i ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ***** NGUYỄN XUÂN QUY QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN KẾT DO CÁC TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI CẤP BẰNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ BẮC HÀ LUẬN
Trang 1i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
*****
NGUYỄN XUÂN QUY
QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN KẾT
DO CÁC TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI CẤP BẰNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ BẮC HÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà Nội - 2013
Trang 2ii
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
*****
NGUYỄN XUÂN QUY
QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN KẾT
DO CÁC TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI CẤP BẰNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ BẮC HÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Châu
Hà Nội – 2013
Trang 3DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa
GAST : Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
UNESCO : Tổ chức văn hóa giáo dục thế giới
Trang 4iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mối liên hệ các yếu tố cấu thành quản lý nhà trường 17 Biểu đồ 1.1 Biểu đồ gia tăng số lượng sinh viên ở Việt Nam 30 Biểu đồ 1.2 Biểu đồ gia tăng số lượng các trường Đại học, Cao đẳng ở
các trường ĐH khu vực Đông Nam Á
Trang 5v
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ……… i
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt……… ii
Danh mục các bảng, biểu đồ, hình vẽ ……… iii
MỞ ĐẦU ……… 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN KẾT DO CÁC TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI CẤP BẰNG … 8 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu ……… 8
1.2 Một số khái niệm công cụ ……… 8
1.2.1 Chương trình đào tạo ……… 8
1.2.2 Chương trình đào tạo liên kết ……… 9
1.2.3 Trường quốc tế ……… 9
1.3 Các vấn đề chung về quản lý giáo dục ……… 11
1.3.1 Quản lý ……… 11
1.3.1 Chức năng quản lý ……… 13
1.3.1 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường ……… 15
1.4 Xu thế phát triển của giáo dục Việt nam trong thế kỷ 21 và sự phát triển của loại hình liên kết đào tạo với nước ngoài ……… 18
1.4.1.Tình hình và xu thế phát triển của nền kinh tế - xã hội Việt Nam trong thế kỷ 21……… 18
1.4.2 Nhu cầu về đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam ……… 28 1.4.3 Chính sách phát triền giáo dục đại học và trách nhiệm xã hội của 31
Trang 6vi
trường đại học………
1.4.4 Vai trò của chương trình đào tạo liên kết do các trường đại học nước ngoài cấp bằng đối với sự phát triển trường đại học ở Việt Nam trong thế kỷ 21 … 35
1.5 Quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng……… 37
1.5.1 Quản lý mục tiêu đào tạo ……… 37
1.5.2 Quản lý phát triển chương trình ……… 42
1.5.3 Quản lý thực hiện chương trình ……… 48
1.5.4 Quản lý đánh giá chương trình ……… 49
1.5.5 Quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, chính sách ……… 65
Kêt luận chương 1 ……… 66
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN KẾT DO CÁC TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI CẤP BẰNG TẠI ĐẠI HỌC QUỐC TẾ BẮC HÀ ……… 68
2.1 Giới thiệu về Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà ……… 68
2.1.1 Giới thiệu chung ……… 68
2.1.2 Cơ cấu tổ chức……… 69
2.1.3 Tôn chỉ, mục đích đào tạo ……… 70
2.1.4 Chức năng nhiệm vụ ……… 71
2.1.5 Tầm nhìn, sứ mạng và giá trị cốt lõi ……… 72
2.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà……… 73
2.2.1 Xây dựng chương trình……… 73
2.2.2 Thực trạng quản lý mục tiêu chương trình đào tạo ……… 77
2.2.3 Thực trạng quản lý phát triển chương trình đào tạo ……… 78
2.2.4 Thực trạng quản lý thực hiện chương trình đào tạo ……… 80
2.2.5 Thực trạng quản lý đánh giá chương trình ……… 81
2.2.6 Thực trạng quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, chính sách………… 82
Trang 7vii
2.3 Những chương trình liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng đã được xây dựng và đang được thực hiện tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà 83 2.3.1 Các chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng 83
2.3.2 Những chương trình liên kết với Đại học Griffith – Australia ……… 84
Kết luận chương 2……… 98
