1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện

118 621 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn “Biện pháp quản lí các hoạt động giáo dục học sinh trường THPT chuyên Lê Hồng Phong- Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện” được hoàn thành với sự giúp đỡ và chỉ bảo tận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HỌC SINH

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN LÊ HỒNG PHONG –NAM ĐỊNH ĐÁP ỨNG MỤC TIÊU GIÁO DỤC TOÀN DIỆN

LUẬN ÁN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Mã số : 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN THỊ MỸ LỘC

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HỌC SINH

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN LÊ HỒNG PHONG –NAM ĐỊNH ĐÁP ỨNG MỤC TIÊU GIÁO DỤC TOÀN DIỆN

LUẬN ÁN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Mã số : 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN THỊ MỸ LỘC

HÀ NỘI – 2010

Trang 3

Lời cảm ơn

Luận văn “Biện pháp quản lí các hoạt động giáo dục học sinh trường THPT chuyên Lê Hồng Phong- Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện” được hoàn thành với sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các Cô giáo, Thầy giáo cùng với sự học hỏi, nghiên cứu của bản thân trong thời gian học tập tại trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới các Cô giáo, Thầy giáo giảng viên trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có những kiến thức, kĩ năng cần thiết để nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn khoa học và giúp

đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện các nhiệm vụ của đề tài

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định đã tích cực ủng hộ, cộng tác nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả kính mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của các Cô, các Thầy, các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm

2010

Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

HĐNGLL

HS

Hoạt động giáo dục Hoạt động ngoài giờ lên lớp Học sinh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC HỌC SINH TRƯỜNG THPT CHUYÊN ĐÁP ỨNG

MỤC TIÊU GIÁO DỤC TOÀN DIỆN

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.3 Những đặc trưng hoạt động giáo dục của trường THPT chuyên

trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.1 Vị trí, vai trò, chức năng của trường THPT chuyên trong hệ

thống giáo dục quốc dân

1.3.2 Mục tiêu giáo dục THPT, THPT chuyên

1.3.3.Những yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục ở trường THPT,

THPT chuyên

1.3.4 Về kế hoạch giáo dục ở bậc THPT, THPT chuyên

1.3.5 Yêu cầu và xu thế phát triển trường THPT chuyên hiện nay

1.4 Nội dung quản lí giáo dục học sinh trường THPT chuyên đáp

ứng mục tiêu giáo dục toàn diện

1.4.1.Nội dung công tác quản lí hoạt động giáo dục HS trường THPT

chuyên

1.4.1.1 Nội dung quản lí nhà trường

1.4.1.2 Phương thức quản lí nhà trường

1.4.2 Các hoạt động chủ đạo giáo dục học sinh toàn diện

1.4.2.1 Quản lí dạy-học theo mục tiêu, chương trình giáo dục

1.4.2.2 Quản lí hoạt động tự học của học sinh

1.4.2.3 Quản lí các hoạt động rèn luyện của học sinh trường chuyên

1.4.2.4 Quản lí hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục kĩ năng sống

Trang 6

1.4.2.5 Quản lí các hoạt động xã hội của học sinh trường chuyên

Tiểu kết chương 1

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÊ HỒNG

PHONG-NAM ĐỊNH ĐÁP ỨNG MỤC TIÊU GIÁO DỤC TOÀN

DIỆN

2.1 Sơ lược về trường chuyên ở Việt Nam và chất lượng giáo dục - đào

tạo của trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định

2.1.1 Sơ lược về thực trạng trường chuyên ở Việt Nam

2.1.2 Sự hình thành và phát triển của trường THPT chuyên Lê Hồng

Phong –Nam Định

2.2 Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường

chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định theo mục tiêu giáo dục toàn

diện

2.3 Kết quả điều tra và đánh giá

2.3.1 Điều tra nhận thức của cán bộ quản lí, cán bộ giáo viên, học sinh,

phụ huynh học sinh về mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường

2.3.2 Về công tác tuyển sinh

2.3.3 Khảo sát ý kiến của giáo viên về nội dung chương trình, kế

hoạch, phương pháp giáo dục có đảm bảo đáp ứng mục tiêu giáo dục

toàn diện

2.3.2.3 Về phương pháp, kế hoạch dạy học

2.2.3 Mô tả thực trạng về quản lí cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị

đảm bảo giáo dục toàn diện

2.3.4 Đánh giá chung các hoạt động giáo dục toàn diện ở trường

THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định

Kết luận chương 2

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÊ HỒNG PHONG –

Trang 7

NAM ĐỊNH ĐÁP ỨNG MỤC TIÊU GIÁO DỤC TOÀN DIỆN

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.2 Các biện pháp quản lí

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cán bộ giáo viên, học sinh và phụ

huynh học sinh về mục tiêu giáo dục toàn diện của trường chuyên

3.2.2 Biện pháp 2: Tăng cường công tác quản lí các hoạt động dạy-học

theo mục tiêu giáo dục toàn diện

3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới công tác phát triển đội ngũ giáo viên của

3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường quản lí hoạt động tự học của học sinh

3.2.7 Biện pháp 7: Hoàn thiện và cụ thể hóa việc đánh giá công tác giáo

dục toàn diện ở trường chuyên

3.2.8 Biện pháp 8: Tăng cường xã hội hóa công tác giáo dục và huy động

cộng đồng tham gia quản lí giáo dục nhằm đạt mục tiêu giáo dục toàn

diện

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.4 Thăm dò về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều lấy giáo dục phổ thông làm nền tảng

và coi giáo dục Đại học là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực Mục tiêu lâu dài của bất kỳ nền giáo dục tiên tiến nào cũng đảm bảo các yêu cầu cơ bản đó là: Gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, chuẩn bị nguồn nhân lực của đất nước đáp ứng yêu cầu do nền kinh tế - xã hội đặt ra nhằm nâng cao hơn nữa năng suất lao động, chất lượng cuộc sống và giải phóng con người Đất nước ta đã và đang trên đà phát triển và hội nhập quốc tế Uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định Việt Nam không thể tách rời, không thể đứng ngoài quy luật phát triển tất yếu của nhân loại Để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, chúng ta cần làm chủ khoa học - công nghệ, làm chủ thông tin trong nền kinh tế tri thức để phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa đất nước Yêu cầu đó đòi hỏi đất

nước phải có những con người toàn diện: có lý tưởng, đạo đức cách mạng, có

tài năng, sức khỏe, năng động, thích ứng với mọi hoàn cảnh Tất cả những vấn

đề đó đã và đang là những vấn đề khó khăn, cấp bách mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm tìm giải pháp tháo gỡ

Nhận thức sâu sắc chiến lược phát triển giáo dục đào tạo của Đảng ta trong

thời kỳ đổi mới đến năm 2010:“ Giáo dục phải đi trước một bước, nâng cao dân

trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực sự quan

tâm tới việc phát triển giáo dục “ đại trà và mũi nhọn” Hệ thống các trường

THPT chuyên của nước ta được thành lập và là nơi tập hợp đội ngũ giáo viên giỏi; là nơi tuyển chọn, tập hợp những học sinh THPT có tư chất thông minh,

ham học để bồi dưỡng Chủ trương đầu tư có trọng điểm, tập trung đào tạo mũi

nhọn kịp thời phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước là một hướng đi đúng

Ngoài nhiệm vụ chung, trường THPT chuyên có nhiệm vụ đặc biệt: “Trường

chuyên được thành lập ở cấp THPT dành cho những học sinh đạt kết quả xuất

Trang 9

sắc trong học tập nhằm phát triển năng khiếu của các em về một số môn học trên cơ sở bảo đảm giáo dục phổ thông toàn diện” [12,tr285] Cụ thể hóa luật

Giáo dục, điều lệ trường THPT đã nêu rõ trường THPT chuyên có nhiệm vụ

(Quyết định số: 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo

dục và Đào tạo): Bồi dưỡng và phát hiện năng khiếu của học sinh về một môn

học nhất định gọi là môn chuyên, đồng thời đảm bảo thực hiện đầy đủ kế hoạch

và chương trình giáo dục toàn diện của trung học phổ thông Tổ chức các hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học phù hợp với trình độ và tâm sinh lý học sinh Ngoài các nhiệm vụ trên, điều lệ nhà trường, học sinh chuyên có các

nhiệm vụ và quyền sau đây: Có trách nhiệm tham gia các kỳ thi, hội thi, hoạt

động văn hóa, xã hội và nghiên cứu khoa học theo yêu cầu của nhà trường -

dục và Đào tạo )

Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Nam Định có tiền thân là trường Thành Chung Nam Định Đến năm 1993 theo quyết định của Bộ giáo dục và đào tạo trường chính thức được mang tên trường chuyên THPT chuyên Lê Hồng Phong Nam Định, bồi dưỡng học sinh giỏi, đào tạo nguồn nhân tài trẻ tuổi cho địa phương, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Với đội ngũ các thế hệ giáo viên có trình độ chuyên môn giỏi, tâm huyết với nghề, nhà trường đạt được thành tích rực rỡ trong dạy-học, là đơn vị lá cờ đầu của giáo dục bậc phổ thông toàn quốc Trường góp phần tích cực thực hiện tốt mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mà Nghị quyết Trung ương II đã đề ra

Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định cũng như các trường THPT chuyên khác trên toàn quốc phải đối mặt với bao khó khăn, thách thức

