1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

94 1,1K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đường lối của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, công tác giáo dục Thể chất là một nội dung giáo dục không thể thiếu được trong các nhà trường bởi vì giáo dục thể chất làm tăng cường sức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM ĐÌNH TÂM

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT

Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 601405

Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS NGUYỄN VÕ KỲ ANH

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn Thạc sỹ Quản lý giáo dục, khoá 8 (2008 – 2010) tại trường Đại học giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, Tôi đã được Ban lãnh đạo nhà trường, các Thày giáo, Cô giáo và cán bộ trong trường tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành khoá học và làm luận văn tốt nghiệp

Với sự biết ơn sâu sắc, Tôi xin trân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Lãnh đạo khoa, phòng - Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, các Thày giáo, Cô giáo và

cán bộ trong trường Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới NGND.PGS.TS Nguyễn Võ Kỳ Anh, người thầy đã dành bao tâm huyết, hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tôi

trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (nay là Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội), các cán bộ, giáo viên các khoa, bộ môn, các đồng nghiệp và các bạn HSSV của nhà trường, cùng gia đình bạn bè và các anh chị em trong lớp cao học khoá 8 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học, của các đồng nghiệp và các bạn quan tâm đến đề tài

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2010

Tác giả

Trang 3

BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Hệ thống giáo dục Học sinh sinh viên Quản lý

Quản lý nhà trường Thể dục thể thao Tài nguyên và Môi trường Văn hoá thể chất

Văn hoá thể thao

Xã hội chủ nghĩa

Trang 4

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT 5

1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.2 Các khái niệm cơ bản 7

1.2.1 Khái niệm về quản lý 7

1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục 15

1.2.3 Khái niệm về quản lý nhà trường 16

1.2.4 Một số khái niệm cơ bản của Giáo dục thể chất……… 18

1.2.5 Cơ sở lý luận của quản lý giáo dục thể chất……… 20

1.3 Đặc điểm giáo dục thể chất ở các trường đại học và cao đẳng…… 21

1.3.1 Vai trò của GDTC trong trường đại học và cao đẳng……… 21

1.3.2 Vị trí, nhiệm vụ của giáo dục thể chất trong trường Đại học và cao đẳng 24 1.3.3 Nội dung và hình thức giáo dục thể chất trong trường Đại học và cao đẳng 26 1.3.4 Phương pháp trong giáo dục thể chất ……… 27

1.3.5 Phương tiện và điều kiện cơ sở vật chất……… 32

1.4 Quản lý hoạt động dạy học Giáo dục thể chất……… 33

1.4.1 Quản lý mục tiêu……… 33

1.4.2 Quản lý chương trình……… 33

1.4.3 Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên……… 35

1.4.4 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả rèn luyện thể chất của HSSV… 35 1.4.5 Quản lý về phương tiện và cơ sở vật chất phục vụ giáo dục thể chất 36 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục thể chất trong nhà trường cao đẳng và đại học……… 37

Trang 5

Tiểu kết Chương 1……… 38

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI 39 2.1 Khái quát về lịch sử phát triển và cơ cấu tổ chức của trươ ̀ ng Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội……… …… 39

2.1.1 Lịch sử phát triển của nhà trường……… 39

2.1.2 Bộ máy tổ chức……… 40

2.1.3 Trình độ đào tạo 42

2.1.4 Ngành nghề đào tạo 42

2.2 Phân tích kết quả khảo sát và đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 43

2.2.1 Mục đích đối tượng và cách tiến hành khảo sát 43

2.2.2 Thực trạng nhận thức về hoạt động giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nôi 44

2.2.3 Thực trạng nhu cầu và mức độ thực hiện tập luyện thể thao trong học sinh, sinh viên

48 2.2.4 Thực trạng về nội dung chương trình giáo dục thể chất ………… 50

2.2.5 Thực trạng quản lý kế hoạch hoạt động giáo dục thể chất……… 51

2.2.6 Thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục thể chất……… 53

2.2.7 Thực trạng về cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động giáo dục thể chất 54 2.2.8 Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả kết quả học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên……… 55

2.3 Nhận xét, đánh giá chung về quản lý hoạt động GDTC của trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 56

2.3.1 Điểm mạnh……… 56

2.3.2 Điểm yếu……… 57

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế……… 58

Tiểu kết Chương 2……… 58

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI 60

3.1 Những nguyên tắc để xây dựng biện pháp 60 3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài

Trang 6

nguyên và Môi trường Hà Nội 61

3.2.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, học sinh, sinh viên về hoạt động giáo dục thể chất trong nhà trường 61

3.2.2 Chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động học tập nội khóa và hoạt động học tập ngoại khóa 63

3.2.3 Cải tiến các hình thức hoạt động GDTC phù hợp với từng đối tượng HSSV 67 3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động GDTC 68 3.2.5 Tổ chức các hoạt động học tập ngoại khoá về TDTT trong và ngoài nhà trường 70

3.2.6 Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động GDTC của sinh viên 72

3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp 73

3.4 Khảo nghiệm sự cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp 75 3.4.1 Đối tượng nội dung tiến hành khảo nghiệm 75

3.4.2 Kết quả khảo nghiệm ……… 75

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78

1 Kết luận……… 78

2 Khuyến nghị……… 79

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, nhân loại bước vào thế kỷ XXI với

sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức ngày càng mở rộng Vai trò của giáo dục có vị trí hết sức quan trọng bởi vì nó là yếu tố quyết định phát triển tiềm năng con người, là đòn bẩy mạnh mẽ để tiến vào tương lai Có thể nói Giáo dục - Đào tạo đóng vai trò bậc nhất trong công cuộc phát triển đất nước, phát triển con người trong thời đại mới

Nghị quyết Trung Ương II khoá VIII của Đảng về Giáo dục – Đào tạo

và khoa học công nghệ cũng đã khẳng định: “Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức, lối sống mà còn phải là con người cường tráng về thể chất Chăm

lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể trong đó có Giáo dục – Đào tạo, Y tế và thể dục thể thao” [ 15, tr.116]

Với đường lối của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, công tác giáo dục Thể chất là một nội dung giáo dục không thể thiếu được trong các nhà trường bởi vì giáo dục thể chất làm tăng cường sức khỏe cho học sinh, sinh viên và còn là nhân tố tác động trực tiếp đến các mặt giáo dục khác góp phần tích cực giáo dục học sinh, sinh viên trở thành con người phát triển toàn diện

Trong thời gian qua, nhiều cán bộ, giáo viên thể dục thể thao đã tận tụy phấn đấu cho mục tiêu cao quý của giáo dục thể chất trong nhà trường và

đã có những đóng góp tích cực, hiệu quả trong việc tổ chức thực hiện nhiệm

vụ xây dựng phong trào thể dục thể thao trong thanh thiếu niên, đặc biệt trong HSSV Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc dạy học nội khoá cũng như các hoạt động ngoại khoá của giáo dục thể chất trong các nhà trường còn gặp nhiều khó khăn, bất cập như: học sinh, sinh viên không chú trọng việc rèn luyện thể chất, trình độ thể lực còn thấp, giáo viên dạy chưa

Trang 8

nhiệt tình, chương trình còn nặng về lý thuyết, chưa đổi mới phương pháp dạy học Sân bãi, cơ sở vật chất chưa đảm bảo, dụng cụ học tập, rèn luyện còn thiếu thốn

Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, là một cơ sở đào tạo cán bộ cho ngành Tài nguyên và Môi trường Trong thời gian qua nhà trường đã có nhiều đổi mới về nội dung, chương trình đào tạo, mở thêm nhiều ngành đào tạo, chất lượng đào tạo từng bước được nâng cao Cùng với sự phát triển chung của nhà trường,

bộ môn giáo dục thể chất được giao nhiệm vụ tổ chức giảng dạy nội khóa môn học giáo dục thể chất và thực hiện các hoạt động thể dục thể thao trong

và ngoài nhà trường Ngoài những ưu điểm đã đạt được cũng còn những tồn tại đáng quan tâm, đó là:

- Hiệu quả hoạt động môn học giáo dục thể chất chưa cao, tỉ lệ sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thể lực còn thấp

- Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn giáo dục thể chất còn thiếu về số lượng và chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nhà trường

- Các biện pháp quản lý công tác giáo dục thể chất còn kém hiệu quả, chậm đổi mới tư duy và phương thức quản lý

- Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, không đảm bảo về chất lượng cũng như số lượng Căn cứ vào mục tiêu yêu cầu và thực tiễn đào tạo của nhà trường, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục thể chất ởtrường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài “Biện pháp quản lý hoạt độn g giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội ” để làm luận văn tốt nghiệp cao học.

