Về nội dung khái niệm quản lí giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau : Theo tác giả Nguyễn Trọng Hậu: Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HỮU ĐỨC
QUẢN LÍ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRẦN HƯNG ĐẠO NAM ĐỊNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ( THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP )
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hà Nhật Thăng
HÀ NỘI – 2010
Trang 2Lời cảm ơn
Với tình cảm chân thành, tác giả xin được bày tỏ lòng cảm ơn các thầy giáo, các cô giáo trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn, tư vấn, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập
và nghiên cứu
Đặc biệt tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS
Hà Nhật Thăng, người đã định hướng cho tác giả hướng nghiên cứu đề tài,
cung cấp những kiến thức quý báu, tận tình hướng dẫn tác giả trong quá trình viết luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp trường THPT Trần Hưng Đạo Nam Định, các đồng chí lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định, Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định đã quan tâm tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập cũng như cung cấp những dữ liệu, thông tin trong luận văn
Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô, các anh chị bạn bè đồng nghiệp quan tâm góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng!
Hà Nội, tháng 11 - 2010
Tác giả
Nguyễn Hữu Đức
Trang 3HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trang 4DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Trang
Sơ đồ 1.1: Khái quát quá trình quản lý……… 11
Sơ đồ 1.2: Sự liên kết giữa các chức năng cơ bản của hoạt động quản lí… 15
Bảng 2.1: Số lượng GV, PH, HS được khảo sát theo trường………36
Biểu đồ 2.1: Nhận thức của GV,PH,HS về sự cần thiết phải bồi dưỡng
rèn luyện KNS ……… 38 Bảng 2.2: Nhận thức của GV,PH,HS về những KNS cần GD cho
HSTHPT ……… 40 Bảng 2.3: Nhận thức của GV,PH,HS về vai trò của HĐGDNGLL
trong việc giáo dục rèn luyện KNS cho HSTHPT ……… 41 Bảng 2.4: Ý kiến của GV,PH,HS về ý nghĩa của HĐGDNGLL trong
việc giáo dục rèn luyện KNS cho HSTHPT ……….42
Biểu đồ 2.2: Nhận định của GV,PH, HS về ý thức rèn luyện KNS
của HS thông qua HĐGDNGLL ……… 44
Biểu đồ 2.3: Nhận định của GV,PH và HS về việc rèn luyện KNS
cho HS thông qua HĐGDNGLL ……….45
Bảng 2.5: Số HS tham gia vào các công việc của HĐGDNGLL ……….46
Bảng 2.6 : Nhận định của GV,PH và HS về các nguyên nhân việc quản lí
GDKNS cho HS thông qua các HĐGDNGLL chưa tốt …… 55 Bảng 3.1 Sự cần thiết của các biện pháp quản lí GDKNS cho HS
qua các HĐGDNGLL ……… 76
Bảng 3.2 : Tính khả thi của các biện pháp quản lí GD KNS cho HS
trong các HĐGDNGLL ………78
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài 8
1.2.1 Khái niệm quản lí 9
1.2.2 Khái niệm quản lí giáo dục 11
1.2.3 Khái niệm quản lí nhà trường 12
1.2.4 Chức năng quản lí giáo dục 13
1.2.5 Kĩ năng sống 15
1.2.6 Giáo dục kĩ năng sống 16
1.2.7 Quản lí giáo dục KNS 16
1.2.8 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 17
1.3 Ý nghĩa của GDKNS cho HSTHPT trong giai đoạn hiện nay 18
1.3.1 GDKNS góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện của trường THPT 18 1.3.2 Giáo dục KNS là quá trình chuẩn bị hành trang cho học sinh thích ứng với những thách thức của cuộc sống hội nhập và phát triển 19
1.4.Vai trò của quản lí GDKNS cho HS trong trường THPT thông qua HĐGDNGLL 20
1.4.1 Quản lí GDKNS sẽ nâng cao hiệu quả của GDKNS, nâng cao chất lượng GD trung học phổ thông 20
1.4.2 Góp phần phát huy tiềm năng của nhà trường và xã hội, tạo ra sự thống nhất trong hoạt động GDKNS nói riêng, thực hiện mục tiêu giáo dục HSTHPT nói chung trong giai đoạn hiện nay 20 1.5 Những nội dung của quản lí GDKNS ở trường THPT thông qua
Trang 6HĐGDNGLL 21
1.5.1 Xác định mục tiêu GDKNS cho học sinh THPT 21
1.5.2 Xác định hệ thống KNS phù hợp với học sinh THPT 22
1.5.3 Xây dựng kế hoạch thực hiện 25
1.5.4 Xác định hình thức tổ chức giáo dục KNS cho học sinh THPT 26
1.5.5 Xác định phương pháp, cách thức quản lí thực hiện 26
1.5.6 Đánh giá hiệu quả giáo dục KNS 27
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lí GDKNS cho HSTHPT thông qua HĐGDNGLL 28
1.6.1 Mục tiêu giáo dục THPT và yêu cầu GDKNS 28
1.6.2 Nhận thức của các lực lượng tham gia quản lí và GDKNS cho HSTHPT 29
1.6.3 Đặc điểm của học sinh THPT 29
1.6.4 Trình độ của đội ngũ giáo viên THPT 32
1.6.5 Những điều kiện để thực hiện GDKNS cho HSTHPT 33
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC QUẢN LÍ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG Ở TRƯỜNG THPT TRẦN HƯNG ĐẠO NAM ĐỊNH 35
2.1 Vài nét về trường THPT Trần Hưng Đạo thành phố Nam Định 35
2.2 Thực trạng nhận thức của các lực lượng về việc GD và quản lí GDKNS 36
2.2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của việc GDKNS 37
2.2.2 Thực trạng nhận thức về những KNS cần GD cho HSTHPT 39
2.2.3.Thực trạng nhận thức về vai trò, ý nghĩa của HĐGDNGLL trong việc GD rèn luyện KNS cho HS ở trường THPT 41
2.3.Thực trạng việc GD rèn luyện KNS cho HS ở trường THPT Trần Hưng Đạo Nam Định 44
2.4 Thực trạng việc quản lí GDKNS cho HS ở trường THPT Trần Hưng Đạo Nam Định 47
2.5.Những ưu điểm, những tồn tại trong việc quản lí GDKNS cho HS trường THPT Trần Hưng Đạo trong thời gian vừa qua 50
2.6 Nguyên nhân của thành công và tồn tại trong việc quản lí GDKNS thông qua HĐGDNGLL ở trường THPT Trần Hưng Đạo Nam Định 53
Tiểu kết chương 2 57
Trang 7Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT TRẦN HƯNG
ĐẠO NAM ĐỊNH QUA CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI
GIỜ LÊN LỚP 59
3.1 Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp 59
3.1.1 Biện pháp phải phục vụ cho mục tiêu GDTHPT 59
3.1.2 Biện pháp quản lí phải tác động vào các nhân tố của hoạt động quản lí GDKNS 60
3.1.3 Biện pháp quản lí phải phát huy được tổng thể những yếu tố tích cực của hoạt động giáo dục KNS 61
3.1.4 Biện pháp phải có tính khả thi 61
3.2.Một số biện pháp quản lí giáo dục KNS của trường THPT Trần Hưng Đạo Nam Định 62
3.2.1 Quản lí xác định mục tiêu, nội dung giáo dục KNS cho HSTHPT phù hợp với đặc điểm điều kiện Nam Định 62
3.2.2 Tổ chức xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch tổng thể việc giáo dục KNS phù hợp với các khối lớp HSTHPT 64
3.2.3 Quản lí kế hoạch bồi dưỡng nhận thức và trang bị phương pháp GD KNS cho các chủ thể tham gia GD KNS 66
3.2.4 Kế hoạch hóa việc sử dụng các nguồn lực phục vụ giáo dục KNS trong và ngoài nhà trường 69
3.2.5 Quản lí việc xây dựng quy trình kiểm tra đánh giá hiệu quả của hoạt động giáo dục KNS cho HS 72
3.3 Khảo sát tính khả thi và sự cần thiết của các biện pháp đề xuất 75
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Khuyến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ những yêu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay
Thế giới hiện đại với những thành tựu to lớn của nền văn minh tin học đã