Từ nhận thức của các em HS và các bậc phụ huynh HS còn nhiều lệch lạc mới chỉ tập trung vào môn chuyên hoặc môn thi đại học Các thầy cô giáo chỉ tập trung luyện thi HSG để đạt nhiều giải cao trong các kì thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế Chương trình, nội dung giảng dạy môn chuyên hầu như chưa có

Trang 10

Chương trình còn mang tính hàn lâm, nặng về lí thuyết, xem nhẹ thực hành hoặc không đủ điều kiện cơ sở vật chất tiến hành nội dung thực hành Nhà trường phải tự mình từng bước xây dựng, hoàn thiện đội ngũ giáo viên dạy chuyên; tự xây dựng nội dung, chương trình giảng dạy môn chuyên theo kinh nghiệm với những nguồn lực hiện có Việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài tùy thuộc rất nhiều vào yếu tố khách quan Chỉ xét trong năm năm gần đây

hình thức thi tuyển vào trường đã 3 lần thay đổi làm cho “cái cũ bất cập, cái

mới chưa quen” Vậy làm như thế nào để việc giáo dục ở trường chuyên ngày

càng hiệu quả hơn, góp phần vào công việc trọng đại của đất nước: phát hiện, tuyển chọn, đào tạo nhân tài- ngày càng đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của xã hội mở cửa, hội nhập và phát triển, đồng thời hoàn thành sứ mệnh của trường chuyên? - Đây là câu hỏi mà các nhà quản lí đang trăn trở

Đánh giá về trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, GS.TS Phạm Minh Hạc - Nguyên Bộ trưởng Bộ giáo dục - Đào tạo, cựu HS của nhà trường- viết bài:

“ Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Nam định tiếp tục đổi mới theo quĩ đạo khoa học” Trong bài viết có đoạn: “Ở các trường chuyên hiện nay quá

nặng nề “dạy chữ” cốt để đi thi, chưa chú ý “dạy người”; theo qui định của bộ,

có dạy tri thức, kĩ năng, thái độ thì mới làm được phần đầu, ít chú ý hình thành

và phát triển nhân cách trong nhiều trường hợp sẽ là vốn liếng đi theo suốt cuộc đời Tôi rất mong muốn hệ các trường chuyên có một đề tài nghiên cứu học sinh và các hoạt động dạy-học trong các trường này để tiếp tục đổi mới theo quĩ đạo khoa học, tạo thêm cơ sở để việc GD các cháu ngày càng hiệu quả hơn, góp phần vào công việc trọng đại của đất nước - phát hiện, tuyển chọn, đào tạo nhân tài càng đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của xã hội mở cửa, hội nhập, phát triển”

Thực tế cho thấy chất lượng giáo dục ở trường THPT chuyên nói chung và với trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định nói riêng phần nào vẫn chưa đáp ứng được mong đợi của xã hội, của các thầy cô giáo và của các bậc

phụ huynh học sinh Để đạt được mục tiêu “ Giáo dục năng khiếu trên nền tảng

Trang 11

giáo dục toàn diện”, và đạt mục tiêu giáo dục “ Công dân toàn cầu” tiến tới hội

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Giáo dục học sinh ở trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Quản lý giáo dục học sinh ở trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí giáo dục, quản lí nhà trường và những vấn đề về quản lí giáo dục toàn diện

4.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng các biện pháp quản lí giáo dục HS ở trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định theo mục tiêu giáo dục toàn diện 4.3 Đề xuất một số biện pháp quản lí giáo dục học sinh nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định

5 Giả thuyết khoa học

Quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định hiện nay chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục toàn diện mà còn chú trọng vào việc dạy-học các bộ môn chuyên Chính vì vậy cần phải đổi mới về nhận thức và các biện pháp quản lí ở trường THPT chuyên nói chung và trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định nói riêng một cách đồng bộ

Trang 12

theo hướng phát triển toàn diện cho học sinh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục & đào tạo trước mắt và lâu dài

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về lí luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hệ thống hóa những

vấn đề lí luận hiện đại về mục tiêu giáo dục toàn diện, tính đặc thù của loại hình

trường THPT chuyên, cơ hội cho sự phát triển trường THPT chuyên trong giai

đoạn phát triển hiện nay

Về thực tiễn: Phân tích, đánh giá tổng thể thực trạng các hoạt động giáo

dục và quản lí giáo dục học sinh trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định Đồng thời, chỉ ra được những nguyên nhân khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu phát triển năng khiếu trên cơ sở giáo dục toàn diện của nhà trường Luận văn kì vọng đề xuất được các biện pháp triển khai quản lí giáo dục học sinh ở trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định theo mục tiêu phát triển toàn diện Qua đó góp phần đổi mới quản lí và phát triển loại hình trường THPT chuyên trong nhưng năm tới, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục phổ thông ở nước ta cũng như trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

7 Phạm vi nghiên cứu

Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong tổng số có 44 lớp: với 36 lớp chuyên và 08 lớp đại trà Nhưng đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lí giáo dục học sinh thuộc khối lớp chuyên của nhà trường

Nội dung và các số liệu nghiên cứu trong 5 năm từ năm học 2005- 2006 đến năm học 2009-2010

8 Các phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện đề tài kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau :

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy định của Nhà nước và của ngành Giáo dục và

Trang 13

Đào tạo; các tài liệu lí luận về quản lí, quản lí giáo dục và các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu: Tiến hành bằng phiếu theo các biểu mẫu về thực trạng các biện pháp quản lí chất lượng các môn khoa học tự nhiên

ở trường THPT chuyên trong phạm vi đề tài nghiên cứu

- Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động: Khảo sát các kết quả

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn lấy ý kiến của các chuyên gia, các

thanh tra viên, các cán bộ quản lí trường học, giáo viên và học sinh

- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, phỏng vấn, trưng cầu ý kiến cán bộ

Sở Giáo dục và Đào tạo, cán bộ quản lý nhà trường, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, học sinh, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong quản lí giáo dục

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục

9 Cấu trúc luận văn

Luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục học sinh trường THPT

chuyên đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện

Chương 2: Thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường

THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện

Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường THPT chuyên

Lê Hồng Phong - Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HỌC SINH TRƯỜNG THPT CHUYÊN ĐÁP ỨNG MỤC TIÊU GIÁO DỤC TOÀN DIỆN

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Từ thời Trung cổ Khổng tử (551-479 trước công nguyên) đã quan tâm đến

việc phát huy tính tích cực của HS và quan tâm đến giáo dục toàn diện cho HS, đặc biệt trong việc hình thành nhân cách của HS (HS trung học cơ sở và trung học phổ thông) Cách dạy của ông là nêu vấn đề và giúp HS tự giải quyết vấn

đề của mình Ông đã nói với học trò của mình: “Vạch cho một khía cạnh rồi

mà môn đệ không tìm ra được ba khía cạnh khác thì không dạy thêm nữa” [14,tr.49]

Vào thế kỷ thứ XIX, C Mác và F Ănghen đã xác định mục tiêu của nền giáo dục XHCN là tạo ra con người phát triển toàn diện Trong giáo dục tránh giáo dục một chiều, chỉ có kiến thức khoa học mà quên mất giáo dục về đạo đức, về hành vi, về xử lý các mối quan hệ giữa con người với người, con người với thiên nhiên Để đáp ứng được nhiệm vụ ngày càng phát triển của xã hội, cần giáo dục các em HS trở thành con người toàn diện [30]

Vào thế kỷ XX, Liên xô đang trên con đường xây dựng XHCN, việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng cộng sản Liên xô và nhà nước quan tâm A.C Macarenko đã trình bày sự thống nhất của công tác giáo dục, và

đã nhấn mạnh vai trò của HĐGD trong việc phát triển toàn diện HS, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường phổ thông [14,tr.59 ]

Bên cạnh hệ thống các trường phổ thông nói chung, năm 1977 Hội đồng thế giới HS năng khiếu được thành lập; Ở nước Anh, thành lập Hội toàn quốc học sinh năng khiếu; 37 bang ở Mỹ có tổ chức giáo dục HS chuyên, bang Louisiana lập Liên đoàn giáo dục tài năng Nhiều nước thành lập viện giáo dục (cả nghiên cứu và giảng dạy) HS năng khiếu, tổ chức các dự án, chương trình, trung tâm, trường mùa hè dạy chuyên từng môn (âm nhạc, thể thao, ngoại ngữ, toán, khoa học ) theo chế độ tự chọn, chương trình phân hoá và học ngoài giờ học ở các trường bình thường Một số trường đại học có lớp chuyên (có nơi nhận từ mẫu giáo), chương trình dạy chuyên mẫu giáo và phổ thông qua mạng (Elearning)

