ lãnh đạo đối với cán bộ cấp dưới, được thực hiện bằng các hình thức: quyết định, chỉ thị quy định, nội quy, điều lệ v.v Ví dụ như các quy định về giờ giấc phục vụ của thư viện, các biện pháp thu hút bạn đọc v.v
b) Phương pháp tâm lý:
Là phương pháp quản lý các cán bộ thư viện trên cơ sở nghiên cứu kỹ các nhân
tố tâm lý ảnh hưởng đến thái độ lao động của họ Phương pháp này đòi hỏi cán bộ quản
lý phải biết tâm lý, tìm hiểu kỹ về các thành viên dưới quyền quản lý của mình để áp dụng biện pháp nào cho thích hợp: động viên, thuyết phục, tạo điều kiện hoặc cưỡng bức lao động để đạt được hiệu quả lao động cao
1.3.4 Cơ chế quản lý hoạt động thông tin-thư viện trong trường đại học
Trong trường ĐH, hoạt động TT-TV nhằm bảo đảm việc cung cấp thông tin khoa học cho công tác ĐT và NCKH của nhà trường
Công tác TT-TV trong trường ĐH thường được giao cho một bộ phận gọi là thư viện trường ĐH hay Trung tâm TT-TV đảm nhiệm Trung tâm TT-TV thuộc sự chỉ đạo
và quản lý của nhà trường Trong Quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường đại học của Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp ban hành năm
1997 nêu rõ: “Thư viện trường đại học là một đơn vị trong cơ cấu tổ chức của nhà trường tương đương với khoa (hoặc Phòng, Ban) của trường đại học Lãnh đạo Thư viện trường ĐH do một giám đốc Thư viện đảm nhiệm Giám đốc Thư viện chịu trách
Trang 29Thư viện trường ĐH là trung tâm thông tin văn hoá, khoa học kỹ thuật, giáo dục của trường ĐH, thuộc sự chỉ đạo và quản lý của nhà trường, có những đặc thù riêng khác với các loại hình thư viện và cơ quan thông tin khác, nhưng đều thuộc hệ thống thông tin KHKT Quốc gia, có nhiệm vụ chung nhất là thu thập bổ sung, xử lý kỹ thuật, xây dựng kho tài liệu nhằm phục vụ bạn đọc một cách có hiệu quả nhất
1.3.5 Yêu cầu quản lý hoạt động thông tin-thư viện trong trường đại học
Quản lý công tác TT-TV trong trường ĐH phải đạt được các yêu cầu sau:
Một là, phải thiết lập một cơ cấu thích hợp đảm bảo tổ chức sử dụng, khai thác vốn tài liệu thư viện một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất Tức là phải xây dựng được hệ thống các bộ phận bên trong của TV/ trung tâm TT-TV trường ĐH cho hợp lý với điều kiện của từng trường ĐH
Hai là, phải quản lý tốt nhất các nguồn lực được nhà trường giao cho công tác TT-TV, như cán bộ thư viện, vốn tài liệu/nguồn lực thông tin, cơ sở vật chất-kỹ thuật
Ba là, cơ chế hoạt động TT-TV không trái với luật pháp hiện hành như Luật Giáo dục, Pháp lệnh Thư viện, Quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường đại học của Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Cơ chế hoạt động của
TV phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chủ quản là trường ĐH.[22]
1.3.6 Nội dung quản lý hoạt động thông tin-thư viện trong trường ĐH
Công tác TT-TV trong trường ĐH do thư viện trường ĐH / Trung tâm TT-TV trường ĐH chịu trách nhiệm Để một thư viện trường ĐH hoạt động cần có các bộ phận cấu thành như sau:
Trang 30Quản lý công tác TT-TV trong trường ĐH, chính là quản lý các đối tượng trên
Quản lý cán bộ thư viện: Trong các yếu tố cấu thành nên Trung tâm TT-TV
ĐHQGHN, ngoài các yếu tố về cơ sở vật chất-kỹ thuật, vốn tài liệu thư viện, bạn đọc thì cán bộ thông tin thư viện đóng vai trò vô cùng quan trọng Họ là cầu nối giữa vốn tài liệu/nguồn thông tin với người dùng tin/ bạn đọc Hay nói cách khác, người cán bộ thư viện là “linh hồn” của thư viện, là cốt lõi của hiệu quả công việc Bác Hồ đã nói: “ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hay thất bại đều do cán
bộ tốt hay kém”