Chương 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN KẾT DO CÁC TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI CẤP BẰNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ BẮC HÀ ……… 100
3.1 Các định hướng và nguyên tắc đề xuất biện pháp ……… 100
3.1.1 Các định hướng ……… 100
3.1.2 Các nguyên tắc ……… 104
3.2 Những biện pháp quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại trường Đại học Quốc tế Bắc Hà……… 105
3.2.1 Khảo sát và phân tích kịch bản tương lai về nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, lấy kết quả khảo sát, phân tích làm nền tảng cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo liên kết ………… 106
3.2.2 Hoàn thiện cơ chế phối hợp quản lý quá trình triển khai thực hiện chương trình đào tạo liên kết giữa Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà với các trường Đại học đối tác trên thế giới ……… 107
3.2.3 Thành lập Hội đồng đánh giá cấp trường để đánh giá kết quả của chương trình đào tạo liên kết và đánh giá việc thực hiện trách nhiệm xã hội của nhà trường……… 109
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tín khả thi của các biện pháp ………… 111
3.3.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất ……… 111
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm……… 112
3.3.3 Nhận xét ……… 113
Kết luận chương 3……… 113
Trang 8viii
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 117 PHỤ LỤC ……… 119
Trang 9Trong hai thập kỷ qua, hệ thống đại học Việt Nam đã có một bước phát triển vô cùng ngoạn mục về số lượng các trường được thành lập, về số lượng sinh viên, về sự đa dạng hóa các loại hình đào tạo, về các chương trình liên kết hợp tác, về mở rộng các chuyên ngành đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội Tuy nhiên, một điểm rất dễ nhận thấy là sự phát triển quá nhanh về số lượng tất yếu sẽ kéo theo nhiều vấn đề về chất lượng Trong lúc số lượng sinh viên tăng theo cấp số nhân, thì số lượng giảng viên không thể tăng kịp kéo theo những hệ quả tiêu cực về chất lượng
Cơ chế thăng tiến không chủ yếu dựa trên tài năng và thu nhập bất hợp
lý không khuyến khích giảng viên tập trung vào nghiên cứu và trau dồi chuyên môn Triết lý giáo dục và nội dung chương trình đào tạo lạc hậu, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới khiến sinh viên không được trang bị những kỹ năng cần thiết cho công việc, không đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi của thị trường lao động Chất lượng đào tạo thấp dẫn đến hệ quả bùng nổ làn sóng du học và những chương trình liên kết với nước ngoài như một giải pháp đáp ứng nhu cầu đào tạo chất lượng cao để tham gia thị trường lao động
Trang 102
toàn cầu Tuy nhiên, du học kéo theo vấn đề chảy máu ngoại tệ và chảy máu chất xám, còn giáo dục xuyên biên giới cũng đặt ra nhiều nguy cơ, vì các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài thường là các tổ chức hoạt động vì lợi nhuận sẽ không coi lợi ích cơ bản và lâu dài của quốc gia đối tác là ưu tiên của họ
Bối cảnh đó đặt ra một nhu cầu bức thiết về việc xây dựng những trường đại học Việt Nam có chất lượng cao theo những chuẩn mực đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Đây là những trường đại học hoa tiêu trước mắt có nhiệm vụ đào tạo những nhà khoa học và quản lý hàng đầu cho đất nước, đồng thời là một khuôn mẫu cho các trường đại học trong nước Trong trung hạn và dài hạn, những trường đại học này sẽ phải phấn đấu tiến tới vị trí được công nhận trong khu vực và trên thế giới
Hợp tác quốc tế có một vai trò cốt yếu và không thể thiếu trong tiến trình thành lập những trường đại học được kỳ vọng là đáp ứng những chuẩn mực quốc tế Bài viết này thảo luận về những khả năng, cơ hội trong việc hợp tác quốc tế nhằm xây dựng những trường đại học đỉnh cao này, và xem xét những “pros and cons” (những lý lẽ phản đối hay biện minh) cho các khả năng hợp tác ấy
Cơ cấu thẩm quyền và cách thức nhà nước điều khiển hệ thống đại học phản rõ nét m ối quan hệ giữa nhà nước và trường đa ̣i ho ̣c , đặt cơ sở cho khả năng, mức độ tự chủ hay môi trường hành động chủ động của trường đại học
Tự chủ không chỉ hàm ý quyền quyết định của một trường đối với chương trình đào tạo và mục tiêu của mình mà còn phải bao hàm cả quyền quyết định
về cách thức để thực hiện mục tiêu và chương trình
