1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hải Phòng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ giáo dục và đào tạo

119 869 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đảm bảo chất lượng giáo dục cần có nhiều biện pháp như: tăng cường công tác quản lý nhà nước về giáo dục, nâng cao trình độ và đề cao trách nhiệm của nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN ĐỨC CHÍNH

HÀ NỘI – 2011

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

5 Giả thuyết nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc của đề tài 6

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO BỘ TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG 7

Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7

Các khái niệm công cụ 8

Quản lý 8

Chỉ đạo 12

Chất lượng 14

Quản lý chất lượng 19

1.2.5 Kiểm định chất lượng 25

1.2.6 Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng 27

1.2.7 Bộ tiêu chuẩn Kiểm định chất lượng giáo dục THPT của Bộ GD &ĐT 29

1.3 Quản lý các trường THPT theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ GD&ĐT 33

1.3.1 Quán triệt ý nghĩa của quản lý trường THPT theo bộ tiêu chuẩn 33

1.3.2 Giải thích nội dung của quản lý trường THPT theo bộ tiêu chuẩn 35

Trang 4

1.3.3 Yêu cầu công tác kiểm định chất lượng trong giai đoạn hiện nay

đối với trường THPT 40

Kết luận chương 1 41

Chương 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG THPT THEO BỘ TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI HẢI PHÒNG 42

2.1 Khái quát về giáo dục và giáo dục THPT thành phố Hải Phòng 42

2.1.1 Một số đặc điểm chính về kinh tế, văn hoá - xã hội của thành phố Hải Phòng 42

2.1.2 Phát triển giáo dục THPT thành phố Hải Phòng trong thời kỳ đổi mới 43

2.1.3 Thực trạng công tác quản lý các trường THPT tại Hải Phòng 43

2.2 Thực trạng việc thực hiện quản lý các trường THPT tại Hải Phòng theo Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ GD& ĐT 50

2.2.1 Thực trạng việc triển khai Bộ tiêu chuẩn KĐCLGD 50

2.3 Thực trạng công tác chỉ đạo kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Hải Phòng 63

2.3.1 Thực trạng chỉ đạo công tác truyền thông nâng cao nhận thức về kiểm định chất lượng giáo dục THPT 63

2.3.2 Thực trạng chỉ đạo thực hiện Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường THPT thành phố Hải Phòng 65

2.3.3 Thực trạng phối hợp trong công tác chỉ đạo thực hiện bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng 68

2.3.4 Thực trạng chỉ đạo công tác tổng kết, rút kinh nghiệm kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT thành phố Hải Phòng theo Bộ tiêu chuẩn 69

2.4 Đánh giá chung 71

2.4.1 Những điểm mạnh 71

2.4.2 Những điểm tồn tại: 71

2.4.3 Nguyên nhân của thực trạng: 72

Kết luận chương 2 73

Trang 5

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN BỘ TIÊU

CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI HẢI PHÒNG 74

3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 74

3.1.1 Nguyên tắc tính kế thừa 74

3.1.2 Nguyên tắc tính toàn diện 75

3.1.3 Nguyên tắc tính hiệu quả 76

3.2 Các biện pháp được đề xuất 76

3.2.1 Tổ chức các lớp tập huấn nhằm nâng cao nhận thức về mục đích của công tác kiểm định chất lượng giáo dục cho các cán bộ quản lý giáo dục ở cơ quan chỉ đạo và ở các trường 76

3.2.2 Hướng dẫn và tổ chức cho đối tượng nghiên cứu chuẩn, xác định nội dung, xây dựng quy trình và xác định minh chứng cho từng bước trong quy trình thực hiện từng công việc 79

3.2.3 Hướng dẫn cho cán bộ quản lý xây dựng kế hoạch khắc phục điểm yếu 82

3.2.4 Tập huấn cho cán bộ, giáo viên cách viết một báo cáo tự đánh giá 82 3.2.5 Hướng dẫn cho đơn vị các bước chuẩn bị và cách đón tiếp một đoàn đánh giá ngoài 88

3.2.6 Chỉ đạo thực hiện việc tự đánh giá của các trường theo Bộ tiêu chuẩn và chỉ đạo công tác đánh giá ngoài với các trường 90

3.2.7 Tăng cường phối hợp trong công tác chỉ đạo thực hiện Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng 95

3.2.8 Chỉ đạo công tác tổng kết, rút kinh nghiệm kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT thành phố Hải Phòng theo Bộ tiêu chuẩn 97

3.4 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp 98

Kết luận chương 3 102

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

1 Kết luận 103

2 Khuyến nghị 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển của đất nước.Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Để đáp ứng được yêu cầu đó, giáo dục cần thiết phải chú trọng đến vấn đề chất lượng

Chất lượng giáo dục (CLGD), quản lý chất lượng (QLCL) và nâng cao chất lượng giáo dục đang là những vấn đề nhà nước và xã hội hết sức quan tâm Đó cũng là những vấn đề khoa học gắn kết chặt chẽ với nhau về lý luận cũng như trong thực tiễn giáo dục Đồng thời những vấn đề chất lượng cũng trực tiếp liên quan đến công tác quản lý giáo dục, phát triển chương trình giáo dục, phát triển chuẩn giáo dục và áp dụng chuẩn trong giáo dục để từng bước hiện đại hoá giáo dục

Trong thời gian gần đây chất lượng giáo dục được sự quan tâm chú ý của mọi người trong xã hội Giáo dục ngày càng phát triển cả về quy mô, hình thức giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục Sự phát triển nhanh về quy

mô đào tạo, số lượng người học đã làm cho công tác quản lý nhà nước về giáo dục gặp nhiều khó khăn, chất lượng giáo dục không đảm bảo Bệnh chạy theo thành tích trong ngành giáo dục đã làm cho cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, người sử dụng lao động và mọi người trong xã hội không xác định được đúng chất lượng giáo dục Tâm lý coi trọng bằng cấp trong xã hội làm cho người học chạy theo bằng cấp cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục Đã có một số hoạt động nghiên cứu khoa học bàn về chất lượng giáo dục

và quản lí chất lượng giáo dục được tổ chức ở các cấp độ khác nhau và đã được các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải Nội dung chủ yếu của các công trình nghiên cứu này đều tập trung lí giải về chất lượng giáo dục và đề

Trang 7

xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Để đảm bảo chất lượng giáo dục cần có nhiều biện pháp như: tăng cường công tác quản lý nhà nước

về giáo dục, nâng cao trình độ và đề cao trách nhiệm của nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, đổi mới phương pháp, nội dung giáo dục, thực hiện tốt quy chế giảng dạy, học tập, thi cử, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động giáo dục …trong đó có công tác kiểm định chất lượng giáo dục Kiểm định chất lượng giáo dục làm cho cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục biết được mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình và nội dung giáo dục của các

cơ sở giáo dục, từ đó có các biện pháp tác động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại các cơ sở này Kết quả kiểm định còn giúp cho mọi người trong

xã hội biết được chất lượng giáo dục tại các cơ sở giáo dục Đồng thời, thông qua công tác kiểm định chất lượng giáo dục, cơ sở giáo dục biết được được chất lượng giáo dục của cơ sở mình để tự điều chỉnh hoạt động giáo dục cho phù hợp Năm 2005 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nhất trí sửa đổi, bổ sung một số điều trong Luật Giáo dục Một trong những

bổ sung lớn đó là triển khai hệ thống Kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) từ bậc học mầm non cho đến bậc đại học

Những chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đặt ra nhiệm vụ cho ngành Giáo dục và Đào tạo phải nhanh chóng tìm giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục Một trong những giải pháp hiệu quả là phải khẩn trương xây dựng và triển khai hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục ở các cấp học Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục Đây là cơ quan giúp Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc kiểm định chất lượng giáo dục Và Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ra các Quyết định ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Hải Phòng- Thành phố Cảng “Trung dũng- Quyết thắng” là đất học, quê hương của danh nhân văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm, niềm tự hào của đất nước và của dân tộc, đã và đang đổi thay từng ngày khi bước vào thế kỉ 21

Trang 8

Với mục tiêu tiếp tục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài ở cấp độ mới, ngành Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng đã và đang phấn đấu phát huy những thành tích đã đạt được, khắc phục những tồn tại, tạo

ra những bước phát triển mới trong sự nghiệp giáo dục đào tạo

Nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục trong nền kinh tế tri thức và hội nhập, Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng phấn đấu: Tạo nguồn nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, chọn lọc bồi dưỡng nhân tài về khoa học, công nghệ, quản lý, văn hoá, nghệ thuật, thể thao có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH đất nước như đề án phát triển nguồn nhân lực thành phố đến năm 2020