Quản lý cán bộ TT-TV chính là việc tổ chức, phân công, sắp xếp bố trí cán bộ sao cho hợp tình, hợp lý để phát huy hết khả năng của cán bộ trong công tác; Quản lý việc chấp hành chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, nội quy, quy chế của đơn vị; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Xây dựng các quy chế, quy trình công tác, định mức lao động khoa học; Quản lý mối quan hệ hợp tác trong công việc nhằm tạo môi trường làm việc thuận lợi và hiệu quả và đặc biệt chú ý đến việc xây dựng chế độ đãi ngộ hợp lý để mọi người yên tâm với nghề nghiệp và cống hiến hết khả năng cho công việc
Theo Abraham Maslow, con người có 5 nhu cầu cơ bản được phân cấp, sắp xếp theo một thứ tự tăng dần từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất Đó là: nhu cầu tồn tại (nhu cầu sinh lý), nhu cầu an toàn, nhu cầu được giao lưu (liên kết và chấp nhận), nhu cầu được khẳng định (được tôn trọng) và nhu cầu tự thể hiện (tự thân vận động) Quản lý đội ngũ cán bộ thư viện chính là chăm lo đến các nhu cầu trên của họ
Quản lý đội ngũ cán bộ thư viện là giúp họ xác định được vai trò của mình trong
xã hội, trong tập thể thư viện, từ đó có những đóng góp hiệu quả trong công việc được giao; đồng thời tiến hành kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
Trang 31- Nâng cao trình độ chuyên môn (trí tuệ, trí lực)
- Phát triển các mối quan hệ (giao lưu)
- Trau dồi phẩm chất đạo đức (tâm lực)
- Bồi dưỡng, nâng cao sức khoẻ (thể lực)
Chất lượng phục vụ của thư viện phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ thư viện, vào trình độ học vấn, năng lực khả năng thực hành và tinh thần trách nhiệm của
họ Thư viện mà tổ chức, duy trì được đội ngũ nhân viên tốt, yêu nghề thì hầu như đã đạt được hoạt động phục vụ có hiệu quả Cán bộ TV chính là đối tượng để thực hiện các mục tiêu quản lý đề ra, đảm bảo cho việc phục vụ thông tin, tư liệu sao cho có hiệu quả nhất cho công tác ĐT và NCKH của trường ĐH
Quản lý vốn tài liệu TV chính là quản lý nguồn lực thông tin của một trường
ĐH Trong điều kiện kinh phí có hạn, nhưng thư viện lại phải bổ sung tài liệu bảo đảm chất lượng và đầy đủ phù hợp với các chuyên ngành ĐT của trường ĐH Áp dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, tin học hoá vào công tác xử lý, bảo quản, lưu trữ và tổ chức kho tài liệu một cách khoa học nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ nhu cầu người dùng tin một cách nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời, chính xác
Quản lý cơ sở vật chất-kỹ thuật của TV là quản lý trụ sở TV, hệ thống trang thiết
bị kỹ thuật máy móc, các thiết bị nội thất như giá sách, bàn ghế đọc…Quản lý tốt cơ sở vật chất vủa TV nhằm đảm bảo các điều kiện tối thiểu cho các hoạt động của cán bộ
TV trong công tác chuyên môn và cho bạn đọc trong việc đọc sách, khai thác thông tin tại thư viện "Một thư viện có cơ sở vật chất-kỹ thuật tốt, các trang thiết bị hiện đại sẽ cung cấp cho người dùng những dịch vụ chất lượng cao, đáp ứng được các yêu cầu và nhu cầu của họ, tạo nên uy tín lớn trong bạn đọc và trong xã hội, sẽ giúp cán bộ TV tự hào hơn về công việc của mình, say mê công việc và sáng tạo hơn
Trang 3229
Quản lý công tác TT-TV trong trường ĐH là một trong những khâu quản lý có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý một trường ĐH Công tác TT-TV mà hoạt động tốt sẽ góp phần đảm bảo chất lượng ĐT và NCKH của trường ĐH
1.4 Hoạt động thông tin-thư viện trong trường ĐH với nhiệm vụ phục vụ đào tạo học chế tín chỉ
1.4.1 Vài nét về đổi mới giáo dục đại học Việt Nam