Nhà nước hầu như là tác nhân chính tạo môi trường và động lực phát triển cho các tổ chức đại học nhưng cách thức tác động thì rất khác nhau Nó cũng là nhân tố đặc biệt quan trọng bảo đảm phát huy mặt tích cực bên cạnh hạn chế khuyết tật của thị trường; giúp cân bằng quyền tự chủ và trách nhiệm
xã hội của trường đại học Nghiên cứu nội dung, phương thức quản lý nhà
Trang 113
nước (QLNN) về GDĐH không chỉ để tìm ra cách thức quản lý của nhà nước sao cho hiệu quả hơn mà còn giúp cho chính nhà nước và nhà trường chủ động hơn cho bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt Trong bối cảnh mới, nhà nước giữ vai trò là chủ thể quản lý toàn diện hệ thống đại học, tạo ra sự thuận tiện, dễ dàng để các trườ ng cũng như các thành phần có liên quan có thể phối hợp để đưa ra các chính sách và chiến lược phát triển phù hợp Đây chính là “chìa khoá” giúp giải quyết những khó khăn và vượt qua thách thức trong công cuộc cải cách GDĐH
Mục tiêu chiến lược đã được đặt ra như một dấu mốc lịch sử, đến năm
2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp và từng bước phát triển kinh tế tri thức Trong đó, GDĐH được xác định là lĩnh vực then chốt cần đột phá Tầm nhìn GDĐH Việt Nam đã trù tính quy mô toàn hệ thống sẽ tăng gấp 3-4 lần so với hiện tại, sự quản lý và hội nhập quốc tế ph ải tốt hơn, dịch vụ đào ta ̣o và nghiên cứu phải mở cửa rộng hơn theo các cam kết quốc tế và đă ̣c biê ̣t là s ự thương mại hoá cũng được tính đến Tất cả v ấn đề này phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của dịch vụ GDĐH và liên quan chặt chẽ đến yêu cầu đổi mới
cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước về GDĐH Nhà nước trong vai trò
đi ̣nh hướng giám sát thay cho s ự kiểm soát tâ ̣p trung chi tiết , đảm trách việc hướng dẫn, thúc đẩy và bảo vệ lợi ích công của GDĐH Muốn vậy, toàn hệ thống phải đổi mới tư duy và cơ chế quản lý GDĐH, kết hợp hợp lý và hiệu quả giữa việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ QLNN và việc bảo đảm quyền tự chủ, tăng cường trách nhiệm xã hội, tính minh bạch của các cơ sở GDĐH theo nghị sự của Chính phủ (Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005)
Vấn đề tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trườ ng đa ̣i ho ̣c Việt Nam mặc dù đã được đề cập chính thức trong Nghị quyết TW 4 (khoá VII) từ năm
1993 và được pháp lý hoá lần đầu trong Luật Giáo dục 1998 nhưng trên thực
tế thì “cơ chế quản lý các trườ ng đa ̣i ho ̣c có tính t ập trung và xơ cứng”, theo nhâ ̣n định của Vallely (2005) [68]; “bộ chủ quản trở thành cơ quan trung gian,
Trang 124
trường chịu sự chỉ đạo của nhiều cơ quan quản lý nên mất tính chủ động, sức
ép tăng lên, hiệu quả giảm đi ”, theo một nhận xét khác được đăng tải trên VietNamNet ngày 26/12/2005 Thực tế này làm trường đại học chưa thực hiện được vai trò xã hội to lớn vốn có của nó, chưa đáp ứng được yêu c ầu phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), thiếu năng lực c ạnh tranh, nhất là không có đ ủ nguồn lực để phát triển Việc hoàn thiện một số vấn đề lý luận, làm rõ bản chất và đánh giá đúng th ực trạng và sự bảo đảm tự chủ, tự chi ̣u trách nhiê ̣m , cũng như đưa ra giải pháp QLNN phù hợp góp phần tháo gỡ những bất cập và tiếp câ ̣n các cơ hô ̣i
Các trường đại học không chỉ là những đơn vị làm việc cho địa phương hay đất nước mình, mà còn phục vụ cho cả thế giới Với nhịp điệu thay đổi nhanh chóng trên thế giới thông qua toàn cầu hóa, các quốc gia trên thế giới cùng với các dân tộc, các nền văn hóa, các định chế tổ chức trong đó có các trường đại học, đang trở thành những thực thể đan quyện vào nhau, có tương quan với nhau và liên kết với nhau hết sức chặt chẽ Để chuẩn bị cho sinh viên của chúng ta bước vào một thế giới đang đổi thay nhanh chóng, để tăng cường và thúc đẩy các khám phá khoa học, để thực hiện những nhiệm vụ mà chúng ta đã cam kết, và để duy trì năng lực cạnh tranh của chúng ta, các trường đại học phải có những năng lực mang tính toàn cầu và những mối quan hệ có tính chất quốc tế dưới nhiều hình thức Các trường đại học cần chuẩn bị cho sinh viên của mình trở thành những thành viên tích cực trong một thế giới mà biên giới quốc gia ngày càng trở thành không còn mấy ý nghĩa Nhu cầu duy trì năng lực cạnh tranh trên thế giới đòi hỏi các trường đại học tạo ra nguồn nhân lực có năng lực toàn cầu và có khả năng nghiên cứu ở đỉnh cao Mỗi trường đều có trách nhiệm bảo đảm cho sinh viên của mình được chuẩn bị đầy đủ cho những thử thách của thế kỷ XXI và hiệu quả của việc đó là một phép thử đối với chất lượng đào tạo của các trường