Bằng những bước đi thích hợp, trên cơ sở làm tốt công tác quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010, 2020, thực hiện tốt các chương trình giáo dục với phương châm “Chuẩn hoá”, “Hiện đại hoá”, “Xã hội hoá”,

“Dân chủ hoá”, “Nguồn lực hoá”, tiếp tục thực hiện chấn chỉnh công tác quản

lý, khẩn trương lập lại kỉ cương, kiên quyết “nói không với tiêu cực trong thi

cử và bệnh thành tích trong giáo dục, nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và cho học sinh không đạt chuẩn lên lớp”, Ngành giáo dục Hải Phòng cùng với các ngành các cấp đang nỗ lực phấn đấu đưa thành phố phát triển nhanh, bền vững, mau chóng hội nhập với khu vực và quốc tế

Sở Giáo dục và Đào tạo Hải phòng đã và đang triển khai hệ thống những chuẩn mực để đánh giá mọi hoạt động trong các nhà trường Chỉ đạo thực hiện bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục trong các trường học nói chung và của trường THPT nói riêng như thế nào để đảm bảo đúng mục đích

là vấn đề cấp thiết đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng cả trên cả bình diện lí luận và hoạt động thực tiễn

Đó là lí do để tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý các trường trung học

phổ thông tại Hải Phòng theo Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ Giáo dục và Đào tạo” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục, đề xuất các biện pháp chỉ đạo thực hiện

Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng các trường THPT tại Hải Phòng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kiểm định chất lượng giáo dục THPT

+ Phân tích thực trạng việc chỉ đạo kiểm định chất lượng giáo dục tại một số trường THPT khu vực nội thành Hải Phòng

+ Đề xuất các biện pháp chỉ đạo thực hiện Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT khu vực nội thành Hải Phòng trong tình hình hiện nay và trong năm những năm tới

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý trường THPT

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Công tác chỉ đạo thực hiện Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường THPT tại Hải Phòng

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý các trường Trung học phổ thông theo Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Hải Phòng dựa trên việc áp dụng hệ thống các tiêu chuẩn, tiêu chí tự đánh giá và đánh giá để đánh giá chất lượng giáo dục thì chất lượng giáo dục trường THPT thành phố Hải Phòng sẽ được nâng cao

6 Phạm vi nghiên cứu

+ Đề tài tập trung nghiên cứu về các biện pháp chỉ đạo thực hiện Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Hải Phòng

Trang 10

+ Các số liệu thống kê được giới hạn từ năm 2008-2010 Triển khai thực hiện điểm trong năm học 2010 – 2011 ở 2 trường THPT khu vực nội thành Hải Phòng

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Sử dụng các phương pháp như: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá lý thuyết

để xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra:

+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến đối với các cán bộ và chuyên viên của Sở GD&ĐT Hải Phòng về công tác quản lý chất lượng giáo dục các nhà trường + Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến đối với cán bộ quản lý ở các nhà trường về công tác quản lý chất lượng giáo dục

+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến đối với cán bộ giáo viên ở một số nhà trường về công tác quản lí chất lượng giáo dục

+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến người học ở một số nhà trường trong việc đồng tình hay không đồng tình với cách quản lí người học hiện nay

+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến gia đình người học và người sử dụng người học sau khi tốt nghiệp ở một số nhà trường trong việc đồng tình hay không đồng tình với cách quản lý chất lượng hiện nay

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:

Tổng kết kinh nghiệm việc thí điểm kiểm định chất lượng giáo dục của quốc tế và trong nước

- Phương pháp chuyên gia

Xin ý kiến chuyên gia về sử dụng bộ tiêu chuẩn trong kiểm định đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT với các hình thức xin ý kiến như: tổ chức hội thảo, xin ý kiến trực tiếp với từng cá nhân chuyên gia

Trang 11

- Phương pháp thống kê:

Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu thu nhận được từ các phương pháp nghiên cứu khác

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phần phụ lục nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý trường THPT theo Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng

Chương 2: Thực trạng công tác chỉ đạo đảm bảo chất lượng giáo dục

và kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Hải Phòng

Chương 3: Các biện pháp chỉ đạo thực hiện bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT ở thành phố Hải Phòng

Trang 12

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO BỘ TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Song song với hoạt động dạy và học ở các cơ sở giáo dục là hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục Mục đích chính của đánh giá giáo dục là nhằm cải tiến chất lượng giáo dục Đánh giá chất lượng giáo dục là công cụ giám sát quá trình dạy và học, từ đó đưa ra những quyết sách về quản lý, dự đoán các kết quả đào tạo để không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục Đánh giá chất lượng giáo dục có nhiều nội dung khác nhau, trong đó đánh giá các yếu tố điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng sản phẩm giáo dục

Chất lượng sản phẩm giáo dục chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố đặc biệt là các yếu tố: chất lượng hoạt động quản lý, hoạt động giáo dục, chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất

Chất lượng của các hoạt động giáo dục thể hiện trong việc tổ chức các quá trình giáo dục, phương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá, sự phát triển của người học, sự thoả mãn của cha mẹ học sinh và cộng đồng

Như vậy, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Trong

đó có:

- Hoạt động tổ chức và quản lý nhà trường;

- Hoạt động dạy và học;

- Đội ngũ cán bộ, giáo viên;

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị;

- Hoạt động giữa nhà trường với xã hội;

- Kết quả học tập, rèn luyện của học sinh

Nhiều quốc gia trong quá trình đánh giá các trường, họ đã thực hiện công tác Kiểm định CLGD để xác nhận và công nhận chất lượng dạy và học của các trường

Trang 13

Ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập đến vấn đề kiểm định chất lượng giáo dục như Nguyễn Đức Chính với tác phẩm “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học”, Nguyễn Hữu Châu với “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục” Tuy nhiên việc

sử dụng và quản lý việc thực hiện bộ tiêu chuẩn Kiểm định chất lượng ở trường THPT còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và triệt để

Các khái niệm công cụ

Quản lý

Khi trình bày khái niệm quản lý, ngoài việc trích dẫn những tư tưởng của các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, các tác giả thường dẫn ra quan điểm của một số tác giả nước ngoài như : Frederich Winslon Taylor (1855 – 1815); Henry Fayon (1841 – 1925); Mary Parkor Pollet (1868 – 1933) và một số tác giả Việt Nam như: Nguyễn Hoàng Toàn, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ Văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Bùi Trọng Tuân

Các nghiên cứu về quản lý có thể được khái quát theo những khuynh hướng như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu quản lý theo quan điểm của điều khiển học và lý

thuyết hệ thống Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật v.v ) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó Quản lý là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển

Thứ hai, nghiên cứu quản lý với tư cách là một hoạt động, một lao

động tất yếu trong các tổ chức của con người

Thứ ba, nghiên cứu quản lý với tư cách là một quá trình trong đó các

chức năng quản lý được thực hiện trong sự tương tác lẫn nhau Theo hướng này, quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định

Trang 14

Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau song có thể khái quát nội dung cơ bản của quản lý được đề cập đến trong các quan niệm trên là:

1/ Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển;

2/ Quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội;

3/ Quản lý là những tác động có tính hướng đích, là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức;

4/ Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người

bị quản lý giữ vai trò trung tâm trong chu trình, trong hoạt động quản lý

Như vậy: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa

chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo

kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động

Theo quan niệm trên quản lý nhấn mạnh đến những khía cạnh sau: 1/ Quản lý có những hình thức thực thể là những hoạt động do chủ thể quản lý thực hiện Điều đó có nghĩa không có những hoạt động này, chưa có hoạt động quản lý trên thực tế, chưa có cơ sở để khẳng định hoạt động quản

lý đã xảy ra Các hoạt động của chủ thể quản lý có hai nội dung chính Thứ

nhất, tác động đến đối tượng quản lý (con người và những đối tượng khác); Thứ hai, khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực Nguồn lực cũng tồn

tại như một trong những đối tượng quản lý nhưng không đồng nhất về hoạt động tác động đến đối tượng quản lý với các hoạt động khai thác, tổ chức nguồn lực Rất nhiều hoạt động tác động đến đối tượng quản lý cần đến điều kiện là nguồn lực Khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực, trong những trường hợp cụ thể là tạo điều kiện để hoạt động tác động của chủ thể đến đối tượng quản lý được thực hiện có hiệu qủa

Trang 15

2/ Quản lý thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản lý Điều này được thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể quản

lý thực hiện và những mục tiêu mà chủ thể quản lý quyết định Tuy nhiên, những tác động này của chủ thể quản lý chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận thức của chủ thể và các quy luật khách quan trong lĩnh vực hoạt độngcủa mình và ý thức của chủ thể trong việc tuân thủ các quy luật khách quan đó Mức độ thống nhất giữa những tác động hướng đích , có chủ định

và hệ thống mục tiêu do chủ thể quản lý xác định với các quy luật khách quan khẳng định mức độ của tính khoa học, nghệ thuật của quản lý

