Để nâng cao chất lượng và phát triển đội ngũ nữ cán bộ, chỉ thị 15/CT- GD&ĐT của Bộ GD&ĐT nhấn mạnh: ―Tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo là nữ ở những bậc và cấp độ quản lý cao Các trườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia
Hà Nội, tập thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Giáo dục đã tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức cơ bản, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức, kĩ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Từ Đức Văn đã giúp tôi nghiên cứu; Xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng, các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình đã giúp đỡ động viên tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này đúng kế hoạch
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng song chắc chắn luận này vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi mong muốn được sự góp ý, bổ sung của những Người quan tâm để tôi tiếp tục hoàn thiện luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2013
Tác giả
Đặng Thị Thu Hằng
Trang 4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH TƯ : Ban chấp hành Trung ương
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá hiện đại hóa
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ……….…… ………… i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng biểu v
Danh mục các biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 8
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 10
1.3 Vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội 21
1.4 Những yêu cầu cơ bản đối với cán bộ quản lý giáo dục và nữ cán bộ quản lý giáo dục 26
1.5 Nội dung phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý các trường đại học, cao đẳng trong giai đoạn hiện nay 30
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HẢI PHÒNG 37
2.1 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 37
2.2 Khái quát về đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 37
2.3 Đánh giá chung về đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 45
2.4 Thực trạng phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng … 46
2.5 Những thành công, hạn chế và nguyên nhân về công tác phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 52
2.6 Những thuận lợi, khó khăn trong công tác phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý ở trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng……… 54
Tiểu kết chương 2 56
Trang 6Chương 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ QUẢN
LÝ TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HẢI PHÒNG TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY … 57
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 57
3.2 Hệ thống các biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 58
3.2.1 Nâng cao nhận thức về vai trò Người phụ nữ trong xã hội nói chung và nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng nói riêng 58
3.2.2 Chú trọng xây dựng quy hoạch đội ngũ nữ cán bộ quản lý 63
3.2.3 Thường xuyên tổ chức đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng đội ngũ nữ cán bộ quản lý 69
3.2.4 Chú trọng chính sách đối với nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 72
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 76
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 77
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 92
Trang 7Hải Phòng 41 Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả trưng cầu ý kiến đánh giá về năng lực quản lý của
nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 43 Bảng 2.4 Thống kê độ tuổi, thâm niên quản lý của nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 43 Bảng 2.5 Thống kê trình độ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng
Hải Phòng 44 Bảng 2.6 Kết quả điều tra, đánh giá thực trạng việc xây dựng quy hoạch đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 46 Bảng 2.7 Kết quả điều tra, đánh giá thực trạng công tác tuyển chọn, bổ nhiệm,
bổ nhiệm lại, luân chuyển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng
Cộng đồng Hải Phòng 47 Bảng 2.8 Kết quả điều tra, đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 48 Bảng 2.9 Kết quả điều tra, đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 50 Bảng 2.10 Kết quả điều tra, đánh giá thực trạng việc thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với đội ngũ nữ cán bộ quản lý
trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 51 Bảng 3.1 Đánh giá tính cần thiết của các biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán
bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 78 Bảng 3.2 Đánh giá tính khả thi của các biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 80 Bảng 3.3 Tương quan thứ bậc spiecman giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng
đồng Hải Phòng 82
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1 Thực trạng phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 51 Biểu đồ 3.1.Tính cần thiết của các biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ
quản trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 78 Biểu đồ 3.2.Tính khả thi của các biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản
lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng 80 Biểu đồ 3.3.Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng
Hải Phòng 82
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bước vào thiên niên kỷ mới, Việt Nam xác định giáo dục là chìa khóa quan trọng để hội nhập nền kinh tế toàn cầu, vì giáo dục chính là công cụ hiệu quả nhất để nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp phát triển nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong đường lối chiến lược, Đảng ta luôn xác định GD&ĐT là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, thứ IX của Đảng đều xác định ―Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế, xã hội của đất nước‖.[50] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: ―Phát triển giáo dục
và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố
cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững‖ Tiếp sau,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: ―Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao‖ là một trong 3 khâu đột phá quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020
Phát triển GD&ĐT GD&ĐT là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quan trọng Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện
Trong một ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, người phụ nữ luôn giữ một vị trí quan trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
―Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ‖ [37]
Sự phát triển của kinh tế, xã hội trong thời kỳ đầy biến động đang mở ra cho nhân loại nhiều sự lựa chọn Những cơ hội và thách thức mới đang đặt ra
Trang 10trước mắt cho dân tộc ta nói chung và người phụ nữ nói riêng Bên cạnh thiên chức làm vợ, làm mẹ, họ còn là những người lao động, người công dân có trách nhiệm làm ra của cải vật chất và những giá trị tinh thần cần thiết cho xã hội Họ
có vai trò to lớn trong việc tham dự vào đời sống chính trị-xã hội của đất nước