và đang đứng trước những cơ hội phát triển chưa từng có, đồng thời cũng đang phải đối mặt với những thách thức to lớn mang tính toàn cầu với các nguy cơ chiến tranh, khủng bố, bạo lực, phân hóa giầu nghèo Giáo dục(GD) với chức năng xã hội to lớn của mình đã đưa đến cho mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ ở tất cả các quốc gia, các dân tộc những giá trị chung của nhân loại: hòa bình, hợp tác, bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau GD góp phần thức tỉnh những bản chất tốt đẹp của con người, đẩy lùi sự đố kị, thúc đẩy sự hướng thiện và hòa đồng, tinh thần hợp tác, khoan dung, thân thiện, nhân ái Trong xã hội hiện tại cũng như trong tương lai, con người cần có khả năng sống với nhau, học với nhau, làm việc với nhau và sử dụng những nguồn lực môi trường một cách khôn ngoan Kĩ năng sống (KNS) cần và được thể hiện trong học tập, trong cuộc sống cá nhân, trong quan hệ với người khác, với môi trường, với công việc ở cấp độ phù hợp với từng lứa tuổi, từng ngành nghề, từng vùng, sẽ luôn đòi hỏi kĩ năng giao tiếp và hợp tác, kĩ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và công việc Như vậy việc giáo dục kĩ năng sống (GDKNS) không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân mà còn thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội và giảm các vấn đề tiêu cực trong xã hội
1.2 Xuất phát từ đặc điểm của học sinh trung học phổ thông
Với độ tuổi 15-19 học sinh (HS) bậc trung học phổ thông (THPT) rất nhạy cảm hiếu động, ham thích cái mới, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá, có nhu cầu tự khẳng định mình và mong muốn được người lớn thừa nhận, tôn trọng Mặt khác ở lứa tuổi này các em vẫn hồn nhiên, “ ăn chưa no, lo chưa tới “ của tính trẻ con, hay đua đòi, dễ bị cám dỗ
Trang 9kích động Các em thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, chưa có kinh nghiệm đối xử, ứng phó với những tình huống đa dạng phức tạp của thực tiễn Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vài hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được GDKNS, nếu thiếu KNS, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách Các hiện tượng tiêu cực của một bộ phận HS phổ thông trong thời gian qua, như : bạo lực học đường, đua xe máy, nghiện hút, một phần là do các em thiếu các KNS cần thiết như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng từ chối, kĩ năng kiên định,…Vì vậy GDKNS đối với HS là một đòi hỏi cấp thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình cộng đồng Nếu tổ chức quản lí GDKNS một cách khoa học, hợp lí chính là giúp các em có hành trang tự khẳng định, vững vàng tự tin trước sự lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu, giữa tích cực và tiêu cực, giữa cái nên cần làm và cái cần tránh; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa lành mạnh
1.3 Xuất phát từ thực tế, các trường còn bất cập với GDKNS cho HS
Một thực tế là hiện nay ở các trường phổ thông nói chung, THPT nói riêng, công tác GD đạo đức HS trong nhà trường chưa được quan tâm đầy đủ, còn nặng về dạy “chữ”, nhẹ về “dạy người”, đặc biệt là GDKNS cho HS còn
“bỏ ngỏ” Chương trình kiến thức nặng nề, dàn trải ở tất cả các môn học trước khi chưa cải cách chương trình, phân phối chương trình học ở bậc THPT là 33 tuần một năm, sau nâng lên 35 tuần Khi thực hiện chương trình chuyên ban thì khung phân phối chương trình là 37 tuần trong một năm học Mặt khác do khung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo là pháp lí cho
Trang 10nên các nhà trường không được tự chủ điều chỉnh các tiết dạy cho phù hợp với đặc thù của từng địa phương trong các giai đoạn cụ thể Vì vậy trong các giờ học trên lớp, các thầy cô giáo lúc nào cũng mải miết lo truyền thụ kiến thức, làm sao không để bị “cháy” giáo án, rèn luyện kĩ năng làm bài để bảo đảm chất lượng trong các kì kiểm tra thi cử Ngay trong tư tưởng của các thầy
cô giáo, việc lồng ghép tích hợp GD các KNS cho các em trong các giờ học trên lớp thông qua bài giảng cũng chưa được chú ý, coi việc đó không phải là trách nhiệm của bản thân mình trong khi giảng dạy chuyên môn Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) được tổ chức nhiều khi cũng chỉ mang tính phong trào ( Phát động phong trào phòng chống HIV/AIDS, tháng an toàn giao thông, ) chưa thực sự chú ý vào GD trang bị cho các em những kĩ năng cần thiết như : kĩ năng kiên định, kĩ năng từ chối, Hơn nữa các hoạt động tập thể này khi được tổ chức lại chỉ dành cho số ít HS được tham gia, có tính ví dụ Lực lượng cổ vũ động viên có khi không được tham dự hết
để chứng kiến học hỏi Cho nên các em chưa thực sự coi đây là hoạt động của các em Do đó phong trào hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trong trường phổ thông chưa có chiều sâu, hiệu quả GD thấp Vì thế thời gian gần đây trong HS
có những biểu hiện không lành mạnh như bạo lực học đường, nghiện hút, đua
xe máy, thậm trí còn mắc cả tội phạm,… đã gây ra sự lo lắng bức xúc trong
dư luận xã hội, sự trăn trở thường xuyên của ngành GD, những người mang trọng trách cao cả làm thầy
1.4 Xuất phát từ yêu cầu GDKNS đối với HSTHPT Nam Định
Các trường THPT của thành phố Nam Định cũng như trường THPT Trần Hưng Đạo cũng không ngoài thực trạng chung trên Việc GDKNS cho
HS chưa được quan tâm đúng mức, còn rất lúng túng, mỗi trường, mỗi lớp thực hiện một kiểu một cách Mặt khác sự chỉ đạo chung từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định về nội dung các KNS cần thiết, cách thức tổ chức hoạt động GDKNS cho các em chưa có văn bản hướng dẫn
Trang 11chỉ đạo rõ ràng Trường nào có thiên hướng mạnh về hoạt động nào thì tổ chức hoạt động đó Nhưng những hoạt động đó cũng chưa có mục đích, yêu cầu GD trang bị các KNS cho HS một cách rõ ràng rành mạch Trên thực tế muốn nâng cao hiệu quả của GDKNS cần phải có sự thống nhất về nhận thức, xác định thống nhất những KNS cần thiết, xác định cách thực hiện thống nhất
và cần có một kế hoạch hoạt động thống nhất
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên
cứu: “ Quản lí giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường trung học phổ
thông Trần Hưng Đạo Nam Định trong giai đoạn hiện nay( thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp) ” làm luận văn tốt nghiệp cao học quản lí
4 Giả thuyết nghiên cứu
Trong thực tiễn tổ chức GDKNS cho HS ở trường THPT Trần Hưng Đạo chưa có sự thống nhất về nhận thức và hoạt động, chưa có sự thực hiện hệ thống Lớp nào giáo viên chủ nhiệm(GVCN) nhiệt tình, có nhận thức đầy đủ sẽ thực hiện có hiệu quả GDKNS Không ít giáo viên(GV), HS chưa thấy tầm quan trọng, còn lúng túng về nội dung, cách thực hiện thì việc GDKNS thực hiện không có hiệu quả Tình trạng đó không chỉ ở trường THPT Trần Hưng Đạo mà một số trường THPT cũng như vậy, nhất là ở các lớp cuối cấp ( lớp 11,12) chỉ quan tâm tới việc dạy học Phải chăng trong dó
có nguyên nhân lãnh đạo các trường chưa có những biện pháp quản lí thống nhất, nếu nhà trường quan tâm và có những biện pháp quản lí khoa học, hợp
Trang 12lí, phát huy được những yếu tố tích cực, tạo ra sự thống nhất hành động thì
hiệu quả GDKNS sẽ được cải thiện
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lí luận của việc quản lí GDKNS cho HSTHPT
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng việc GDKNS và các biện pháp quản lí GDKNS cho HSTHPT Trần Hưng Đạo thành phố Nam Định
5.3 Đề xuất những biện pháp quản lí GDKNS cho HSTHPT nhằm tạo sự
thống nhất về nhận thức và hành động thực hiện mục tiêu, nội dung
GDKNS
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung : Xác định những biện pháp quản lí của nhà trường về các
HĐGDNGLL tạo ra sự thống nhất giữa các lực lượng trong và ngoài nhà
trường nhằm thực hiện GDKNS cho HSTHPT GDKNS có thể thông qua hoạt
động dạy học Do điều kiện có hạn của một luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu
việc quản lí hoạt động GDKNS thông qua các HĐGDNGLL vì đó là con
đường có những ưu điểm nổi trội để nâng cao hiệu quả GDKNS cho
HSTHPT
- Về không gian : Lấy trường THPT Trần Hưng Đạo Nam Định làm địa