Trang 15

Ở La France (Pháp) có trường chuyên từ tiểu học đến hết phổ thông; và Thái

Lan có trường Mahidol Wittayanusom Pattaya

Đến thế kỷ XXI, các nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng giáo dục đào

tạo chú ý đến phát triển cả IQ và EQ cho học sinh, sinh viên Việc học nếu chỉ

có học văn hóa sẽ không phát triển được con người một cách toàn diện

C Bowell (1991), đã trình bày rõ cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn trong

viện học tích cực cho HS Trong bài: “Tạo hứng thú trong lớp học” ông đã nêu

những nguyên tắc hoạt động cơ bản của giáo viên, cách tổ chức giảng bài của

giáo viên, hoạt động của học sinh cũng như các hoạt động giáo dục để tạo tiết

học có chất lượng cao Năm 2006 E Graaff đã trình bày các phương pháp học

tích cực Trong nghiên cứu của mình ông nhấn mạnh lợi ích của phương pháp

học tích cực, các yếu tố tạo nên cách học tích cực, và đặc biệt nhấn mạnh vai trò

của các HĐGD trong việc làm mới cách suy nghĩ của học sinh để tự thực hiện

giờ học mà mình là chủ thể, thầy giáo cô giáo chỉ là những người hướng dẫn,

kết luận vấn đề

P Neto (2008) đã đưa ra luận điểm khoa học nhấn mạnh vai trò của nhà

trường, xã hội trong việc phát huy hiệu quả các hoạt động học tập ngoại khóa

cho HS bậc THPT Để hoạt động ngoại khóa có chất lượng góp phần nâng cao

chất lượng học tập của HS, các hoạt động này phải đa dạng về hình thức, phong

phú về nội dung, các nội dung cần theo một chủ đề cụ thể có như thế HS mới

hoạt động hiệu quả các giờ học ngoại khóa Năm 2010 EP Hobin đã trình bày

sự kết hợp giữa giáo dục thể chất và giáo dục kiến thức cho HS bậc THPT Tác

giả đã nhấn mạnh sự phù hợp các hình thức sinh hoạt, nội dung sinh hoạt theo

lứa tuổi, tâm sinh lý để nâng cao chất lượng quản lý HĐGD của cán bộ, thầy cô

và nâng cao hiệu quả học tập của HS

Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới đều quan tâm nâng cao chất lượng

giáo dục trong trường THPT nhằm đạt mục tiêu đào tạo HS có nhân cách tốt,

phát triển toàn diện

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Vấn đề đào tạo toàn diện cho HS đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm

và đưa vào mục tiêu đào tạo cho từng cấp học Vào những năm đầu cách mạng,

Hồ Chủ Tịch đã giao nhiệm vụ cho các Thầy Cô cần đào tạo cho các em học

Trang 16

sinh vừa hồng vừa chuyên Bác đã phát biểu trong hội nghị giáo dục toàn quốc

năm 1960: “Nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng nặng nề Giáo dục cần đưa

mục tiêu đào tạo con người mới XHCN đáp ứng được việc bảo vệ và xây dựng đất nước” Bác cũng đã nhấn mạnh rằng cần phát huy tinh thần tự học của học

sinh, sử dụng nhiều hình thức dạy học để nâng cao chất lượng đào tạo của toàn ngành giáo dục

Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2009-2020 đã thể

hiện quan điểm của Đảng: “Cùng với việc nâng cao chất lượng giáo dục học

sinh đại trà, những học sinh có năng khiếu được chú trọng đào tạo và bồi dưỡng một cách toàn diện để trở thành vốn quý của đất nước”

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII ghi rõ: “Giáo dục và đào tạo

nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học công nghệ, kinh doanh, về quản lí kinh tế, xã hội và nhiều công nhân lành nghề đáp ứng yêu cầu của việc phát triển kinh tế- xã hội.”

Nghị định số 293-CP ngày 7-7-1981 của Hội đồng Chính phủ và pháp lệnh ngày 12-7-1983 của Hội đồng Bộ trưởng về công tác giáo dục tài năng Bộ Giáo dục ngay từ năm học 1962-1963 đã có quyết định tổ chức các kỳ thi Quốc gia chọn học sinh giỏi Văn, Toán cấp 2,3 và từng bước đề nghị Chính phủ ra các quyết định mở các lớp năng khiếu toán (QĐ-198/CP ngày 4-9-1965) và năng khiếu ngoại ngữ (QĐ-198/KH ngày 20/6/1969) Từ năm 1966 từ một lớp chuyên toán, sau đó được thêm một ít trường chuyên, vào thời kỳ đổi mới với

tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục “đại trà và mũi nhọn” hàng loạt các trường

chuyên ra đời, có lúc có nơi xuống cả tiểu học, trung học cơ sở Hội nghị Trung ương II khoá VIII (1996) chủ trương chỉ mở trường chuyên ở bậc THPT (không

kể nghệ thuật, thể thao) Hiện cả nước có 74 trường THPT chuyên, tạo ra điểm nhấn chính là chất lượng giáo dục Hàng năm 100% học sinh xếp loại hạnh kiểm tốt và khá, hơn 95% HS đạt học lực khá, giỏi Năm 2009, có 1.900/ 3.835 thí sinh tham dự các kỳ thi HS giỏi quốc gia đoạt giải, đạt tỷ lệ 49,54% Trong các kỳ thi Olympic quốc tế, tính đến tháng 8/2009 đã có 498/ 576 em dự thi đoạt giải, đạt tỷ lệ 86,45% Bên cạnh đó, tỷ lệ học sinh THPT chuyên đỗ vào các trường ĐH trung bình hàng năm là trên 90%, một số trường là 100%

Trang 17

Ở các trường THPT chuyên vấn đề nhân tài, bồi dưỡng, đào tạo nhân tài

đã được quan tâm và triển khai từ lâu Tuy nhiên những nghiên cứu này mới xác định những vấn đề lí luận chung về nhân tài và định hướng công tác bồi dưỡng nhân tài trong giáo dục Nhìn lại hơn 40 năm phát triển hệ thống trường THPT chuyên hiện nay đã quá chú trọng vào việc bồi dưỡng HS đi thi học sinh giỏi Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển đã nhận định tại hội nghị trường chuyên tháng 3 năm 2007: “Hệ thống các trường THPT chuyên xác định mục tiêu chưa rõ, chỉ tập trung cao cho thi học sinh giỏi, chưa chú trọng đúng mức giáo dục toàn diện và chăm sóc sức khỏe cho HS”

Nhận thức rõ mục tiêu giáo dục toàn diện trong các trường THPT, đã có nhiều công trình nghiên cứu các biện pháp quản lí giáo dục HS, như : Các biện pháp quản lí giáo dục hoạt động ngoài giờ lên lớp; Các biện pháp quản lí giáo dục đạo đức HS , tuy nhiên vấn đề này còn thiếu vắng rất nhiều đối với hệ thống trường THPT chuyên

Từ năm 2002, tác giả Nguyễn Bác Dụng đã có một số công trình nghiên cứu về mô hình trường THPT chuyên, đó là: “Một số tiếp cận với giáo

dục Trung học Phổ thông chuyên”, “Phát triển trường THPT Chuyên theo định hướng của nhà trường hiện đại”, “Một số vấn đề về cơ sở pháp lý và cơ chế quản lí phát triển các trường THPT Chuyên”,và luận án Tiến sĩ “ Mô hình quản

lí trường THPT chuyên đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện” - Năm 2009

Để tạo tương lai phát triển cho hệ thống trường THPT chuyên tháng 6 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành đề án phát triển hệ thống trường THPT chuyên giai đoạn 2010-2020 Đề án đã đặt ra một mục tiêu

là tạo sự chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục trong các trường THPT chuyên theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lí và các vấn đề về quản lí:

Quản lí là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời

nhất của con người Nó “xưa cũ như chính con người vậy” Tuy nhiên chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “ chất khoa học” [ 18, tr.9] của quá trình quản

lí và dần dần hình thành các lí thuyết quản lí Có thể điểm qua một số thuyết đó

Trang 18

F.W.Taylo(1856-1915) là người được coi là cha đẻ của thuyết quản lí khoa học đã cho rằng cốt lõi trong quản lí là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lí chặt chẽ” “Quản lí là nghệ thuật biết

rõ ràng, chính xác cái gì cần và làm cái đó thế nào và bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”[ 18, tr.12]

Henri Fayol(1841-1925) cho rằng “Quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động(chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [ 18, tr.14]

Mary Parker Follett(1868 -1933) đã có đóng góp lớn lao trong thuyết hành vi trong quản lí khẳng định “Quản lí là quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại” [ 18,tr.18]

Theo đại từ điển tiếng Việt: Quản lí là “tổ chức, điều khiển hoạt động của

một đơn vị, một cơ quan”, là “ trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì”[35]

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc- hoạt động

quản lí là “ tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[ 18,tr.1]

Các quan niệm trên nhấn mạnh những khía cạnh sau của quản lí:

Có hình thức thực thể là những hoạt động do chủ thể thực hiện Các hoạt

động của chủ thể có hai nội dung chính: Thứ nhất, tác động đến đối tượng (con người và những đối tượng khác) Thứ hai, khai thác, tổ chức và thực hiện các

nguồn lực Nguồn lực cũng tồn tại như một trong những đối tượng nhưng không đồng nhất hoạt động tác động đến đối tượng với hoạt động khai thác, tổ chức nguồn lực Rất nhiều hoạt động tác động đến đối tượng cần đến điều kiện là nguồn lực Khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực, trong những trường hợp

cụ thể là tạo điều kiện để hoạt động tác động của chủ thể đến đối tượng được thực hiện có hiệu quả

Thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản lí Điều này được thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể thực hiện và những mục tiêu mà chủ thể xác định Tuy nhiên, những tác động này của chủ thể chỉ

có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận thức của chủ thể về các qui luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động của mình và ý thức của chủ thể trong việc tuân