Giáo dục và Đào tạo là một trong những lĩnh vực mà ở đó người phụ nữ thể hiện rõ vai trò của mình Tại đây họ gánh vác hai trọng trách: trọng trách của một trí thức XHCN Việt Nam và trọng trách của một người vợ, người mẹ trong gia đình Trong sự nghiệp giáo dục của đất nước, họ là nhân lực chiếm số đông và quan trọng của ―quốc sách hàng đầu‖ Để có nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sau người mẹ có công sinh thành dưỡng dục
là người mẹ thứ hai có công đem lại cho họ những năng lực, phẩm chất cần thiết của người lao động mới
Nhận thức rõ vai trò, vị trí của phụ nữ trong công cuộc đổi mới và phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối, chính sách để phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý thông qua các Chỉ thị, Nghị quyết như Nghị quyết số 153-NQ/TW về Công tác cán bộ nữ (1967); Chỉ thị số 44-CT/TW về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ (1984); Chỉ thị
số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới; Chỉ thị 15/GD-ĐT ngày 19/9/1994 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về
―Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ ngành GD&ĐT trong tình hình mới‖; Nghị quyết số 04-NQ/TW về Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới (1993); Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết
số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó chỉ đạo các chỉ tiêu về cán bộ nữ cần đạt được vào năm
2020 Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 - 2020, trong đó mục tiêu 1 về ―Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị‖ và Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-
2015, trong đó có dự án 3 về ―Nâng cao năng lực cho đội ngũ nữ đại biểu Quốc
Trang 11hội, nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nữ cán bộ quản lý, nữ lãnh đạo các cấp; nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, nữ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2020, nữ cán bộ thuộc diện quy hoạch‖
Các quan điểm ấy cũng được cụ thể hóa vào các văn bản Hiến pháp các năm 1949, 1959, 1980, 1992 và ngày càng hoàn thiện cụ thể hóa trong các văn bản khác
Trong những năm gần đây xu thế hội nhập, công cuộc đổi mới trên đất nước ta đang có bước phát triển với nhịp điệu nhanh, quy mô lớn, đòi hỏi nhanh chóng phải có đội ngũ cán bộ quản lý, có phẩm chất, năng lực, trình độ mới đáp ứng được yêu cầu đó Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH TƯ Đảng khóa VII khẳng định ―Khẩn trương đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các cấp‖
Ngành GD&ĐT có đội ngũ lao động nữ chiếm trên 70% Ở một số cấp học, bậc học tỷ lệ nữ cán bộ quản lý và giáo viên chiếm đa số Để nâng cao chất lượng và phát triển đội ngũ nữ cán bộ, chỉ thị 15/CT- GD&ĐT của Bộ GD&ĐT nhấn mạnh: ―Tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo là nữ ở những bậc và cấp độ quản lý cao (Các trường cao đẳng, đại học, các vụ, viện cấp bộ), ở các bộ phận liên quan đến chính sách lao động tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
nữ để mỗi trường học, mỗi đơn vị quản lý giáo dục các cấp có ít nhất một cán
bộ lãnh đạo nữ‖
Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Nghĩa trả lời phỏng vấn phóng viên báo Giáo dục và Thời đại (tháng 3/2011): Chiếm 73,6% số giáo viên, giảng viên trực tiếp đứng lớp (ở cấp học mầm non là 98% và gần 80% ở giáo dục tiểu học), trong đó có hàng trăm Giáo sư, Phó giáo sư, hàng ngàn tiến sỹ, Thạc sỹ, đội ngũ
nữ nhà giáo là lực lượng nòng cốt triển khai thực hiện thành công các nhiệm vụ chính trị, gương mẫu đi đầu trong các phong trào thi đua và các cuộc vận động lớn của ngành Nhiều chị đang giữ các cương vị cán bộ quản lí chủ chốt cấp trường, cấp phòng, cấp sở, cấp Bộ Hơn 1000 chị đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú và nhiều phần thưởng cao quý khác Với sự phát triển về số lượng, không ngừng nâng cao về phẩm chất,
Trang 12trình độ và năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần lao động khoa học nghiêm túc, sáng tạo của nhà giáo và tấm lòng bao dung nhân hậu của người phụ nữ Việt Nam, đội ngũ nữ nhà giáo đã đóng vai trò vô cùng quan trọng làm nên diện mạo của giáo dục nước nhà, mỗi bước phát triển của Ngành đều có sự đóng góp to lớn của nữ nhà giáo chúng ta
Thực tế những năm qua công tác cán bộ nữ ở trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng đã có nhiều chuyển biến tích cực, nữ cán bộ quản lý đã đóng góp tích cực trong sự phát triển chung của Nhà trường; có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng nâng cao Đã góp phần quan trọng thực hiện
sứ mạng của nhà trường Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển giáo dục thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đội ngũ nhà giáo và nữ CBQL còn bộc lộ những hạn chế, bất cập: tỷ lệ cán bộ nữ làm công tác quản lý thấp, còn thiếu so với nhu cầu, số lượng CBQL có trình độ chuyên môn, trình độ quản lý tốt còn ít, tính chuyên nghiệp của đội ngũ CBQL chưa cao, đặc biệt trong tham mưu, xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện.v.v, chưa tương xứng với số lượng cán bộ của Nhà trường
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ, trong những năm qua trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng luôn bám sát đường lối công tác cán bộ của Đảng, có sự vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn địa phương Mặc dù, công tác xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, nhưng nhìn chung đội ngũ nữ cán bộ quản
lý nhà trường hiện nay xét về số lượng, cơ cấu và chất lượng chưa đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao của giáo dục và nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý ở trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cấp bách, cần thiết và quan trọng trong tiến trình phát triển của ngành GD&ĐT Hải Phòng nói chung và trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng nói riêng Là người nữ cán bộ quản lý, với mong
Trang 13muốn được đóng góp một phần công sức vào sự phát triển chung của Nhà
trường tôi luôn trăn trở về vấn đề này, trên cơ sở đó tôi đã chọn đề tài ―Phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay‖ làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực trạng đội ngũ nữ cán bộ quản lý của trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng, luận văn đưa ra các biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo của Nhà trường trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
4 Giả thuyết khoa học
Nếu có những biện pháp hợp lí, thực thi từ vấn đề nhận thức cho đến hành động thì sẽ phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng đáp ứng được yêu cầu của CNH-HĐH đất nước trong giai đoạn
hiện nay, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của Nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý ở trường
cao đẳng, đại học
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng về đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao
đẳng Cộng đồng Hải Phòng
5.3 Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng
Cộng đồng Hải Phòng đáp ứng yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay
5.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