3/ Quản lý đồng nghĩa với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức trong và bằng những tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý cũng như trong việc khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực của tổ chức

4/ Quản lý luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống Hệ thống quản lý được tạo bởi nhiều thành tố nhưng các thành tố cơ bản thường được đề cập khi phân tích hệ thống quản lý là :

+ Chủ thể quản lý: là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác,

tổ chức và thực hiện nguồn lực của tổ chức ; thực hiện những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hoặc tập thể

+ Đối tượng quản lý là những đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới những tác động hướng đích có chủ định của chủ thể quản lý Đối tượng quản

lý là con người (những người) trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng là nguồn lực của tổ chức (thông qua việc khai thác, tổ chức và thực hiện)

Đối tượng quản lý bao giờ cũng tồn tại trong một khách thể quản lý xác định Khách thể quản lý là cơ sở khách quan của đối tượng quản lý (cụ thể hơn là cơ sở khách quan làm nảy sinh đối tượng quản lý) Ví dụ, hệ thống giáo dục quốc dân là khách thể của quản lý giáo dục, từ đó những yếu tố như

Trang 16

tài chính, nhân lực có thể trở thành đối tượng của những chủ thể quản lý giáo dục xác định

Trong quan hệ với chủ thể quản lý, đối tượng quản lý là cái khách quan thuộc hiện thực bên ngoài chủ thể quản lý Đối tượng quản lý nằm ở khách thể quản lý, đối diện với chủ thể quản lý Chủ thể quản lý và đối tượng quản

lý luôn gắn liền với nhau (với những hoạt động cụ thể được tiến hành trong quản lý), cùng một lúc xuất hiện hoặc cùng một lúc biến mất Cá nhân chỉ là chủ thể quản lý một cách đích thực khi anh ta có đối tượng cho mỗi hoạt động quản lý của mình Những cái gì thuộc khách thể quản lý đã khiến cá nhân ấy trở thành chủ thể quản lý cũng lập tức trở thành đối tượng hoạt động quản lý của anh ta Khi cá nhân chưa xác định được đối tượng quản lý, đương nhiên quản lý chưa diễn ra, và cá nhân đó chưa phải là chủ thể quản lý Như vậy chỉ có những yếu tố nào đó của khách thể quản lý tham gia vào hoạt động, có tác động cơ hoá (chứa đựng mục đích quản lý) một cá nhân (tập thể) nào đó thì nó mới trở thành đối tượng quản lý

+ Công cụ quản lý : là phương tiện, giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hoà, phối hợp hoạt động của con người và các bộ phận trong tổ chức trong việc đạt đến các mục tiêu đã đề ra Công cụ quản lý có vai trò quan trọng trong việc thiết lập phương thức hoạt động hợp với quy luật khách quan cho hoạt động quản lý Công cụ quản lý có tác động trực tiếp đến việc xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đến việc định hướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh các hoạt động trong tổ chức

Có nhiều cách phân loại công cụ quản lý Xét theo hình thức thể hiện, công cụ quản lý bao gồm hai loại :

+ Công cụ hình thức : là các phương tiện kỹ thuật và những quy định thành văn có tác dụng định hướng, vận hành, điều chỉnh những quan hệ và

Trang 17

hoạt động trong tổ chức Ví dụ: hiến pháp, pháp luật của nhà nước mà tổ chức phải tuân theo; điều lệ, nội quy của tổ chức

+ Công cụ phi hình thức : là những quy định bất thành văn có những tác dụng định hướng, vận hành, điều chỉnh những mối quan hệ và hoạt động trong tổ chức Ví dụ: phong tục, tập quán, truyền thống và tiền lệ của tổ chức

Có thể mô tả mối quan hệ giữa các thành tố cơ bản của hệ thống quản như hình 1.1 dưới đây :

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các thành tố cơ bản của hệ thống quản lý

Chỉ đạo có nguồn gốc từ hai thuật ngữ: Lãnh đạo và Điều hành Theo

cách hiểu chung nhất, chỉ đạo là hướng dẫn theo đường hướng, chủ trương nhất định

Chỉ đạo vừa có ý nghĩa ra chỉ thị để điều hành, vừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của các thành viên trong tổ chức trên cơ sở sử dụng các quyền lực của người quản lý

Trang 18

Chỉ đạo là một chức năng quan trọng trong công tác quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng Công tác chỉ đạo quản lý của mỗi cấp học, bậc học, hệ đào tạo phụ thuộc vào mục tiêu của cấp học đó Mục tiêu quản lý của

Sở Giáo dục và Đào tạo đối với các trường THPT là thực hiện những tác động để các trường đạt đến trạng thái xác định trong tương lai của mình

Mục tiêu quản lý giáo dục phải được xác định trên cơ sở nhiệm vụ của

hệ thống giáo dục và xuất phát từ tình hình thực tế của hệ thống đó Từ nhiệm

vụ và trạng thái đã xác định, các mục tiêu quản lý cho từng giai đoạn phát triển của hệ thống giáo dục được hoạch định Để đạt được mục tiêu quản lý của giáo dục, chủ thể quản lý phải thể hiện vai trò của người quản lý biến trạng thái hiện tại của hệ thống sang trạng thái mục tiêu

Như vậy công tác chỉ đạo trong quản lý giáo dục là một quá trình liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức

Nhiệm vụ của người quản lý khi thực hiện chức năng chỉ đạo là: Ra các mệnh lệnh, thông báo truyền đạt mệnh lệnh, hướng dẫn, động viên cấp dưới thực hiện mệnh lệnh, hướng dẫn điều chỉnh những lệnh lạc, sai sót xuất hiện trong quá trình thực hiện huấn luyện cán bộ và nhân viên dưới quyền

Sự chỉ đạo trong quản lý giáo dục phải đảm bảo các nguyên tắc:

- Nguyên tắc đảm bảo sự tuân thủ quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước trong nhà trường là quản lý bằng luật lệ, điều lệ quy định, quy chế

- Nguyên tắc xác định trách nhiệm cá nhân: Để xác định trách nhiệm

cá nhân, bộ phận, người quản lý cần phải dựa vào các quy định có tính chất nhà nước đối với các công việc cụ thể của người giáo viên

- Nguyên tắc phân công công việc, giao nhiệm vụ hợp lý, phù hợp với năng lực giáo viên, sát với thực tế : Để đảm bảo nguyên tắc này, người quản

lý cần nắm chắc thực trạng tình hình nhà trường, đội ngũ giáo viên, điều kiện, năng lực của mỗi cán bộ, giáo viên trong nhà trường

Trang 19

- Nguyên tắc phối hợp tốt các lực lượng trong và ngoài nhà trường

Chất lượng

Khái niệm chất lượng được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau tuỳ

theo cách tiếp cận Do đó, không thể có một khái niệm chính xác về chất lượng Tuy nhiên, chất lượng có thể được hiểu theo những cách sau:

(i) Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh Điều này có thể hiểu được, cảm nhận được nếu ta đem so sánh chúng với những vật có cùng đặc tính với những

sự vật đang được xem xét Đây là cách tiếp cận tiên nghiệm về chất lượng

(ii) Chất lượng được xem xét trên cơ sở những thuộc tính đo được Điều đó có nghĩa là chất lượng có thể đo lường khách quan, chính xác Một

sự vật có thuộc tính nào đó ở mức độ cao hơn cũng có nghĩa là nó « tốt hơn » Cách này là cách tiếp cận dựa trên sản phẩm khi xem xét chất lượng

(iii) Chất lượng được xem như là sự đáp ứng nhu cầu.Nếu các sản phẩm và dịch vụ cung cấp đáp ứng đầy đủ những thông số đã định thì mọi sự sai lệch đều làm giảm chất lượng của sản phẩm Cách tiếp cận này dựa trên sản xuất về chất lượng

(iv) Chất lượng là sự phù hợp với mục đích (mục tiêu) nếu nó “đáp ứng nhu cầu của khách hàng” Trong trường hợp này chất lượng chỉ được xem xét một cách đơn giản dưới con mắt của khách hàng tức là người sử dụng chúng

Như vậy, trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp dịch vụ thì chất lượng được xem là giá trị của tổ chức, là thước đo của năng lực sản xuất tạo ra sản phẩm

và chất lượng luôn là mục tiêu để khách hàng tìm kiếm Trong xã hội hiện đại, chất lượng của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được xác lập dựa trên những tiêu chí, chỉ số cụ thể Do đó người ta hoàn toàn có thể nhận biết, so sánh chất lượng của những vật có cùng đặc điểm