bàn nghiên cứu là chủ yếu
- Đối tượng điều tra khảo sát : Cán bộ quản lí (CBQL), GV, HS, phụ
huynh học sinh (PHHS) một số trường THPT ở thành phố Nam Định, trong
đó có trường THPT Trần Hưng Đạo
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Thu thập, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, như:
các văn bản của Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở Giáo dục và
Đào tạo Nam Định, của nhà trường; các sách báo, các bài viết của các nhà
nghiên cứu, các nhà giáo dục học,
Trang 137.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng hệ thống câu hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7.3 Phương pháp xử lí thông tin dữ liệu
- Dùng thống kê toán học
- Phần mềm tin học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lí GDKNS cho HSTHPT
Chương 2 : Thực trạng của việc quản lí GDKNS cho HS ở trường
THPT Trần Hưng Đạo Nam Định
Chương 3 : Một số giải pháp quản lí GDKNS cho HS trường THPT
Trần Hưng Đạo thông qua các HĐGDNGLL
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã
có thông điệp để xây dựng một xã hội học tập trong thế kỉ XXI thì tất cả các
quốc gia cần phải xây dựng tốt bốn trụ cột của giáo dục Đó là : Học để biết
và sáng tạo, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người[16] Để
thực hiện bốn trụ cột này việc GDKNS là rất cấp thiết
Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa nội dung GDKNS cho HS vào trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau Đã có 155 nước quan tâm đến việc đưa GDKNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước
đã đưa vào chương trình chính khóa ở bậc tiểu học và bậc trung học[9]
Theo kết quả nghiên cứu khảo sát của bà Đỗ Thị Hải, Phó Viện trưởng
Viện Nghiên cứu môi trường và các vấn đề xã hội : “ Khảo sát ở hơn 1000
học sinh sinh viên thuộc 10 trường Đại học, cao đẳng và phổ thông cho thấy trên 95% chưa nhận thức đúng về kĩ năng sống; 77,7% chưa bao giờ được đào tạo, tập huấn về kĩ năng sống; 76.4% cho biết rất cần được tập huấn kiến thức về kĩ năng sống”[33] Trong số những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các
hành vi sai trái về đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật của học sinh sinh viên,
bên cạnh trách nhiệm của xã hội, nhà trường và gia đình, theo Tiến sĩ Phùng Khắc Bình – Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh sinh viên ( Bộ Giáo dục – Đào
tạo ) thì “ Có nguyên nhân quan trọng do bản thân học sinh sinh viên thiếu kĩ
năng sống, thiếu những kiến thức, hiểu biết để giải quyết đúng đắn các vấn đề trong cuộc sống “[33] Trước những hiện tượng tiêu cực trong đạo đức, lối
sống, hành vi của một bộ phận học sinh gây lo lắng bức xúc trong dư luận xã hội, bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai nhiều phong trào trong trường học như an toàn giao thông, sức khỏe, Đặc biệt ngày 22/7/2008 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT về việc phát động
Trang 15phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong
các nhà trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 Trong năm nội dung của phong trào thi đua, có nội dung rèn luyện KNS cho HS với những kĩ năng khá
cụ thể
Xã hội càng phát triển, khoa học kĩ thuật càng tiến bộ thì nhu cầu học tập của con người càng lớn Người ta có nhu cầu muốn học để hiểu biết, để làm việc, để sống tốt hơn để tự khẳng định mình, để mong có cơ may và để hòa nhập vào cộng đồng ngày càng văn minh tiến bộ Vì vậy các nhà trường hiện nay cùng với việc trang bị cho HS các kiến thức còn cần phải trang bị cho các em sự hiểu biết các giá trị, các kĩ năng để đảm bảo hạnh phúc cho bản thân, cho mọi người và đóng góp tích cực cho đất nước cũng như thế giới GDKNS là việc đòi hỏi sự tham gia của cả gia đình, nhà trường và xã hội Tuy nhiên việc GD kĩ năng tại các trường học chỉ mới dừng lại ở các tiết học
về GD công dân hay sự lồng ghép trong một số HĐGDNGLL Mục đích của GDKNS cho HS trong các giờ giảng, trong các hoạt động chưa được xác định đúng mức, rõ ràng vì thế hiệu quả của việc GDKNS cho các em còn nhiều hạn chế Đặc biệt nghiên cứu quản lí GDKNS thông qua các HĐGDNGLL còn chưa có ai nghiên cứu nhất là ở thành phố Nam Định, nhằm tạo ra sự thống nhất toàn xã hội
Đề tài nghiên cứu của tác giả với mong muốn nâng cao hiệu quả quản lí việc GDKNS thông qua các HĐGDNGLL, tạo ra sự thống nhất nhận thức và hành động một cách hệ thống trong nhà trường
1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc quản lí GDKNS cho HSTHPT có những khái niệm mang tính khoa học liên quan đến đề tài, như: Quản lí, quản
lí giáo dục, quản lí nhà trường, chức năng quản lí giáo dục, kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống, quản lí giáo dục kĩ năng sống, hoạt động giáo dục ngoài giờ
Trang 16lên lớp Trong khuôn khổ của đề tài, đây là những khái niệm công cụ góp phần làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Khái niệm quản lí
Khái niệm “ Quản lí “ thuộc về những khái niệm chung nhất, tổng hợp nhất, nó bao hàm cả quản lí xã hội, quản lí các quá trình sinh vật và quản lí cả máy móc, quản lí cơ chế ở những dạng khác nhau Trong dạng chung nhất: Quản lí là quá trình tác động đến hệ thống nhằm mục đích chuyển hệ thống vào trạng thái mới, trên cơ sở sử dụng những quy luật khách quan thuộc về hệ thống đó
Chính vì thế quản lí được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau:
- Cách tiếp cận theo thực tiễn: Trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng cách
nghiên cứu kinh nghiệm thông thường qua các trường hợp cụ thể Từ việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng, để từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự
- Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: Dựa trên những ý tưởng cho rằng
quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “con người nên hiểu con người” Với học thuyết này giúp cho người quản lý ứng
xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền
- Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống: Cách tiếp cận này cho phép xem
xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định
Trang 17Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng:
- Định nghĩa quản lí một cách kinh điển nhất là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí( người quản lí ) đến khách thế quản lí( người bị quản lí ) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích của tổ chức [10, tr.1]
- Ngày nay hoạt động quản lí được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.[10, tr.1]
Theo tác giả Trần Khánh Đức: “ Quản lí là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt dược các mục tiêu
đề ra một cách hiệu quả nhất “ [16, tr.328]
Bất cứ một hệ xã hội nào cũng được xem như là một hệ quản lí: một nhà máy, một xí nghiệp, một trường học hay một quốc gia Mỗi hệ quản lí bao gồm hai bộ phận gắn bó khăng khít với nhau:
- Bộ phận quản lí ( giữ vai trò chủ thể quản lí ) có chức năng điều khiển
hệ quản lí, làm cho nó vận hành với mục tiêu đã đặt ra
- Bộ phận bị quản lí (đối tượng quản lí- giữ vai trò khách thể quản lí ) gồm những người thừa hành trực tiếp sản xuất và bản thân quá trình sản xuất
Trong quản lý chủ thể quản lý và đối tượng quản lý lại có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Khi mục tiêu của tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng quản lý thông qua chủ thể quản lý
Từ sự phân tích cách tiếp cận và quan niệm của các học giả đã nêu ta có
thể hiểu: Quản lí là tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lí