Trang 146 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng và đưa ra các biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
6.3 Phạm vi thời gian nghiên cứu: Năm học 2011-2012; năm học 2012-2013
7 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu hệ thống tài liệu, lý luận, các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy định của Nhà nước và của ngành Giáo dục và Đào tạo
- Nghiên cứu hồ sơ
- Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu liên quan đến chủ đề nghiên cứu và vận dụng các chuyên đề quản lí giáo dục liên quan để xác định cơ sở lí luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn: Tiến hành khảo sát thực tế; thông qua trò chuyện, trao đổi với cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Cộng đồng để tìm hiểu thực trạng và đưa ra các giải pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý
- Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động : Khảo sát các kết quả
- Phương pháp điều tra bằng Ankét: Sử dụng hệ thống câu hỏi mở và câu hỏi đóng để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục
Trang 157.3 Nhóm phương pháp toán thống kê trong nghiên cứu khoa học giáo dục
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo
dục các trường đại học, cao đẳng
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao
đẳng Cộng đồng Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Cao
đẳng Cộng đồng Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ
GIÁO DỤC CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trang 16Từ thuở bình minh của nhân loại, quản lý là vấn đề được đặc biệt quan tâm Hoạt động quản lý bắt nguồn tự sự phân công, hợp tác lao động Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả tốt hơn, năng suất cao hơn Trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp điều hành, kiểm tra, chỉnh lý phải có người đứng đầu Đây là hoạt động giúp người thủ trưởng, người đứng đầu phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt mục tiêu đề ra
Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng là vấn đề luôn được sự thu hút, quan tâm của các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học và các nhà quản lý
Vấn đề quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là vấn đề có ý nghĩa trong việc "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài", đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường
Vấn đề phụ nữ hiện nay đã trở thành vấn đề thời sự của toàn cầu Vì vấn
đề đó liên quan đến dân số, môi trường, xã hội, gia đình và sức khoẻ Vị trí xã hội, kinh tế cao của người phụ nữ gắn liền với sự phát triển và tăng tốc độ phát triển kinh tế của đất nước và khu vực Vì vậy, khi giải quyết vấn đề phụ nữ không giải quyết ở từng quốc gia riêng lẻ, mà phải giải quyết trên phạm vi toàn thế giới
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về nữ cán bộ quản lý giáo dục của các tác giả Điển hình như: ―USA/Canada Women in Higher Education management in the United States and Canada‖, (1993) của tác giả Sandra Featherman; ―The role of Women in the Administration of Higher Education in France‖, (1994) của tác giả Michele Gendreau-Massloux, Marie Franscoise Fave-Bonnet; ―Many are Called, But Few are Chosen‖, (2008) của tác giả Jacquelyn A Mattfeld
Ở Việt Nam, từ những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước cho đến nay
đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về nữ cán bộ quản lý có giá trị đó là:
Trang 17―Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý‖ (1997) của tác giả Trần Thị Tuy Hòa; ―Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa‖, (2003) của tác giả Võ Thị Mai; Đề tài: ―Thực trạng đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý và đề xuất các giải pháp tăng cường sự bình đẳng và phát triển của cán bộ nữ trong thời kỳ CNH-HĐH‖, (2003) của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; ―Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị‖, (2009) của tác giả Nguyễn Đức Hạt (chủ biên)
Có nhiều đề tài đề tài nghiên cứu về phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục các cấp học, bậc học như: Luận án tiến sĩ: ―Cơ sở lý luận và thực tiễn của các giải pháp tăng cường vai trò đội ngũ cán bộ nữ trong hoạt động quản lý nhà trường đại học‖, (2006) của tác giả Trần Thị Bạch Mai; Luận án tiến sĩ của tác giả Lương Hoài Nga: ―Phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý các trường Đại học Y Việt Nam theo quan điểm bình đẳng giới‖, (2012); luận văn thạc sỹ:
―Giải pháp xây dựng đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay‖, (2009) của tác giả Hà Thị Thanh Thủy; luận văn thạc sỹ: ―Biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục trường trung học cơ sở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang‖, (2010) của tác giả Nguyễn Đức Dụng
Người phụ nữ ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm trên mọi lĩnh vực Nghị quyết số 04/ BCT ngày 12 tháng 7 năm 1993 của Bộ Chính trị về việc đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong thời kỳ mới đã khẳng định: ―Phụ nữ Việt Nam có tiềm năng to lớn, là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Phụ nữ vừa là Người lao động, Người công dân vừa là Người mẹ, Người thầy đầu tiên của con Người.‖
Chỉ thị số 37/ BBT của Ban Bí thư TW Đảng nói rõ: ―Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội là một yêu cầu quan trọng‖
Ngoài ra, một số Bộ luật như: Luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia
đình đã thể chế hoá nhiều chế độ, chính sách liên quan tới phụ nữ Đặc biệt
Trang 18trong Kế hoạch hành động quốc gia ―Vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam‖ đã đề ra
11 mục tiêu trong đó mục tiêu thứ 4 nêu rõ: ―Nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ tham gia vào bộ máy lãnh đạo, tư vấn và ra quyết định.‖
Đội ngũ cán bộ, GV nữ trong ngành GD & ĐT nói chung và nữ CBQL nói riêng đang giữ một trọng trách nặng nề về việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Chúng ta phải coi trọng sự nghiệp GD&ĐT, xây dựng đội ngũ nữ CBQL để đáp ứng công cuộc CNH-HĐH đất nước
Từ trước đến nay có nhiều đề tài nghiên cứu về việc phát triển đội ngũ nữ CBQL trường học nói chung và nữ CBQL trường đại học, cao đẳng nói riêng Tuy nhiên chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về biện pháp phát triển đội ngũ
nữ CBQL trường cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Phát triển
Theo Từ điển Tiếng Việt, phát triển là: "Biến đổi hoặc làm cho biến đổi
từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp" [46, tr37]
Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ Còn theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật, hiện tượng và con người trong xã hội Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên
Theo tác giả Đặng Bá Lãm: "Phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ chuyển biến mất và cái mới ra đời v.v Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao Còn cái cao là cái thấp đã phát triển" [34, Tr20]
1.2.2 Đội ngũ
Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ Ngày nay khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như:
Trang 19"Đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y, bác sỹ " đều xuất phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân sự về đội ngũ đó là: " Khối đông người được tập hợp lại một cách chỉnh tề và được tổ chức thành lực lượng chiến đấu"
Khái niệm đội ngũ tuy có các cách hiểu khác nhau nhưng đều có chung một điểm đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng
để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định
Từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần
1.2.3 Cán bộ
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện khoa học xã hội Việt Nam thì cán bộ có nghĩa là: Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ
1.2.4 Quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt thuật ngữ "quản lý" được định nghĩa là: "Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan"
Quản lý là hoạt động có mục đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản
lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể quản lý tiến hành những hoạt động theo chức năng quản lý như xác định mục tiêu, hoạch định các chủ trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, phối hợp, kiểm tra, huy động và sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định
Trong cuốn "Lý luận quản lý nhà nước" của tác giả Mai Hữu Khuê, xuất bản năm 2003 có định nghĩa về quản lý như sau: "Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hợp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự
Trang 20nhiên của mọi lao động hợp tác Từ khi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài người thì đã xuất hiện sự quản lý Sự quản lý đã có trong cả xã hội nguyên thuỷ, ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối" [33]
Theo các tác giả F.W.Taylor, H.Koontz thì quản lý được cho là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất hay là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được thành công theo ý muốn
Theo quan điểm chính trị xã hội, quản lý được hiểu như là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: "Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (Người quản lý) đến khách thể quản lý (Người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức
đó vận hành và đạt được mục đích của mình" [21]
Có ý kiến lại cho rằng: Quản lý là tác động có mục đích từng tập thể Người
để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động, quản lý là thiết chế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định
Trang 21Từ những khái niệm trên đây chúng tôi cho rằng: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua việc thực hiện sáng tạo các chức năng quản lý để đạt được mục tiêu của tổ chức làm cho tổ chức vận hành tiến lên một trạng thái mới về chất
Việc tìm hiểu một cách chung nhất những khái niệm cũng như những trào lưu tư tưởng và học thuyết quản lý có thể tạo nên một tầm nhìn, một nhãn quan nhất định về việc nhà quản lý cần những gì và thực hiện những gì trong hoạt động thực tiễn của mình
1.2.4.1 Bản chất của hoạt động quản lý
Hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đặt ra Vì vậy, nhiệm
vụ của quản lý là biến đổi mối quan hệ trên thành những yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu Đó là "bí quyết" làm việc của người quản lý được khám phá trên sự đúc rút kinh nghiệm thực tế Những kinh nghiệm thực tế được khái quát hoá thành những nguyên tắc, phương pháp, kỹ năng quản lý cần thiết, đó chính là khoa học - khoa học quản lý Do đó, ta có thể nói rằng: Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật
* Quản lý gồm hai thành phần: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý:
- Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên
- Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể như: Môi trường, thiên nhiên, đoàn xe , vừa có thể là sự việc như: luật lệ, quy chế, quy định Cũng có khi khách thể, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau Theo Nguyễn Minh Đạo: "Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của
chủ thể quản lý" [26, tr7]
Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp
lý các tác động nhằm đạt mục tiêu Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ
Trang 22giữa tri thức và lao động Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý (đặc biệt là con người) thì phải có cơ chế đúng
Nguyễn Minh Đạo cho rằng: "Chức năng quản lý là loại hình đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc quản lý" [26, Tr64]
1.2.4.2 Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ bản
mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý trong quá trình quản
lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý Chức năng quản lý được quy định một cách khách quan bởi hoạt động của khách thể quản lý
Henry Fayol đã đưa ra 5 chức năng sau đây mà người ta gọi là 5 yếu tố của Fayol: Kế hoạch hoá, tổ chức, ra lệnh, phối hợp, kiểm tra và đánh giá
Trong cuốn: "Cơ sở khoa học quản lý" của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1997, có nêu các chức năng quản lý gồm: Kế hoạch hoá - tổ chức - phối hợp - điều chỉnh, kích thích - kiểm tra, hạch toán
Sau khi nghiên cứu, tổng kết các nhà nghiên cứu cho rằng quản lý có 4 chức năng cơ bản là 4 khâu liên quan mật thiết với nhau, đó là:
- Kế hoạch hoá: Là làm cho việc thực hiện có kế hoạch trên diện rộng,
quy mô lớn Căn cứ vào thực trạng và dự định của tổ chức để xác định mục tiêu, mục đích, xác định những biện pháp trong thời kỳ nhằm đạt mục tiêu dự định
- Tổ chức: Là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các
thành viên, bộ phận nhằm đạt mục tiêu kế hoạch Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp điều phối các nguồn lực, vật lực, nhân lực
- Chỉ đạo: Đó chính là phương thức tác động của chủ thể quản lý Lãnh
đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành nhiệm vụ để đạt được mục tiêu của tổ chức
- Kiểm tra: Thông qua một cá nhân, hay một nhóm tổ chức để xem xét
thực tế, theo dõi, giám sát thành quả hoạt động, tiến hành uốn nắn, sửa chữa
Trang 23những hoạt động sai Đây chính là quá trình điều chỉnh, tự điều chỉnh của hoạt động quản lý
Với các chức năng đó, quản lý có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển xã hội Nó nâng cao hiệu quả hoạt động, đảm bảo trật tự, kỷ cương trong bộ máy và nó là nhân tố tất yếu của sự phát triển
Cơ chế quản lý là phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lý được diễn ra, quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý được thực hiện (vận hành và phát triển) Để thực hiện quá trình quản lý phải có các điều kiện, phương tiện quản lý Đó không chỉ là máy móc, kỹ thuật mà còn là nhân cách của nhà quản lý (phẩm chất, năng lực) Còn hiệu quả quản lý là sản phẩm kép, nghĩa là trong quá trình quản lý, đối tượng quản lý phát triển và phẩm chất, năng lực của nhà quản lý cũng phát triển
Như vậy, các chức năng quản lý là biểu hiện bản chất của quản lý Chức năng quản lý là một phạm trù chiếm vị trí then chốt trong các phạm trù cơ bản của khái niệm quản lý, là những bộ phận tạo thành hoạt động quản lý đã được thích ứng, chuyên môn hóa ―Các chức năng quản lý là những trạng thái biểu hiện sự hoạt động có mục đích của tập thể Người.‖
Bốn chức năng cơ bản liên quan mật thiết với nhau, tạo thành chu trình quản lý: lập kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra Trong 4 chức năng trên, chức năng tổ chức là quan trọng nhất Lê-nin từng nói: ―Để quản lý thành công, ngoài việc biết thuyết phục, cần tổ chức thực hiện‖