Trang 19

thủ các qui luật khách quan đó Mức độ thống nhất giữa những tác động hướng đích, có chủ định và hệ thống mục tiêu do chủ thể xác định với các qui luật khách quan khẳng định mức độ của tính khoa học, nghệ thuật của quản lí

Đồng nghĩa với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức trong và bằng những tác động của chủ thể đến đối tượng cũng như trong việc khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực của tổ chức, luôn tồn tại với tư cách là hệ thống, hệ thống được tạo bởi nhiều thành tố xác định

Quản lí bao gồm các chức năng:

Lập kế hoạch là một chức năng cơ bản của quản lí, trong đó phải xác

định những vấn đề như nhận dạng và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách thức, biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích của quá trình Trong mỗi kế hoạch thường bao gồm các nội dung như xác định hình thành mục tiêu, xác định và đảm bảo về các điều kiện, nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu và cuối cùng là quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đặt ra

Tổ chức là quá trình tạo lập các thành phần, cấu trúc, các quan hệ giữa

các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Thành công của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lí và sử dụng các nguồn lực của tổ chức Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng để thực hiện nhiệm vụ của tổ chức

Lãnh đạo/Chỉ đạo bao hàm việc định hướng và lôi cuốn mọi thành viên

của tổ chức thông qua việc liên kết, liên hệ với người khác và khuyến khích, động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Tuy nhiên, hiểu lãnh đạo không chỉ sau khi lập kế hoạch có tổ chức thì mới có lãnh đạo, mà là quá trình đan xen Nó thấm vào và ảnh hưởng quyết định đến các chức năng kia, điều hòa, điều chỉnh các hoạt động của tổ chức trong quá trình quản lí

Kiểm tra, đánh giá là chức năng của quản lí Thông qua đó, một cá

nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động

Trang 20

và tiến hành những hoạt động sửa chữa uốn nắn cần thiết Đó là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ từ người quản lí đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động, đối chiếu đo lường kết quả, sự thành đạt so với mục tiêu chuẩn mực đã đặt ra, điều chỉnh những vấn đề cần thiết và thậm chí phải hiệu chỉnh, sửa lại những chuẩn mực cần thiết

1.2.2 Quản lí giáo dục

1.2.2.1 Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý

đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt

tới kết quả mong muốn Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động

điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế

hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội [ 22,tr.340]

Theo P.V Khuđôminxky: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch,

có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm bảo đảm việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế

hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức

và sử dụng các qui luật về giáo dục, của sự phát triển các qui luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất, tâm lí cho trẻ em” [22,tr.341]

Theo GS Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [26,tr.67]

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống các tác động cho mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và tiêu điểm hội

tụ là quá trình dạy học, giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới”[34,tr.34]

Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý GD chứa đựng những nhân

tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục Ở tầm vĩ mô là quản lý của nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, Phòng GD&ĐT

Trang 21

Ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường phổ thông Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội Phải có một lực lượng đông đảo những người làm công tác GD cùng với hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng Quản lý GD có tính xã hội cao, bởi vậy cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề

xã hội kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc phòng phục vụ công tác GD

Năm 2005, Luật giáo dục nêu rõ nội dung quản lý nhà nước về giáo dục [12,tr.36]:

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục

2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ

sở giáo dục khác

3 Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung GD; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ

4 Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục

5 Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động GD

6 Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục

7 Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

8 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp GD

9 Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục

10 Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;

11 Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục;

12 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục

Trang 22

Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên và HS là đối tượng quản lý quan trọng nhất, đồng thời lại là chủ thể trực tiếp quản lý quá trình giáo dục

Tóm lại: Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của

nhà quản lí giáo dục trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo

1.2.2.2 Quản lí các hoạt động giáo dục trong nhà trường chính là xây

dựng một quan hệ hợp lí giữa các hình thức công tác tập thể đối với các HS và

GV Do con đường giáo dục lâu dài, đặc biệt hàm xúc về trí tuệ và cảm xúc, do các tình huống trong đời sống nội tại, tâm hồn, đời sống tập thể trong trường hợp có sự biến đổi liên tục Tất cả những cái đó đặt ra yêu cầu cao đối với việc quản lí nhà trường, việc tổ chức hợp lí các quá trình giáo dục – đào tạo, việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật tổ chức sư phạm và các điều kiện khác của lao động, của HS và GV

1.2.2.3.Quản lý nhà trường

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “ Quản lí nhà trường được hiểu là hoạt động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”[36,tr.205]

Thực chất của quản lý giáo dục là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của nhà trường được vận hành theo đúng mục tiêu Trường học là những

tế bào quan trọng của hệ thống giáo dục Những tế bào có hoạt động tốt, hiệu quả, đúng mục tiêu thì hệ thống giáo dục mới thực hiện được những mục tiêu

xã hội giao phó Vì vậy, để trường học vận hành và phát triển thì cần phải quản

lý Quản lý trường học có thể hiểu như một bộ phận của quản lý GD nói chung

Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm

vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh Bản chất của việc quản lý nhà trường phổ thông là

Trang 23

quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục

Quản lý nhà trường là tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước

Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [24,tr.71]

Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục nhưng trong một phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng, đó là nhà trường Vì thế quản lý nhà trường phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo

Quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản lý các lĩnh vực khác Ở đây những tác động của chủ thể quản lý là những tác động của công tác tổ chức sư phạm đến đối tượng quản lý nhằm giải quyết những nhiệm vụ giáo dục của nhà trường Đó là hệ thống tác động có phương hướng, có mục đích, có một quan hệ qua lại lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau

Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng của nó Quản

lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục Trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể tự hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng rèn luyện và phát triển theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận

Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của một sự cải tiến trong ngành giáo dục đều phụ thuộc rất lớn vào những điều kiện đang tồn tại, phổ biến ở các nhà trường Vì vậy, muốn thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục phải xem xét đến những điều kiện đặc

Trang 24

thù của mỗi nhà trường, phải chú trọng thực hiện việc cải tiến công tác quản lý giáo dục đối với nhà trường, nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân

Tóm lại: Quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lí giáo dục Thực

chất của quản lí nhà trường, suy cho cùng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ [22,tr.372] Người quản lí nhà trường phải làm sao

cho hệ thống các thành tố vận hành liên kết chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn

1.2.2.4.Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục

Biện pháp là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [35, tr.64] Với một vấn đề ở một đối tượng cụ thể người quản lý phải đặt ra các phương hướng giải quyết phù hợp, để đạt được mục tiêu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục là những cách thức quản lý nội dung chương trình, các biện pháp thực hiện chương trình hoạt động giáo dục nhằm đạt mục tiêu, chương trình đề ra

1.2.3 Trường THPT chuyên

1.2.3.1 Trường THPT chuyên

Với mục tiêu để phát triển sự nghiệp giáo dục, tăng cường hiệu lực quản

lý nhà nước về giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Luật giáo dục nước Việt Nam đã đưa ra những quy định về

tổ chức và hoạt động giáo dục Theo điều 2 về qui chế trường THPT chuyên của

luật giáo dục cũng quy định rõ: “Trường chuyên được thành lập ở cấp THPT

dành cho những học sinh đạt kết quả xuất sắc trong học tập nhằm phát triển năng khiếu của các em về một số môn học trên cơ sở bảo đảm giáo dục phổ

thông toàn diện”[ 12,tr.285]

“Trường THPT chuyên được ưu tiên về bố trí cán bộ, giáo viên đủ phẩm chất và năng lực, về trang bị cơ sở vật chất và thiết bị theo tiêu chuẩn trường trung học chuẩn quốc gia; được tiếp nhận sự giúp đỡ của các tổ chức kinh tế, xã

Trang 25

hội trong và ngoài nước” - Điều 5 - Qui chế trường THPT chuyên của Luật giáo dục[12,tr.286] Để thực hiện Luật giáo dục, trong công tác quản lý vĩ mô, Bộ giáo dục và đào tạo đã xây dựng được một số văn bản pháp quy cho loại hình trường THPT chuyên: Hướng dẫn nội dung dạy học các môn chuyên trường THPT chuyên (áp dụng từ năm học 2001-2002); quy chế trường THPT chuyên (ban hành kèm theo quyết định số 05/2002/QĐ-BGD ngày 11/03/2002 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT)

1.2.3.2 Học sinh trường THPT chuyên

Về đối tượng HS trường THPT chuyên: Với độ tuổi từ 15 đến 19 Học sinh trường chuyên có nhiệm vụ: Thực hiện tốt các yêu cầu về giáo dục toàn diện của HS phổ thông; Tích cực, chủ động trong học tập, phấn đấu học giỏi môn chuyên; Tích cực tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động chính trị xã hội chung của nhà trường; tham gia các hoạt động khoa học do nhà trường tổ chức hoặc theo sự phân công của giáo viên, phù hợp với năng lực cá nhân đối với từng môn chuyên; Được tạo các điều kiện về: ở nội trú, sử dụng cơ

sở vật chất thiết bị và thư viện phục vụ cho học tập; HS thuộc diện được hưởng chính sách ưu tiên, ưu đãi theo quy định tại Điều 32 của Nghị định số 43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 của Chính phủ được xét miễn giảm học phí;

HS đạt kết quả giỏi được xét cấp học bổng, được khen thưởng theo quy định của nhà nước, của địa phương và của trường đại học – Điều 35 QĐ số 23/2000 của Bộ giáo dục và đào tạo [1]