đến khách thể quản lí nhằm đưa hệ thống đạt đến mục tiêu đã định và làm cho nó vận hành tiến lên một trạng thái mới về chất
Quá trình quản lý có thể được khái quát bằng sơ đồ sau đây:
Trang 18Sơ đồ 1.1 Khái quát quá trình quản lý
1.2.2 Khái niệm quản lí giáo dục
Quản lí giáo dục là một bộ phận của quản lí xã hội và là một loại hình quản lí đặc biệt phong phú Cũng như khái niệm quản lí, quản lí giáo dục chưa có khái niệm đồng nhất Về nội dung khái niệm quản lí giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau :
Theo tác giả Nguyễn Trọng Hậu: Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các câp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các
cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.[19, tr.65]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, ta có thể hiểu quản lí giáo dục là
hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lí, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy – học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.[16]
Như vậy ta có thể hiểu quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có ý
Trang 19thức, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng hệ thống
cả về mặt số lượng cũng như chất lượng
Theo nghĩa tổng quan, quản lí giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, xây dựng một xã hội học tập và học tập suốt đời, thì công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lí giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.2.3 Khái niệm quản lí nhà trường
Quản lí nhà trường là một bộ phận trong quản lí GD Trường học là tổ chức GD mang tính quyền lực nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác GD đào tạo, thực hiện việc giáo dục cho thế hệ trẻ Trường học là tế bào cơ sở, chủ chốt và cơ bản của tất cả các cấp quản lí nhưng lại vừa là hệ thống độc lập tự quản của xã hội Vì thế quản lí trường học vừa có tính nhà nước, vừa có tính xã hội
Theo tác giả Hà Nhật Thăng, quản lí nhà trường là quản lí quy trình (từ mục tiêu, nội dung, kiểm tra đánh giá) và quản lí các điều kiện thực hiện các quá trình đó như đội ngũ GV, các trang thiết bị, phương tiện, không gian, thời gian thực hiện mục tiêu và nội dung chương trình.[29]
Tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và từng HS.[16]
Theo tác giả Nguyễn Trọng Hậu, có thể hiểu quản lí nhà trường là tổ chức hoạt động dạy học; có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được
Trang 20các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản
lí được GD; tức là cụ thể hóa đường lối GD của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước.[19]
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: ” Quản lí trường học là hoạt động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS
và các lực lượng GD khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực GD để nâng cao chất lượng GD và đào tạo trong nhà trường “.[32, tr.205]
Từ các nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy : quản lí trường học là
quản lí giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị GD nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ GD thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội
Mục tiêu quản lí của nhà trường thường được cụ thể hóa trong kế hoạch năm học Những mục tiêu này là các nhiệm vụ chức năng mà tập thể nhà trường cần phải thực hiện trong suốt năm học Tuy nhiên mỗi loại hình nhà trường, ở mỗi bậc học phải bảo đảm vận dụng khác nhau khi thực hiện nguyên lí GD, nhưng các nhà quản lí phải bảo đảm được hai vấn đề cốt yếu,
đó là : xác định mục tiêu quản lí của nhà trường và nội dung cụ thể của những mục tiêu ấy
1.2.4 Chức năng quản lí giáo dục
Chức năng quản lí GD là một dạng hoạt động quản lí chuyên biệt, thông qua đó chủ thể quản lí tác động vào khách thể quản lí nhằm thực hiện một mục tiêu quản lí GD nhất định Trong hoạt động quản lí, chức năng quản lí
GD là điểm xuất phát để xác định chức năng của cơ quan quản lí GD và cán
bộ quản lí GD Các nhà khoa học và quản lí thực tiễn đã đưa ra những quan điểm khác nhau về phân loại chức năng quản lí
Theo quan điểm truyền thống,H.Flayol đã đưa ra 5 chức năng quản lí,đó là:
- Kế hoạch (Planning )
- Tổ chức (Organizing )
- Chỉ huy (Directing )
Trang 21- Phối hợp (Co-ordinating)
- Kiểm tra (Controlling ) Theo quan điểm của tổ chức UNESCO, hệ thống chức năng quản lí bao gồm 8 vấn đề sau : - Xác định nhu cầu
lí giáo dục) khác nữa, nhưng tựu chung lại nền tảng của vấn đề vẫn là bốn
chức năng cơ bản theo quan điểm hiện đại: Kế hoạch hóa – Tổ chức – Lãnh
đạo và chỉ đạo – Kiểm tra Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, bốn chức năng cơ
bản nêu trên cũng là nội dung của hoạt động quản lí nói chung hay quản lí GD nói riêng Các chức năng có sự liên kết hữu cơ, chặt chẽ trong một hệ thống nhất quán và bổ sung cho nhau, không thể tách rời các chức năng Nhân tố
gắn kết nội dung- chức năng quản lí chính là quyết định, điều chỉnh, thông
Trang 22tin.[1] Sơ đồ sau đây mô tả mối liên kết giữa các chức năng cơ bản của hoạt
động quản lí ( cũng như hoạt động quản lí GD ):
Sơ đồ 1.2 : Sự liên kết giữa các chức năng cơ bản của hoạt động quản lí Điều chỉnh
Quyết định Thông tin
1.2.5 Kĩ năng sống
Có nhiều quan niệm khác nhau về KNS:
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.[9]
Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng.[9]
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
(UNESCO), KNS gắn với 4 trụ cột của GD, đó là : Học để biết ( gồm có các
kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…, căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự
nhận thức, tự tin, ); Học để sống với người khác ( gồm các kĩ năng xã hội,
như : giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc nhóm, thể hiện
sự cảm thông…); Học để làm ( gồm các kĩ năng thực hiện công việc và các
nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…).[9]
Kế Tổ Kiểm Đạo
Trang 23Phân tích các quan niệm trên cho thấy: Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác, với môi trường của mình.Quan niệm này mang tính khái quát, chưa thể hiện rõ các kĩ năng cụ thể.Quan niệm của UNESCO là quan niệm khá chi tiết cụ thể có nhấn mạnh thêm kĩ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ Còn quan niệm của UNICEF thì nhấn mạnh : kĩ năng không hình thành, tồn tại một cách độc lập mà hình thành, tồn tại trong mối tương tác mật thiết có sự cân bằng với kiến thức và thái độ
Từ những quan niệm trên đây, chúng ta có thể thấy KNS chính là kĩ năng
tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói một cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
1.2.6 Giáo dục kĩ năng sống
Từ khái niệm KNS được nêu ở trên, ta thấy KNS bao gồm một loạt các
kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Khi đã có KNS cơ bản cần thiết, nhất là năng lực hành động, năng lực thực tiễn các em
sẽ bình tĩnh chủ động sáng tạo và tích cực hơn khi tham gia các hoạt động trong học tập, lao động, sinh hoạt hàng ngày của cuộc sống
Như vậy GDKNS chính là quá trình hình thành, rèn luyện và phát triển
cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người xung quanh trong cộng đồng xã hội và ứng phó tích cực trước các tình huống trong cuộc sống
1.2.7 Quản lí giáo dục KNS
Theo các nhà tâm lí học, giáo dục học, sự phát triển của mỗi con người để
trở thành một nhân cách là một diễn biến phức tạp, bị chi phối bởi các yếu tố :
sinh học - môi trường - hoạt động - giáo dục.[32]
Con người sống luôn luôn hoạt động Hoạt động là phương thức tồn tại và