1.2.5 Quản lý giáo dục
Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục Vậy, quản lý Nhà nước về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ
Trang 24Trên nền tảng của khoa học quản lý xuất hiện nhiều hoạt động quản lý chuyên ngành Một trong những loại hình quản lý tương đối phong phú là QLGD
Cũng như khái niệm quản lý, QLGD được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, theo Từ điển giáo dục học thì QLGD gồm hai mặt lớn là quản lý nhà nước
về giáo dục và quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác QLGD là việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục, đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phương và cơ sở
Theo M.I Kônđacốp: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em" [31, Tr10]
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: ―QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, có quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ có cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục‖ [32]
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung
là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [28, Tr34]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy
Trang 25học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất" [42, Tr35]
Theo Nguyễn Gia Quý khái quát: "Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân" [43, Tr12]
Khái niệm về Quản lý giáo dục, cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung và bản chất Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế
hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội" [4, Tr3] Như vậy, từ các khái niệm được các nhà khoa học trong nước và nước ngoài nêu lên; chúng ta có thể hiểu:
- Quản lý giáo dục bao gồm: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý và quan
hệ quản lý
+ Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục các cấp
+ Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học
- Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy; quan hệ giữa người quản lý với người dạy, người học; quan hệ người dạy - người học Các mối quan hệ đó có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn bộ hệ thống giáo dục
- Nội dung quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học; tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên; huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực
- QLGD được thực hiện một cách đầy đủ là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau, đưa tất
cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến các Trường, các cơ sở giáo dục khác)
Trang 26cùng vận hành, nhằm thực hiện các nguyên lý, mục tiêu giáo dục theo đường lối của Đảng và các chính sách của nhà nước
Từ các khái niệm của các tác giả nêu trên, chúng tôi cho rằng: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra
1.2.5.1 Bản chất của hoạt động quản lý giáo dục
Hoạt động quản lý giáo dục là tác động của nhà QLGD đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác nhau trong hệ thống, nhằm thực hiện các mục tiêu QLGD
1.2.5.2 Chức năng quản lý giáo dục
Cũng như các hoạt động quản lý kinh tế - xã hội, quản lý giáo dục có hai chức năng tổng quát sau:
- Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền kinh tế - xã hội
- Chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh tế -
xã hội Như vậy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành các nhà trường để giáo dục vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế
Từ hai chức năng tổng quát trên, quản lý giáo dục phải quán triệt, gắn bó với bốn chức năng cụ thể là:
- Mục tiêu đào tạo
- Nội dung đào tạo
Trang 27- Phương pháp đào tạo
- Lực lượng đào tạo
- Đối tượng đào tạo
- Hình thức tổ chức đào tạo
- Điều kiện đào tạo
- Môi trường đào tạo
- Quy chế đào tạo
- Bộ máy tổ chức đào tạo
Quản lý giáo dục chính là quá trình xử lý các tình huống có vấn đề phát sinh trong hoạt động tương tác của các yếu tố trên để nhà trường phát triển, đạt tới chất lượng tổng thể bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của nền kinh tế
1.2.6 Quản lý nhà trường
Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống Giáo dục quốc dân Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường, mọi hoạt động phức tạp, đa dạng khác đều hướng vào hoạt động trung tâm này Quản lý trường học thực chất là: "Quản lý hoạt động dạy - học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục", theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, [42, Tr35]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: "Trường học là một thiết chế xã hội trong
đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy - Trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của
hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở" [5, Tr3]
Quản lý nhà trường là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống quản lý giáo dục nói chung Tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra nội dung khái quát về khái niệm quản lý nhà trường: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh'' [29, Tr22]
Trang 28Quản lý nhà trường chính là hoạt động của người cán bộ quản lý tùy theo chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà trường mà trọng tâm là quá trình dạy và học
Bản chất của hoạt động quản lý nhà trường là quá trình chỉ huy, điều khiển sự vận động của các thành tố, đặc biệt là mối quan hệ giữa các thành tố Mối quan hệ đó là do quá trình sư phạm trong nhà trường quy định
Quản lý trường học là tổ chức, chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò; đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất và công việc phục vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục đích giáo dục, đào tạo
1.2.7 Đội ngũ cán bộ quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt: ―Đội ngũ là tập hợp gồm số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ, nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định‖ [46, tr32]
Có thể hiểu đội ngũ là một tập thể gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc Khi xem xét đội ngũ người ta thường chú ý tới ba vấn đề đó là: Số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ
Theo đó, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục được hiểu là tập hợp những người làm công tác quản lý ở các trường học, là những người thực hiện điều hành quá trình giáo dục diễn ra trong nhà trường, đây là những chủ thể quản lý
bên trong nhà trường
1.2.8 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Theo từ điển Triết học của Liên Xô (cũ): ―Chất là tính quy định của một
sự vật, khiến nó là sự vật này chứ không phải là sự vật khác và khác sự vật khác.‖, ―Lượng là tính quy định của sự vật mà nhờ đó (trên thực tế hoặc trên tư duy), ta có thể phân chia nó thành những bộ phận cùng loại và có thể tập hợp các bộ phận đó lại làm một.‖ [44]
Trang 29Một sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của các chất và lượng Chất lượng đội ngũ CBQLGD được thể hiện:
+ Phẩm chất chính trị đội ngũ CBQLGD
+ Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBQLGD
+ Năng lực quản lý của Người CBQLGD