1.2.3.3 Quản lí giáo dục học sinh trường THPT chuyên

Quản lí giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở qui luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em[ 22,tr.341]

Quản lí giáo dục học sinh trường THPT chuyên phải đảm bảo chất lượng giáo dục – chất lượng giáo dục là chất lượng tổng hợp của cả quá trình dạy học

và quá trình giáo dục Nội dung giáo dục ở trường THPT chuyên là một hệ thống toàn diện bao gồm năm mặt: đức, trí, thể, mỹ và lao động Các hoạt động giáo dục cần thiết cho HS dựa vào các nội dung:

Trang 26

- Giáo dục ý thức công dân - là nội dung giáo dục quan trọng nhất: Giáo dục ý thức chính trị - tư tưởng; Giáo dục pháp luật; Giáo dục ý thức đạo đức

- Giáo dục văn hóa thẩm mỹ: Mục đích của GD này là giúp cho HS nâng cao trình độ nhận thức, cảm thụ, thưởng thức và càng tái tạo cái đẹp vật chất, tinh thần, hình thành thói quen, nếp sống hành vi văn minh trong giao tiếp xã hội

- Giáo dục lao động hướng nghiệp: Giáo dục lao động là quá trình tác động hình thành cho HS kiến thức, thái độ và kỹ năng lao động để trở thành người lao động sáng tạo trong tương lai Giáo dục hướng nghiệp là những tác động định hướng nghề nghiệp cho HS nhằm giúp các em lựa chọn một nghề phù hợp với năng lực, sở thích, nguyện vọng của cá nhân và phù hợp với yêu cầu về nhân lực của thị trường lao động, nói cách khác là chuẩn bị cho thế hệ trẻ trở thành người lao động

- Giáo dục thể chất: là quá trình tác động sư phạm hướng vào việc hoàn thiện thể lực cho HS phát triển kỹ năng vận động cơ thể, tạo ra cuộc sống tâm

lý ổn định, lối sống có văn hóa

Một số nội dung khác như: giáo dục dân số, giáo dục môi trường, giáo dục giới tính, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục an toàn giao thông …

1.2.4 Giáo dục toàn diện

Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người

Theo Từ điển Giáo dục học (Nhà xuất bản Từ điển bách khoa - 2001) thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là “Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng

Trang 27

sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội”[22,tr.340]

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ Giáo dục được giải nghĩa

ngắn gọn là “Tác động có hệ thống để con người có thêm năng lực và phẩm chất

cần thiết”

Định nghĩa trên nêu lên bốn đặc trưng chủ yếu của giáo dục, với tư cách là một hoạt động của con người trong xã hội

Một - đó là quá trình đào tạo con người, hình thành những sức mạnh bản chất

của con người

Hai - đó không phải là quá trình tự phát, mà là một quá trình tự giác có mục

đích đã được ý thức trước

Ba - đó là một quá trình chuẩn bị con người tham gia đời sống xã hội (với

những yêu cầu cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử), tham gia các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, mà lĩnh vực chủ yếu là lao động sản xuất

Bốn – quá trình đó được tiến hành bằng nhiều con đường, nhiều phương tiện,

nhiều biện pháp khác nhau, song tất cả đều phải nhằm tổ chức người dạy và người học truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm đã tổng kết được trong lịch sử của xã hội loài người

Quá trình giáo dục do những người dạy và người học thực hiện, với tư cách vừa là cá nhân, vừa là tập thể, trong đó giáo viên là nhân vật trung tâm, là lực lượng chủ yếu, và học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình giáo dục Hoạt động của người dạy và người học đều phải chịu sự chi phối của những tư tưởng giáo dục nhất định, bao gồm những hiểu biết về các quy luật của giáo dục, những kinh nghiệm tổ chức thực hiện và điều khiển quá trình giáo dục theo những quy luật đó, cùng với những thái độ đối với hoạt động giáo dục phù hợp với các quy luật Để thực hiện những tư tưởng giáo dục, phải sử dụng những phương tiện giáo dục, bao gồm cơ sở vật chất, thiết bị, tài liệu và cả con người nữa, những phương tiện này mang nội dung và phương pháp giáo dục, phản ảnh những tư tưởng giáo dục nói trên

Mỗi người lao động trong chế độ xã hội chủ nghĩa phải được phát triển toàn diện, phải được giáo dục toàn diện “Con người mới là con người phát triển toàn diện, có cuộc sống tập thể và cá nhân hài hòa và phong phú” [13,tr.40] Phát triển

Trang 28

toàn diện cũng thuộc bản chất của mục đích giáo dục xã hội chủ nghĩa Phát triển toàn diện là phát triển tất cả những phẩm chất và năng lực tốt đẹp trong mọi người, phát triển tất cả những sức mạnh bản chất của con người, do loài người đã tạo nên trong quá trình lao động sáng tạo và đoàn kết hợp tác, đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh giai cấp mà ngày nay giai cấp công nhân công nghiệp đã kế thừa và phát huy những giá trị quý báu đó Sự phát triển toàn diện cũng là sự phát triển hài hòa, cân đối và thống nhất trong con người, phát triển mọi năng khiếu và tài năng sẵn

có của mỗi người Khả năng phát triển toàn diện của con người trong xã hội, cũng như trình độ làm chủ của con người, không thể tách rời với khả năng và trình độ phát triển của xã hội mà cá nhân đó đang sống và hoạt động, tách rời khỏi mức độ phong phú về nội dung của những mối quan hệ xã hội nhiều mặt mà cá nhân đó tham gia Trình độ của sự phát triển toàn diện con người phụ thuộc vào yêu cầu của sự phát triển cách mạng, của xã hội

Cần phải tiến hành giáo dục về các mặt đức, trí, thể mỹ, lao động theo tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải chuẩn bị về các mặt hoạt động lao động sản xuất, hoạt động sáng tạo khoa học, kỹ thuật, văn học nghệ thuật, hoạt động chính trị - xã hội, làm nghĩa vụ quân sự, sống một đời sống tập thể và cá nhân hài hòa, phong phú” Đó chính là những nhiệm vụ đức dục, trí dục, mỹ dục, thể dục, lao động kỹ thuật tổng hợp, giáo dục quốc phòng, v.v trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của chúng ta Tất cả các nhiệm vụ giáo dục đó không thể tiến hành riêng rẽ mà được thực hiện đồng thời thông qua hoạt động dạy và học các môn học, hoạt động lao động sản xuất, hoạt động xã hội, sinh hoạt tập thể HS, các gương mẫu để tác động đến toàn bộ nhân cách của người được GD

Điều 2 luật giáo dục 2005 đã quy định rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo

con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm

mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [12,tr.8]

Tư tưởng GD toàn diện đặt ra yêu cầu định hướng hệ thống giáo dục tác động tích cực đến tất cả các giai đoạn phát triển và các mặt hình thành nhân cách cá nhân nêu trên làm nền tảng để đào tạo và bồi dưỡng những con người

có khả năng học tập và lao động nghề nghiệp một cách sáng tạo, tạo ra nhiều

Trang 29

giá trị mới không chỉ đơn thuần vì mục đích kiếm sống mà còn vì sự phát triển nhân cách của những cá nhân, thích ứng và hòa nhập với cuộc sống cộng đồng

1.3 Những đặc trưng hoạt động giáo dục của trường THPT chuyên trong hệ

thống giáo dục quốc dân

1.3.1 Vị trí, vai trò, chức năng của trường THPT chuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân

* Vị trí trường THPT: Điều 2, Chương I Điều lệ trường THPT quy định:

“Trường trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông Trường trung học có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng”[12, tr.270]

THPT là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là giai đoạn quan trọng mà học sinh cần phải tích luỹ đầy đủ những kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện để chuẩn bị học lên (đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp) hoặc đi vào cuộc sống xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Ở độ tuổi từ 15 – 19, học sinh THPT có đủ các điều kiện về tâm - sinh lý, trí tuệ và thể chất để phát triển nhân cách toàn diện Chất lượng học tập ở bậc học này quyết định năng lực làm việc,

tư duy sáng tạo, kỹ năng sống của mỗi con người

Vị trí trường THPT chuyên: Trường THPT chuyên được thành lập ở cấp

trung học phổ thông, dành cho những học sinh đạt kết quả xuất sắc trong học tập nhằm phát triển năng khiếu của học sinh ở một số môn học trên cơ sở bảo đảm giáo dục phổ thông toàn diện[12,tr.285] Trường THPT chuyên có quy chế riêng, chương trình riêng, dạy tăng số tiết ở một số môn chuyên

1.3.2 Mục tiêu giáo dục THPT, THPT chuyên

Về mục tiêu giáo dục THPT: “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng

cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [12,tr.14]

Xác định đúng đắn mục tiêu GD có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành các mục tiêu xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Mục tiêu

GD như là một phần của định hướng, chỉ đường cho các khuôn mẫu phát triển

và làm nền tảng cho sự vận động của tình hình hiện tại đi đến tương lai

Trang 30

Để giáo dục - đào tạo phát triển mạnh mẽ nhằm: “Phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”, khi bước vào thời

kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo

dục toàn diện: đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học”[10]