Trang 24là con đường hình thành phát triển nhân cách Nội dung phương thức hoạt động, mục đích và ý thức của mỗi cá nhân trong hoạt động tạo nên những nét tính cách riêng của từng con người Mỗi con người là sản phẩm của chính bản thân mình
HS trong quá trình tham gia tích cực vào các loại hình hoạt động, với các mối quan hệ đa dạng trong xã hội, các giá trị văn hóa của loài người, từ đó các phẩm chất tính cách năng lực được hình thành
Hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhất của cuộc sống con người Trong bất cứ hoạt động nào con người cũng tham gia vào những quan
hệ xã hội nhất định Trong giao lưu con người tìm ra lẽ phải, chân lí, rút được kinh nghiệm sống, sự ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên cuộc sống văn hóa, hình thành những tính cách điển hình
Từ những phân tích trên đây chúng ta có thể thấy: quản lí GDKNS cho
HS chính là quản lí kế hoạch, nội dung chương trình, phương pháp hình thức
tổ chức, sự phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu các nhiệm vụ GD rèn luyện KNS ở HS
1.2.8 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Khái niệm về HĐGDNGLL có nhiều cách hiểu khác nhau:
- HĐGDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học trên lớp HĐGDNGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy – học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết và thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của học sinh.[9]
- HĐGDNGLL là một bộ phận của quá trình GD ở nhà trường THPT Đó
là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa trên lớp HĐGDNGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin ở HS HĐGDNGLL là con đường để phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ.[4]
Trang 25Trên cơ sở những ý kiến nêu ra trên đây, chúng ta có thể nhận thấy rằng : HĐGDNGLL là một hoạt động GD được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần thực thi quá trình đào tạo HS, đáp ứng những nhu cầu đa dạng của đời sống xã hội Hoạt động này do nhà trường quản lí, tiến hành ngoài giờ học trên lớp Nó dược tiến hành xen kẽ hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong phạm vị nhà trường hoặc trong đời sống xã hội, được diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình GD, làm cho quá trình đó có thể được thực hiện mọi nơi, mọi lúc HĐGDNGLL rất đa dạng và phong phú về các loại hình hoạt động được nhà trường, các đoàn thể, các tiểu ban hoạt động tổ chức nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho HS, đặc biệt phát triển xúc cảm, tình cảm, niềm tin, hình thành lối sống, phát triển các KNS, các năng lực của con người
Việt Nam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó chính là 8 năng lực: năng
lực tự hoàn thiện, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực thích ứng, năng lực hợp tác và cạnh tranh, năng lực tổ chức quản lí, năng lực hoạt động chính trị
xã hội, năng lực nghiên cứu khoa học,năng lực lao động nghề nghiệp chuyên biệt xã hội.[26]
1.3 Ý nghĩa của GDKNS cho HSTHPT trong giai đoạn hiện nay
1.3.1 GDKNS góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện của trường THPT
Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện
Luật GD năm 2005, Điều 2 đã xác định:” Mục tiêu của giáo dục phổ thông
là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trang 26Như vậy mục tiêu của GD phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho HS sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn
GDKNS cho HS với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
rõ ràng là phù hợp với mục tiêu GD phổ thông
1.3.2 Giáo dục KNS là quá trình chuẩn bị hành trang cho học sinh thích ứng với những thách thức của cuộc sống hội nhập và phát triển
Trong thực tế cuộc sống hàng ngày, giữa nhận thức và hành vi của con người có khoảng cách Có khi có nhận thức đúng những chưa chắc đã có hành
vi đúng KNS chính là cầu nối giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực lành mạnh
Để sống, hội nhập và góp phần tích cực cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn lên, không thể không GDKNS cho thích ứng với mọi biến động của hoàn cảnh Việc GDKNS nhằm GD sống khoẻ mạnh là hết sức quan trọng giúp các
em rèn hành vi có trách nhiệm, ứng phó với sức ép trong cuộc sống, biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp, ứng phó với thách thức trong cuộc sống Những thay đổi nhanh chóng trong đời sống xã hội (về kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kĩ thuật, biến đổi khí hậu, thiên tai, trong nước và thế giới) đã tạo
ra một cuộc sống hiện đại, vận động không ngừng, rất khẩn trương và chứa đựng nhiều yếu tố khôn lường Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn thách thức, biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ sẽ thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình Ngược lại, nếu thiếu KNS thường bị vấp ngã,
dễ bị thất bại trong cuộc sống
Bên cạnh việc chuẩn bị hành trang cho cá nhân, KNS còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội Việc thiếu KNS của cá
Trang 27nhân là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, như : nghiện ma túy, mại dâm, cờ bạc,…Việc GDKNS sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội
1.4.Vai trò của quản lí GDKNS cho HS trong trường THPT thông qua HĐGDNGLL
1.4.1 Quản lí GDKNS sẽ nâng cao hiệu quả của GDKNS, nâng cao chất lượng GD trung học phổ thông
Mục tiêu GD của Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học
để đáp ứng sự phát triển, sự công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đất nước.GDKNS cho HS trong các nhà trường phổ thông nói chung và THPT nói riêng đều phải nhằm đến các mục tiêu, đó là trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp Trên cơ sở đó hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh tích cực; loại bỏ những hành vi thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, trong các tình huống và hoạt động hàng ngày Mặt khác GDKNS cho HS cũng là tạo cơ hội thuận lợi cho các em thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình; phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần
và đạo đức Như vậy nếu các nhà trường phổ thông làm tốt được công tác quản lí GDKNS cho các em HS thì việc GDKNS cho các em sẽ không bị nặng nề quá tải nội dung môn học và HĐGDNGLL, mà ngược lại còn giúp cho việc học tập các môn học và tham gia các hoạt động GD của HS trở nên nhẹ nhàng thoải mái, thiết thực hiệu quả hơn Nói một cách khác, quản lí tốt công tác GDKNS cho các em chính là góp phần phát triển nhân cách của HS cũng như nâng cao chất GD toàn diện ở nhà trường phổ thông
1.4.2 Góp phần phát huy tiềm năng của nhà trường và xã hội, tạo ra sự thống nhất trong hoạt động GDKNS nói riêng, thực hiện mục tiêu giáo dục HSTHPT nói chung trong giai đoạn hiện nay
GDKNS đòi hỏi có sự phối kết hợp tham gia của gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội Sự nghiệp GD không thể là của riêng ai mà là sự nghiệp
Trang 28chung của toàn xã hội Như Dorothy Holte, nhà chuyên gia tâm lí học người
Nga đã từng nói:” Cây giáo dục chỉ đơm hoa thơm và kết trái ngọt khi có sự
chăm sóc và vun xới của nhà trường, gia đình và xã hội “.[34] Trong sự phối