Như thế, đội ngũ CBQLGD được đánh giá là bảo đảm chất lượng khi đội ngũ đó đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu
Vì vậy, phát triển đội Ngũ CBQLGD là làm thay đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ
Đối với phụ nữ làm công tác quản lý giáo dục còn gặp nhiều khó khăn do thiên chức của họ đối với gia đình Ngoài những yêu cầu về tư chất, về tri thức và năng lực lãnh đạo quản lý, họ còn phải biết kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa trách nhiệm công việc chung và công việc riêng phù hợp với đặc điểm về giới
1.3 Vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội
1.3.1 Vai trò, vị trí của người phụ nữ trong lịch sử, trong ngành Giáo dục
Từ trước tới nay, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Với trách nhiệm là Người vợ, Người mẹ, phụ nữ đã có những cống hiến xuất sắc trong việc nuôi dưỡng các thế hệ công dân của đất nước, chăm lo cho các gia đình Việt Nam theo chuẩn mực ―ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc‖ Phụ nữ còn là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp giữ gìn và phát triển nền văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt Nam và mang nhiều vinh quang về cho đất nước trên tất cả mọi lĩnh vực: kinh tế, quân sự, văn hóa, khoa học, giáo dục, y tế, thể thao, nghệ thuật
Mở đầu cho trang sử vẻ vang chống ngoại xâm, giành độc lập, tự do cho đất nước là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng Đây là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử thế giới cổ đại Trưng Trắc là Người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đứng lên lãnh đạo và quản lý đất nước Bà đã khẳng định được vị trí của Người phụ nữ Việt Nam, với sắc thái bình đẳng và được in đậm trong nền văn hóa dân tộc
Trang 30Bên cạnh các nữ tướng cầm quân đánh giặc, thời kỳ này chúng ta còn có những tấm gương phụ nữ tham gia quản lý đất nước tài giỏi Đó là Thái hậu Dương Vân Nga, Nguyên phi Ỷ Lan…
Nối tiếp truyền thống anh hùng bất khuất của các bậc tiền bối, các thế hệ phụ nữ Việt Nam sau này còn có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Đó là các chị Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình là các nữ anh hùng các lực lượng
vũ trang nhân dân, các anh hùng lao động mà tên tuổi của họ mãi mãi còn vang
Vì thế, dù ở cương vị nào, Người phụ nữ trước hết vẫn là những Người
vợ, Người mẹ trong gia đình, là Người thầy đầu tiên của mỗi đời Người, Người giữ gìn mái ấm gia đình - tế bào của mọi xã hội - là Người sản sinh và hun đúc những tài năng cho đất nước
Trong ngành GD&ĐT, do đặc thù và tính chất công việc số lượng nữ cán
bộ, giáo viên (CBGV) chiếm tỉ lệ trên 70% so với tổng số đội ngũ cán bộ, viên chức toàn ngành Vì vậy, lực lượng nữ CBGV là lực lượng lao động chủ yếu của ngành Do đó, vai trò của nữ cán bộ, giáo viên là hết sức to lớn, đã góp phần quan trọng trong việc giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục
- Giáo dục thế hệ trẻ là trách nhiệm của toàn xã hội, nhưng trong đó người giáo viên đóng vai trò nòng cốt, quan trọng trong việc dạy chữ và dạy người Công tác giáo dục phù hợp với thiên chức làm mẹ của người phụ nữ, nên lực lượng lao động nữ trong ngành luôn nhiệt tình, tích cực trong công tác giảng dạy, công tác chủ nhiệm, làm cầu nối giữa Gia đình - Nhà trường - Xã hội rất tốt
- Phụ nữ ngành Giáo dục có khả năng giao tiếp khéo léo, tinh tế, tâm
lý, dễ gần gũi, phù hợp với công tác giáo dục Phần lớn các chị có năng lực quản
lý, điều hành, giảng dạy nhờ sự linh hoạt, mềm dẻo, giải quyết công việc có lý, có tình nên đã đạt được hiệu quả cao trong công tác Do đó, số nữ GV dạy giỏi, chiến
sĩ thi đua các cấp thường chiếm tỉ lệ cao hơn so với nam giáo viên
Trang 31- Một trong những mặt tích cực của nữ CBQL là tinh thần chịu khó, cẩn trọng trong công việc; khôn khéo, điềm đạm tế nhị trong xử lý; luôn luôn tìm tòi học hỏi, nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực quản lý, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
1.3.2 Quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước về đội ngũ cán
bộ quản lý và đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục
Đảng và Bác Hồ rất coi trọng công tác cán bộ, nhất là cán bộ quản lý trong các cơ quan nhà nước Theo Người, ở bất kỳ lĩnh vực, cấp quản lý nào cũng đòi hỏi Người cán bộ quản lý phải có đạo đức, phẩm chất tốt, trình độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm cao Người cán bộ cách mạng phải có đức, có tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ III BCH Trung ương Đảng khoá VIII khẳng định : ―Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là then chốt trong công tác xây dựng Đảng‖ Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định lại: ―Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, vững vàng về chính trị, có kiến thức, năng lực quản lý và kỹ năng thực hành Nhà nước phải có cơ chế chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trọng dụng những Người có đức, có tài Làm tốt quy hoạch và tạo nguồn CB, chú ý cán bộ nữ, cán bộ các dân tộc ít Người, chuyên sâu trên các lĩnh vực‖
Xuất phát từ quan điểm đúng đắn đó, Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục
đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm phát huy vai trò của lao động nữ và cán bộ nữ Chỉ thị số 44/ CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đánh giá:
"Trình độ lao động nữ, cán bộ nữ được nâng cao, đời sống được cải thiện nhưng đội ngũ cán bộ nữ lại hụt hẫng, chưa được bố trí vào vị trí tương xứng với khả năng của chị em" [15]
Nghị quyết số 04 của Bộ Chính trị (1983) chỉ rõ: ―Thực trạng đội ngũ cán
bộ nữ hiện nay vừa yếu vừa thiếu đồng bộ, đó là những vấn đề lớn, bức xúc đối
Trang 32với không chỉ chị em phụ nữ mà cả các đồng chí lãnh đạo Đảng, lãnh đạo các
bộ ngành phải giải đáp‖
Chỉ thị số 28/CT- TW năm 1993 và chỉ thị số 37/ CT -TW năm 1994 đã chỉ ra những nội dung cụ thể cần làm để tăng cường vai trò của phụ nữ trong đời sống chính trị Đó là nâng cao nhận thức về phụ nữ, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, tăng tỉ lệ cán bộ nữ trong các cơ quan quản lý và khuyến khích tài năng nữ Chỉ thị khẳng định: ―Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội là một yêu cầu quan trọng để thật sự thực hiện quyền bình đẳng dân chủ của Người phụ nữ để tạo điều kiện phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của Người phụ nữ ‖ [16]
Năm 1997, Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch Chương trình hành động quốc gia Vì sự tiến bộ Phụ nữ Việt Nam năm 2001 nêu rõ: ― Nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong việc tham gia bộ máy ra quyết định.‖ [20]
Trong khi đó, phụ nữ ngành Giáo dục và Đào tạo chiếm một tỷ lệ cao trong lực lượng lao động của giáo dục Việt Nam (trên 70%) Đây là lực lượng lao động được đào tạo chuẩn nhất trong mặt bằng lao động nữ của cả nước Xác định rõ điều
đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã rất quan tâm tới công tác nữ Bộ đã đề ra rất nhiều chủ trương chính sách sát với tình hình cán bộ, giáo viên nữ của ngành để cán bộ nữ phát huy hơn nữa về năng lực quản lý, chuyên môn nghiệp vụ và thiên chức làm vợ, làm mẹ ở gia đình để trở thành nhân tố quyết định sự thành công cả về số lượng, chất lượng giáo dục và đào tạo trong cả nước