Sau 20 năm đổi mới và 5 năm thực hiện “Chiến lược phát triển giáo dục 2010”, giáo dục đại học nước ta đã phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng hoá về loại hình và các hình thức đào tạo, cải tiến chương trình, quy trình đào tạo và huy động được nhiều nguồn lực xã hội Chất lượng giáo dục ĐH ở một số ngành, lĩnh vực, cơ sở GDĐH có những chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-
2001-xã hội Tuy nhiên, những thành tựu trên của GDĐH chưa đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, nhu cầu học tập của nhân dân và yêu cấu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới [15]
Để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới, GDĐH nước ta phải đổi mới một cách mạnh mẽ, cơ bản và toàn diện Tại phiên họp chính phủ tháng 7 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đó quyết nghị về "Đề án đổi mới giáo dục ĐH Việt Nam" với nhiều nội dung mới, trong đó có nhiệm vụ cần làm ngay và phải hoàn thành trong vũng từ 3 đến 5 năm tới là: chuyển các cơ sở giáo dục ĐH đang đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ (HCTC), xây dựng quy trỡnh đào tạo mềm dẻo và liên thông
HCTC là một hỡnh thức đào tạo được hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới áp dụng vỡ nú phõn chia kiến thức đào tạo thành những đơn vị học tập mà sinh viên (SV)
có thể tự sắp xếp để tích lũy được ở những thời gian và không gian khác nhau Tùy điều kiện của mỗi người, người học có thể học nhanh hơn hay muộn hơn so với tiến độ bỡnh thường, có thể thay đổi chuyên ngành học ngay giữa tiến trỡnh học tập mà khụng phải học lại từ đầu Chính nhờ học theo HCTC nên chỉ trong một thời gian ngắn, một sinh viên Mỹ gốc Việt là Nguyễn Tuệ ở Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đó lấy được 5 bằng ĐH và trở thành một người có kiến thức tổng hợp rất nhiều lĩnh vực
Trang 3330
HCTC cũn tạo ra một "ngụn ngữ chung" giữa cỏc trường ĐH, tạo điều kiện cho việc chuyển đổi SV giữa các trường trong nước và trên thế giới, rất thuận lợi trong các chương trỡnh đào tạo liên kết
Đồng thời đào tạo theo HCTC sẽ hạn chế được tỡnh trạng dạy và học theo lối kinh viện (điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương đổi mới phương pháp dạy và học, đẩy nhanh quá trỡnh hội nhập thế giới) Đây là một phương thức đào tạo đem lại hiệu quả giáo dục cao, tạo tính mềm dẻo và khả năng thích ứng, hơn nữa cũng tạo được hiệu quả cao về quản lý và giảm được giá thành đào tạo
1.4.2 Tín chỉ, đào tạo theo hệ thống tín chỉ
1.4.2.1 Tín chỉ:
Tín chỉ (credit) trong giáo dục được xác lập như một đơn vị đo lường của những
yêu cầu về năng suất học tập, về trình độ học vấn hay những đòi hỏi về lượng thời gian trong một quá trình học tập
Định nghĩa chính thức về tín chỉ phổ biến ở Mỹ và một số nước như sau: Khối lượng học tập gồm 1 tiết học lý thuyết (50 phút) trong một tuần lễ và kéo dài 1 học kỳ (15 - 18 tuần) thì được tính 1 tín chỉ Các tiết học loại khác như: thực tập thí nghiệm, đi thực địa, vẽ, nhạc, thực hành nghệ thuật, thể dục v.v… thì thường cứ 3 tiết trong một tuần kéo dài 1 học kỳ được tính 1 tín chỉ
Ngoài định nghĩa trên, người ta còn quy định: để chuẩn bị cho 1 tiết trên lớp, SV phải bỏ ra ít nhất 2 giờ làm việc ở ngoài lớp
Để đạt bằng cử nhân (Bachelor), SV thường phải tích luỹ đủ 120-136 tín chỉ (Mỹ), 120-135 tín chỉ (Nhật Bản), 120-150 tín chỉ (Thái Lan), v.v Để đạt bằng thạc sỹ (Master) SV phải tích luỹ 30-60 tín chỉ (Mỹ), 30 tín chỉ (Nhật Bản), 36 tín chỉ (Thái Lan), v.v… Theo ECTS của EU người ta quy ước khối lượng lao động học tập ước chừng của một SV chính quy trung bình trong 1 năm học được tính bằng 60 tín chỉ