kết hợp này nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức hoạt động, điều phối các mối quan hệ Cùng với việc tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ GV và HS về ý nghĩa vai trò của GDKNS cho HS thì nhà trường cần phải có sự phân công trách nhiệm của các bộ phận GD trong nhà trường, có kế hoạch tổng thể, có sự tập huấn bồi dưỡng cùng với sự vận động kết hợp khéo léo với hội cha mẹ HS, các tổ chức đoàn thể trong xã hội nhằm mục đích huy động được những tiềm năng thế mạnh của các cá nhân, lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia vào công tác GD Chỉ khi nào các nhà quản lí ở trong các nhà trường phổ thông huy động được đầy đủ các lực lượng tham gia một cách tích cực, tạo một sự đồng thuận cao thì công tác
GD của các nhà trường, đặc biệt là GDKNS cho học sinh mới có hiệu quả
1.5 Những nội dung của quản lí GDKNS ở trường THPT thông qua HĐGDNGLL
1.5.1 Xác định mục tiêu GDKNS cho học sinh THPT
Mục tiêu GD của Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học
để đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Mục tiêu GD của Việt Nam thể hiện mục tiêu GD của thế kỉ XXI: Học để
biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống Vì thế
GDKNS cho HS trong nhà trường phổ thông nói chung và HSTHPT nói riêng phải nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản như sau :
Một là: Trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù
hợp Trên cơ sở đó hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ,các tình huống và hoạt động hàng ngày
Trang 29Hai là: Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện rèn luyện KNS
1.5.2 Xác định hệ thống KNS phù hợp với học sinh THPT
Trên cơ sở thực trạng của GDKNS cho HS trong các trường THPT của chúng ta trong những năm qua, có thể đề xuất những nội dung GDKNS cho HSTHPT bao gồm một số KNS cơ bản như sau:
1.5.2.1 Kĩ năng tự nhận thức
Kĩ năng tự nhận thức là khả năng của con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,… của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm
gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng
Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có được sự cảm thông với người khác Có hiểu đúng về mình, con người mới có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội Ngược lại đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm thất bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác Kỹ năng tự nhận thức làm cho con người có thể nhìn vào chiều sâu nội tâm và các giá trị tinh thần, tình cảm, đạo đức của mình để hiểu được nhu cầu, mục tiêu, khát vọng của chính mình, hiểu mình trong quan hệ với người khác và với thế giới xung quanh Để tự nhận thức đúng về bản thân, con người cần phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp với người khác
1.5.2.2 Kĩ năng xác định giá trị
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng có ý nghĩa đối với bản thân, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến thái độ và thậm chí là thành kiến với một điều gì đó Giá trị có thể
Trang 30là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, có thể thuộc các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức kinh tế,…Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng Kĩ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình Kĩ năng xác định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người Kĩ năng này còn giúp con người ta biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng: người khác cũng có những giá trị và niềm tin khác Giá trị không phải là bất biến mà thay đổi theo thời gian, theo các giai đoạn trưởng thành của con người giá trị phụ thuộc vào nền văn hóa, vào
GD, vào môi trường sống, học tập và làm việc của mỗi cá nhân
1.5.2.3 Kĩ năng kiểm soát cảm xúc
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và người khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp Kĩ năng xử lí cảm xúc còn có những tên gọi khác, như :kiềm chế xúc cảm, làm chủ xúc cảm Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng, giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn
1.5.2.4 Kĩ năng ứng phó với căng thẳng
Trong cuộc sống hàng ngày con người thường gặp những tình huống gây căng thẳng cho bản thân Tuy nhiên có những tình huống có thể gây căng thẳng cho người này nhưng lại không gây căng thẳng cho người khác và ngược lại Khi bị căng thẳng, mỗi người có tâm trạng và cảm xúc khác nhau: Cũng có khi là những cảm xúc tích cực nhưng thường là cảm xúc tiêu cực,gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người Ở một mức độ nào đó, khi một cá nhân có khả năng đương đầu với căng thẳng thì đó
có thể là một tác động tích cực, tạo sức ép buộc cá nhân đó phải tập trung vào công việc của mình, bứt phá thành công Nhưng mặt khác, sự căng thẳng còn
Trang 31có một sức mạnh hủy diệt cuộc sống cá nhân nếu căng thẳng đó quá lớn, kéo dài và không giải toả nổi Khi bị căng thẳng, tùy từng tình huống, mỗi người
có thể có cách ứng phó khác nhau Cách ứng phó tích cực hay tiêu cực khi căng thẳng phụ thuộc vào cách suy nghĩ tích cực hay tiêu cực của cá nhân trong tình huống đó
Kĩ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi
bị căng thẳng
1.5.2.5 Kĩ năng hợp tác
Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm Kĩ năng hợp tác là kĩ năng cần thiết của cá nhân, được hình thành trong quá trình tham gia hoạt động nhóm Kĩ năng hợp tác giúp cá nhân có khả năng chia sẻ trách nhiệm và cùng làm việc với những thành viên khác trong nhóm Khi mỗi thành viên của nhóm có kĩ năng hợp tác tốt thì nhóm sẽ dễ dàng đạt được mục đích chung dựa trên phương pháp và cách tiếp cận chung của nhóm.Ngoài ra kĩ năng hợp tác còn giúp cá nhân sống hài hòa và tránh xung đột trong quan hệ với người khác Mỗi cá nhân đều có những mặt mạnh và mặt yếu riêng Sự hợp tác trong nhóm giúp cá nhân đóng góp năng lực và sở trường riêng đối với các hoạt động chung của nhóm, đồng thời học tập và chia
sẻ kinh nghiệm từ các thành viên khác Để có được sự hợp tác hiệu quả, cần phải biết vận dụng tốt nhiều kĩ năng sống khác, như : giao tiếp, giải quyết mâu thuẫn, ra quyết định,
1.5.2.6 Kĩ năng giao tiếp ứng xử
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc các hành động khác một cách phù hợp với hoàn cảnh và
Trang 32văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ, tư vấn khi cần thiết
Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ cảm xúc nhưng không gây hại hay gây tổn thương cho người khác Kĩ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ với các thành viên trong gia đình, mối quan hệ với bạn bè Người có kĩ năng giao tiếp tốt biết dung hòa đối với mong đợi của những người khác; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng và ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến những điều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính đáng
1.5.2.7 Kĩ năng tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ Kĩ năng tư duy sáng tạo giúp con người có tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi, có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua; tư duy minh mẫn và khác biệt Tư duy sáng tạo là một kĩ năng sống quan trọng bởi vì trong cuộc sống con người thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra Khi gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta
phải có tư duy sáng tạo để có thể ứng phó một cách linh hoạt và phù hợp
1.5.3 Xây dựng kế hoạch thực hiện
Đây là một nội dung rất cần thiết cho các nhà quản lí giáo dục sau khi đã xác định được mục tiêu và nội dung (hệ thống) KNS phù hợp với HSTHPT
Trang 33Xây dựng được kế hoạch chính là thiết kế trước được các bước đi, biện pháp thực hiện các hoạt động GDKNS cho HS trong nhà trường.Tuy nhiên việc lập