Chỉ thị số 06/CT - GD ngày 28 tháng 2 năm 1985 của Bộ GD&ĐT về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ đã đánh giá: ―Chị em đã và đang phát huy tác dụng tốt trong các lĩnh vực hoạt động giáo dục trên mọi miền đất nước và có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo‖ Chỉ thị
nêu ra những tồn tại, bất cập của đội ngũ cán bộ nữ:“Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia
quản lý Trường học và các cấp QLGD còn thấp, chưa tương xứng với khả năng và
vị trí của lực lượng lao động nữ trong ngành Cán bộ quản lý nữ ở các sở, phòng, các cơ sở, các vụ, viện, các Trường sư phạm còn quá ít Đặc biệt cán bộ đảm
Trang 33nhiệm chức vụ trưởng lại càng ít nữa” Chính vì vậy mà Bộ yêu cầu các cấp
QLGD thực hiện tốt một số chủ trương, biện pháp sau:
Một là: phải tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong ngành về quan điểm, nhận thức đối với cán bộ, giáo viên và nữ cán bộ quản lý
Hai là: đẩy mạnh công tác đề bạt cán bộ nữ nhằm tăng cường tỷ lệ cán bộ
nữ ở các cấp quản lý và các cơ sở giáo dục
Ba là: sử dụng và bồi dưỡng tốt đội ngũ cán bộ nữ đương chức, tích cực đào tạo đội ngũ nữ cán bộ quản lý dự bị và đội ngũ nữ của ngành
Với tầm quan trọng của vị trí,vai trò Người phụ nữ trong giai đoạn mới Ngày 19 tháng 7 năm 1993, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký quyết định thành lập Ban: ―Vì sự tiến bộ phụ nữ‖ của ngành, do Thứ trưởng Trần Xuân Nhĩ làm Trưởng ban Từ khi được thành lập, Ban này đã xây dựng chương trình hành động ―Vì sự tiến bộ phụ nữ ngành giáo dục năm 2000‖; tổ chức tuyên truyền rộng rãi trong toàn ngành ý nghĩa công ước quốc tế ―Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ‖; ký kết, giới thiệu những thành tích của phụ nữ, những điển hình tốt trong cán bộ, giáo viên của ngành; kiến nghị với các cấp, các ngành một số chủ trương, biện pháp nhằm thực hiện tốt các chủ tr-ương, chính sách, pháp luật của nhà nước đối với phụ nữ nói chung và phụ nữ ngành GD & ĐT nói riêng
Ngày 19 tháng 9 năm 1994 Bộ GD&ĐT ban hành Chỉ thị số 15/ CT/
GD-ĐT trong tình hình mới Chỉ thị nêu rõ các vấn đề chủ yếu là:
- Đấu tranh chống các tư tưởng phong kiến, tư sản về những quan điểm phi vô sản đối với phụ nữ Chống coi thường, khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá,
sử dụng, đề bạt cán bộ nữ và giúp chị em khắc phục các biểu hiện tự ti, thiếu ý chí vươn lên, ngại làm công tác quản lý, hẹp hòi đố kị
- Xây dựng, quy hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý đương chức và kế cận là nữ ở các cơ sở, trường học và các cấp QL của ngành
Trên tinh thần đó, Chỉ thị số 06, Chỉ thị số 15 và chương trình hành động
―Vì sự tiến bộ phụ nữ‖ của ngành đã được triển khai đến các cơ sở GD và các
Trang 34Trường học, hướng dẫn các địa phương xây dựng chương trình hành động và kế hoạch hoạt động sát thực nhằm đạt được những mục tiêu về công tác CB nữ mà Đảng, Nhà nước đề ra
1.4 Những yêu cầu cơ bản đối với cán bộ quản lý giáo dục và nữ cán bộ quản lý giáo dục
1.4.1 Những yêu cầu cơ bản đối với cán bộ quản lý giáo dục
Giáo dục là một hoạt động vừa mang tính xã hội, vừa mang tính đặc thù nghề nghiệp riêng Vì vậy, để tác động có hiệu quả tới hệ thống GD, Người CBQL ngoài các yêu cầu chung cần phải có những yêu cầu riêng biệt sau:
+ Phải có phong cách lãnh đạo tốt, thích hợp với tổ chức mà mình lãnh đạo
để mọi thành viên cộng tác với mình, tự giác thực hiện các mục tiêu đã đề ra
Muốn vậy, Người CBQL phải có năng lực làm việc Việc rèn luyện phong cách, năng lực lãnh đạo quản lý chính là rèn luyện cách nhận biết thái độ của quần chúng và quan trọng hơn là biết cách thay đổi tình huống khi cần thiết
+ Cần phải có trí tuệ và sự am hiểu cuộc sống nói chung
Muốn QL tốt, Người làm công tác cần phải có tri thức Tri thức ở đây không chỉ đơn thuần là hiểu biết chuyên môn mà còn có cả tri thức của những lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội để xử lý quan hệ xã hội Phải không ngừng học hỏi ở sách vở và trong cuộc sống Người lãnh đạo và QL cần biết rút kinh nghiệm
từ thực tế công việc của mình để hoàn thiện phẩm chất cá nhân
Muốn làm tốt công việc, Người CBQL phải biết chấp nhận và biết đón đầu sự thay đổi tích cực, giảm thiểu những suy nghĩ tiêu cực trong tư tưởng, những quyết định mang tính bảo thủ, bổ sung kiến thức cho mình bằng cách học hỏi kinh nghiệm tốt của Người khác Người CBQL tốt không chỉ là Người thầy giáo giỏi mà còn phải là một nhà văn hoá uyên thâm Có như vậy, mới có thể đ-
ưa Nhà trường gắn liền với xã hội được
+ Người lãnh đạo, quản lý phải luôn giữ cho mình có được một trạng thái tâm lý tự tin, bình tĩnh Người lãnh đạo, quản lý cũng cần phải dũng cảm,
quyết đoán Nếu thiếu tâm lý tự chủ thì không thể điều hành tốt công việc được
Trang 35giao Bởi vì Người thiếu tự chủ thường chần chừ, dễ dàng lùi bước trước khó khăn Mặt khác cũng không nên để cho tâm lý dễ dãi chiến thắng, vội vàng tin vào lời quảng cáo, thoả hiệp trước các bước thụt lùi của tổ chức
Tuy nhiên, để khắc phục được những tâm lý nói trên, những Người tham gia công tác QL cần phải có sự rèn luyện và được thử thách qua thực tế công việc Người ta gọi đây là một nghệ thuật, bởi vì Người lãnh đạo, QL phải bộc
lộ thái độ của mình đúng lúc, đúng chỗ; phải biết cách xử sự khéo léo để quần chúng tin tưởng, sẵn sàng nghe theo mệnh lệnh điều hành của mình Không có nghệ thuật điều hành thì không thể tạo được sức mạnh của tổ chức
+ Người làm công tác quản lý giáo dục phải hết sức giữ gìn và nâng cao
uy tín cá nhân của mình trước tập thể Người có uy tín cao thì mệnh lệnh ban ra
sẽ được cấp dưới chấp nhận như một chân lý và sẵn sàng thực hiện Ngược lại, nếu thiếu uy tín thì khi chỉ đạo, cấp dưới sẽ không quyết tâm thực hiện các mệnh lệnh mà họ nhận được
Uy tín của Người cán bộ không chỉ với đồng nghiệp mà còn với cha mẹ học sinh và các lực lượng XH Đó là việc làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục Tất nhiên, việc nâng cao uy tín cá nhân không thể tách rời với việc nâng cao uy tín của tập thể Trên thực tế, không thể có uy tín cá nhân của Người lãnh đạo vượt qua được uy tín chung của tổ chức do Người đó điều hành
Vì vậy, để nâng cao uy tín của mình, Người lãnh đạo phải có sự hiểu biết, năng lực điều hành, lòng vị tha, sự quan tâm đến cấp dưới, năng lực học tập, ý chí quyết tâm trong công việc và nhiều yếu tố khác; phải thường xuyên chú ý rèn luyện các phẩm chất nêu trên, bất luận trong hoàn cảnh nào Hơn nữa phải chú ý đến lĩnh vực mà mình đảm nhiệm để hướng sự rèn luyện theo yêu cầu của lĩnh vực đó Uy tín nào cũng được tạo dựng bởi lòng tin của cấp dưới đối với lãnh đạo
1.4.2 Những tiêu chí đánh giá người cán bộ quản lý giáo dục
Cùng với lý luận chung của giáo dục học, nhân cách của Người giáo viên nói chung và Người CBQLGD nói riêng đã được các nhà nghiên cứu giáo dục khái
Trang 36quát phát triển trên cơ sở những giải pháp cụ thể về xây dựng đội ngũ QLGD trong giai đoạn mới mà NQTW2 BCHTW Đảng khoá VIII đã đề ra
Từ thực tế công tác QLGD hiện nay, tiêu chí đánh giá Người CBQLGD
có thể chia thành 3 nhóm phẩm chất (có tính tương đối) đó là :
Nhóm