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng dạy và

Trang 9

học môn giáo dục thể chất, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

của nhà trường

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thể chất

- Đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất nhằm đáp ứng yêu cầu trong thời gian tới

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường

Hà Nội

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Biên pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu trong thời gian tới

5 Giả thuyết khoa học

Việc quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội còn nhiều hạn chế, chưa đạt hiệu quả cao Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý giáo dục thể chất hợp lí sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên của nhà trường và là cơ sở để áp dụng cho các trường Cao đẳng thuộc Bộ Tài nguyên

và Môi trường trong thời gian tới

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lí hoạt động giáo dục thể chất học sinh, sinh viên của trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội trong năm học 2009-2010 và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất của nhà trường trong thời gian tới

Trang 10

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp thu thập, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,

hệ thống hoá các văn bản, tài liệu khoa học có nội dung liên quan đến đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, thống kê, so sánh

7.3 Phương pha ́ p xử lý kết quả nghiên cứu

Thống kê toán học để xử lý kết quả nghiên cứu , nhằm rút ra kết luâ ̣n khoa ho ̣c

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ

lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoa ̣t đô ̣ng Giáo dục Thể chất Chương 2: Thực trạng về quản lý hoa ̣t đô ̣ng Giáo dục T hể chất ở

trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục Thể chất ở trường

Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Trang 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT

1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong xã hội nguyên thuỷ cuộc sống tự nhiên đòi hỏi các thành viên những yêu cầu nhất định về; Sự chuẩn bị thể lực, sự khéo léo, sức mạnh, sức bền, khả năng thực hiện nhiệm vụ trong săn bắn, chiến tranh và phòng ngừa thiên tai Do đó đã phát triển hình thành, tồn tại một hệ thống GDTC đa dạng Nhiều bộ tộc thời cổ đại đã biết các bài tập phát triển tố chất thể lực và trò chơi như một phương tiện đặc biệt nhằm chuẩn bị cho con người vào lao động tự nhiên Ở một số bộ tộc có quy định nghiêm ngặt không cho phép thanh niên được cưới vợ nếu chưa trải qua những thách thức nhất định về sự chuẩn bị thể lực, điều đó khẳng định con người cần có khả năng độc lập và làm chủ bản thân trong cuộc sống Tương tự như vậy cũng cần có những yêu cầu nhất định đối với phụ nữ, về việc chuẩn bị thể chất cho tương lai

Dù trình độ khoa học kỹ thuật phát triển, lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ nào, thì vai trò quyết định giá trị phát triển để có tư chất thể lực vẫn tồn tại trong đời sống xã hội và tự nhiên Sự phát triển của chúng luôn là

bộ phận quan trọng đối với giáo dục con người

Trong xã hội nô lệ, điển hình là trong thời cổ Hy Lạp, để tiến hành chiến tranh xâm lược và đàn áp người nô lệ, giai cấp chủ nô nếu không biết đọc, viết và bơi lội được coi là người mù chữ Đào tạo các môn khoa học tự nhiên, xã hội, phải có môn thể dục, đấu kiếm, cưỡi ngựa, bơi lội, chạy Thông qua các hoạt động, con người đựơc giáo dục sức mạnh, sự khéo léo và những tố chất cần thiết Điển hình nhất, phản ánh sự phát triển TDTT của thời kỳ đó là thế vận hội Olympic, đây là hoạt động lịch sử có giá trị văn hoá cao trong đời sống cổ Hy Lạp Những người chiến thắng trong Olympic được xã hội tôn trọng xem như vị anh hùng thế vận hội

Trang 12

Nhiều nhà khoa học vĩ đại thời cổ đại nổi tiếng đã từng là những vận động viên xuất sắc: Nhà toán học Pitago là nhà vô địch Olympic về môn vật chiến đấu, nhà triết học Platon cũng nổi danh về môn vật chiến đấu này Nhà triết học Socrate và Aristote, diễn giả Démosthene, nhà văn Lukian đã đánh giá cao ý nghĩa lớn lao của GDTC khâm phục sự biểu hiện sức mạnh, lòng dũng cảm và hào hiệp Quan điểm của người cổ Hy Lạp về các bài tập TDTT

biểu thị qua lời nói của Aristote: “Không có cái gì làm tiêu hao và phá huỷ con người hơn là sự ngưng trệ vận động”[30]

Trong chế độ nông nô, các bài tập thể dục khác nhau (vật, nhào lộn, cưỡi ngựa, đấu kiếm) đã được sử dụng rộng rãi Ở Ai cập, Babilon, Nam Tư, Trung Quốc, Ấn Độ, ở thành cổ Rôma đã tồn tại hệ thống GDTC

Trong chế độ phong kiến, GDTC mang tính phục vụ chiến tranh GDTC và quân sự là mục tiêu của người kỵ sĩ phải nắm vững 7 yêu cầu: cưỡi ngựa, bắn súng, đấu kiếm, bắn cung, bơi lội, săn bắn, chơi cờ và đọc thơ Mục đích cuối cùng là có đội quân hùng hậu

Trong xã hội tư bản, TDTT phát triển ở trình độ cao Sự xuất hiện và phát triển sâu rộng TDTT xem như một bộ phận của nền văn hoá xã hội Đồng thời trong giai đoạn này đã xuất hiện nền lý luận GDTC tư sản

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử hoạt động TDTT luôn gắn liền với cuộc sống lao động của con người Nhận thức về lợi ích của TDTT đối với con người và xã hội, ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, Hồ Chủ Tịch đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục, trong đó có đoạn: “Giữ gìn dân chủ, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”[30] Đồng thời Người đã ký sắc lệnh thành lập Nha thể dục nhằm xây dựng và phát triển phong trào "Khoẻ vì nước" Tư tưởng đó của Người đã trở thành động lực thúc đẩy phong trào quần chúng tập luyện thể dục rèn luyện

Trang 13

thân thể và đã góp phần không nhỏ trong công cuộc kháng chiến thắng lợi của dân tộc

Ngày nay GDTC đã trở thành một môn học bắt buộc trong hệ thống trường học các cấp nói chung và trong các trường Đại học và Cao đẳng nói riêng Nó có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ tri thức mới vừa có tri thức vừa có sức khỏe, đáp ứng được những yêu cầu xã hội ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và bảo vệ Tổ quốc

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm về quản lý

Quản lý là một chức năng lao động - xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động Quản lý là hoạt động chỉ đạo để nhằm thực hiện mục đích của chủ thể quản lý

Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên, làm xuất hiện nhu cầu có hoạt động để điều hành tạo

ra sự phối hợp của các hoạt động riêng lẻ đó Trong mỗi một nhóm, một tổ chức của nền sản xuất xã hội mà đặc biệt là trong nền sản xuất xã hội tiến bộ thì bao giờ cũng có hai đối tượng: Nhà quản lý và đối tượng được quản lý

Sự cần thiết của quản lý trong một tập thể lao động được K.Marx viết : "Tất

cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [35, tr.34]

Như vậy K.Marx đã lột tả được bản chất quản lý là một loại hình hoạt động lao động để điều khiển hoạt động lao động khác, một hoạt động tất yếu

vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Xã hội

Trang 14

loài người càng phát triển bao nhiêu thì sự chuyên môn hóa trong lao động càng cao bấy nhiêu và càng đòi hỏi sự phát triển của hoạt động quản lý Ở xã hội hiện nay, quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt được mục tiêu chung

Quản lý là một khái niệm rộng, trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì quan niệm về quản lý cũng khác nhau dựa vào mục đích đạt được trên các lĩnh vực

đó Cho nên khi đưa ra các định nghĩa về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình Chính từ sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về các quan niệm quản lý Sau đây là một số khái niệm của các tác giả trong nước và nước ngoài về quản lý

* Khái niệm quản lý của các tác giả nước ngoài

+ Theo K.Omarov (Liên Xô) - 1983: Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu

+ Theo H.Koontz (Người Mỹ): Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất [28]

+ Theo W.Taylor: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất

+ Theo Kozlova O.V và Kuzenetsov I.N: Quản lý là sự tác động có mục đích đến những tập thể con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của

họ trong quá trình sản xuất

* Khái niệm quản lý của các tác giả trong nước

Trang 15

+ Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến [33].