1.2.3.1 Các quan điểm về chất lượng

*Chất lượng được đánh giá bằng đầu vào:

Nguồn lực = Chất lượng

Trang 20

Theo quan điểm này, một trường tuyển được học sinh giỏi, đội ngũ cán

bộ giáo viên giảng dạy có uy tín, có nguồn lực tài chính để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được xem là trường có chất lượng cao

Quan điểm này bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa dạng, liên tục trong một thời gian dài

Cách đánh giá này chỉ dựa vào chất lượng “đầu vào” và phỏng đoán chất lượng “đầu ra”

* Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”:

Có hai vấn đề cơ bản liên quan đến cách tiếp cận CLGD này:

Một là: mối liên hệ giữa đầu vào với đầu ra không được xem xét một cách đúng mức Một trường nhận những học sinh khá giỏi không có nghĩa là

đa số học sinh của họ sẽ tốt nghiệp loại khá giỏi và tỷ lệ đỗ vào đại học cao

Hai là cách đánh giá đầu ra của các trường rất khác nhau

* Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”

Giá trị gia tăng (chất lượng) = Đầu ra - đầu vào Quan điểm thứ ba về chất lượng cho rằng một trường có tác động tích cực tới học sinh khi nó tạo ra được sự trong phát triển về trí tuệ và nhân cách của học sinh

Nếu theo quan điểm này sẽ nảy sinh những vấn đề:

- Khó có thể có một thước đo thống nhất để đánh giá đầu vào, đầu ra

- Nếu có được một thước đo để tính giá trị gia tăng, giá trị gia tăng sẽ không cung cấp thông tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào tạo trong từng trường

Trang 21

* Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”

Dựa vào các chuyên gia để đánh giá năng lực học thuật của đội ngũ các cán bộ giảng dạy Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giảng dạy tốt,

có uy tín thì được coi là trường có chất lượng cao

Hạn chế của cách tiếp cận này ở chỗ cho dù năng lực học thuật có được đánh giá một cách khách quan thì cũng khó có thể đánh giá được những cuộc cạnh tranh của các trường về đội ngũ giáo viên trong môi trường bị chính trị hoá

* Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm toán”

Nếu kiểm toán xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lý không thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem xét các trường có thu thập thông tin phù hợp và người ra quyết định có đủ thông tin cần thiết hay không, quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng có hợp lý và hiệu quả hay không

Điểm yếu của cách đánh giá này là khó lý giải những trường hợp khi một cơ sở giáo dục có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể

có những quyết định chưa phải là tối ưu

1.2.3.2 Những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lượng

* Khái niệm truyền thống về chất lượng

Theo khái niệm truyền thống về chất lượng, một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm làm ra một cách hoàn thiện, bằng những nguyên vật liệu quý hiếm và đắt tiền

Tuy nhiên khái nhiệm về chất lượng như vậy khó có thể dùng để đánh giá chất lượng trong giáo dục

* Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật) Cách tiếp cận này có nguồn gốc từ ý niệm kiểm soát chất lượng trong các ngành sản xuất và dịch vụ

Trang 22

Trong bối cảnh này, tiêu chuẩn được xem là công cụ đo lường - một phương tiện trung gian để miêu tả những đặc tính cần có của một sản phẩm hay dịch vụ

Nhược điểm của cách tiếp cận này là nó không nêu rõ các tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở nào Hơn nữa thuật ngữ tiêu chuẩn cho ta ý niệm về một hình mẫu tĩnh tại, nghĩa là một khi các thông số kỹ thuật đã được xác định thì không phải xem xét lại chúng nữa Trong khi khoa học, kỹ htuật và công nghệ đang có những bước tiến mới, tri thức loài người ngày càng phong phú thì “tiêu chuẩn”của giáo dục không thể là một khái niệm tĩnh

* Chất lượng là một sự phù hợp với mục đích

Cách tiếp cận chất lượng này được đa số các nhà hoạch định chính sách và quản lý giáo dục, kể cả các tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục quốc tế (INQAHE – International Network of Quality Assurance in Higher Education) sử dụng

Những người ủng hộ cách tiếp cận này cho rằng chất lượng không có ý nghĩa gì nếu không gắn nó với mục đích sản phẩm hay dịch vụ đó Chất lượng được đánh giá bởi mức độ mà sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng được mục tiêu đã tuyên bố

Cách tiếp cận này cho phép cung cấp một hình mẫu để xác định các tiêu chí mà một sản phẩm hay một dịch vụ cần có Nó là một khái niệm động, phát triển theo thời gian, tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và tuỳ thuộc vào đặc thù của từng loại trường và có thể sử dụng để phân tích chất lượng giáo dục ở các cấp độ khác nhau

* Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường Đây là phiên bản của cách tiếp cận trên Theo cách này, một trường có chất lượng cao là trường tuyên bố rõ ràng sứ mạng (mục đích) của mình và đạt được mục đích đó một cách hiệu quả nhất Cách tiếp cận này cho phép các trường tự quyết định các tiêu chuẩn chất lượng và mục tiêu đào tạo của trường

Trang 23

1.2.3.3 Chất lượng giáo dục

Bản thân chất lượng đã khó định nghĩa thì việc nói rõ chất lượng giáo dục lại càng khó hơn “Chất lượng giáo dục” bản thân nó đã chứa đựng nhiều yếu tố vô hình và không phải lúc nào cũng nhìn thấy, đo đếm được Chất lượng giáo dục nằm ngay trong các thành tố của giáo dục và còn lưu lại trong mỗi con người đã được học tập, giáo dục trong môi trường ấy

Ở cấp độ hệ thống (hệ thống giáo dục quốc dân), chất lượng giáo dục được hiểu là chất lượng của cả hệ thống giáo dục ấy Một hệ thống giáo dục thường phức tạp và bao gồm nhiều thành tố cấu tạo nên hệ thống Do vậy, khi nói đến chất lượng giáo dục của hệ thống chúng ta ngầm hiểu rằng đó là tổng hợp chất lượng của tất cả những gì tạo nên hệ thống Điều này nhắc nhở chúng ta phải phân biệt được giữa chất lượng giáo dục và quản lý chất lượng giáo dục Chất lượng giáo dục là một phạm trù triết học xác định sự vật là nó chứ không phải cái khác, còn quản lý chất lượng giáo dục là hành động chủ quan, có mục đích rõ ràng

Ở cấp độ cơ sở giáo dục, xét về chức năng và tổ chức thì cũng được coi

là một hệ thống giáo dục thu nhỏ Trong cơ sở giáo dục có đầy đủ những thành phần của hệ thống giáo dục, nhưng chúng có tính cụ thể và năng động hơn Do vậy, chất lượng giáo dục ở đây chính là chất lượng của toàn bộ cơ sở giáo dục

Trong chương trình hành động Dakar (Senegal – 2000), UNESCO đã

đề nghị cách hiểu chất lượng giáo dục ở trường học hay chất lượng trường học như là đơn vị tổ chức giáo dục thông qua 10 tham số sau:

1/ Người học khoẻ mạnh, được giáo dục tốt, được khuyến khích thường xuyên để có động cơ học tập chủ động

2/ Giáo viên thành thạo nghề nghiệp và được động viên đúng mức 3/ Phương pháp và kỹ thuật dạy - học tích cực

4/ Chương trình giáo dục thích hợp với người học

Trang 24

5/ Trang thiết bị, phương tiện và đồ dùng học tập, giảng dạy, học liệu

và công nghệ giáo dục thích hợp để tiếp cận và thân thiện với người sử dụng

6/ Môi trường học tập đảm bảo vệ sinh, an toàn, lành mạnh

7/ Hệ thống đánh giá thích hợp với môi trường, quá trình giáo dục và kết quả giáo dục

8/ Quản lý có tính tham gia và dân chủ

9/ Tôn trọng và thu hút được cộng đồng cũng như nền văn hoá địa phương trong hoạt động giáo dục

10/ Các tiết chế, chương trình giáo dục có nguồn lực thích hợp, thoả đáng và bình đẳng (chính sách và đầu tư)

Theo đề nghị này thì chất lượng giáo dục không chỉ quan tâm đến quá trình giáo dục trong nhà trường mà chất lượng giáo dục phải có ở tất cả những gì tạo nên nhà trường thậm chí cả những yếu tố ngoài nhà trường Do

đó chất lượng giáo dục không chỉ giới hạn trong nhà trường mà bao gồm cả những bộ phận trong hệ thống giáo dục có mối quan hệ với cơ sở giáo dục