Chính trị - tư tưởng - Nắm vững và chỉ đạo thực hiện đúng chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhất là những đường lối về GD&ĐT
- Lập trường tư tưởng vững vàng, không dao động trước những khó khăn thử thách Trung thành tuyệt đối với Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Nhạy bén với tình hình, đổi mới công tác của lãnh đạo cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong xu thế hội nhập Phẩm chất đạo đức - Có lối sống giản dị, trung thực; chân thành với đồng
- Năng động, sáng tạo, thường xuyên cải tiến công tác quản lý, ủng hộ cái mới, cái đúng
- Có tính quyết đoán Biết đề ra chủ trương phù hợp và
có những quyết định đúng đắn kịp thời
- Tác phong lãnh đạo dân chủ, có năng lực tập hợp quần chúng
Trang 37Trong 3 nhóm phẩm chất quan trọng đó, Người CBQLGD cần phải lưu ý đến việc nâng cao phẩm chất nghề nghiệp, nhất là trình độ chuyên môn và nghiệp vụ quản lý
1.4.3 Những yêu cầu cơ bản đối với nữ cán bộ quản lý giáo dục
Ngoài những yêu cầu chung, nữ cán bộ quản lý giáo dục cần có thêm những tiêu chuẩn sau:
- Có năng lực tự đào tạo, tự hoàn thiện (theo kiểu học liên tục, học suốt đời)
- Có năng năng lực giao tiếp
- Biết sắp xếp công việc tập thể và gia đình một cách khoa học
- Trong công tác chuyên môn và quản lý cũng có khi bất cập, chồng chéo
- Giữa áp lực công việc và sức khoẻ bản thân của Người phụ nữ hiện đại
- Đức tính dịu dàng, duyên dáng của Người phụ nữ và tính mạnh mẽ, quyết đoán trong công việc
Những vấn đề đó đòi hỏi Người phụ nữ phải có sự nhạy bén
và mềm mỏng, sáng tạo để xử lý nhằm đạt hiệu quả như mong
muốn
1.5 Nội dung phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý các trường
đại học, cao đẳng trong giai đoạn hiện nay
Chúng ta đang sống trong thời kỳ của nền kinh tế tri thức, nền kinh tế tri thức đã làm thay đổi hẳn cơ cấu kinh tế lao động, nền kinh tế chủ yếu dựa vào trí tuệ con người Tri thức ngày càng trở thành nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất Đầu tư cho
Trang 38phát triển tri thức trở thành yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng kinh tế vững chắc Như vậy người "nhạc trưởng" chỉ huy dàn nhạc lúc này không thể như trước được nữa, đòi hỏi phải có trình độ cao hơn, có khả năng quản lý, lãnh đạo giỏi hơn, có tầm nhìn chiến lược hơn Trên thực tế, các nhà lãnh đ ạo thành công đều có tầm nhìn về những việc họ phải hoàn thành Tầm nhìn ấy trở thành sức mạnh của sự cố gắng và thúc đẩy họ vượt qua khó khăn Với tầm nhìn, nhà lãnh đạo đang thực hiện một sứ mệnh đặc biệt, tinh thần ấy lan truyền và được mọi người cảm nh ận cho đến khi họ cùng thực hiện sứ mệnh với lãnh đạo của mình Một người lãnh đạo có cả ―tâm‖ lẫn ―tài‖ thì mới có thể là một nhà lãnh đạo có
―tầm‖ Và chỉ có người lãnh đạo có ―tầm‖ thì mới thu phục được những người có ―tâm‖ lẫn ―tài‖ cùng sát cánh vì lý tưởng chung của tổ chức
Vì vậy, việc phát triển đội ngũ CBQL là điều tất yếu không thể thiếu được, đây cũng là một phần việc quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và nữ cán bộ quản lý các trường cao đẳng, đại học nói riêng thực chất là xây dựng và phát triển cả ba yếu tố: Quy mô, chất lượng, cơ cấu Trong đó, quy mô được thể hiện bằng số lượng Cơ cấu thể hiện sự hợp lý trong bố trí về nhiệm vụ, độ tuổi, giới tính, chuyên môn, nghiệp vụ hay nói cách khác là tạo ra một ê kíp đồng bộ, đồng tâm có khả năng hỗ trợ, bù đắp cho nhau về mọi mặt Chất lượng là yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
Xét về quy mô, chất lượng, cơ cấu dưới góc nhìn về việc phát triển nguồn nhân lực của nền kinh tế tri thức thì nội dung xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý bao gồm:
Trang 39- Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý chính là thực hiện quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm, sắp xếp bố trí (thể hiện bằng số lượng, cơ cấu)
- Sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý là triển khai việc thực hiện các chức năng quản lý của đội ngũ, thực hiện bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý, phẩm chất chính trị; đánh giá, sàng lọc
- Tạo động cơ và môi trường cho sự phát triển là tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ quản lý phát huy vai trò của họ như thực hiện tốt các chính sách đãi ngộ, chế độ khen thưởng, kỷ luật, xây dựng điển hình tiên tiến nhân ra diện rộng Tạo cơ hội cho cá nhân có sự thăng tiến; tạo ra những ước mơ, hoài bão kích thích cho sự phát triển Tạo cơ hội cho cán bộ quản lý có điều kiện học
tập, bồi dưỡng, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm
Hơn nữa, phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý các trường cao đẳng, đại học là xây dựng, quy hoạch, bồi dưỡng, tuyển chọn, đào tạo, sắp xếp bổ nhiệm, tuyển dụng cũng như tạo môi trường
và động cơ cho đội ngũ này phát triển Để thực hiện tốt việc này chúng ta cần nghiên cứu đặc điểm của từng địa phương, vùng miền, về chính trị, kinh tế - xã hội hiện tại; nghiên cứu đặc trưng của giáo dục đại học, yêu cầu chuẩn đối với cán bộ quản lý của bậc học này cùng những đặc điểm tâm lý của người nữ cán bộ quản lý để đề ra nội dung, giải pháp cho phù hợp
1.5.1 Nội dung xây dựng đội ngũ nữ cán bộ quản lý
Xây dựng đội ngũ nữ CBQL phải căn cứ vào nội dung các văn bản, quy định của Chính phủ và của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Pháp lệnh cán bộ, công chức; Luật Giáo dục; Điều lệ trường đại học, cao đẳng; Nội dung chiến lược phát triển giáo dục theo từng
Trang 40giai đoạn để thực hiện Cần phải xây dựng đội ngũ nữ cán bộ quản
lý có năng lực quản lý phù hợp với các yêu cầu của hoạt động quản lý để đảm bảo đúng người, đúng việc; có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp để người nữ CBQL có khả năng thực hiện những nhiệm vụ, công việc và giải quyết ngừng tình huống nảy sinh trong hoạt động quản lý một cách khoa học, phù hợp với mục tiêu giáo dục đặt ra Căn cứ khả năng, đặc điểm của nữ CBQL để đưa ra các tiêu chuẩn phù hợp nhưng vẫn lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao làm yếu tố hạt nhân trong việc đánh giá cán
bộ
1.5.2 Nội dung phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý
Để phát triển đội ngũ nữ CBQL thì Quy hoạch đội ngũ nữ CBQL là một trong những khâu quan trọng Quy hoạch đội ngũ CBQL là hoạt động quản lý của người quản lý và các cơ quan quản lý giúp cho người quản lý và cơ quan quản lý biết được số lượng, cơ cấu tuổi, trình độ cơ cấu chuyên môn, cơ cấu giới của đội ngũ cán bộ quản lý từ đó có những biện pháp điều chỉnh cho phù hợp Quan trọng hơn việc quy hoạch làm cơ sở chủ yếu mang tính định hướng cho việc vận dụng và thực hiện các chức nă ng cơ bản của quản lý vào hoạt động quản lý trong giáo dục
Để hoàn thiện quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý, thì cấp quản lý phải lập kế hoạch cho tương lai một cách cân đối bằng cách so sánh số lượng CBQL cần thiết với số lượng CBQL hiện
có, phân tích độ tuổi, trình độ, năng lực, khả năng làm việc, thời gian công tác của từng người trong đội ngũ, để ấn định số lượng cần thiết đưa vào quy hoạch Mặt khác cấp quản lý còn phải căn
cứ vào nhu cầu, quy hoạch mạng lưới trường lớp trong tương lai theo kế hoạch phát triển để tạo nguồn CBQL cũng như các