Có nhiều nguyên nhân cả nội tại và ngoại tại thúc đẩy việc quốc tế hóa các trường đại học Có những chứng cứ rất mạnh cho thấy các trường đại học
Trang 135
được quốc tế hóa hoạt động tốt hơn nhiều trong cả đào tạo lẫn nghiên cứu khoa học Điều này thường được thể hiện qua việc đào tạo được những sinh viên có kiến thức mang tính chất quốc tế và năng lực mang tính xuyên văn hóa; đạt được những chuẩn mực quốc tế; duy trì năng lực cạnh tranh; đẩy mạnh phát triển tri thức trong những vấn đề về sự tương thuộc giữa các quốc gia; nghiên cứu những vấn đề đang đặt ra cho quốc gia và quốc tế; hoạt động
vì tiến bộ xã hội; đánh giá cao sự đa dạng văn hóa và dân tộc của một quốc gia qua đó duy trì ổn định an ninh quốc tế và những quan hệ hòa bình
2 Lịch sử nghiên cứu
Đã có nhiều đề tài trong nước nghiên cứu về quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên
đề tài được thực hiện tại trường Đại học Quốc tế Bắc Hà
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng công tác tổ chức quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc
Hà nhằm nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm giải trình trước xã hội
Nghiên cứu khảo sát việc tổ chức quản lý chương trình đào tạo liên kết
do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà trong giai đoạn hiện nay
5 Mẫu khảo sát
Công tác tổ chức quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà
Trang 146
6.Vấn đề nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp gì để hoàn thiện công tác quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằngcủa trường Đại học Quốc
tế Bắc Hà nhằm nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm giải trình trước xã hội
7 Giả thuyết nghiên cứu
Tổ chức quản lý tốt chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng sẽ góp phần nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm giải trình trước xã hội tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà
8 Phương pháp chứng minh luận điểm
Bên cạnh việc vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa trên cơ sở các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo Tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu
- Phương pháp quan sát, đối chiếu, so sánh
- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi trực tiếp
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
9 Các luận cứ
* Luận cứ lí thuyết
Khái niệm chương trình đào tạo
Khái niệm chương trình đào tạo có yếu tố quốc tế
Khái niệm tự chủ, tự chủ đại học
Khái niệm và vai trò công tác tổ chức quản lý chương trình đào tạo Khái niệm và vai trò của hoạt động hợp tác quốc tế
Khái niệm và vai trò của việc giải trình trước xã hội
* Luận cứ thực tế
Số liệu thống kê về chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà
Trang 157
Số liệu điều tra về công tác tổ chức quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà
Hệ thống các văn bản về công tác quản lý chương trình đào tạo liên kết
do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường đại học nước ngoài cấp bằng
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà
Chương 3: Giải pháp quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà
Trang 168
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN KẾT DO CÁC TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI CẤP BẰNG
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu
Mặc dù là một khoa học non trẻ nhưng do nhu cầu thực tiễn nên khoa học về quản lý giáo dục nói chung và lý luận về quản lý chương trình nói riêng có sự phát triển nhanh, mạnh trong giai đoạn từ thế kỷ 18 đến nay Theo
đó, những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này tương đối phong phú Căn
cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và giới hạn của đề tài luận văn, luận văn tập trung hệ thống, phân tích những vấn đề tiêu biểu liên quan trực tiếp tới quá trình quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Chương trình đào tạo
1.2.1.1 Khái niệm chương trình