+ Theo Hà Sĩ Hồ : Quản lý là một quá trình tác động có định hướng có chủ đích), có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định

+ Theo Nguyễn Minh Đạo: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức,

có định hướng của chủ thể quản lý về các mặt văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng

+ Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; Quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định

+ Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Nguyễn Quốc Trí: Quản lý là tác động

có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [28]

Từ những điểm chung của các định nghĩa trên ta có thể hiểu: Quản lý bao gồm các yếu tố như: Phải có chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động “Ai quản lý?” đó là chủ thể quản lý (chủ thể chỉ có thể là một cá nhân, hoặc một tổ chức do con người cụ thể lập nên) Còn “Quản lý ai?”, “Quản lý cái gì?”, quản lý sự việc đó là khách thể quản lý (hay còn gọi là đối tượng quản lý) Bên cạnh đó phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đã định ra cho

cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động

Trang 16

Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ, tác động qua lại,

hỗ trợ nhau Chủ thể quản lý thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người thoả mãn mục đích của quản lý

Quản lý ngày nay được coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế

- xã hội: Vốn, nguồn lực lao động, khoa học - kỹ thuật, tài nguyên và sự quản lý, trong đó quản lý có vai trò mang tính quyết định sự thành công

Như vậy, rõ ràng “quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật” và hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi, chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất [28]

Từ các cách định nghĩa trên ta thấy: Quản lý dù nhìn ở góc độ nào thì

nó cũng là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung Quá trình tác động này được vận hành trong một môi trường xác định Sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu của quản lý đặt ra thông qua các công cụ và phương pháp của nhà quản lý trong môi trường của nó được thể hiện theo sơ đồ sau đây

Sơ đồ 1: Cấu trúc hệ thống quản lý

Trang 17

Như vậy, khái niệm quản lý thường được hiểu như sau:

Quản lý là sự tác động có chủ đích, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để nhằm đạt đến những mục tiêu nhất định

Các chức năng quản lý (The fuction of Management)

Bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, chúng ta cần tìm hiểu người quản lý phải làm gì - cũng chính là phải tìm hiểu các chức năng quản

lý Qua nghiên cứu lý luận và thực tế công tác quản lý, có thể tóm lược rằng: Quản lý bao gồm bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hóa, tổ chức, điều khiển (lãnh đạo, chỉ huy) và kiểm tra đánh giá

* Chức năng kế hoạch hóa (planning): Kế hoạch hóa có nghĩa là xác

định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa: (a) xác định hình thành mục tiêu, phương hướng đối với tổ chức; (b) xác định đảm bảo có tính chắc chắn, có tính cam kết về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này; (c) quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó

Chức năng kế hoạch hóa là chức năng đầu tiên, nó có vai trò định hướng toàn bộ các hoạt động; là cơ sở để huy động tối đa các nguồn lực cho thực hiện mục tiêu và là căn cứ cho việc kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị và từng cá nhân của tổ chức

* Chức năng tổ chức ( organizing ): Khi người quản lý đã lập xong kế

hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng ấy thành hiện thực Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan

hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho

có hiệu quả và có kết quả

Trang 18

Nội dung chức năng tổ chức: Hình thành, xây dựng các bộ phận, các đơn vị phòng ban cùng các công việc, lực lượng cán bộ, nhân sự của các đơn

vị đó

* Chức năng lãnh đạo, chỉ đạo ( leading ): Sau khi kế hoạch đã được

lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai

đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Lãnh đạo bao hàm việc liên hệ, liên kết với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức

Chức năng lãnh đạo cùng với chức năng tổ chức hiện thực hóa các mục tiêu Thực chất của chức năng lãnh đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới những người khác nhằm biến những yêu cầu chung thành nhu cầu của mọi người, làm cho họ tích cực, chủ động, tự giác trong công việc, tạo ra hiệu quả trong công việc

Nội dung chủ yếu của chức năng lãnh đạo: Chỉ huy và hướng dẫn triển khai nhiệm vụ phải bảo đảm thiết thực, phù hợp và cụ thể với những khả năng và trình độ của từng thành viên trong toàn bộ hệ thống trên cơ sở sử dụng đúng đắn các quyền của người quản lý; Thường xuyên đôn đốc, động viên và khuyến khích lao động, điều này có tác động như quá trình tạo động

cơ làm việc của mọi thành viên Khi đó mọi người sẽ thể hiện được hết khả năng và công sức của mình cho thực hiện các mục tiêu của tổ chức; Giám sát, điều chỉnh và sửa chữa là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm theo dõi việc thực hiện các mục tiêu, các nhiệm vụ của cấp dưới, giúp đỡ mọi thành viên thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao Trong quá trình chỉ đạo, người quản lý cần tạo điều kiện thuận lợi về CSVC, thiết bị cũng như các điều kiện khác nhằm giúp cho các thành viên của tổ chức phát triển

* Chức năng kiểm tra (controlling): Kiểm tra là một chức năng quản

lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra,

Trang 19

nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hoạt động điều chỉnh uốn nắn

Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau:

- Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động

- Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra

- Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch

- Người QL hiệu chỉnh, sửa lại những chuẩn mực nếu cần

Các chức năng cơ bản của quá trình quản lý có quan hệ mật thiết với nhau và với các yếu tố khác có liên quan tới cả bốn chức năng đó là thông tin quản lý và ra quyết định

- Hệ thống thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi hoạt động quản lý giáo dục, nó được coi như là “ mạch máu” của hoạt động quản

lý giáo dục, là sức mạnh của công tác quản lý; Nếu thiếu hoặc sai lệch thông tin thì công tác quản lý gặp rất nhiều khó khăn, tạo nên những quyết định sai lầm, công tác quản lý kém hiệu quả và thất bại

Vì vậy, người ta có thể biểu diễn sơ đồ mối quan hệ giữa các chức năng quản lý với vai trò đặc biệt của hệ thống thông tin quản lý như sau:

Sơ đồ 2: Các chức năng cơ bản của quản lý và hệ thống thông tin

Thông tin quản lý Tổ chức thực

hiện

Chỉ đạo Lập kế hoạch

Kiểm tra, đánh giá

Trang 20

Các biện pháp quản lý (management measures)

* Biện pháp thuyết phục ( convincing measure ): Là cách tác động của

chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu này Đây là biện pháp cơ bản để giáo dục con người Biện pháp thuyết phục gắn với tất cả các biện pháp quản lý khác

và phải được người quản lý sử dụng trước tiên vì nhận thức là bước đầu tiên trong hoạt động của con người

* Biện pháp hành chính - tổ chức (Personnel - administrtive measure):

Là cách tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trên cở sở quan

hệ quyền lực tổ chức, quyền hạn hành chính Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật tổ chức, bởi lẽ bất cứ một hệ thống nào cũng có quan hệ tổ chức Trong đó người ta sử dụng quyền uy và sự phục tùng trong bộ máy này Khi sử dụng biện pháp hành chính - tổ chức, chủ thể quản lý phải nắm chắc các văn bản pháp lý, biết rõ giới hạn, quyền hạn trách nhiệm Các quy định phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, phải kiểm tra và nắm được các thông tin phản hồi

* Biện pháp kinh tế (Economic measure): Là các tác động của chủ thể

quản lý vào đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật kinh tế, thông qua quy luật này để tác động tới tâm lý của đối tượng Nội dung của biện pháp này là nhà quản lý đưa ra các nhiệm

vụ, kế hoạch …tương ứng với các mức lợi ích kinh tế Đối tượng bị quản lý

có thể lựa chọn phương án thích hợp để vừa đạt được mục tiêu của tập thể vừa đạt được lợi ích kinh tế của cá nhân Khi sử dụng biện pháp này cần tránh dẫn đến chủ nghĩa thực dụng hay sự mất đoàn kết nếu thiếu công bằng

* Biện pháp tâm lý - giáo dục (Psychologycal - educationl measure):

Là cách tác động vào đối tượng quản lý thông qua tâm lý, tình cảm, tư tưởng con người Cơ sở của biện pháp này dựa vào quy luật tâm lý con người và