Một định nghĩa nữa về tín chỉ được các nhà quản lí và các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất là của học giả người Mĩ gốc Trung Quốc James Quann thuộc Đại học Washington Trong buổi thuyết trỡnh về hệ thống đào tạo theo tín
Trang 3431
chỉ tại Đại học Khoa học Công Nghệ Hoa Trung, Vũ Hán mùa hè năm 1995, học giả James Quann trỡnh bày cỏch hiểu của ụng về tớn chỉ như sau:
Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người
học bỡnh thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: (1)thời gian lờn lớp; (2) thời gian ở trong phũng thớ nghiệm, thực tập hoặc cỏc phần việc khỏc đó được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài
Đối với các môn học lí thuyết một tớn chỉ là một giờ lờn lớp (với hai giờ chuẩn
bị bài) trong một tuần và kộo dài trong một học kỡ 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phũng thớ nghiệm, ớt nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần (Bản dịch của Bộ giáo dục
(1) Thời gian học tập trên lớp
(2) Thời gian học tập trong phũng thớ nghiệm, thực tập hoặc làm cỏc phần việc khác
đó được quy định trong đề cương môn học
(3) Thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn
đề hoặc chuẩn bị bài
Một tín chỉ (a credit) và một giờ tín chỉ (a credit hour) là hai khái niệm có nội
dung khác nhau Theo đó, một tín chỉ gồm 15 giờ tín chỉ, thực hiện trong một học kỡ, kộo dài 15 tuần, mỗi tuần 01 giờ tớn chỉ
Giờ tín chỉ (credit hour): có 3 kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ
thực hành và giờ tín chỉ tự học Theo đó, một giờ tín chỉ lên lớp bao gồm 1 tiết (50
phút) giáo viên giảng bài và 2 tiết sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở nhà; một giờ tín chỉ
Trang 3532
thực hành bao gồm 2 tiết giáo viên hướng dẫn, điều khiển và giúp đỡ sinh viên thực
hành, thực tập và và 1 tiết sinh viên tự học, tự chuẩn bị; và một giờ tín chỉ tự học bao
gồm 3 tiết sinh viờn tự học, tự nghiờn cứu, tự thực hành theo những nội dung giỏo viờn giao và những gỡ sinh viờn thấy cần phải nghiờn cứu hoặc thực hành thờm (những hoạt động học tập này có thể được thực hiện ở nhà hoặc ở trong phũng thớ nghiệm, trong thư viện, v.v.) Ba kiểu giờ tín chỉ này được coi là có giá trị ngang nhau [35]
Ở nước ta, theo quy định của Bộ GD&ĐT, một sinh viên để đạt được bằng cử nhân phải tích luỹ được tối thiểu 140 tín chỉ, bằng thạc sỹ từ 50 - 60 tín chỉ
1.4.2.2 Dạy và học theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo HCTC hướng đến sự thay đổi lớn phương cách, thói quen dạy - học của người dạy lẫn người học Mục đích của đào tạo theo HCTC là hướng vào sinh viên, coi người học là trung tâm trong quá trỡnh dạy - học Với hỡnh thức này, người học phải tham gia học tập với thái độ tích cực và chủ động trong việc tiếp thu kiến thức và quản lý thời gian, chủ động lựa chọn môn học, giáo viên, giờ học Vào đầu mỗi học kỳ, SV được đăng ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ
và phù hợp với quy định chung nhằm đạt được kiến thức theo một chuyên môn chính (major) nào đó Sự lựa chọn các môn học rất rộng rãi, SV có thể ghi tên học các môn liên ngành nếu họ thích SV không chỉ giới hạn học các môn chuyên môn của mình mà còn cần học các môn học khác lĩnh vực Chẳng hạn, SV các ngành KHTN & kỹ thuật vẫn cần phải học một ít môn KHXH&NV và ngược lại Học tập theo HCTC đòi hỏi SV phải nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu, họ phải chủ động tỡm kiếm và tham khảo cỏc tài liệu chuyên ngành và liên ngành, thích hợp với từng môn học, từng chuyên đề khác nhau để đạt yêu cầu của mỗi tín chỉ