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nhà xuất bản Giáo dục – 1998, chương trình được giải nghĩa như sau:
a, Là: “các mục, các vấn đề, các nhiệm vụ đề ra và được sắp xếp theo trình tự thực hiện trong một khoảng thời gian”
b, Là: “Nội dung kiến thức về một môn học (học phần) ấn định cho từng lớp, từng cấp, trong từng năm”
1.2.1.2 Chương trình đào tạo
Theo từ điển Giáo dục học, Nhà xuất bản từ điển Bách khoa – 2001, khái niệm chương trình đào tạo được hiểu là: “Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực hiện theo từng năm học, tỷ lệ giữa các
bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo”
Trang 179
Theo Tim Wentling, Raph Tyler và Kelly về chương trình đào tạo, đề
xuất cách hiểu chương trình như sau: “Chương trình đào tạo là bản thiết kế
tổng thể được trình bày một cách có hệ thống cho một hoạt động giáo dục, đào tạo của một khoá học trong một khoảng thời gian xác định, và thể hiện 4 yếu tố sau:
Mục tiêu đào tạo được cụ thể hoá qua kết quả đào tạo (Learning outcomes)
Nội dung cần đào tạo (các môn học) và thời lượng của chương trình
và mỗi môn học
Qui trình và các phương pháp triển khai thực hiện nội dung đào tạo
đã được qui định trong chương trình để đạt được mục tiêu đào tạo
Phương thức kiểm tra – đánh giá kết quả đào tạo”
Như vậy, chương trình đào tạo không chỉ phản ánh nội dung đào tạo
mà là một văn bản hay bản thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo
1.2.2 Chương trình đào tạo liên kết
Chương trình đào tạo liên kết là bản thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo do các bên hợp tác cùng đặt ra ban đầu
Chương trình đào tạo hợp tác là sợi dây vô hình gắn kết các cơ sở đào tạo trên khắp thế giới lại với nhau Các cơ sở đào tạo cùng hợp tác để hoàn thành sản phẩm là dịch vụ đào tạo
1.2.3 Trường quốc tế
1.2.3.1 Cơ sở đào tạo có hợp tác, đầu tư của nước ngoài
Cơ sở đào tạo có hợp tác, đầu tư của nước ngoài là các cơ sở đào tạo
có liên kết hợp tác với nước ngoài hoặc 100% vốn đầu tư của nước ngoài, hoạt động vì mục đích lợi nhuận hoặc không vì lợi nhuận
Trang 1810
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục, các hình thức hợp tác, đầu tư của nước ngoài về giáo dục tại Việt Nam bao gồm:
Thành lập cơ sở giáo dục;
Liên kết đào tạo;
Thành lập văn phòng đại diện;
Sự đa quốc tịch của sinh viên;
Đào tạo theo chương trình quốc tế (chương trình phải được công nhận quốc tế)
Có ngôn ngữ chung để dạy cho sinh viên đa quốc tịch
Đội ngũ giảng viên giỏi về chuyên môn và phải sử dụng được ngôn ngữ chung để giảng dạy
Điều kiện cơ sở vật chất của trường được trang bị theo tiêu chuẩn của nước đầu tư
1.2.3.3 Trường theo chuẩn quốc tế
Trường theo chuẩn quốc tế là một trong những cơ sở giáo dục đào tạo
có hợp tác đầu tư của nước ngoài chủ yếu phục vụ cho sinh viên người bản địa bằng việc áp dụng một hoặc nhiều tiêu chí của trường quốc tế
Ở Việt Nam, các trường đại học theo chuẩn quốc tế đặt mục tiêu hướng đến phục vụ sinh viên Việt Nam Chương trình đào tạo của các trường này vẫn tuân thủ chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Những tiêu chí chuẩn quốc tế thường được thể hiện qua một hay nhiều mặt sau:
Có thêm các chương trình tiếng Anh tăng cường
Trang 1911
Có thêm những học phần du nhập từ nước ngoài
Có sự công nhận quốc tế về chương trình đào tạo
Có hợp tác với các trường quốc tế hoặc nước ngoài
Có giảng viên nước ngoài
Cơ sở vật chất hiện đại, số sinh viên trên một lớp học theo tiêu chuẩn của các trường có hệ thống giáo dục – đào tạo phát triển
1.3 Các vấn đề chung về quản lý giáo dục
1.3.1 Quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại
và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một số tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn, đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó
Có thể nói, hoạt động quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, nó điều khiển một hệ thống xã hội ở cả tầm vĩ mô và vi mô
Hiện nay, mặc dù thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, song chưa có một định nghĩa thống nhất Khái niệm quản lý có nội dung rất chung, tổng quát, nó dùng cho cả quá trình xã hội, quá trình sinh vật cũng như quá trình
kỹ thuật Mỗi một định nghĩa về quản lý thường đúng với một lĩnh vực quản
lý cụ thể và tùy theo các cách tiếp cận khác nhau