Trang 21

chức năng tâm lý của con người Nội dung của biện pháp này là kích thích tinh thần tự giác, sự say mê của con người Muốn quản lý thành công người quản lý cần phải hiểu rõ tâm lý bản thân mình và của đối tượng quản lý

Sự đa dạng phức tạp và luôn biến đổi của các tình huống trong cuộc sống đòi hỏi các nhà quản lý cần phải biết vận dụng các biện pháp quản lý một cách linh hoạt, khéo léo để đạt được mục đích

1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục

Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác, vượt qua cái ngưỡng “tập tính” của các loại động vật bậc thấp khác Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng được quản lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới hình thành Bản thân công việc có tổ chức và có mục đích là một thực tiễn QLGD đầy sống động

Quản lý giáo dục là một chuyên nghành khoa học và QLGD là một bộ môn chiết trung - liên ngành và phát triển của QLGD như một bộ môn độc lập đã diễn ra cùng với sự đánh giá cẩn trọng những giá trị của các tư liệu được chọn lọc từ những nghiên cứu quản lý bên ngoài lĩnh vực giáo dục

Trong cuốn Giáo dục học tác giả Phạm Viết Vượng đã viết: “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội [35, tr.206]

Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất [33]

Trang 22

Tác giả Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: QLGD là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các nhà QLGD tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó.

Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh

mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội

Ngày nay, với quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, giáo dục không còn giới hạn ở thế hệ trẻ mà là “giáo dục cho mọi người” cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống GDQD nhằm thực hiện mục tiêu: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ nhân lực có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội

1.2.3 Khái niệm về quản lý nhà trường

Nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu trong hệ thống giáo dục (Education System) Đa phần các hoạt động giáo dục đều được thực hiện thông qua hệ thống nhà trường Nhà trường là tế bào chủ chốt của HTGD từ trung ương đến cơ sở Theo đó quan niệm QLGD luôn đi kèm với quan niệm QLNT

Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo, nhà trường thực hiện giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ Thành tích tập trung nhất của nhà trường là chất lượng và hiệu quả giáo dục, được thể hiện

ở sự tiến bộ của HSSV ở việc đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường

Quản lý nhà trường là hoạt động của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng và các cơ quan quản lý cấp trên) nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của

Trang 23

giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD&ĐT trong nhà trường

Theo GS.VS Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục[20]

Quản lý nhà trường thực chất là QLGD trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường Mục đích của QLNT là: Đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục

Nội dung công tác QLGD trong nhà trường bao gồm:

+ Tổ chức, quản lý đội ngũ các thầy cô giáo, cán bộ, nhân viên và tập thể học sinh thực hiện các nhiệm vụ

+ Chỉ đạo, quản lý các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục của Bộ GD&ĐT, của trường Thực hiện nghiêm túc chương trình cải tiến phương pháp giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học

+ Quản lý việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD&ĐT Quản lý HSSV bao hàm cả quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần thái độ và phương pháp học tập

+ Quản lý toàn bộ CSVC và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HSSV

+ Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước, đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học

+ Chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể giáo viên, nhân viên nhà trường

Trang 24

1.2.4 Một số khái niệm cơ bản của Giáo dục thể chất

1.2.4.1 Khái niệm giáo dục thể chất

Giáo dục thể chất là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế

hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, và nâng cao khả năng làm việc

và kéo dài tuổi thọ của con người

Trong quá trình giáo dục thể chất, hình thái và chức năng các cơ quan trong cơ thể từng bước được hoàn thiện, hình thành và phát triển các tố chất thể lực, kỹ năng kỹ xảo vận động và hệ thống tri thức chuyên môn Giáo dục thể chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành năng lực vận động của con người

Giáo dục thể chất là một phạm trù biện chứng của triết học Đông – Tây Nó tồn tại từ khi xuất hiện xã hội loài người và tồn tại tự nhiên như một nhu cầu hết sức cấp bách trong những điều kiện của nền kinh tế xã hội và đời sống con người

Giáo dục thể chất là một bộ phận hợp thành quan trọng của nội dung giáo dục toàn diện nhằm giúp thế hệ trẻ có những kiến thức cơ bản về thể chất con người, giúp hình thành các kỹ năng vận động và thói quen rèn luyện

và củng cố sức khoẻ để làm cho cơ thể phát triển cân đối, khoẻ mạnh GDTC

là một loại hình giáo dục chuyên biệt với đặc trưng cơ bản chủ yếu là dạy học động tác và phát triển các tố chất thể lực của con người, tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển hợp lý động tác, qua đó hình thành những

kĩ năng, kĩ xảo vận động cơ bản và những hiểu biết có liên quan Giáo dục các tố chất thể lực là một quá trình tác động có chủ đích nhằm nâng cao năng lực vận động của con người

Giáo dục thể chất là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng sư phạm của TDTT trong xã hội, một quá trình tổ chức truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục chung

Trang 25

Hệ thống GDTC là sự tổng hợp các cơ sở khoa học về quan điểm và phương pháp luận của GDTC cùng với các cơ quan tổ chức thực hiện kiểm tra công tác GDTC quốc dân Hệ thống GDTC nhằm mục đích phát triển hài hoà thể chất và tinh thần con người, đáp ứng hoạt động trong lĩnh vực phát triển kinh tế và xã hội Trong mỗi hình thái xã hội luôn tồn tại một hệ thống giáo dục chung trong đó có GDTC

Những yếu tố đặc trưng hình thành hệ thống GDTC:

- Quan điểm, mục tiêu hệ thống tri thức

- Cấu trúc, nội dung và hình thức

- Tổ chức về phương pháp luận và phương pháp GDTC

- Tổ chức và quản lí

1.2.4.2 Văn hoá thể chất

Là một bộ phận của nền văn hoá chung, là một loại hình hoạt động đặc biệt nhằm hình thành các tố chất thể lực, năng khiếu, tăng cường sức khoẻ và khả năng làm việc

Văn hoá thể chất là tổng hợp giá trị vật chất và tinh thần của xã hội loài người Sự phát triển rộng khắp và phổ biến hiện nay của các môn thể thao khác nhau: Nghệ thuật, dụng cụ, các trò chơi vận động xuất hiện đa dạng và phong phú, các bài tập thể chất đã làm giàu ý nghĩa các giá trị văn hoá chung của nhân loại thông qua các hình thức cấu trúc mới của nền văn hoá thể chất

Văn hoá thể chất là một bộ phận hữu cơ của nền văn hoá xã hội có nội dung cấu trúc đặc biệt qua việc sử dụng hợp lí sự vận động, như một phương tiện hiệu quả chuẩn bị thể lực nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế cuộc sống Điều hoà và phát triển tình trạng sức khoẻ của con người bao gồm: Các hình thức vận động có mục đích, sự tổng hợp các thành tựu khoa học xã hội, tự nhiên trong việc hình thành hệ thống những phương tiện, phương pháp và điều kiện nhằm phát triển khả năng, hoạt động của các hệ thống trong xã hội nhận

Trang 26

đạo chân chính Văn hoá thể chất là một trong những phương tiện hiệu quả phát triển toàn diện và hài hoà nhân cách, là yếu tố xã hội nhằm tiến tới hoàn thiện thể chất con người

1.2.4.3 Phong trào thể thao

Là một hình thức đặc biệt của các loại hoạt động xã hội, có nhiệm vụ phối hợp nâng cao trình độ văn hoá thể chất và phát triển thể thao trong nhân dân Phong trào thể thao là hoạt động có tính mục đích của các tổ chức nhà nước, xã hội, nhằm phát triển thể dục thể thao Có vị trí và chức năng quan trọng trong giáo dục, hài hoà về nhân cách và thể chất con người

1.2.4.4 Phát triển thể chất

Là quá trình hình thành, biến đổi tuần tự theo quy luật về các mặt hình thái chức năng và cả những tố chất thể lực và năng lực vận động Chúng được hình thành từ những cá nhân tạo thành (điều kiện bên trong và điều kiện bên ngoài) và sự biến đổi của nó theo một quy luật về tính di truyền và khả biến, sự phát triển theo lứa tuổi, giới tính, sự thống nhất hữu cơ giữa cơ thể và môi trường Để thực có sự phát triển thể chất phải có thêm nhiều tác động của nhiều yếu tố khác, trong đó có GDTC Như vậy sự phát triển thể chất là hệ quả của GDTC

Các chỉ số đánh giá trình độ phát triển thể chất: Chiều cao, cân nặng, lồng ngực, dung tích phổi… và đồng thời là mức độ phát triển các tố chất thể lực, năng lực và khả năng chức phận của cơ thể con người

1.2.5 Cơ sở lý luận của quản lý giáo dục thể chất

Quản lý GDTC phải đảm bảo tiến hành một cách khoa học kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động TDTT chính khoá và ngoại khoá, trong đó chức năng

quản lý GDTC trong giờ học thể hiện: “Giờ học TDTT là một phương tiện

có hiệu quả để phát triển hài hoà và cân đối những khả năng về thể lực con người, có ảnh hưởng tích cực đến phẩm chất chính trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ của nhân cách con người Khoa học quản lý TDTT đã chỉ rằng,

Trang 27

công tác GDTC trong nhà trường có mục đích và nhiệm vụ chính là: Góp phần vào việc hoàn thiện khả năng nhằm đạt thành tích về thể chất - thể thao cho các em”[4].

Mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể thao trong trường học là:

- Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể thao của sinh viên

- Phát triển được các tố chất thể lực và trạng thái chức năng của cơ thể

- Phát triển các tố chất phối hợp động tác

- Tạo cho các em HSSV có ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, xây dựng hứng thú bền vững lâu dài cho sinh viên

- Giáo dục đạo đức thể dục thể thao xã hội chủ nghĩa

Do đó, nhiệm vụ của công tác quản lý GDTC trong nhà trường phải đưa một chương trình giảng dạy TDTT thống nhất có tính kế thừa Đồng thời xác định mục tiêu công tác TDTT trong thế hệ trẻ không nên xác định mục tiêu kiến thức mà còn phải đảm bảo tính thống nhất giữa các mặt: Kiến thức, thể lực, kỹ thuật động tác thể thao Cần phải đưa chương trình GDTC thành pháp lệnh Cần có kế hoạch chế độ thích hợp để động viên việc tổ chức hướng dẫn hoạt động ngoại khoá cho sinh viên Trong công tác GDTC phải đảm bảo tốt việc tổ chức tập luyện, huấn luyện, giảng dạy, thi đấu thể thao trong sinh viên tổ chức các câu lạc bộ TDTT, các lớp huấn luyện, thành lập các đội tuyển thể thao trong sinh viên, có như vậy thì công tác giảng dạy và quản lý GDTC trong nhà trường mới có thể thực hiện tốt được

1.3 Đặc điểm giáo dục thể chất ở các trường đại học và cao đẳng

1.3.1 Vai trò của GDTC trong trường đại học và cao đẳng

Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng

và Nhà nước ta, và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục thể chất

được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn

Trang 28

thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người”[6 ]

Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm Giáo dục thể chất chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưng của GDTC được gắn liền với giáo dục, trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động

Giáo dục thể chất là một lĩnh vực TDTT xã hội với nhiệm vụ là: Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát triển các năng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thành theo hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng cho cuộc sống Đồng thời chương trình GDTC trong các trường Đại học, cao đẳng nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục đó là: “Trang bị kiến thức, kỹ năng và rèn luyện thể lực cho học sinh sinh viên”

Nội dung chương trình GDTC trong các trường Đại học, cao đẳng

*Giờ học thể dục thể thao chính khoá:

Là hình thức cơ bản nhất của giáo dục thể chất được tiến hành trong kế hoạch học tập của nhà trường Vì việc đào tạo cơ bản về thể chất, thể thao cho học sinh sinh viên là nhiệm vụ cần thiết, nên trước hết phải có nội dung thích hợp để phát triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho học sinh sinh viên Đồng thời, giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu được các kỹ thuật động tác TDTT

Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trong trường học là: “Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể chất và thể thao của học sinh sinh viên, phát triển các tố chất thể lực, phát

Trang 29

triển năng lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, giáo dục được đức tính cơ bản và lòng nhân đạo cho HSSV”[4]

Bản thân giờ học TDTT có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc quản lý và giáo dục con người trong xã hội Việc học tập các bài tập thể dục, các kỹ thuật động tác là điều kiện cần thiết để con người phát triển cơ thể một cách hài hòa, bảo vệ và củng cố sức khoẻ, hình thành năng lực chung và chuyên môn

* Giờ học ngoại khoá - tự tập:

Là nhu cầu và ham thích trong khi nhàn rỗi của 1 bộ phận HSSV với mục đích và nhiệm vụ là góp phần phát triển năng lực, thể chất một cách toàn diện, đồng thời góp phần nâng cao thành tích thể thao của HSSV Giờ học ngoại khóa nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khóa và được tiến hành vào giờ tự học của HSSV, hay dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT Ngoài ra còn các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học bao gồm: Luyện tập trong các câu lạc bộ, các giải thi đấu trong và ngoài trường được tổ chức hàng năm, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như giờ tự luyện tập của HSSV, phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể Hoạt động ngoại khóa với chức năng là động viên lôi kéo nhiều người tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, góp phần nâng cao sức khỏe phục vụ học tập và sinh hoạt

Tác dụng của GDTC và các hình thức sử dụng TDTT có chủ đích áp dụng trong các trường học là toàn diện, là phương tiện để hợp lý hóa chế độ hoạt động, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động, học tập của học sinh sinh viên trong suốt thời kỳ học tập trong nhà trường, cũng như đảm bảo chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị thể lực chuyên môn phù hợp với những điều kiện của nghề nghiệp trong tương lai

Trang 30

1.3.2 Vị trí, nhiệm vụ của giáo dục thể chất trong trường Đại học và cao đẳng

Phát triển TDTT và nâng cao thể lực cho học sinh sinh viên chính là mục tiêu quan trọng, nhằm hình thành những con người đầy đủ về trí tuệ và thể lực, đáp ứng yêu cầu cao đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từ nhiều năm qua, Bộ GD&ĐT đã chăm

lo GDTC trong nhà trường và đạt những thành quả nhất định Ngành TDTT cũng đã quan tâm và có sự cam kết giữa các bộ ngành về công tác GDTC, cụ thể là cam kết giữa bộ trưởng Bộ GD&ĐT và chủ nhiệm Uỷ ban TDTT (nay

là Bộ VHTT&Du lịch) chính thức ngày 20/06/2000 Hai Bộ đã phối hợp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động nhằm đẩy mạnh, nâng cao chất lượng GDTC trong trường học

Công tác giáo dục thể chất trong các trường đại học và cao đẳng có vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công cuộc đào tạo đội ngũ tri thức mới, những cán bộ khoa học, có đầy đủ sức khoẻ, tri thức, có phẩm chất đạo đức và có thể hoạt động một cách độc lập sáng tạo trong chuyên ngành của mình Thông qua các hoạt động TDTT giúp cho sinh viên phát triển một cách hài hoà, cân đối, tăng cường sức khoẻ, nâng cao năng lực làm việc, nhanh chóng thích nghi với điều kiện học tập sinh hoạt mới

Bằng những hoạt động phong phú, GDTC góp phần quan trọng trong việc rèn luyện, hình thành và phát triển cho sinh viên những phẩm chất ý chí, lòng dũng cảm, tính quyết đoán kiên trì, ý thức tổ chức kỷ luật Cũng như giáo dục cho sinh viên lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết tập thể, tính trung thực thẳng thắn cao thượng Tạo nên nếp sống lành mạnh vui tươi, đẩy lùi, xoá bỏ những hành vi xấu và các tệ nạn xã hội Như vậy mục tiêu của GDTC trong các trường đại học, cao đẳng là đào tạo các cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội có trình độ cao, hoàn thiện về thể chất, phát triển hài hoà về mọi mặt, có tư tưởng tác phong đạo đức xã hội

Trang 31

chủ nghĩa, đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Một số nhiệm vụ cơ bản của công tác GDTC trong các trường đại học

và cao đẳng:

- Giáo dục đạo đức XHCN, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức

kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh Giáo dục tinh thần

tự giác học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ Tổ quốc

- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung

và phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một

số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và

tổ chức các hoạt động TDTT ở cơ sở

- Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơ thể một cách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói xấu, tệ nạn trong cuộc sống Nhằm tận dụng thời gian và công việc có ích đạt kết quả cao trong quá trình học tập, đạt được những chỉ tiêu thể lực quy định cho từng đối tượng trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi

- Giáo dục óc thẩm mỹ, tạo điều kiện nâng cao trình độ thể thao, các tố chất thể lực cho sinh viên [6]

Trong những năm gần đây GDTC và các hoạt động thể dục thể thao trong trường học có những tiến bộ Việc dạy học nội khóa và tổ chức hoạt động ngoại khóa của các trường từ phổ thông cho đến đại học đều đi vào nề nếp Phần đa các trường áp dụng việc mặc đồng phục thể dục trong các giờ học nội khoá, các hình thức thể thao ngày càng phong phú, quy mô tổ chức ngày một lớn, các câu lạc bộ thể thao và các đội tuyển trong các trường được

sự quan tâm đúng mực và đi vào hoạt động có tổ chức

Trang 32

1.3.3 Nội dung và hình thức giáo dục thể chất trong trường Đại học và cao đẳng

1.3.3.1 Tổng quan về nội dung GDTC

Nôi dung GDTC tiến hành trên cơ sở khoa học giáo dục và hệ thống GDTC quốc dân

Phần thực hành: Giải quyết về kỹ năng vận động

Phần lý thuyết: Được truyền thụ theo bài giảng tách rời và xen kẽ trong các bài tập thực hành

Trong giai đoạn I chú trọng đến các bài tập phát triển toàn diện khắc phục sự mất cân đối về hình thể và thể lực So sánh ở giai đoạn II lấy tiêu chuẩn rèn luyện thân thể làm chuẩn và phát triển tố chất chuyên môn

1.3.3.2 Hình thức Giáo dục thể chất

Hình thức bắt buộc, người học phải tham gia đầy đủ giờ học GDTC nội khóa Hình thức cơ bản là được tiến hành theo kế hoạch dạy và học với tổng thời gian 150 tiết trong 3 năm gồm 5 học phần đối với hệ đại học, thời gian 90 tiết trong 1,5 năm gồm 3 học phần đối với hệ cao đẳng dưới sự hướng dẫn của giáo viên GDTC Sử dụng các bài tập GDTC, gồm các bài tập thể dục vệ sinh buổi sáng, bài thể dục chống mệt mỏi hàng ngày

Tham gia các hình thức hoạt động TDTT quần chúng; Các câu lạc bộ, các đội thể thao đại biểu và tham gia các cuộc thi đấu thể thao trong và ngoài trường Giờ tập luyện của người tập là giờ rảnh rỗi không ảnh hưởng đến các sinh hoạt khác Người tập tự động bố trí thời gian

* Trách nhiệm của học sinh sinh viên:

- Tham gia đầy đủ các buổi học TDTT trong thời khóa biểu theo kế hoạch dạy học của nhà trường

- Kiểm tra sức khỏe và thể lực định kỳ

- Tích cực học tập tìm hiểu tài liệu TDTT nhằm tiếp thu kiến thức tiên tiến

- Có chế độ học tập nghỉ ngơi hợp lý

Trang 33

- Thường xuyên tập các bài tập thể dục thông dụng

- Củng cố và nâng cao sức khoẻ, lấy tiêu chẩn rèn luyện thân thể làm chuẩn

- Tích cực tham gia các phong trào thể thao quần chúng

* Thi và kiểm tra - cấp chứng chỉ GDTC

Người tập phải thi và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo kế hoạch định kỳ Việc đánh giá kết quả GDTC là phải xem xét đến đối tượng người học Ở đây không đơn thuần chỉ nhìn vào khả năng vận động và thành tích thể thao họ đạt được mà cần có cách nhìn toàn diện: Thể chất, năng khiếu, tinh thần học tập

1.3.4 Phương pháp trong giáo dục thể chất

1.3.4.1 Cơ sở cấu trúc các phương pháp

Một trong những cơ sở quan trọng nhất của tất cả các phương pháp GDTC

là phương pháp điều chỉnh lượng vận động và trật tự kết hợp lượng vận động với nghỉ ngơi

Lượng vận động trong các bài tập thể lực là tác động của chúng tới cơ thể người tập Lượng vận động dẫn tới diễn biến các chức năng trong cơ thể như trạng thái trước vận động, bắt đầu vận động, ổn định, mệt mỏi Sự tiêu hao năng lượng trong vận động cũng như mệt mỏi nói chung chính là nguyên nhân tạo lên sự hoàn thiện cơ thể bằng vận động Mệt mỏi sau vận động không mất đi hoàn toàn mà để lại những “Dấu vết” Quá trình tích luỹ “Dấu vết”, những biến đổi thích nghi đó sẽ làm phát triển trình độ luyện tập Như vậy, lượng vận động dẫn tới mệt mỏi và tiếp đó là hồi phục thích nghi

Hiệu quả của lượng vận động tỉ lệ thuận với khối lượng và cường độ của nó Nếu coi bài tập là một nhân tố tác động thì khái niệm khối lượng vận động là độ dài thời gian tác động, là tổng số lần vận động thể lực đã được thực hiện và nhiều thông số khác Cường độ vận động là sự tác động của bài tập vào cơ thể, vào mỗi thời điểm cụ thể, mức căng thẳng chức năng, trị số một

Trang 34

lần gắng sức Lượng vận động chung của một số bài tập hay của cả buổi tập nói chung được xác định thông qua cường độ và khối lượng trong mỗi bài tập

Lập kế hoạch và điều chỉnh lượng vận động là nội dung cơ bản trong xây dựng phương pháp GDTC Song, nếu chỉ dừng ở đó thì chưa đủ, mà hiệu quả tập luyện còn phụ thuộc vào trật tự kết hợp một cách khoa học giữa lượng vận động và quãng nghỉ Lượng vận động trong buổi tập có thể liên tục hoặc ngắt quãng là thành tố của phương pháp GDTC, quãng nghỉ có thể là thụ động hoặc tích cực có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình hồi phục sau vận động

Thời gian quãng nghỉ trong các phương pháp khác nhau được xác định tuỳ theo mục đích buổi tập và các quy luật của quá trình hồi phục Quãng nghỉ cũng là thành tố quan trọng của phương pháp GDTC

Tóm lại: Đặc điểm cụ thể của phương pháp GDTC được xác định chủ yếu bởi phương thức điều chỉnh lượng vận động và quãng nghỉ

1.3.4.2 Các phương pháp dạy học giáo dục thể chất

* Phương pháp sử dụng lời nói

Trên thực tế, toàn bộ hoạt động của nhà sư phạm trong quá trình GDTC đều có liên quan tới việc sử dụng lời nói Bằng lời nói nhà sư phạm truyền thụ kiến thức cho người học, kích thích tư duy, đặt nhiệm vụ và điều khiển việc thực hiện chúng, phân tích và đánh giá kết quả, điều chỉnh hành vi người học Những phương pháp dùng trong GDTC bao gồm: Chỉ dẫn, giải thích, chỉ thị và mệnh lệnh, đánh giá băng lời nói, báo cáo

* Các phương pháp đảm bảo trực quan

Trong GDTC, “Trực quan” được hiểu theo nghĩa rộng, dựa vào tất cả các cơ quan cảm thụ để liên hệ với hiện thực khách quan (Sử dụng cảm giác, tri giác khác nhau) Để đảm bảo tính trực quan theo nghĩa rộng đó người ta

sử dụng một số tổ hợp hoàn chỉnh các phương pháp dựa trên sự cảm thụ trực tiếp các bài tập hoặc các mặt riêng lẻ, các đặc tính, các điều kiện thực hiện Các phương pháp trực quan có thể phân chia thành các nhóm sau đây:

Trang 35

- Các phương pháp trình diễn tự nhiên và trình diễn gián tiếp

Đặc điểm của nhóm phương pháp này là hoạt động của người tập được

tổ chức và điều chỉnh một cách chi tiết sự định mức được thể hiện ở những đặc điểm sau:

- Định trước chương trình các động tác (quy định trước thành phần các động tác, trật tự và lặp lại )

- Định lượng chính xác và điều khiển diễn biến lượng vận động Xác định chính xác quãng nghỉ và trật tự luân phiên lượng vận động