Quản lý chất lượng

1.2.4.1 Quản lý chất lượng

Quản lý chất lượng cũng như chất lượng có nhiều khái niệm khác nhau Chẳng hạn, theo A.G Robertson, một chuyên gia về chất lượng người Anh cho rằng: “Quản lý chất lượng sản phẩm được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết

kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đồng thời cho phép thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng” Theo định nghĩa này, quản lý chất lượng chính là hệ thống quản trị tác động từ khâu thiết kế đến sản xuất sao cho thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng Nhu cầu người tiêu dùng sẽ cho phối hệ thống quản trị Khi nhu cầu này thay đổi thì hệ thống quản trị phải thay đổi theo để đáp ứng

Trang 25

Còn đối với A.V Feigebaum thì lại định nghĩa quản lý chất lượng là

“Một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã đạt và nâng cao nó” Theo định nghĩa này, quản lý chất lượng tập trung vào việc triển khai các tham số chất lượng Điều mấu chốt của định nghĩa này coi quản lý chất lượng là hệ thống hoạt động triển khai các tham số chất lượng

Theo GOST 15467, “Quản lý chất lượng sản phẩm là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng

có hệ thống, cũng như những tác động hướng tới đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm”

Còn nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý chất lượng, nhưng nhìn chung các định nghĩa đều thống nhất quản lý chất lượng gồm các hoạt động:

- Xây dựng chuẩn

- Đối chiếu thực trạng so với chuẩn

- Các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn

Chuẩn được xem là hệ thống các chỉ tiêu, thông số cần hướng tới của sản phẩm thậm chí cả các quá trình tạo ra sản phẩm Chuẩn được cụ thể hoá bằng các chỉ số, tiêu chí, tiêu chuẩn về chất lượng và được các tổ chức có trách nhiệm xây dựng và ban hành Chuẩn là căn cứ để đánh giá chất lượng

và cũng là đích để hướng tới trong quá trình tạo ra sản phẩm

Như vậy, quản lý chất lượng theo chuẩn rõ ràng đã có những đặc điểm khác biệt so với quản lý truyền thống, quản lý theo chức năng Để quản lý chất lượng theo chuẩn thì trước hết phải có chuẩn Trong khi đó quản lý theo chức năng chủ yếu quan tâm đến xây dựng kế hoạch (xác định hướng đi), tổ chức (các nguồn lực), chỉ đạo (việc thực hiện theo kế hoạch) và kiểm tra xem đạt đến đâu so với kế hoạch

Trang 26

1.2.4.2 Các tầng bậc của quản lý chất lượng

(i) Kiểm soát chất lượng

Trong quản lý chất lượng thì kiểm soát chất lượng là thuật ngữ được ra đời sớm nhất trong lịch sử quản lý Kiểm soát chất lượng bao gồm các việc kiểm tra và loại bỏ các sản phẩm cuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đề

ra trước đó Nó là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong

có liên quan đến việc loại bỏ hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi Việc làm này thường kéo theo lãng phí tương đối lớn vì phải loại bỏ hay làm lại những sản phẩm không đạt yêu cầu

Kiểm soát chất lượng là một quá trình trong đó một sản phẩm hay một dịch vụ, hoặc bất cứ bộ phận nào trong quá trình có liên quan đến việc sản xuất hay vận chuyển sản phẩm, được kiểm tra theo một tiêu chuẩn nào đó được định trước và sẽ bị loại bỏ hay làm lại nếu như nó dưới chuẩn (Ellis 1993)

Nói cách khác, kiểm soát chất lượng tập trung vào việc theo dõi lại các lỗi trong quá khứ Kiểm soát chất lượng trong môi trưởng sản xuất là “một phương thức cần thiết cho việc thanh tra và loại bỏ những sản phẩm có khiếm khuyết (mặc dù có một số phương pháp thống kê của lý thuyết này có thể được sử dụng nhằm tránh khả năng có các sản phẩm này)” (Freeman, 1994) Russo (1995) định nghĩa chất lượng như “một quá trình thanh tra mà ở đó mỗi một sản phẩm, hay một mẫu sản phẩm, được kiểm soát” Theo Russo, khái niệm chủ yếu trong kiểm soát chất lượng là “quá trình này không nhằm vào gốc rễ của vấn đề Kiểm soát chất lượng chỉ giải quyết những vấn đề khi chúng bị phát hiện” Theo Vroeijenstijn (1992), kiểm soát chất lượng (và đo lường chất lượng) là việc tóm tắt các thông tin và hàm ý là sẽ có các ý định trừng phạt hay khen thưởng Kiểm soát chất lượng “vốn dĩ là nhằm trừng phạt, áp đặt các hình thức phạt cho việc làm thiếu hiệu quả, nhưng đồng thời

nó cũng cho thấy rằng một khi sản phẩm đã đạt được mức độ tối thiểu thì không cần phải nỗ lực để cải tiến Kiểm soát chất lượng, do đó, không đi ra

Trang 27

ngoài việc chấp nhận hay từ chối một sản phẩm Từ quan niệm đó về kiểm soát chất lượng, chất lượng có thể được hiểu như sau:

- Một đánh giá về mức độ mà đặc điểm của các sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu mà ngay từ đầu một quy trình sản xuất đã quy định;

- Đánh giá về mức độ một sản phẩm phải được thanh tra viên chấp nhận

Trong khi kiểm soát chất lượng được xem là một khái niệm cũ nhất của đảm bảo chất lượng trong lĩnh vực sản xuất hay doanh nghiệp, khái niệm này lại tương đối mới và ít được chấp nhận trong môi trường một cơ sở giáo dục đào tạo Điều này là do trong giáo dục khó có thể định nghĩa thế nào là “chất lượng”,

và giáo dục bao giờ cũng là một quá trình Hơn thế nữa, khó có thể xác định được chất lượng của các sản phẩm giáo dục và vì chất lượng của quá trình giáo dục luôn đòi hỏi sự đóng góp của “khách hàng” (các thế hệ học sinh)

Tóm lại, kiểm soát chất lượng vì thế mà còn tồn tại những hạn chế:

- Kiểm tra theo xác xuất, số lượng hạn chế

- Hệ thống chất lượng dựa trên giấy tờ, sổ sách ghi nhận kết quả (theo từng ca sản xuất), các tiêu chí chất lượng hạn chế, chỉ căn cứ vào số lượng sản phẩm được chấp nhận

- Kiểm soát chất lượng thuộc về trách nhiệm của kiểm soát viên

- Lãng phí

(ii) Đảm bảo chất lượng

“Đảm bảo chất lượng” được ra đời vào thập niên 20 của thế kỷ XX Đây là mô hình quản lý nhằm khắc phục những hạn chế của kiểm soát chất lượng Đây là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm có thể xảy ra ngay từ bước đầu tiên Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình sảm xuất ra nó

từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào Đảm bảo chất lượng phần lớn là

Trang 28

trách nhiệm của người lao động, thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng có thể có vai trò nhất định trong đảm bảo chất lượng

Trong giáo dục, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng (Woodhouse, 1998)

Ở các nước phương Tây, việc thiết kế hệ thống đảm bảo chất lượng được tính đến như là bước đầu tiên trong quá trình đảm bảo và cải tiến chất lượng (Kells, 1988; Neave & Van Vught, 1991) Theo Russo (1995), đảm bảo chất lượng là sự “xem xét các quá trình được sử dụng nhằm kiểm soát và sản xuất sản phẩm hay các dịch vụ và nhằm tránh các phế phẩm Nếu như chúng ta có hệ thống đảm bảo chất lượng, sẽ tránh đi việc có thể có các phế phẩm

“Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ thống quản lý đã được chứng minh là đủ cần thiết để tạo sự tin tưởng rằng thực tế (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy đủ các têu cầu chất lượng (TCVN 5814)

(iii) Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management – TQM) Cũng giống như một hệ thống đảm bảo chất lượng, TQM tập trung vào năm lĩnh vực: sứ mạng và chú trọng đến khách hàng; cách tiếp cận các hoạt động có hệ thống; việc phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực; các tư tưởng dài hạn; và sự phục vụ hết mực Theo Sherr và Lozier (1991), có năm thành phần chính ảnh hưởng đến cải tiến chất lượng ở trường học: sự trung thực, chia sẻ quan điểm, kiên nhẫn, hết lòng làm việc, và lý thuyết TQM Trong năm thành

tố trên, chỉ có yếu tố cuối cùng là có thể dạy và học được

Mô hình Quản lý chất lượng tổng thể - một mô hình cũng có xuất sứ từ thương mại và công nghiệp nhưng tỏ ra phù hợp với giáo dục Đặc trưng của

mô hình quản lý chất lượng tổng thể là ở chỗ nó không áp đặt một hệ thống cứng nhắc cho bất kỳ cơ sở đào tạo nào, nó tạo ra một nền “văn hoá chất