HCTC giảm khối lượng giờ giảng trên lớp, khuyến khích tự học Chuyển sang HCTC, giảng viên phải giảm thời lượng dạy trên lớp, thay đổi phương pháp để kích thích tính chủ động và sáng tạo của người học, rất khó khăn với đa số giảng viên chỉ quen phương cách đọc - chép lâu nay Để chuẩn bị cho các hỡnh thức giờ dạy tín chỉ, công việc của người giảng viên rất năng nề: ngoài việc xây dựng đề cương môn học, phải tỡm kiếm, khai thỏc tin, tài liệu tham khảo trờn web, trong thư viện để phục vụ
Trang 3633
cho bài giảng của mỡnh và giới thiệu cho sinh viờn tỡm đọc Muốn nâng cao chất lượng giờ giảng, bài giảng, đồng thời thu hút người học đũi hỏi giảng viờn phải khụng ngừng tỡm tũi bổ sung kiến thức mới, đổi mới cách thức truyền đạt kiến thức tạo hứng thú học tập và sáng tạo của sinh viên Có thể nói, việc sinh viên đăng ký học như thế nào và cỏc ý kiến đánh giá phản hồi của sinh viên cũng được coi là một tiêu chí đánh giá giảng viên
1.4.3 Yêu cầu đối với hoạt động thông tin-thư viện phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ
Sự chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo tín chỉ đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động TT-TV ở các trường ĐH, đòi hỏi thư viện cũng phải cải tiến phương thức hoạt động của mình để đáp ứng với sự chuyển đổi
đó
Để trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình học tập của sinh viên và giảng dạy của đội ngũ giảng viên trong đào tạo theo tín chỉ, các cơ quan thông tin thư viện đại học cần thực hiện một số yêu cầu sau:
* Về cơ sở vật chất:
- Mở rộng diện tích các phòng đọc, có các khu vực khác nhau theo yêu cầu học tập nghiên cứu của bạn đọc Tổ chức các phòng học, phòng thảo luận nhóm cho sinh viên và phòng đọc cho cán bộ, giảng viên
- Đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào các hoạt động TT-TV: Hiện đại hoá có hệ thống các trang thiết bị có thể truy cập, phân phối thông tin trong và ngoài trường đại học, hỗ trợ khả năng cung cấp thông tin đa nguồn, đa dịch vụ, mọi lúc, mọi nơi kể cả từ Internet
* Về nguồn lực thông tin và dịch vụ cung cấp thông tin:
- Thống nhất quản lý nguồn tài nguyên thông tin của toàn trường;
- Tăng cường cả về lượng và chất của nguồn lực thông tin, cung cấp đầy đủ nguồn học liệu phục vụ dạy và học theo tín chỉ
Trang 3734
- Cấu trúc, tổ chức lại nguồn lực thông tin theo nhiều cách khác nhau để có thể khai thác chúng theo nhiều phương thức khác nhau, nhằm thoả món nhu cầu tin của bạn đọc/ người dùng tin (NDT) một cách đầy đủ nhất
- Đổi mới và nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc, đáp ứng tối đa yêu cầu tỡm
kiếm tài liệu ngày càng gia tăng của NDT
- Cung cấp thờm cỏc hỡnh thức tổ chức phục vụ bạn đọc mới, tiên tiến và hiện đại, tạo ra nhiều điểm tiếp cận tài liệu, điểm truy cập thông tin đa dạng, phong phỳ cho NDT
- Đẩy mạnh công tác đào tạo người dùng tin Cung cấp cho NDT các kiến thức về
thư viện và kỹ năng sử dụng thư viện một cách hiệu quả để phục vụ công việc học tập, nghiên cứu
* Về đội ngũ cán bộ TT-TV:
- Có năng lực chuyên môn nghiệp vụ thư viện cao, có khả năng nắm bắt các nguồn thông tin ngày càng phong phú, đa dạng, đồng thời có khả năng phân tích, tổng hợp thông tin nhằm hướng dẫn tư vấn thông tin cho người đọc, người dùng tin
- Có kiến thức về CNTT, có khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật hiện đại và thông thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh
- Có năng lực tổ chức, quản lý và vận hành hoạt động TT-TV hiện đại
Trang 38
35
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN-
THƯ VIỆN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN-THƯ VIỆN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2.1 Vài nét khái quát về Đại học quốc gia Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội
Đại học Quốc gia Hà Nội (tên giao dịch bằng tiếng Anh: Vietnam National University, Hanoi; viết tắt là VNU) được thành lập theo Nghị định số 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại 3 trường đại học lớn ở Hà Nội: Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học sư phạm Hà Nội I và Đại học Sư phạm Ngoại Ngữ Hà Nội với mục tiêu trở thành một Trung tâm đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đồng thời là một trung tâm nghiên cứu khoa học lớn của cả nước Theo Quyết định 201/QĐ-TTg ngày 12/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội tách ra khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) để tiếp tục xây dựng thành trường Đại học Sư phạm trọng điểm của cả nước
Truyền thống của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) gắn với lịch sử hình thành và phát triển của những trường ĐH tiêu biểu ở Việt Nam trong suốt bề dày của thế kỷ XX, bắt đầu từ trường đại học Đông Dương (16/5/1906) có cơ sở tại 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội Đây là trường ĐH kiểu hiện đại đầu tiên ở Việt Nam (thời kỳ Pháp thuộc) được tổ chức theo mô hình trường ĐH đa ngành, đa lĩnh vực Xét về đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất - kỹ thuật và chương trình đào tạo, ĐHQGHN ngày nay là
sự nối tiếp truyền thống và uy tín của các trường đại học lớn ở Việt Nam từ Đại học Đông Dương (1906), Đại học Quốc gia Việt Nam (1945) đến Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956) và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ sau này (1967)
Ngày 1/2/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2001/NĐ-CP về Đại học Quốc gia Đây là mốc lịch sử đánh dấu giai đoạn phát triển mới về quy mô và chất lượng của ĐHQGHN- một Trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu và ứng
Trang 39Hiện tại, ĐHQGHN có trên 60 ngành học được đào tạo theo hai loại hình: hệ chính quy tập trung và hệ không tập trung Bên cạnh hệ thống đào tạo đại học, hệ thông các khối, lớp chuyên và hệ đào tạo sau đại học với trên 100 chuyên ngành cũng đang phát triển một cách vững chắc, có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp gaios dục của đất nước Ngoài phạm vi Hà Nội, ĐHQGHN còn tổ chức đào tạo hoặc phối hợp đào tạo ở các bậc đại học, cao học cho nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước
Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển ĐHQGHN, một mô hình trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, làm nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học nước nhà đã được khẳng định
Trang 40- Các đơn vị phục vụ sản xuất và dịch vụ gồm: 10 đơn vị có nhiệm vụ phục vụ
và cung cấp các dịch vụ để hỗ trợ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học Trong
đó có Trung tâm Thông tin-Thư viện
- Bên cạnh hệ thống tổ chức về chính quyền còn có hệ thống tổ chức về Đảng, Đoàn Thanh niên, Công đoàn
Các đơn vị hành chính, các tổ chức đoàn thể đều đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp,
toàn diện của Đảng uỷ và Ban Giám đốc ĐHQGHN
2.1.3 Cơ chế quản lý ở ĐHQGHN
Theo Quy chế và tổ chức hoạt động của ĐHQGHN do Thủ tướng Chính phủ ban hành, ĐHQGHN có 3 cấp quản lý hành chính:
1) Đại học Quốc gia Hà Nội là đầu mối được giao các chỉ tiêu kế hoạch hàng năm,
có tư cách pháp nhân, có con dấu mang hình Quốc huy
Văn phũng và cỏc ban chức năng
Các đơn vị NCKH (viện, trung tâm nghiên cứu khoa học)
Các đơn vị phục vụ sản xuất, dịch vụ
Các đơn vị đào tạo
(trường đại học,
khoa trực thuộc,
trung tâm đào tạo)