- Tạo ra hoặc sử dụng điều kiện bên ngoài hỗ trợ cho việc điều khiển hành động của người tập (tổ chức và phân công vị trí tập luyện cho các nhóm người tập, sử dụng các dụng cụ thiết bị tập luyện )

- Ý nghĩa của định mức là ở chỗ đảm bảo điều kiện tối ưu cho tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động mới hoặc tác động chính xác tới sự phát triển năng lực

và tố chất

Phương pháp bài tập định mức chặt chẽ có rất nhiều phương án cụ thể, việc lựa chọn sử dụng các phương pháp cụ thể phụ thuộc vào nội dung buổi tập và từng thời kỳ trong quá trình GDTC

* Phương pháp chọn lọc và tổng hợp

Phương pháp này định mức được sử dụng trong tất cả các giai đoạn giảng dạy động tác và giáo dục tố chất vận động Mỗi xu hướng phương

Trang 36

pháp đều có thể đóng vai trò chủ đạo tuỳ thuộc vào đặc điểm động tác phải học, giai đoạn giảng dạy và nhiều hoàn cảnh cụ thể khác

Có thể phân chia các phương pháp giảng dạy động tác thành hai loại:

- Phương pháp phân chia: Được sử dụng trong trường hợp nếu động tác hoặc tổ hợp các động tác có thể tách nhỏ thành các phần tương đối độc lập mà không sai lệch đáng kể tới cơ cấu chung Trật tự phân chia động tác phụ thuộc vào đặc điểm cấu trúc của nó

- Phương pháp tập luyện nguyên vẹn: Trong trường hợp phân chia nhỏ động tác làm ảnh hưởng lớn tới cấu trúc của nó, người ta phải áp dụng phương pháp luyện tập nguyên ven Ban đầu, cấu trúc động tác đơn giản hóa bằng cách loại bỏ một số thành phần tương đối độc lập Sau đó người ta ghép dần chúng với cơ chế cơ bản và hoàn thiện chúng trên cơ sở thực hiện toàn vẹn động tác

* Phương pháp định mức lượng vận động và quãng nghỉ

Căn cứ vào mục đích yêu cầu của bài tập có thể chia thành hai nhóm phương pháp:

- Phương pháp lặp lại ổn định theo chế độ lượng vận động liên tục và ngắt quãng: Trong quá trình tập luyện ổn định, động tác đựơc lặp lại trong điều kiện không có sự thay đổi đáng kể về cấu trúc và các thông số bên ngoài của lượng vận động (chạy lặp lại của cự ly nào đó với tốc độ không đổi; Nâng

tạ cùng trọng lượng nhiều lần ) Sự ổn định như vậy là một trong những điều kiện quyết định để có thể thích nghi hoạt động duy trì khả năng vận động thể lực đã đạt được Phương pháp này được sử dụng trong giáo dục sức bền

- Phương pháp tập biến đổi theo chế độ lượng vận động liên tục và ngắt quãng: Cũng như các phương pháp bài tập ổn định liên tục, thường biến đổi liên tục còn đựơc áp dụng trong các bài tập có chu kỳ (Chạy, Đua xe đạp, Bơi ) Phương pháp điển hình của nhóm này là phương pháp chạy biến tốc

Trang 37

Đặc điểm của phương pháp này là luân phiên có hệ thống giữa vận động và nghỉ ngơi Trong đó lượng vận động và quãng nghỉ đều có thể thay đổi Vì vậy mở rộng đáng kể khả năng tác động hợp lý với từng chức năng khác nhau của cơ thể

* Phương pháp tổng hợp

Trong thực tế các phương pháp kể trên thường được kết hợp với nhau thành phương pháp tổng hợp điều đó được giải thích vì không phải tất cả các phương tiện GDTC đều cho phép sử dụng một phương pháp tập luyện nào đó một cách thuần tuý Mặt khác, việc kết hợp các đặc điểm của những phương pháp khác nhau làm cho phương pháp phù hợp hơn với nội dung buổi tập, điều chỉnh lượng vận động và quãng nghỉ linh hoạt, điều khiển hợp lý sự phát triển của tố chất hoặc kỹ xảo cần thiết

1.3.4.3 Các phương pháp trò chơi và phương pháp thi đấu

Mặc dù các phương pháp có tập định mức chặt chẽ rất đa dạng và có nhiều ưu điểm, nhưng cũng chỉ là một khuynh hướng phương pháp chính trong GDTC Từ khía cạnh khác, các phương pháp trò chơi và thi đấu có ý nghĩa không kém quan trọng

* Phương pháp trò chơi

Phương pháp trò chơi không nhất thiết phải phải gắn với một trò chơi

cụ thể nào đó Do những đặc điểm và yêu cầu về tính tự lập, sáng kiến nhanh trí và khéo léo nên phương pháp trò chơi tạo ra cho người chơi điều kiện rộng rãi để giải quyết một cách sáng tạo các nhiệm vụ vận động Thêm vào

đó, sự thay đổi thường xuyên bất ngờ các tình huống trong tiến trình chơi buộc phải giải quyết các nhiệm vụ trong thời gian ngắn và động viên đầy đủ khả năng vận động Trong trò chơi, những mối quan hệ giữa các cá nhân và các nhóm người diễn ra rất tích cực Điều đó tạo lên luồng cảm xúc cao và động đến sự biểu hiện rõ nét các phẩm chất đạo đức cá nhân

Trang 38

Chủ yếu, sử dụng phương pháp trò chơi cho phép hoàn thiện các năng lực và tố chất như khéo léo, định hướng nhanh, độc lập, sáng kiến và nhiều phẩm chất đạo đức khác

* Phương pháp thi đấu

Thi đấu có ý nghĩa quan trọng như một phương thức tổ chức và kích thích hoạt động trong lĩnh vực khác nhau của đời sống như sản xuất, nghệ thuật, thể thao

Trong GDTC phương pháp thi đấu đựơc sử dụng cả dưới hình thức đơn giản và cả hình thức phức tạp Đặc điểm cơ bản của phương pháp thi đấu là so sách sức lực trong điều kiện đua tranh thứ bậc, vị trí vô địch để đạt thành tích cao so với bản thân Đây là đặc điểm chi phối các đặc điểm khác của phương pháp này

Phương pháp thi đấu được sử dụng để giải quyết nhiều nhiệm vụ sư phạm khác nhau như giáo dục các tố chất vận động, các phẩm chất đạo đức,

ý chí, kỹ năng, kỹ xảo vận động và năng lực sử dụng hợp lý chúng trong những hoàn cảnh phức tạp So với phương pháp GDTC khác thì phương pháp thi đấu có yêu cầu cao nhất đối với khả năng chức phận con người vì vậy thúc đẩy cơ thể phát triển mạnh mẽ nhất

1.3.5 Phương tiện và điều kiện cơ sở vật chất

Phương tiện phục vụ cho hoạt động dạy học môn GDTC đảm bảo được các yêu cầu: Tổ chức quản lý tốt, đảm bảo đầy đủ và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, phù hợp với hình thức tổ chức và phương pháp giảng dạy của môn học, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng giờ dạy

Để đảm bảo các điều kiện phương tiện cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động GDTC trong nhà trường cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Xây dựng nội dung và kế hoạch, nguồn kinh phí trang bị sử dụng cơ

sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động GDTC

Trang 39

- Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng sử dụng các phương tiện trang thiết bị, dụng cụ phục vụ hoạt động GDTC

- Quản lý các trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy học môn GDTC, hệ thống phòng bộ môn, nhà tập, sân bãi, thư viện với các sách báo tài liệu tham khảo

1.4 Quản lý hoạt động dạy học Giáo dục thể chất

1.4.1 Quản lý mục tiêu

Mục tiêu của GDTC trong các trường đại học và cao đẳng là: “Đào tạo các cán bộ khoa học kỹ thuật, phát triển hài hoà về mọi mặt, có năng lực chuyên môn độc lập, có tư tưởng và đạo đức tác phong xã hội chủ nghĩa, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”[4] Để quản

lý thực hiện được mục tiêu GDTC trong trường Đại học và cao đẳng cần phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Quản lý việc thực hiện nội dung giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể

- Quản lý nội dung kiến thức lý luận cơ bản và phương pháp luyện tập,

kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản của một số môn thể thao

- Quản lý xây dựng các tiêu chí đánh giá thể lực dựa trên tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi

- Quản lý cá hoạt động TDTT nhằm giáo dục óc thẩm mỹ cho sinh viên và tạo điều kiện để nâng cao trình độ thể thao trong sinh viên

1.4.2 Quản lý chương trình

Trong quá trình hoạt động, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu cải tiến chương trình GDTC trong các trường đại học và cao đẳng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng môn học Bộ GD&ĐT đã đạt được những thành tựu đáng kể rất đa dạng trong lĩnh vực này Tuy nhiên việc quản lý thực hiện chương trình GDTC vẫn còn tồn tại những hạn chế cơ

Trang 40

bản, việc dạy và học TDTT ở nhiều trường mới chỉ dừng ở hình thức chủ yếu cho có được điểm số đánh giá mà chưa chú trọng đến thực tế và thể lực của sinh viên Khâu tổ chức và quản lý còn lỏng lẻo, chưa quan tâm đúng mức đến việc tạo các điều kiện đảm bảo về cán bộ giáo viên, cơ sở vật chất

và kinh phí

Nội dung quản lý chương trình GDTC trong các trường đại học và cao đẳng bao gồm:

* Giờ học thể dục nội khoá

Được áp dụng theo quyết định số: 3244/GD - ĐT ngày 12 tháng 09 năm

1995 và số 1262/GD – ĐT, ngày 12 tháng 04 năm 1997 của Bộ GD&ĐT Gồm 150 tiết đối với hệ Đại học, 90 tiết đối với hệ cao đẳng Thi và kiểm tra nội dung GDTC áp dụng theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT số 2542/HD ngày 25/08/1989 Cấp chứng chỉ cho sinh viên theo quy định tại Chương 2, Điều

1, Khoản 1 của Quy chế giáo dục thể chất và y tế trường học đã ban hành theo Quyết định số 14/2001/QĐ – BGD&ĐT, ngày 03/5/2001 của Bộ trưởng

Bộ GD&ĐT

Do đặc thù của môn học GDTC bao gồm cả lý thuyết và thực hành nên

Bộ GD&ĐT quy định mỗi học trình 30 tiết Chương trình môn học (gồm 3 giai đoạn) bố trí từ kỳ thứ nhất đến kỳ thứ 3 (hệ cao đẳng) và kỳ thứ 5 (hệ đại học)

* Giờ học GDTC ngoại khoá

Các hình thức ngoại khoá của sinh viên nhằm củng cố, hoàn thiện nội dung trong nội khoá, mặt khác phát huy các môn thể thao ưa thích nâng cao thể lực dưới 2 hình thức:

- Ngoại khóa có giáo viên hướng dẫn

- Ngoại khóa tự giác (học sinh tự tập)

Đây là một nội dung hoạt động tự nguyện với các nội dung khác nhau theo sở thích, có thể học các môn thể thao cơ bản hoặc các môn thể thao nâng

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng quốc Bảo. Bài giảng phát triển nhà trường - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, tài liệu cho lớp cao học khoá 8 – khoa sư phạm, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phát triển nhà trường - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
2. Đặng quốc Bảo . Bài giảng mối quan hệ kinh tế - giáo dục trong quá trình phát triển bền vững cộng đồng, tài liệu cho lớp cao học khoá 8 – khoa sư phạm, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng mối quan hệ kinh tế - giáo dục trong quá trình phát triển bền vững cộng đồng
3. Đặng quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hƣng. Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề giải pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội 2004
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy chế công tác GDTC trong nhà trường các cấp, Hà Nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế công tác GDTC trong nhà trường các cấp
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Điều lệ nhà trường, Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ nhà trường
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất. NXB TDTT, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất
Nhà XB: NXB TDTT
10. Chỉ thị 133/TTg của thủ tướng chính phủ về xây dựng quy hoạch và phát triển thể thao. Ngày 7/3/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: của thủ tướng chính phủ về xây dựng quy hoạch và phát triển thể thao
11. Nguyễn Quốc Chí. Những cơ sở lý luận Quản lý Giáo dục, tập bài giảng lớp quản lý giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở lý luận Quản lý Giáo dục, tập bài giảng lớp quản lý giáo dục Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí
12. Nguyễn Đức Chính. Quản lí chất lượng trong giáo dục (Tài liệu giảng dạy các lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục). Đại học giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí chất lượng trong giáo dục (Tài liệu giảng dạy các lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục)
13. Nguyễn Đức Chính. Đánh giá trong giáo dục (Tài liệu giảng dạy các lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục). Đại học giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục (Tài liệu giảng dạy các lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục)
14. Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học ( Tài liệu giảng dạy các lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục). Đại học giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học ( Tài liệu giảng dạy các lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục)
15. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
16.Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện hội nghị lần 3 Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần 3 Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
17. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
19. Trần Khánh Đức. Sự phát triển các quan điểm giáo dục từ truyền thống đến hiện đại (Tài liệu giảng dạy các lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục). Đại học giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển các quan điểm giáo dục từ truyền thống đến hiện đại (Tài liệu giảng dạy các lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục)
20. Phạm Minh Hạc. Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục
Nhà XB: Nxb Giáo dục
21. Phạm Minh Hạc ( Tổng chủ biên). Xã hội hoá công tác giáo dục. Nxb Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá công tác giáo dục
Nhà XB: Nxb Giáo dục
22. Đặng Xuân Hải (2007).Quản lý sự thay đổi và vận dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi trong quản lý giáo dục/ quản lý nhà trường,tập bài giảng lớp cao học quản lý giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sự thay đổi và vận dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi trong quản lý giáo dục/ quản lý nhà trường
Tác giả: Đặng Xuân Hải
Nhà XB: tập bài giảng lớp cao học quản lý giáo dục Hà Nội
Năm: 2007
23. Đặng Xuân Hải. Hệ thống giáo dục quốc dân (Tài liệu giảng dạy các lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục). Đại học giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống giáo dục quốc dân (Tài liệu giảng dạy các lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục)
24. Nguyễn Thị Phương Hoa. Lý luận dạy học hiện đại, tập bài giảng lớp cao học quản lý giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN (Trang 3)
Sơ đồ 1: Cấu trúc hệ thống quản lý - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Sơ đồ 1 Cấu trúc hệ thống quản lý (Trang 16)
Bảng 2.1: Qui mô đào tạo của nhà trường - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Bảng 2.1 Qui mô đào tạo của nhà trường (Trang 49)
Bảng 2.2. Nhận thức về tác dụng và sự cần thiết của hoạt động GDTC - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Bảng 2.2. Nhận thức về tác dụng và sự cần thiết của hoạt động GDTC (Trang 50)
Bảng 2.3. Nhận thức về nhiệm vụ của hoạt động GDTC trong nhà trường - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Bảng 2.3. Nhận thức về nhiệm vụ của hoạt động GDTC trong nhà trường (Trang 52)
Bảng 2.4. Nhận thức của sinh viên về tác dụng và sự cần thiết của hoạt động GDTC - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Bảng 2.4. Nhận thức của sinh viên về tác dụng và sự cần thiết của hoạt động GDTC (Trang 53)
Bảng 2.5. Nhu cầu tập luyện thể thao của học sinh sinh viên và mức độ thực hiện - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Bảng 2.5. Nhu cầu tập luyện thể thao của học sinh sinh viên và mức độ thực hiện (Trang 55)
Bảng 2.6. Thực trạng về nội dung chương trình giáo dục thể chất và mức độ phù hợp - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Bảng 2.6. Thực trạng về nội dung chương trình giáo dục thể chất và mức độ phù hợp (Trang 56)
Bảng 2.7. Thực trạng về quản lý kế hoạch hoạt động giáo dục thể chất - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Bảng 2.7. Thực trạng về quản lý kế hoạch hoạt động giáo dục thể chất (Trang 58)
Bảng 2.8. Thực trạng về tổ chức các hoạt động giáo dục thể chất - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Bảng 2.8. Thực trạng về tổ chức các hoạt động giáo dục thể chất (Trang 59)
Hình hoạt động TDTT như các câu lạc bộ phù hợp đối tượng và nhu cầu của - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Hình ho ạt động TDTT như các câu lạc bộ phù hợp đối tượng và nhu cầu của (Trang 80)
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm về mức độ quan trọng, tính cấp thiết và tính khả  thi của các biện pháp - Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm về mức độ quan trọng, tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w