Theo cách tiếp cận trên phương diện hoạt động của tổ chức thì: “Quản
lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến” Hoặc “hoạt động quản lý là tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người
bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”
Với cách tiếp cận tình huống thì: “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”
Trang 2012
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra
Bất kỳ một tổ chức nào, có mục đích, cơ cấu và quy mô ra sao thì cũng đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và nguồn lực, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích cuối cùng của tổ chức
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo; Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất lao động cao hơn Trong công việc đòi hỏi phải
có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra và chỉnh lý
Có thể nói: Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội…bằng một hệ thống các luật, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối trượng
Xét về bản chất, các định nghĩa trên về quản lý bao gồm những điều chủ yếu sau: Quản lý là một loại hình hoạt động có đối tượng, là một dạng hoạt động có chủ hệ thống, nhằm đạt được những mục đích nhất định Quản
lý là thuộc tính tồn tại khách quan trong hoạt động của con người Quản lý luôn đặt trong mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, trong sự tác động của môi trường Do vậy, “Quản lý luôn phải đặt trong điều kiện có sự thay đổi, bắt nguồn từ những biến động, mà cuộc sống thì không bao giờ đứng yên”
Qua những định nghĩa về quản lý ta nhận thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Trang 2113
Thứ nhất : Là một hoạt động có tính tất yếu, phổ biến và mang tính
lịch sử (Một nghệ sĩ chơi đàn chỉ phải điều khiển có chính mình, nhưng một
dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (C.Mác -Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 23,
tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra
Thứ năm: Là dạng lao động đặc biệt, mang tính gián tiếp và tổng hợp
Người ta coi quản lý là lao động về lao động, hay lao động siêu lao động
Thứ sáu: Quản lý vừa mang tính khoa học vừa là nghệ thuật
Thứ bảy: Thông tin là nhân tố đặc biệt quan trọng của quản lý
Thứ tám: Quản lý có xu hướng vươn tới tự quản
Quản lý luôn bao gồm 2 thành phần là chủ thể quản lý và khách thể quản lý
Chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau, chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy sinh các giá trị vật chất, tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý
1.3.2 Chức năng quản lý
Khi bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, chúng ta cần tìm hiểu người quản lý cần làm những gì, hay nói cách khác là tìm hiểu các chức năng quản lý Để đạt được mục tiêu của tổ chức, người quản lý phải biết cách vận dụng các chức năng quản lý Trong thực tế, tùy từng hoàn cảnh, từng đối tượng mà vận dụng các biện pháp quản lý thích hợp Tiềm năng của người quản lý là biết lựa chọn biện pháp hữu hiệu áp dụng cho từng đối tượng, người quản lý phải có lý trí sáng suốt và trái tim nhân hậu, phải có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm quản lý phong phú sao cho việc lựa chọn
Trang 22tổ chức, chỉ huy,phối hợp và kiểm tra
Một nhà lý luận quản lý xã hội của Liên Xô, viện sĩ V.G Afanaxiep đã nêu 5 chức năng cơ bản của quản lý là: Xử lý thông tin và thông qua quyết định, tổ chức, điều chỉnh, sửa chữa, kiểm kê và kiểm tra
Các chức năng cơ bản của quản lý là sự nhóm gộp các hoạt động quản
lý trong mỗi công đoạn của quá trình để đạt đến mục tiêu Với những quan điểm và thể hiện dưới dạng khác nhau về phân chia các chức năng quản lý
Theo tác gia Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì có thể phân chia theo 4 chức năng cơ bản sau: Kế hoạch hóa (Planning); Tổ chức (Organizing); Lãnh đạo – chỉ đạo (Leading); Kiểm tra (Controling) Bốn chức năng cơ bản này liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành một chu trình quản lý Chúng đều cần đến thông tin
Chức năng kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với những thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Đây là chức năng giữa vai trò chủ đạo trong hoạt động quản lý Có 3 nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa là: Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với