Mục tiêu giáo dục THPT chuyên: Xây dựng và phát triển các trường THPT thành một hệ thống cơ sở giáo dục trung học có chất lượng giáo dục cao, đạt chuẩn quốc gia, có trang thiết bị dạy học đồng bộ, hiện đại đảm bảo thực hiện nhiệm vụ phát hiện những HS có tư chất thông minh, đạt kết quả xuất sắc trong học tập để bồi dưỡng thành những người có lòng yêu đất nước, tinh thần

tự hào, tự tôn dân tộc; có ý thức tự lực; có nền tảng kiến thức vững vàng; Các trường THPT chuyên là hình mẫu của các trường THPT về cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo và tổ chức các HĐGD (Theo quyết định 959 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 24 tháng 6 năm 2010) [8]

1.3.3.Những yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục ở trườngTHPT, THPT chuyên

Khoản 1 điều 28 Luật Giáo dục quy định :“Nội dung GDPT phải bảo

đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và hệ thống: gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi bậc học, cấp học”[12,tr14]

Nội dung giáo dục THPT “phải củng cố, phát triển những nội dung đã học

ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông Ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và để phát huy năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh”[12,tr14]

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đổi mới nội dung giáo dục nhằm “loại bỏ những nội dung không thiết thực, bổ sung những nội dung cần thiết theo hướng bảo đảm kiến thức cơ bản cập nhật với tiến bộ của khoa học và công nghệ, tăng nội dung khoa học - công nghệ ứng dụng, tăng cường giáo dục

kỹ thuật tổng hợp và năng lực thực hành ở bậc học phổ thông, tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác – Lênin, đưa việc giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù hợp với lứa tuổi và từng bậc học, coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội - nhân văn, nhất là tiếng Việt, lịch sử dân tộc, địa lý và văn hoá Việt Nam”

Trang 31

Với giáo dục THPT chuyên thực hiện giáo dục HS với cả hai triết lí giáo

dục đại chúng và giáo dục tinh hoa “Đại chúng” vì giáo dục THPT chuyên

không là đặc quyền, đặc lợi cho bất kì bộ phận dân cư nào trong xã hội Mọi học sinh tốt nghiệp THCS đủ điều kiện dự thi đều bình đẳng về cơ hội thụ hưởng giáo dục chuyên nếu học sinh đó trúng tuyển Đồng thời, giáo dục THPT chuyên cũng thực hiện mục tiêu của giáo dục THPT là phát triển toàn diện nhân cách học sinh, giúp học sinh “củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề

hoặc đi vào cuộc sống lao động” Giáo dục THPT chuyên là “tinh hoa” vì giáo

dục THPT là phương thức đáp ứng sự phát triển của những học sinh có ưu thế hơn những học sinh khác về năng lực học tập, giúp các học sinh này “phát triển năng khiếu về một số môn học trên cơ sở đảm bảo giáo dục phổ thông toàn diện”

Như vậy, nội dung giáo dục THPT được đổi mới phải mang tính chất phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý học sinh

Trường THPT chuyên có nhiệm vụ: Bồi dưỡng và phát triển năng khiếu

của học sinh về một môn học nhất định gọi là môn chuyên; đồng thời bảo đảm việc thực hiện đầy đủ kế hoạch và chương trình giáo dục toàn diện của trường THPT; tổ chức các hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học phù hợp với trình

độ và tâm sinh lý học sinh nhằm giáo dục toàn diện HS chuyên [12,tr.285]

Việc Bộ GD&ĐT ban hành Quy chế trường THPT chuyên là bước quan trọng trong việc triển khai thực hiện luật GD Quy chế trường THPT chuyên đã quy định nét đặc trưng của trường THPT chuyên so với các trường THPT bình thường, nhằm vào mục tiêu “phát triển năng khiếu cho HS về một số môn học” được xác định là môn chuyên “trên cơ sở bảo đảm GD phổ thông toàn diện”

Trường THPT chuyên có 2 nhiệm vụ đặc trưng:

+ Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao: Học sinh trường THPT chuyên

sau khi ra trường phải đủ điều kiện được tiếp tục đào tạo ở bậc cao hơn để được trở thành những cán bộ khoa học - kỹ thuật trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội

Trang 32

+ Phát triển và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước : Để HS của trường sau

khi ra trường tiếp tục đào tạo ở bậc cao hơn, sẽ có một số bộ phận trở thành những nhà khoa học, những chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước

1.3.4 Về kế hoạch giáo dục ở bậc THPT, THPT chuyên

Kế hoạch giáo dục là một văn bản có tính pháp lý của Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành trong toàn quốc, mọi cán bộ quản lý, giáo viên phải thực hiện nghiêm túc Kế hoạch giáo dục quy định: Thành phần các môn học, trình tự dạy các môn ở từng lớp, số giờ dành cho từng bộ môn học trong tuần, trong năm, cấu trúc thời gian của năm học

Định hướng mang tính nguyên tắc khi xây dựng kế hoạch giáo dục trong thời gian tới:

+ Kế hoạch GD phải phản ánh mục tiêu giáo dục toàn diện bao gồm những yêu cầu về GD đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động kỹ thuật + Kế hoạch giáo dục phải phản ánh tính hài hoà, cân đối giữa các mặt giáo dục bảo đảm tính hệ thống, kế tiếp Xác định hệ thống môn học với thời lượng phù hợp, bảo đảm coi trọng nội dung giáo dục, khoa học tự nhiên, xã hội

và nhân văn, kỹ năng và công nghệ

+ Kế hoạch giáo dục xây dựng phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý và sức khoẻ của học sinh[12,tr.290]

Để bảo đảm mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh THPT, những nội dung kiến thức cần thiết về kỹ thuật, công nghệ, hướng nghiệp, và những kiến thức về: dân số, môi trường, pháp luật, giao thông, ngoại ngữ, sử dụng máy tính, âm nhạc, mỹ thuật, hướng nghiệp ngày càng được cập nhật hoá, tích hợp trong các môn học Mục tiêu, nội dung, phương pháp, kế hoạch giáo dục là những thành tố của hệ thống giáo dục và chúng có quan hệ hữu cơ, gắn bó và tác động qua lại lẫn nhau Đối với mục tiêu giáo dục không những phải đổi mới nội dung, phương pháp, kế hoạch giáo dục mà còn phải xây dựng đội ngũ giáo viên có năng lực, đủ tài đức để thực hiện mục tiêu đó, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Giáo dục phổ thông tuy có vị trí tương đối độc lập với phát triển kinh tế nhưng là một bộ phận kinh tế xã hội, nên sự phát triển của GD phổ thông phụ

Trang 33

thuộc nhiều vào các điều kiện và trạng thái vận động của nhiều nhân tố: Dân số, thu nhập quốc dân, khả năng nguồn lao động, trình độ phát triển văn hoá, kết cấu và cơ chế kinh tế Sự phát triển của GD phổ thông với đặc trưng về tổ chức sư phạm như cơ cấu hệ thống, nội dung đào tạo, tổ chức các điều kiện đào tạo, nếu có sự quản lý tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy các nhân tố tích cực, hạn chế các diễn biến tiêu cực của kinh tế - xã hội

1.3.5 Yêu cầu và xu thế phát triển trường THPT chuyên hiện nay

Trong bối cảnh thế giới cũng như trong khu vực và nước ta hiện nay đặt ra cho giáo dục trung học những yêu cầu mới Trước hết đó là những vấn đề, như:

Sự bùng nổ tri thức khoa học và công nghệ Đây là xu thế đưa nhân loại

đến nền văn minh trí tuệ Nhờ vào lượng thông tin khoa học - công nghệ, nhờ vào công nghệ cao như vi điện tử, tin học, sinh học, tự động học, vật liệu mới

xã hội thông tin sẽ tạo ra một nền “công nghiệp sinh thái” Sự tiến bộ xã hội không chỉ đo bằng công nghệ hoặc mức sống vật chất, mà bằng cả chỉ tiêu đạo đức, thẩm mỹ, môi trường, văn hoá, tinh thần Con người sẽ là trung tâm của

sự phát triển Sự phát triển phải là của dân, do dân tham gia thực hiện, sự phát triển vì nhân dân, vì hạnh phúc con người, xem con người là động lực phát triển của xã hội Đảng ta đã đề ra mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Nền kinh tế thế giới cũng như khu vực đi đến một khuôn khổ toàn cầu Bất

kể đất nước nào nếu thu nhận được những bài học của thị trường, tạo lập được những phẩm chất cho phép cạnh tranh trong một thế giới kinh tế không biên giới thì mới có cơ hội thành công Giáo dục được nhận thức như một động lực, một đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế

Thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau: Ngày nay các quốc gia không còn

tách biệt nhau mà càng ngày càng liên kết trong một cộng đồng khu vực giáo dục, yêu cầu sử dụng vệ tinh cho GD từ xa, nhu cầu xây dựng trường quốc tế,

đa quốc gia Sự hợp tác đa phương, song phương ngày càng mở rộng, làn sóng đua tranh, sàng lọc ngày càng gay gắt Trong quan hệ quốc tế, hợp tác trí tuệ rất quan trọng Hợp tác quốc tế về trí tuệ là nét điển hình trong thế giới ngày nay

Bối cảnh thế giới sẽ xuất hiện những khủng hoảng trầm trọng, như nạn ô

nhiễm môi trường sinh thái, sự bùng nổ dân số, xung đột sắc tộc, dân tộc và tôn

Trang 34

giáo, sự đói nghèo, lạc hậu và ngu dốt, các nạn dịch thời đại cũng ảnh hưởng đến nền giáo dục nói chung và GDTH nói riêng trong tình hình mới hiện nay