Trang 29

lượng” bao trùm lên toàn bộ quán trình đào tạo Triết lý của Quản lý chất lượng tổng thể là tất cả mọi người bất kể ở cương vị nào, vào bất kỳ thời điểm nào cũng đều là người quản lý chất lượng của phần việc mình được giao

và hoàn thành nó một cách tốt nhất với mục đích tối cao là thoả mãn nhu cầu của khách hàng

Cải tiến liên tục

Triết lý quan trọng nhất của Quản lý chất lượng tổng thể là cỉa tiến không ngừng và có thể đạt được do quần chúng và thông qua quần chúng Sự cải tiến liên tục này thể hiện trong kế hoạch chiến lược của trường bằng các chu kỳ cải tiến, nâng cao dần theo vòng xoáy chôn ốc từ lợi ích trước mắt đến lợi ích lâu dài, từ trình độ xuất phát ở một thời điểm nhất định vươn không ngừng tới các trình độ cao hơn

Trong công tác đảm bảo chất lượng trong các ngành dịch vụ như giáo

dục, chúng ta không thể xác định được một sản phẩm “không mắc lỗi” mà

không làm giảm đi nhiều khả năng có thể đạt được mức độ hoàn hảo Do đó, quá trình đảm bảo chất lượng nhất thiết phải xuất phát từ một hệ thống đảm

bảo chất lượng mà trong có có sự chú trọng đến khái niệm “Cải tiến chất

lượng liên tục” Khái niệm một học viên tốt nghiệp đạt chất lượng là “không mắc lỗi” được xét theo một cách rất hạn chế - vì đó là trên phương diện

những bằng cấp tối thiểu

Cải tiến từng bước

Quản lý chất lượng tổng thể được thực hiện bằng một loạt dự án quy

mô nhỏ có mức độ tăng dần Về tổng thể, quản lý chất lượng tổng thể có quy

mô rộng, bao quát toàn bộ hoạt động của một trường, song việc thực hiện nhiệm vụ đó trong thực tế lại có quy mô hẹp, khả thi, thiết thực và có mức độ tăng dần Sự can thiệp mạnh không phải là phương sách tốt để tạo sự chuyển biến lớn trong quản lý chất lượng tổng thể Các dự án đồ sộ nhiều khi không phải là con đường tốt nhất vì thiếu kinh phí, và nếu thất bại sẽ dẫn tới sự thờ

Trang 30

ơ, bất bình Các dự án nhỏ sẽ dễ thành công và tạo ra sự tự tin, làm cơ sở cho các dự án sau lớn hơn

Hệ thống tổ chức phải hướng tới khách hàng

Chìa khoá của sự thành công trong quản lý chất lượng tổng thể là tạo

ra sự gắn bó hữu cơ giữa cung và cầu, giữa các bộ phận trong trường với nhau và với xã hội

Trong hệ thống tổ chức của nhà trường, vai trò của các cán bộ quản lý cấp trường là hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ giáo viên và học sinh chứ không phải chỉ là lãnh đạo, kiểm tra họ

Trong thực tế, sự lãnh đạo của các cán bộ quản lý vẫn giữ vai trò quyết định của quản lý chất lượng tổng thể Đảo ngược thứ bậc chỉ nhằm nhấn mạnh mối tương quan trong quá trình đào tạo hướng tới học sinh như nhân

vật trung tâm

Kiểm định chất lượng

Kiểm định chất lượng là một hệ thống tổ chức và giải pháp để đánh giá chất lượng đào tạo (đầu ra), và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo theo các chuẩn mực được quy định

Kiểm định chất lượng giáo dục là một hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục KĐCLGD nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục sẽ đạt được theo tiêu chí đề ra và tránh được các sai sót trong quá trình giáo dục Hoạt động chủ yếu của KĐCLGD nhằm công nhận các cơ sở giáo dục đã đạt được những chuẩn mực quy định

1.2.5.1 Kiểm định chất lượng có giá trị gì?

Kiểm định chất lượng không những mang lại cho cộng đồng bằng chứng về chất lượng đào tạo mà còn mang lại cơ hội và động cơ để nâng cao chất lượng của các trường đã qua kiểm định

Một trường chỉ được công nhận đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chí theo bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của Hội đồng sau khi nhà trường chịu

Trang 31

sự kiểm tra của các cán bộ đánh giá giàu kinh nghiệm và hiểu các yêu cầu kiểm định của giáo dục Quá trình kiểm định cũng mang lại cho các trường đã qua kiểm định cơ hội tự phân tích, đánh giá để có những cải tiến về chất lượng

1.2.5.2 Đặc trưng của Kiểm định chất lượng

Kiểm định chất lượng có thể được tiến hành ở phạm vi trường hoặc chương trình đào tạo

Kiểm định chất lượng không thể tách rời công tác tự đánh giá

Kiểm định chất lượng là hoạt động hoàn toàn tự nguyện

Tất cả các quy trình kiểm định luôn gắn liền với đánh giá đồng nghiệp Các chuẩn mực đánh giá rất mềm dẻo và được biến đổi cho phù hợp với nhiệm vụ

Kiểm định cấp trường và kiểm định chương trình không chỉ tập trung đánh giá các yếu tố đầu vào mà còn tập trung vào cả quá trình đào tạo và chất lượng học sinh khi ra trường

1.2.5.3 Mục đích, mục tiêu của Kiểm định chất lượng

Mục đích của Kiểm định chất lượng không chỉ là đảm bảo nhà trường

có trách nhiệm với chất lượng đào tạo mà còn mang lại động lực cải tiến và nâng cao chất lượng chương trình đào tạo cũng như chất lượng toàn trường

Một nhóm kiểm định được coi là hoạt động có hiệu quả khi không chỉ đánh giá xem một trường hay một chương trình đào tạo có đạt chất lượng hay không mà còn phải có vai trò như những chuyên gia tư vẫn sẵn sàng giúp nhà trường giải quyết các vấn đề tồn đọng và nâng cao chất lượng các hoạt động

1.2.5.4 Các giai đoạn chính của quy trình kiểm định chất lượng

1) Tự đánh giá

Các cơ sở giáo dục tự đánh giá theo các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số đã được ban hành Có thể đánh giá toàn bộ nhà trường hay đánh giá theo một nhóm các tiêu chí

2) Đăng ký kiểm định chất lượng

Trang 32

3) Đánh giá ngoài

4) Đánh giá lại (nếu có)

5) Công bố kết quả kiểm định: Cấp chứng nhận kết quả kiểm định và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng về kết quả kiểm định

1.2.5.5 Kiểm định chất lượng trường THPT ở Việt Nam

* Kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT

Là hoạt động đánh giá trường THPT ở mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu từ đó nhà trường xây dựng kế hoạch và các biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục

* Tự đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT

Là hoạt động tự xem xét của chính nhà trường căn cứ vào các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu từ đó nhà trường xây dựng kế hoạch và các biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục

* Đánh giá ngoài chất lượng giáo dục trường THPT

Là hoạt động đánh giá của đoàn chuyên gia đánh giá ngoài nhằm xác định mức độ trường THPT thực hiện các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng

1.2.6.1 Khái niệm tiêu chuẩn

Muốn xác định được tiêu chuẩn chúng ta cần phải hiểu thế nào là chuẩn? Chuẩn (Standard) và những tù đồng nghĩa như: Criterion, Gauge, Touchstone đều chỉ những phương tiện, cách thức xác định sự vật là gì

Theo Đại từ điển Bách khoa toàn thư thế giới Britannica – 2002 (dẫn theo Đặng Thành Hưng) thì Standard chỉ những quy tắc, nguyên tắc hoặc thước đo nhất định được xác lập bằng quyền lực Criterion có thể chỉ cái gì

đó được dùng để kiểm tra dù có hay không được phát biểu thành quy tắc,

Trang 33

nguyên tắc Gauge là phương tiện dùng để kiểm tra những cách thức đặc thù tiêng biệt như độ dài, chiều dầy, đường kính, độ sâu

Như vậy trong các thuật ngữ nói về chuẩn thì Standard mang tính chất

lý thuyết và tính nguyên tắc rõ hơn cả, do vậy nó có tính xác định cao hơn Standard là chuẩn được phát biểu dưới dạng lý thuyết, không nhất thiết có hình thức vật chất cụ thể, không nhất thiết là vật thể hay phương tiện cụ thể

Bách khoa toàn thư Giáo dục quốc tế định nghĩa: “chuẩnlà mức độ ưu việt cần phải có để đạt đến những mục đích đặc biệt; là cái đo xem điều gì là phù hợp;

là trình độ thực hiện mong muốn trên thực tế hoặc mang tính xã hội”