kế hoạch phải tùy thuộc vào đặc điểm của nhà trường, của địa phương để lựa chọn nội dung một số KNS để giáo dục HS của trường, của lớp cho phù hợp
Kế hoạch phải có tính xuyên suốt thời gian cả năm học,có nguồn tài chính để
tổ chức hoạt động được chỉ ra trong kế hoạch, huy động được nhiều lực lượng giáo dục tham gia Đặc biệt kế hoạch này nên được sự tham gia đóng góp xây dựng của đông đảo HS, trước hết là hàng ngũ cán bộ lớp, chi đoàn Bởi vì đây
là hoạt động của các em, nhà trường vì các em Nói một cách khác các em là chủ thể chính trong hoạt động, nên cần có cái hấp dẫn và phù hợp với các em
Có như thế mới thu hút các em tham gia tích cực, chủ động, năng động sáng tạo, khi đó hoạt động của chúng ta mới đạt được mục tiêu GD
1.5.4 Xác định hình thức tổ chức giáo dục KNS cho học sinh THPT
Trong các nhà trường THPT hiện nay không có môn học GDKNS cho các
em HS Tuy có tích hợp việc GDKNS cho các em ở một số môn học chính khóa như : giáo dục công dân, sinh học, ngữ văn nhưng chủ yếu GV giảng dạy vẫn chăm chú nhiều vào giảng dạy kiến thức bộ môn nhằm mục đích cho kiểm tra đánh giá Vì thế nội dung GDKNS thông qua các môn học này thường bị lu mờ hoặc không đề cập tới trong quá trình giảng dạy
Với đặc thù là đa dạng, ngoài giờ học, ít bị hạn chế bởi không gian,HĐGDNGLL là điều kiện tốt để các nhà trường tổ chức GDKNS cho
HS Với các hình thức thông qua hoạt động tập thể như tham quan du lịch, hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, thi hùng biện, thi nữ công gia chánh, sinh hoạt câu lạc bộ( âm nhạc, võ thuật, khiêu vũ, ) chính là dịp để cho các em có điều kiện được tự thể hiện năng lực của mình, được GD rèn luyện các KNS góp phần GD nhân cách cho các em
Trang 341.5.5 Xác định phương pháp, cách thức quản lí thực hiện
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dạy:” Chủ trương một, biện pháp mười,
quyết tâm phải hai mươi “ Đây chính là lời khuyên của Người với các nhà tổ
chức chỉ đạo hoạt động Trên cơ sở kế hoạch được lập ra, phương pháp thực hiện cần phải hết sức mềm dẻo, phù hợp để đạt được mục đích yêu cầu đề ra, làm sao vừa khai thác được tiềm năng nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng, vừa giúp các em thực sự phát huy vai trò là chủ thể trong tất cả các hoạt động và sáng tạo ra nhiều hình thức khác làm phong phú, hấp dẫn Có như thế kế hoạch của các nhà tổ chức mới có tính khả thi trở thành hiện thực, nếu không chỉ là kế hoạch trên giấy mà thôi
1.5.6 Đánh giá hiệu quả giáo dục KNS
Đánh giá kết quả GDKNS là việc làm rất khó khăn Thông thường trong các nhà trường từ trước đến nay việc đánh giá kết quả các hoạt động mới chỉ dừng lại ở nhận xét chung về tinh thần, thái độ ý thức tham gia của HS Theo tinh thần đổi mới, việc đánh giá kết quả công tác GDKNS sẽ góp phần đánh giá xếp loại hạnh kiểm HS, thúc đẩy sự phấn đấu rèn luyện của các em Vì thế cần phải xác định mục tiêu đánh giá, nội dung đánh giá, các hình thức đánh giá và quy trình đánh giá hiệu quả GDKNS cho các em HS
Trước hết, về mục tiêu đánh giá: đó là đánh giá sự nhận thức của HS về các vấn đề trong chương trình, các năng lực mà các em phải rèn luyện Hoạt động GD phải khích lệ được tinh thần vươn lên mạnh mẽ của HS về mọi mặt, nhất là trau dồi kiến thức, rèn luyện năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập ở trường phổ thông
Kết quả hoạt động GDKNS cho các em thể hiện ở hai cấp độ: đánh giá cá nhân và đánh giá tập thể lớp.Vì thế nội dung đánh giá phải hết sức cụ thể, thiết thực,có tiêu chí rõ ràng thì việc đánh giá mới gây tác động tích cực tới HS
Hình thức đánh giá thông qua bài viết thu hoạch của HS hoặc qua quan sát hoạt động của các em, qua tọa đàm trao đổi, nhận xét của người khác
Trang 35Quy trình đánh giá được xây dựng theo từng bước cụ thể HS tự đánh giá theo những tiêu chí nội dung của hoạt động Sau đó tập thể đánh giá và quyết định GVCN đánh giá
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lí GDKNS cho HSTHPT thông qua HĐGDNGLL
1.6.1 Mục tiêu giáo dục THPT và yêu cầu GDKNS
Đây chính là yếu tố đầu tiên có tính định hướng cho công tác GD rèn luyện KNS cho HS ở các nhà trường THPT Nếu không bám sát mục tiêu GD
ở bậc THPT và không xác định được yêu cầu của việc GDKNS cho HS thì công tác tổ chức các HĐGDNGLL sẽ không đạt hiệu quả trong việc GD rèn luyện các KNS cho HS
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định:”phải tiếp tục đổi mới
phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các hương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh “
Định hướng trên đây đã được cụ thể hóa ở điều 28 trong Luật GD năm 2005:” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh “
Từ những căn cứ trên, các biện pháp GDKNS cho HSTHPT qua các
HĐGDNGLL nhằm thực hiện mục tiêu của GD phổ thông, đó là “ giúp học
sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng
cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “
( Điều 27, Luật Giáo dục 2005)
Trang 361.6.2 Nhận thức của các lực lượng tham gia quản lí và GDKNS cho HSTHPT
Nhận thức của các lực lượng tham gia quản lí và GDKNS cho HS trong nhà trường THPT được đánh giá bởi các vấn đề, như : Nhận thức của cán bộ
GV công nhân viên về sự cần thiết phải GDKNS cho HS; hiểu thế nào là KNS
; ý nghĩa vai trò của GDKNS cho HSTHPT trong giai đoạn hiện nay, nhất là trước sự phát triển và hội nhập của đất nước ; những nội dung của GDKNS cho HS trong các HĐGDNGLL; vai trò chức năng nhiệm vụ và mối quan hệ giữa ban giám hiệu, Đoàn thanh niên, GVCN, các tiểu ban HĐGDNGLL trong nhà trường, vai trò trách nhiệm của gia đình và các tổ chức ngoài xã hội trong việc GDKNS cho HS; mối quan hệ giữa nhà trường – gia đình – các tổ chức ngoài xã hội đối với việc GDKNS của HSTHPT hiện nay
Tuy nhiên trình độ nhận thức của các lực lượng tham gia quản lí và GDKNS cho HS không đồng đều do đó sự tham gia của các lực lượng trong các hoạt động GD sẽ khác nhau Vì vậy đòi hỏi nhà quản lí tổ chức các hoạt động GD cần có sự tuyên truyền vận động GD cùng với động viên khuyến khích kịp thời tới các lực lượng tham gia quản lí GD thì công tác GDKNS cho
HS mới được nâng tầm và hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu GD phổ thông
1.6.3 Đặc điểm của học sinh THPT
HSTHPT có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi Đây là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên Ở lứa tuổi này các em bước đầu đã có sự trưởng thành về tư tưởng, tâm lí Đây cũng là thời kì các em tự xác định về mặt xã hội, tích cực tham gia vào cuộc sống động, học tập để chuẩn bị cho tương lai của mình Nói một cách khác đây là thời kì nhân cách của các em đang phát triển hướng tới ổn định
Trước hết về mặt thể chất, sinh lí: Có thể nói đây là giai đoạn mà các em HSTHPT phát triển khá nhanh về thể chất trong cuộc đời của mỗi con người
Do điều kiện đời sống ngày càng được nâng cao nên HSTHPT hiện nay phát
Trang 37triển nhanh các tố chất thể lực như cân nặng, chiều cao, cơ bắp, sức bền, sự dẻo dai hơn so với thế hệ trước cùng tuổi Mặt khác ở thời kì này hệ thần kinh trong bản thân mỗi con người các em có thay đổi quan trọng ( như não có cấu trúc phức tạp hơn cùng với sự phát triển các chức năng của não) Điều này tạo tiền đề cho sự phức tạp hóa phân tích tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập và hoạt động Vì thế lứa tuổi này là giai đoạn con người có những điều kiện tâm lí, thể chất thuận lợi cho các hoạt động học tập, văn nghệ , thể thao,
Một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HSTHPT và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển tâm lí của các em, đó là có sự phát triển