Ở nước ta, từ năm 1986 trở lại đây, thời gian mặc dù chưa dài, nhưng con người Việt Nam bước đầu bộc lộ một số đặc điểm nhân cách của mình trong điều kiện mở cửa Chuyển sang cơ chế mới, mỗi con người trước hết phải chịu

trách nhiệm về công việc của mình Cho nên biết tính toán hiệu quả kinh tế, sự đòi hỏi mức tiêu dùng hàng ngày càng cao, chấp nhận ganh đua, chấp nhận giàu nghèo Vì vậy tạo ra sự hăng say lao động, học tập thay cho trung bình chủ nghĩa, đặc biệt ở lứa tuổi học sinh THPT và sinh viên

Về vai trò của giáo dục trên thế giới cũng như trong nước ngày càng được khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “giáo dục là chìa khoá mở cửa

tiến vào tương lai”, “ Giáo dục là con đường cơ bản để thực hiện công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước” Bác Hồ cũng đã dạy: “ Không có giáo dục, không

có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế, văn hoá” Do đó, học tập là đặc trưng

nổi bật của cuộc sống hiện tại và tương lai Mỗi con người phải có một trình độ học tập nhất định, một tay nghề nhất định, trên cơ sở đó mới có thể tự rèn luyện

để thích nghi và sáng tạo trong cuộc sống đang có nhiều biến đổi

Ở nước ta, sự chuyển đổi nền kinh tế, cùng với sự đổi mới trên mọi lĩnh vực đã có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội Thực tiễn đòi

hỏi ngành giáo dục và đào tạo nói chung và GDTH nói riêng phải kịp thời đổi mới mục tiêu, nội dung, phương thức đào tạo Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi phải nhìn nhận lại những vấn đề cơ bản của GDTH nước ta: Cần khắc phục và giải quyết sự sa sút về chất lượng, sự thiếu trung thực trong thi cử, nạn dạy thêm, học thêm tràn lan, sự không phù hợp với tình hình biến đổi khoa học - xã hội của đất nước hiện nay Những vấn đề bức xúc được thể hiện ở chỗ:

Trang 35

GDTH nước ta trong 50 năm qua đã có những đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã bước sang một thời kỳ mới Những yêu cầu mới của cách mạng đòi hỏi cần phải thay đổi cơ cấu, nội dung và phương pháp GDTH

GDTH có vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế

xã hội, đất nước, thực hiện 3 mục tiêu giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo

nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Trong những năm tới, GDTH cần được đổi mới

theo hai phương hướng sau:

- Góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, bình đẳng, hạnh phúc thông qua việc nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Đồng thời góp phần hình thành và phát triển nhân cách HS, nhằm đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề cuộc sống đặt ra cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội

- Hòa nhập GDTH trên thế giới, nhất là ở khu vực trong bối cảnh một thế giới mở cửa, hợp tác để giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu Ngành giáo dục - đào tạo nước ta đứng trước 3 mục tiêu lớn: Nâng cao dân trí - đào tạo nhân lực - bồi dưỡng nhân tài, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,

đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để đạt được những mục tiêu

trên, vấn đề giáo dục học sinh THPT đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện là hết sức quan trọng và có ý nghĩa chiến lược rất lớn

1.4 Nội dung quản lí giáo dục học sinh trường THPT chuyên đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện

1.4.1.Nội dung công tác quản lí hoạt động giáo dục học sinh trường THPT chuyên

1.4.1.1 Nội dung quản lí nhà trường

Công tác quản lí trong nhà trường bao gồm các nội dung sau đây:

Quản lí toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HS Quản lí tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lí tài chính của Nhà nước và của ngành GD Đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng CSVC, mua sắm thiết bị phục vụ các hoạt động và dạy học

Trang 36

Tổ chức đội ngũ các thầy, cô giáo, cán bộ công nhân viên và tập thể học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường

Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục của

1.4.1.2 Phương thức quản lí nhà trường

Quản lí là hoạt động mang tính khoa học rất cao, đối với nhà trường cần phải tìm tòi một phương thức phù hợp với đặc trưng là vừa quản lí vật chất, vừa quản lí con người để giáo dục con người Do đó, quản lí nhà trường được thực hiện bằng các phương thức sau đây:

Kế hoạch hóa các hoạt động của nhà trường: Đề ra được sứ mệnh, tầm

nhìn và phát triển của nhà trường Xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa Xây dựng kế hoạch năm học có mục tiêu rõ ràng với nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục: Tổ chức quá trình dạy học, giáo

dục, đào tạo trong nhà trường đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và yêu cầu quản lí Nhà nước về giáo dục đối với nhà trường Phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội trong và ngoài trường tập trung vào việc thực hiện sứ mệnh của nhà trường trong đời sống xã hội Thực hiện nội dung giảng dạy bám sát vào giáo trình, sách giáo khoa và có sự cập nhật với sự phát triển kinh tế văn hóa của địa phương Tổ chức cải tiến phương pháp dạy học quán triệt các thành tựu đổi mới

về phương pháp dạy học Chú trọng việc bồi dưỡng giáo viên trẻ, khuyến khích giáo viên tự học, tự bồi dưỡng Xây dựng tập thể người học có động cơ và ý chí

tự học, tự giáo dục Chú ý các hoạt động ngoại khóa, vui chơi, giao lưu của học sinh thực hiện giáo dục đức-trí-thể-mĩ Có hình thức giúp đỡ HS nghèo vượt khó trong học tập; bồi dưỡng HSG, thực hiện tốt công tác hướng nghiệp cho HS, chú

ý kết hợp giáo dục và lao động sản xuất trong nhà trường Hướng cho HS yêu

Trang 37

thích và thực hiện các nghiên cứu xã hội, tự nhiên ở địa phương phù hợp với nội dung đào tạo và trình độ của HS

Quản lí tốt cơ sở vật chất trang thiết bị giảng dạy và học tập của nhà trường Quản lí công tác tài chính trường học theo đúng quy chế đã ban hành và thực sự tạo ra sự thúc đẩy cho mục tiêu phát triển nhà trường Tạo dựng “môi trường sư phạm thân thiện”, tạo cảnh quan nhà trường “xanh- sạch - đẹp”, đáp ứng yêu cầu thực hiện các mục tiêu giáo dục rèn luyện phát triển nhân cách HS

Tổ chức tập thể sư phạm của nhà trường thành tổ chức biết học hỏi

Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch năm học Theo tác giả Nguyễn Đức Chính: “ Bất kì khâu nào của QLGD cũng cần tới đánh giá Không có đánh giá

thì hệ thống QLGD sẽ trở thành hệ thống một chiều Đây là một cơ chế QLGD không khoa học, không hoàn thiện Khi có đánh giá, QLGD mới nhận được phản hồi, mới kịp thời phát hiện ra các vấn đề và giải quyết chúng GD là một hệ thống quản lí hai chiều khứ hồi Như vậy có thể nói đánh giá là một nhân tố đảm bảo cho QLGD có tính khoa học và hoàn thiện”[16,tr.35]

Việc thực hiện công tác kiểm tra đánh giá nội bộ trường học thường xuyên Chú ý công tác thi đua, khen thưởng trách phạt nghiêm minh, kịp thời trong tập thể sư phạm và tập thể HS

1.4.2 Các hoạt động chủ đạo giáo dục học sinh toàn diện

1.4.2.1 Quản lí dạy học theo mục tiêu, chương trình giáo dục

Trường THPT chuyên là một loại hình đặc thù của trường THPT Nó phải bảo đảm tính chất nền tảng phổ thông, toàn diện (mục tiêu, nội dung giáo dục cơ bản) đồng thời nó cũng mang những đặc thù riêng của đối tượng, mục tiêu giáo dục chuyên biệt nhằm phát huy năng khiếu, sở trường của HS theo các môn học hoặc các lĩnh vực năng khiếu Vì thế quản lí các hoạt động chủ đạo giáo dục HS toàn diện trước hết là quản lí dạy học theo mục tiêu, chương trình giáo dục

Theo cách hiểu thông thường mục tiêu giáo dục là “cái đích hướng tới”

của quá trình GD nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người, nhân cách nghề nghiệp tướng ứng với một loại hình lao động nghề nghiệp trong các giai đoạn phát triển cụ thể của đời sống xã hội

Trang 38

Mục tiêu GD không chỉ dừng ở việc trang bị hệ thống kiến thức đơn thuần, hình thành kỹ năng hành nghề mà còn cần phát triển các phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy của người học cũng như sự hình thành và phát triển thái

độ, phẩm chất, ý thức nghề nghiệp của người học trong quá trình đào tạo

Hoạt động GD rất phong phú và đa dạng với nhiều loại hình, bậc trình độ khác nhau trong hệ thống GD tương ứng với từng giai đoạn phát triển của đời sống của từng cá nhân trong xã hội từ tuổi ấu thơ cho đến tuổi trưởng thành được định hướng và xác lập bằng hệ thống các mục tiêu giáo dục tổng quát và các mục tiêu trung gian xét trên hệ mục tiêu giáo dục

Mục tiêu đào tạo

( Goal)

Theo các khoá đào tạo, loại hình trường, v.v… thể hiện trong chương trình đào tạo