Theo Đặng Thành Hưng, trong chuẩn chứa đựng các yêu cầu, các quy định và những tiêu chí cụ thể nhằm chỉ ra nội dung cần đạt cũng như mức độ, giá trị, chất lượng của nội dung đó như thế nào Các yêu cầu tiêu chí quy định

rõ nội dung được gọi là chuẩn nội dung, hệ thống các yêu cầu, tiêu chí và quy định còn lại được gọi là chuẩn thực hiện Như vậy, mỗi chuẩn đều có hai mặt, chuẩn về mặt nội dung và chuẩn về mặt thực hiện

Có nhiều loại chuẩn tuỳ theo cơ sở phân loại Ví dụ chuẩn bắt buộc và chuẩn khuyến nghị; chuẩn kỹ thuật và chuẩn chất lượng; chuẩn quốc tế và chuẩn quốc gia, chuẩn nội bộ Cho dù là chuẩn gì, xét về phương diện chức năng, chuẩn phải đồng thời thực hiện hai chức năng: chứng năng đánh giá, so sánh và chức năng xác minh Trong hai chức năng đó, chức năng xác minh là chức năng đầu tiên của chuẩn Thực hiện chức năng này, chuẩn giúp xác định (bằng tiêu chí nằm trong chuẩn) sự vật là gì và nó tồn tại như thế nào, đồng thời cũng giải thích những hình thức, những thành phần thực thể của của sự vật cũng như giới hạn và sự tồn tại của sự vật đó

Qua những phân tích trên, chúng tôi thống nhất với ý kiến của Đặng

Thành Hưng về khái niệm chuẩn: Chuẩn là mẫu lý thuyết có tính nguyên tắc,

tính công khai và tính xã hội hoá, được đặt ra bằng quyền lực hành chính hoặc chuyên môn, bao gồm những yêu cầu, tiêu chí, quy định kết hợp logic

Trang 34

với nhau một cách xác định, dùng làm công cụ xác minh sự vật, làm thước đo

- đánh giá hoặc so sánh các hoạt động, công việc, sản phẩm, dịch vụ trong lĩnh vực nào đó và có khuynh hướng điều chỉnh những sự vật này theo nhu cầu, mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lý hoặc chủ thể sử dụng sản phẩm hay dịch vụ

Từ đó chúng ta có thể định nghĩa, tiêu chuẩn là các chỉ tiêu thực hiện, chúng là những điểm được lựa chọn trong toàn bộ chương trình, kế hoạch cho phép đo lường và đánh giá được việc thực hiện các mục tiêu Có nhiều loại tiêu chuẩn trong đó trong tốt nhất là các mục tiêu được phát biểu dưới dạng con số

Nếu các tiêu chuẩn được đặt ra một cách thích hợp, việc đo lường và đánh giá kết quả sẽ được thực hiện một cách dễ dàng Tuy nhiên trong thực tế

có nhiều công việc khó định ra được tiêu chuẩn lượng hoá hoặc các kỹ thuật

đo lường chưa được phát triển thích hợp nhất là những vấn đề liên quan đến mối quan hệ con người Vì vậy rất khó khăn cho việc đo lường và đánh giá

1.2.5.2 Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục

Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục là các yêu cầu và điều kiện

mà nhà trường THPT phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng

Trong mỗi tiêu chuẩn của kiểm định đều có một số tiêu chí kiểm định Tiêu chí kiểm định là sự cụ thể hoá các yêu cầu và các điều kiện trong một phương diện nhất định của tiêu chuẩn kiểm định Mỗi tiêu chí lại được đánh giá theo nhiều mức độ

1.2.7 Bộ tiêu chuẩn Kiểm định chất lượng giáo dục THPT của Bộ GD&ĐT

Tiêu chuẩn 1: Chiến lược phát triển của trường THPT

1 Chiến lược phát triển của nhà trường được xác định rõ ràng, phù hợp mục tiêu giáo dục phổ thông được quy định tại Luật giáo dục và được công

bố công khai

Trang 35

2 Chiến lược phát triển phù hợp với nguồn lực của nhà trường, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và định kỳ được rà soát, bổ sung, điều chỉnh

Tiêu chuẩn 2: Tổ chức và quản lý nhà trường

1 Nhà trường có cơ cấu tổ chức bộ máy theo quy định tại điều lệ trường Trung học và các quy định hiện hành khác do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

2 Thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của Hội đồng trường được thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

3 Hội đồng thi đua và khen thưởng, Hội đồng kỷ luật đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trong nhà trường có thành phần, nhiệm vụ, hoạt động theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định khác của pháp luật

4 Hội đồng tư vấn khác do Hiệu trưởng quyết định thành lập, thực hiện các nhiệm vụ do Hiệu trưởng quy định

5 Tổ chuyên môn nhà trường hoàn thành các nhiệm vụ theo quy định

6 Tổ văn phòng nhà trường hoàn thành các nhiệm vụ được phân công

7 Hiệu trưởng có các biện pháp chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch dạy và học các môn học và các hoạt động theo quy định tại Chương trình giáo dục trung học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

8 Hiệu trưởng có các biện pháp chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy thêm, học thêm và quản lý học sinh nội trú (nếu có)

9 Nhà trường đánh giá, xếp loại hạnh kiểm của học sinh theo Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo

10 Nhà trường đánh giá, xếp loại học lực của học sinh theo Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 36

11 Nhà trường có kế hoạch và triển khai hiệu quả công tác bồi dưỡng, chuẩn hoá, nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý, giáo viên

12 Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong nhà trường theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

13 Nhà trường thực hiện quản lý hành chính theo các quy định hiện hành

14 Công tác thông tin của nhà trường phục vụ tốt các hoạt động giáo dục

15 Nhà trường thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh theo các quy định hiện hành

Tiêu chuẩn 3: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh

1 Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng đạt các yêu cầu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

2 Giáo viên của nhà trường đạt các yêu cầu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định khác

3 Giáo viên của nhà trường làm công tác Đoàn thanh niên cộng sản

Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu theo quy định và hoàn thành các nhiệm vụ được giao

4 Nhân viên của tổ văn phòng đạt các yêu cầu theo quy định và được đảm bảo các quyền theo chế độ chính sách hiện hành

5 Học sinh của trường đáp ứng các yêu cầu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định hiện hành

6 Nội bộ nhà trường đoàn kết, không có cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên bị xử lý kỷ luật trong 3 năm liên tiếp gần nhất

Tiêu chuẩn 4: Thực hiện chương trình giáo dục và các hoạt động giáo dục

1 Nhà trường thực hiện kế hoạch thời gian năm học, kế hoạch giảng dạy và học tập theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo

2 Mỗi năm học, nhà trường thực hiện hiệu quả các hoạt động dự giờ, hội giảng, thao giảng và thi giáo viên dạy giỏi các cấp

Trang 37

3 Sử dụng thiết bị trong dạy học, xây dựng và đánh giá sáng kiến kinh nghiệm về hoạt động giáo dục của giáo viên trong nhà trường thực hiện theo quy định của nhà trường và của Bộ Giáo dục - Đào tạo

4 Mỗi năm, nhà trường thực hiện tốt hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo quy định của Sở Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo

5 Giáo viên chủ nhiệm lớp hoàn thành các nhiệm vụ theo quy định

6 Hoạt động giúp đỡ học sinh học lực yếu, kém đạt hiệu quả theo kế hoạch của nhà trường và quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

7 Hoạt động giữ gìn, phát huy truyền thống nhà trường, địa phương theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

8 Nhà trường thực hiện đầy đủ các hoạt động giáo dục thể chất, y tế trường học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tào và các quy định khác

9 Nhà trường thực hiện tốt nội dung giáo dục địa phương theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

10 Hoạt động dạy thêm, học thêm của nhà trường thực hiện đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cấp có thẩm quyền

11 Hằng năm, nhà trường thực hiện tốt chủ đề năm học và các cuộc vận động phong trào thi đua do các cấp, các ngành phát động

Tiêu chuẩn 5: Tài chính và cơ sở vật chất

1 Nhà trường thực hiện quản lý tài chính theo quy định và huy động các nguồn kinh phí hợp pháp để hỗ trợ hoạt động giáo dục

2 Nhà trường có khuôn viên riêng biệt, tường bao, cổng trường, biển trường và xây dựng được môi trường xanh, sạch, đẹp theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

3 Nhà trường có phòng học thông thường, phòng học bộ môn trong đó

có phòng máy tính kết nối internet phục vụ dạy học, khối phòng phục vụ học tập, khối phòng hành chính đảm bảo quy cách theo quy định của Bộ Giáo dục

và Đào tạo

Trang 38

4 Thư viện nhà trường đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu, học tập của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh

5 Nhà trường có đủ thiết bị giáo dục tối thiếu, đồ dùng dạy học, kho chứa thiết bị giáo dục và bảo quản theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

6 Nhà trường có đủ sân chơi, bãi tập, khu để xe, khu vệ sinh và hệ thống cấp thoát nước theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định khác

Tiêu chuẩn 6: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

1 Ban đại diện cha mẹ học sinh có tổ chức, nhiệm vụ, quyền, trách nhiệm, hoạt động theo quy định ; nhà trường phối hợp hiệu quả với cha mẹ học sinh, Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp, Ban đại diện cha mẹ học sinh trường để nâng cao chất lượng giáo dục

2 Nhà trường phối hợp hiệu quả với tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội nghề nghiệp, doanh nghiệp và cá nhân khi thực hiện các hoạt động giáo dục

Tiêu chuẩn 7: Kết quả rèn luyện và học tập của học sinh

1 Kết quả đánh giá, xếp loại học lực của học sinh nhà trường đáp ứng được mục tiêu giáo dục của cấp học

2 Kết quả đánh giá, xếp loại hạnh kiểm của học sinh nhà trường đáp ứng được mục tiêu giáo dục của cấp học

3 Kết quả hoạt động giáo dục nghề phổ thông - hướng nghiệp của học sinh đáp ứng yếu cầu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

4 Kết quả hoạt động xã hội, công tác đoàn thể, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học sinh đáp ứng yêu cầu theo kế hoạch của nhà trường

và quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

1.3 Quản lý các trường THPT theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ GD&ĐT

1.3.1 Quán triệt ý nghĩa của quản lý trường THPT theo bộ tiêu chuẩn

Quản lý trường THPT theo bộ tiêu chuẩn Kiểm định chất lượng giáo dục có ý nghĩa quan trọng được khái quát như các luận điểm dưới đây:

Trang 39

- Các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng là căn cứ để các trường THPT xây dựng kế hoạch, thực hiện nhiệm vụ dài hạn, trung hạn và kế hoạch năm học

Thông thường vào đầu năm học, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai nhiệm vụ năm học cho tất cả các trường THPT trên toàn quốc Tuy nhiên, những văn bản của Bộ chủ yếu đề cập đến vấn đề đường lối, mục tiêu nói chung cho toàn quốc, chưa cụ thể hoá cho từng Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, thành phố và các nhà trường Vì vậy, bộ tiêu chuẩn KĐCLGD trường THPT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành sẽ giúp các nhà trường trong thành phố cụ thể hoá nhiệm vụ năm học cho phù hợp với đặc điểm của từng trường trong suốt năm học và những năm tiếp theo

- Các tiêu chuẩn KĐCLGD là đích, động lực phát triển giáo dục

Các tiêu chuẩn KĐCLGD là hệ thống các chuẩn mực đòi hỏi các nhà trường phải phấn đấu để đạt được Do vậy, nó là đích để các nhà trường phấn đấu Để đạt được đích này, các nhà trường buộc phải phát huy tối đa các nguồn lực như: nguồn lực bên trong, bên ngoài nhà trường; phải xây dựng kế hoạch, xây dựng nhiệm vụ khả thi và tổ chức thực hiện Việc đạt được mục đích hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất vẫn là yếu tố con người, sự hoạt động của BGH, của đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên và sự đầu tư của các cấp chính quyền Đây là cơ sở để tạo ra nét văn hoá riêng đặc trưng của mỗi trường

- KĐCLGD là cơ hội để các nhà trường tự đánh giá, tìm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục

Tự đánh giá ở nhà trường THPT là quá trình nhà trường dựa vào các chuẩn mực quy định trong bộ tiêu chuẩn KĐCLGD để tự tổ chức rà soát, đối chiếu, từ đó đưa ra những kết luận về thực trạng nhà trường, rút kinh nghiệm

và tự hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, quá trình quản lý và giảng dạy Những thông tin thu thập được từ quá trình tự đánh giá cần được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và phải đảm bảo độ chính xác, tin cậy

Trang 40

- Thông qua bộ tiêu chuẩn KĐCLGD sẽ giúp Sở Gáo dục và Đào tạo quản lý tốt chất lượng giáo dục các trường theo phân cấp quản lý nhà nước

về giáo dục

Trong hoạt động quản lý của Sở GD-ĐT, khi nhìn nhận một trường hoặc đánh giá chất lượng của toàn ngành học phải dựa vào các chỉ số giáo dục để đánh giá Điều này yêu cầu phải có những chẩn mực để đánh giá các trường, các chuẩn mực phải được sắp xếp, thống kê theo một hệ thống khoa học để làm công cụ cho việc đánh giá Nhìn nhận một cách đúng mức, hiện nay, bộ công cụ để đánh giá các trường của Sở giáo dục còn nhiều bất cập, mang định tính, các chỉ số dùng để đánh giá chưa được chỉ ra rõ ràng, việc sử dụng các lực lượng để đánh giá chưa hợp lý để phát huy tối đa hiệu quả trong công tác đánh giá Cho nên, muốn quản lý hiệu quả, điều quan trọng là trong quy trình quản lý, Sở GD - ĐT cần chỉ rõ các chỉ số giáo dục cơ bản, cố gắng lượng hoá cụ thể chỉ số này để thuận tiện trong tổng hợp, đánh giá Dựa vào việc thực hiện các chỉ số giáo dục của các nhà trường, Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ nhìn nhận được bức tranh tổng thể chất lượng giáo dục của từng nhà trường, của toàn ngành, tạo điều kiện thuận lợi trong việc điều chỉnh các hoạt động quản lý

1.3.2 Giải thích nội dung của quản lý trường THPT theo bộ tiêu chuẩn

1.3.2.1 Nghiên cứu chuẩn

“Chuẩn” là cách nói tắt khi đề cập đến toàn bộ hệ thống các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông “Chuẩn” được các chuyên gia về đánh giá chất lượng giáo dục xây dựng và được Bộ Giáo dục

và Đào tạo ban hành Chuẩn ở bậc trung học phổ thông bao gồm 7 tiêu chuẩn với 45 tiêu chí và 138 chỉ số Trong mỗi tiêu chuẩn gồm một số các tiêu chí, trong mỗi tiêu chí lại gồm các chỉ số đánh giá Bộ tiêu chuẩn này đã

cụ thể, chi tiết tới tất cả các mặt, các lĩnh vực hoạt động của một cơ sở giáo dục phổ thông ở nước ta

Ngày đăng: 16/03/2015, 17:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2009, 2010 - Quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hải Phòng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ giáo dục và đào tạo
Bảng 2.1 Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2009, 2010 (Trang 50)
Bảng 2.2: Nhận thức của các đối tượng về công tác kiểm định chất lượng - Quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hải Phòng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ giáo dục và đào tạo
Bảng 2.2 Nhận thức của các đối tượng về công tác kiểm định chất lượng (Trang 57)
Bảng 2.3 : Kết quả điều tra về nhận thức của các lực lượng giáo dục - Quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hải Phòng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ giáo dục và đào tạo
Bảng 2.3 Kết quả điều tra về nhận thức của các lực lượng giáo dục (Trang 68)
Hình 2.1. Các loại kế  hoạch triển khai thực hiện Bộ tiêu chuẩn Kiểm định - Quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hải Phòng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ giáo dục và đào tạo
Hình 2.1. Các loại kế hoạch triển khai thực hiện Bộ tiêu chuẩn Kiểm định (Trang 70)
Bảng 2.6: Thực trạng phối hợp trong công tác chỉ đạo thực hiện Bộ tiêu - Quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hải Phòng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ giáo dục và đào tạo
Bảng 2.6 Thực trạng phối hợp trong công tác chỉ đạo thực hiện Bộ tiêu (Trang 73)
Bảng 3.1: Kế hoạch và chương trình đánh giá - Quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hải Phòng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ giáo dục và đào tạo
Bảng 3.1 Kế hoạch và chương trình đánh giá (Trang 99)
Bảng 3.2. Kết quả đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp - Quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hải Phòng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ giáo dục và đào tạo
Bảng 3.2. Kết quả đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp (Trang 103)
Bảng 3.2: Đánh giá tính khả thi của biện pháp - Quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hải Phòng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ giáo dục và đào tạo
Bảng 3.2 Đánh giá tính khả thi của biện pháp (Trang 106)
7  Hình  thức  tổ  chức  bồi  dưỡng - Quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hải Phòng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ giáo dục và đào tạo
7 Hình thức tổ chức bồi dưỡng (Trang 117)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w