tự ý thức Biểu hiện đặc trưng là nhận thức được những đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã hội, trong cộng đồng Ở mức cao hơn, đó là khả năng
tự đánh giá bản thân theo những chuẩn mực của xã hội trên bình diện thể chất, tâm lí, đạo đức Nhìn chung, HS có nhu cầu tìm hiểu, đánh giá những đặc điểm tâm lí của mình dựa trên mục đích cuộc sống và ước mơ của bản thân Chính điều này khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lí, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng của bản thân Sự tự ý thức của HSTHPT xuất phát từ yêu cầu cuộc sống và hoạt động, từ vị trí mới mẻ trong tập thể, từ những mối quan hệ mới với thế giới xung quanh Tất cả những điều đó làm các em ý thức được những đặc điểm nhân cách của bản thân mình HSTHPT không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội trong tương lai Các em đã có thể hiểu rõ những phẩm chất phức tạp, biểu hiện những mối quan hệ nhiều mặt của nhân cách và biết đánh giá nhân cách bản thân trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách Các em có khả năng đánh giá sâu sắc những phẩm chất, những mặt mạnh, mặt yếu của những người cùng chung sống, cùng hoạt động và của chính bản thân Tuy nhiên sự đánh giá của HS ở lứa tuổi này chưa thật phù hợp Các em thường có xu hướng cường điệu khi tự cao ( đánh giá bản thân cao hơn so với
Trang 38thực tế ) Vì vậy trong nhà trường, các thầy cô giáo cần giúp đỡ các em trong quá trình đánh giá Bên cạnh đó việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức, phát triển những năng lực trí tuệ là một nhiệm vụ quan trọng của nhà trường THPT Ngoài những đặc điểm về nhận thức đã nêu, lứa tuổi HSTHPT còn có khả năng hiểu biết sâu rộng Nhất là trong giai đoạn hiện nay, nhờ sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kĩ thuật, nhờ xu thế hội nhập của đất nước, nhờ các phương tiện thông tin đại chúng phong phú và sự phát triển tốt về thể chất mà HS có điều kiện hiểu sâu, rộng các vấn đề tự nhiên, xã hội và có khả năng tư duy hơn thế hệ trước Các em thích khám phá thế giới xung quanh và học được nhiều điều ngoài tri thức nhà trường cung cấp
Xuất phát từ vị thế của người HS lớn trong nhà trường, xuất phát từ vị thế nhất định trong gia đình, trong xã hội ngày càng được tăng cường mà tính tích cực xã hội của các em có những sắc thái mới so với lứa tuổi trước đó Tính tích cực này được thể hiện ở các góc độ khác nhau: Các em quan tâm nhiều hơn đến tình hình kinh tế chính trị xã hội trong nước và quốc tế Giữa các em thường có sự trao đổi với nhau, có sự đánh giá nhận định và tỏ thái độ của bản thân mình trước các vấn đề đó Các em còn sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội phù hợp với hứng thú, sở trường của bản thân ( như hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, từ thiện, phòng chống ma túy, phòng chống HIV/AIDS ) Phần đông các em thích tham gia vào những công việc lớn lao, muốn thử sức ở những công việc có nhiều khó khăn Điều này liên quan đến khả năng tự đánh giá của các em Nhà trường, gia đình nên quan tâm nhiều đến vấn đề này để giúp các em lựa chọn những công việc phù hợp với bản thân, vượt qua những khó khăn để đạt được những mục tiêu mà các em đặt ra HSTHPT năng động, sáng tạo, dễ thích ứng và có nhu cầu tự khẳng định mình Tính năng động, sáng tạo của các em được thể hiện trong suy nghĩ, qua hành động, đòi hỏi sự tôn trọng nhân cách và tạo điều kiện cho các em được
tự khẳng định mình Chính vì thế các thầy cô giáo trong nhà trường cần biết
Trang 39khuyến khích những việc làm đúng, kích thích tính năng động, sáng tạo ở các
em, tránh lí thuyết suông, áp đặt, giám sát quá chặt, phải tế nhị, khéo léo giúp các em định hướng đúng hành động của mình
1.6.4 Trình độ của đội ngũ giáo viên THPT
Trong giai đoạn hiện nay đội ngũ GV giảng dạy ở các trường THPT đều
có trình độ tốt nghiệp đại học Một số GV trong các trường THPT có trình độ thạc sĩ Phần lớn GV tốt nghiệp ở các trường đại học sư phạm Trong quá trình học tập ở trường sư phạm, tất cả các GV đều được học kiến thức tâm lí, nghiệp vụ sư phạm, được thực tập sư phạm, được tiếp xúc làm quen với các hoạt động giáo dục ở các nhà trường THPT Thời kì khó khăn nhất ( khó khăn
về kinh tế là chủ yếu) của GV đã qua đi Cùng với sự phát triển của đất nước, được Đảng và nhà nước quan tâm, ngày nay đội ngũ GV trong các nhà trường phổ thông, nhất là bậc THPT đã có điều kiện được phát huy năng lực của mình trong giảng dạy và GD thế hệ trẻ Tuyệt đại đội ngũ GV phổ thông THPT đều yêu nghề, yên tâm với công việc, gắn bó với nhà trường Tuy nhiên trong đội ngũ các nhà giáo vẫn còn không ít các thầy cô mới chỉ chú ý
“ dạy chữ “ mà chưa thực sự chú ý “ dạy người “ Điều này được thể hiện trong cách giao tiếp, trong việc tham gia các hoạt động chung của nhà trường, nhất là hoạt động GD đạo đức nếp sống cho HS, còn luộm thuộm, làm cho xong việc Cá biệt, do cá tính hoặc trong hoàn cảnh nào đó có GV đã có lời nói hoặc hành vi phản cảm không có ý nghĩa GD Cũng chính vì thế mà trong các nhà trường phổ thông hiện nay đã xảy ra các hiện tượng học trò vô lễ với thầy cô, thậm chí còn đánh trả thù thầy cô giáo Điều này đã làm cho các nhà quản lí GD, nhất là những thầy cô tâm huyết không khỏi trăn trở day dứt Vì thế các nhà quản lí GD nói chung, ban giám hiệu các nhà trường phổ thông nói riêng cần phải có kế hoạch chương trình yêu cầu trong công tác GD tư tưởng, trình độ nhận thức của GV về nghề nghiệp, nhất là GD rèn luyện các KNS của HS Dạy chữ, dạy người là hai yêu cầu phải song song trong tư
Trang 40tưởng GD của mỗi người thầy Chỉ khi nào trình độ nhận thức của đội ngũ thầy cô giáo trong nhà trường khá đồng đều, thấy được vai trò trách nhiệm cũng như lương tâm của mình trước HS, trước sự yêu cầu ngày càng cao của
xã hội thì khi đó công tác giáo dục HS mới đạt được hiệu quả mong muốn
1.6.5 Những điều kiện để thực hiện GDKNS cho HSTHPT
GDKNS cho HSTHPT là việc làm cần thiết Hiện nay trong các nhà trường phổ thông việc GDKNS cho các em mới chỉ được tích hợp trong giờ dạy một số môn học: Giáo dục Công dân,Ngữ văn, Địa lí, Sinh học, hoặc thông qua một số HĐGDNGLL Để công tác GDKNS cho các em trong các HĐGDNGLL được thực hiện có hiệu quả, trước hết các nhà quản lí cần phải
tổ chức những hoạt động nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ GV về ý nghĩa, vai trò của GDKNS cho HS Tổ chức những đợt tập huấn bồi dưỡng về KNS cho cán bộ, GV
Mặt khác nhà trường cần xây dựng kế hoạch GDKNS cho HS qua HĐGDNGLL Những kĩ năng này được cụ thể hóa bằng những hoạt động đưa vào chương trình rèn luyện Nhà trường cần quan tâm tạo điều kiện về thời gian,
cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính …để giúp cho GV tổ chức hướng dẫn HS tham gia các HĐGDNGLL được dễ dàng Đồng thời cũng cần tạo ra những phong trào thi đua để gây sự hứng thú cho các em khi tham gia hoạt động
Các GV ở các tiểu ban hoạt động, nhất là GVCN và cán bộ đoàn thanh niên cần phải nghiêm túc thực hiện những quy định của kế hoạch chương trình về mục tiêu, nội dung, thời gian, cách đánh giá … của HĐGDNGLL ở trường THPT Tăng cường tổ chức cho các em HS tham gia các hoạt động tập thể để các em có nhiều cơ hội được rèn luyện KNS khi tham gia các HĐGDNGLL
Cùng với sự nỗ lực cố gắng của nhà trường, thầy cô, các em HS cần phải tích cực chủ động trong việc tham gia các HĐGDNGLL dưới sự hướng dẫn của GV, đồng thời tích cực tham gia các phong trào hoạt động tập thể của nhà trường