Mục tiêu học tập cụ thể

(Learning Objectives)

Môn học, chương, bài giảng thể hiện trong tài liệu dạy học, giáo án

lí, tư tưởng của giáo dục ,nhu cầu xã hội về giáo dục như: Nền GD XHCN; Giáo dục là quốc sách hàng đầu; giáo dục vì sự phát triển tiến bộ của con người và xã hội

Nguồn: [17,tr43]

Trang 39

Theo quyết định số 959 của Thủ tướng Chính phủ: phê duyệt đề án phát triển hệ thống trường THPT chuyên giai đoạn 2010-2020, ngày 24 tháng 6 năm

2010; Mục tiêu cụ thể của trường THPT chuyên:

- Củng cố, xây dựng và phát triển các trường THPT chuyên hiện tại đồng thời với tăng dần quy mô; bảo đảm mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

có ít nhất một trường THPT chuyên với tổng số học sinh chuyên chiếm khoảng 2% số học sinh THPT của từng tỉnh, thành phố Tập trung đầu tư nâng cấp các trường THPT chuyên thành các trường đạt chuẩn quốc gia và có chất lượng GD cao Ưu tiên đầu tư mở rộng diện tích, xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường phương tiện, thiết bị dạy học đồng bộ, hiện đại Đến năm 2015, có 100% trường THPT chuyên đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 15 trường trọng điểm, có chất lượng giáo dục ngang tầm các trường TH tiên tiến trong khu vực và quốc tế

- Phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và đạt mức cao của chuẩn nghề nghiệp; nâng tỷ lệ giáo viên, cán bộ quản lý có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ đồng thời với việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và khả năng nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục trong các trường THPT chuyên Đến 2015, có 100% cán bộ quản lý, giáo viên giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, sử dụng thông thạo tin học

và thiết bị dạy học hiện đại; 20% cán bộ quản lý, giáo viên sử dụng được ngoại ngữ trong giảng dạy, giao tiếp

- Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục trong các trường THPT chuyên theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới Đến năm 2015,

có ít nhất 50% học sinh được xếp loại học lực giỏi; 70% HSG, khá về tin học; 30% học sinh đạt bậc 3 về ngoại ngữ theo tiêu chí do Hiệp hội các tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu ban hành Đến năm 2020, có ít nhất 70% HS được xếp loại học lực giỏi; 90% HSG, khá về tin học; 50% học sinh đạt bậc 3 về ngoại ngữ theo tiêu chí do Hiệp hội các tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu ban hành

Trang 40

- Tạo sự liên thông giữa việc phát hiện, bồi dưỡng HS năng khiếu ở trường THPT chuyên với việc đào tạo ở đại học; lựa chọn những HS có năng khiếu nổi bật vào học tại các lớp cử nhân tài năng, kỹ sư chất lượng cao của các trường đại học chất lượng cao trong nước và các trường đại học có uy tín ở nước ngoài để tiếp tục đào tạo, phát triển năng khiếu Đến năm 2015, có khoảng 30% HS các lớp chuyên đã tốt nghiệp THPT được đào tạo tại các lớp cử nhân tài năng, kỹ sư chất lượng cao của các trường đại học trong nước và tại các trường đại học có uy tín ở nước ngoài và đạt 50% vào năm 2020

- Tăng cường khả năng hợp tác giữa các trường THPT các cơ sở giáo dục

có uy tín ở nước ngoài nhằm trao đổi kinh nghiệm về tuyển chọn, bồi dưỡng và phát triển năng khiếu HS; đồng thời thu hút nguồn lực vào phát triển hệ thống các trường THPT chuyên Đến năm 2020, mỗi trường THPT chuyên hợp tác được với ít nhất một cơ sở giáo dục có uy tín trong khu vực, quốc tế

- Giáo dục THPT chuyên được xem như một phương thức tổ chức quá trình dạy học trong nhà trường với sự phân hoá cao so với giáo dục THPT nói chung Điều này được thể hiện rõ trong sự khác biệt của các yếu tố cấu thành quá trình dạy học ở trường THPT chuyên so với các trường THPT nói chung Quá trình dạy học ở trường THPT chuyên chú trọng nhiều đến phương diện chất lượng của các yếu tố như: đối tượng và công tác tuyển sinh; mục tiêu và nội dung chương trình dạy học; phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; đội ngũ giáo viên; cơ sở vật chất phục vụ dạy học và công tác quản lí quá trình dạy học trong nhà trường

1.4.2.2 Quản lí hoạt động tự học của học sinh

Học là nội lực tri thức hóa bản thân người học Con người học kiến thức, học kĩ năng và học thái độ Học lấy tự học làm cốt, tự giác, tích cực chủ động học cách học, cách tư duy mới có thể tạo ra năng lực học suốt đời Đó là năng lực tư duy, năng lực phát hiện giải quyết vấn đề, năng lực tự học, tự đào tạo

Với lượng kiến thức khổng lồ người học không chỉ học sự kiện hay hiện tượng, không chỉ học biết, học hiểu và học vận dụng mà còn học phân tích, học tổng hợp, học đánh giá, học tư duy nhất là học phương pháp học tập Học có kế

Ngày đăng: 16/03/2015, 17:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Điều lệ trường Trung học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường Trung học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2006
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Quyết định số 14/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 26/03/2003 về sửa đổi một số điều trong Quy chế trường trung học phổ thông chuyên của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 14/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày "26/03/2003" về sửa đổi một số điều trong "Quy chế trường trung học phổ thông chuyên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2002
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về chương trình hành động của ngành giáo dục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH TW Đảng khoá IX, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về chương trình hành động của ngành giáo dục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH TW Đảng khoá IX
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt "động nhà trường
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2000
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/6/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về việc phê duyệt đề án”Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005-2010
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2005
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo(2007), Báo cáo tại Hội nghị các trường THPT chuyên toàn quốc, tháng 3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Hội nghị các trường THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo(2009), Báo cáo tại Hội nghị các trường THPT chuyên toàn quốc, tháng 12/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Hội nghị các trường THPT chuyên toàn quốc
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
8. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Quyết định 959 của Thủ tướng Chính phủ:Đề án phát triển hệ thống trường chuyên giai đoạn 2010- 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định "959 của Thủ tướng Chính phủ:Đề án phát triển hệ thống trường chuyên giai đoạn 2010-
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
9. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục giai đoạn 2005-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số "09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng "đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục giai đoạn 2005-2010
10. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 14/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số "05/2005/NQ-CP ngày 14/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần "thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
13. Đặng Quốc Bảo (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực quản lí nhà trường. Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nâng cao năng lực quản lí nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
14. Đặng Quốc Bảo (1995), Để là nhà quản lí giáo dục thành công. Trường Cán bộ quản lí Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để là nhà quản lí giáo dục thành công
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1995
15. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hƣng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - Vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng "tới tương lai - Vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hƣng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2004
16. Nguyễn Đức Chính. Chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục. Tập bài giảng cao học quản lí giáo dục. Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
17. Nguyễn Đức Chính(2007), Đo lường và đánh giá trong giáo dục. Tập bài giảng cao học quản lí giáo dục. Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2007
18. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), Lí luận đại cương về quản lí. Bài giảng cao học quản lí giáo dục. Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận đại cương về "quản lí
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 1996
19. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2000), Những tư tưởng chủ yếu về giáo dục, Tài liệu tham khảo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng chủ yếu "về giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2000
20. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005), Những xu thế quản lí hiện đại và việc vận dụng vào quản lí giáo dục. Bải giảng cao học quản lí giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu thế quản lí hiện đại và việc vận dụng vào quản lí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Bải giảng cao học quản lí giáo dục
Năm: 2005
21. Nguyễn Bác Dụng(2009), Luận văn tiến sĩ: Mô hình quản lí trường THPT chuyên đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện. Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn tiến sĩ: Mô hình quản lí trường THPT chuyên đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện
Tác giả: Nguyễn Bác Dụng
Nhà XB: Hà nội
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hệ mục tiêu giáo dục - Quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện
Hình 1.1. Hệ mục tiêu giáo dục (Trang 38)
Bảng 2.1: Cơ cấu đội ngũ cán bộ giáo viên  năm học 2009-2010. - Quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện
Bảng 2.1 Cơ cấu đội ngũ cán bộ giáo viên năm học 2009-2010 (Trang 51)
Bảng 2.3: Thống kê kết quả đào tạo của nhà trường từ năm học 2005- 2006. - Quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện
Bảng 2.3 Thống kê kết quả đào tạo của nhà trường từ năm học 2005- 2006 (Trang 55)
Bảng 2.6.Mục đích của phụ huynh học sinh cho con vào trường - Quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện
Bảng 2.6. Mục đích của phụ huynh học sinh cho con vào trường (Trang 61)
Bảng 2.7. Đánh giá việc sử dụng các cơ sở vật chất phục vụ cho - Quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện
Bảng 2.7. Đánh giá việc sử dụng các cơ sở vật chất phục vụ cho (Trang 63)
Bảng 2.8: Đánh giá về các hoạt động giáo dục. - Quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện
Bảng 2.8 Đánh giá về các hoạt động giáo dục (Trang 64)
Bảng 3.4 . Tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp - Quản lí hoạt động giáo dục học sinh ở trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện
Bảng 3.4 Tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w