tổ chức; Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này; Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được những mục tiêu đó Chuẩn song hành cùng với hai công việc quan trọng của kế hoạch hóa là: Xác định mục tiêu đúng và lựa chọn những biện pháp đúng để đạt được mục tiêu Cả hai công việc đó đều có ý nghĩa sống còn đối với quá trình quản lý
Trang 2315
Chức năng tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần chuyển hóa những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa như thế Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là sự hình thành nên cấu trúc các mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận với nhau nhằm thực hiện thành công kế hoạch, đạt được mục tiêu, mục đích của tổ chức Đây là chức năng quan trọng quyết định sự thành bại trong việc đạt được mục tiêu của tổ chức Nhờ công tác tổ chức có hiệu quả mà người quản lý có thể phối hợp và điều phối tốt hơn các nguồn lực Một tổ chức hoạt động tốt phụ thuộc nhiều vào năng lực của người quản lý, sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất
Chức năng lãnh đạo – chỉ đạo: sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy tổ chức đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người nào
đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức làm sao cho các thành viên, các bộ phận hoạt động đồng bộ, đồng thời động viên, cổ vũ họ hoàn thành kế hoạch
Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động uốn nắn, sửa chữa đi đến hoàn thành
kế hoạch, đạt được mục tiêu, thích ứng với môi trường, đảm bảo tính khả thi
và tính thực tiễn của kế hoạch, tiến tới hoàn thành mục tiêu, mục đích tổ chức trong môi trường biến đổi
1.3.3 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
Theo Trần Khánh Đức quản lý nhà trường (cơ sở giáo dục) là một bộ phận trong quản lý giáo dục Trường học là tổ chức giáo dục mang tính chất nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục – đào tạo, thực hiện chức năng giáo dục cho thế hệ đang dần lớn lên Nhà trường là tế bào cơ sở, là đối tượng quản lý của tất cả các cấp quản lý giáo dục từ trung ương đến các địa phương Đồng thời nhà trường lại là tổ chức giáo dục có tính độc lập tương đối và tự quản của xã hội Do đó quản lý trường học nhất thiết phải có tính nhà nước, tính xã hội và tính sư phạm
Trang 24Quản lý trực tiếp ở nhà trường bao gồm quản lý chương trình, quản lý quá trình dạy học, tài chính, nhân lực, hành chính và quản lý môi trường giáo dục Nhà quản lý ở mỗi loại hình nhà trường, ở mỗi bậc học sẽ phải đảm bảo vấn đề cốt yếu là: xác định mục tiêu quản lý của nhà trường, xác định cụ thể các mục tiêu quản lý
Trong quản lý và thực tiễn quản lý nhà trường gồm 2 loại quản lý: Một là: Quản lý chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm định hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển
Hai là: Quản lý của chính chủ thể bên trong nhà trường, họat động tổ chức các chủ trương, chính sách giáo dục thành kế hoạch hoạt động, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra
Hiện nay các nhà quản lý trường học quan tâm đến các thành tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức quản lý và kết quả, đó là các thành tố trung tâm của quá trình sư phạm, nếu quản lý và tác động họp quy luật sẽ đảm bảo cho một chất lượng tốt trong nhà trường
Các nghiên cứu về tổ chức trường học đã khái quát những nhân tố cấu trúc cần quan tâm khi tổ chức nhà trường như dưới đây
Nhóm nhân tố thứ nhất:
Mục tiêu đào tạo (M) chịu sự quy định của mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội
Trang 25Lực lượng đào tạo (Người dạy – Th) trong mối quan hệ với lao động
xã hội của đất nước và cộng đồng
Đối tượng đào tạo (Người học - Tr) trong mối quan hệ với dân số học đường (các độ tuổi tương ứng với cấp học, bậc học)
Nhóm nhân tố thứ 3:
Hình thức tổ chức đào tạo (H)
Điều kiện đào tạo(Đ)
Môi trường đào tạo (môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) (Mô)
Bộ máy đào tạo (Bô)
Quy chế đào tạo (Qi)
Để dễ dàng hình dung, ta có thể bố trí mười nhân tố trên trong một hình sao (sơ đồ 1.3) mà nút bấm quản lý ở trung tâm ngôi sao Quản lý liên kết các nhân tố làm cho chúng vận động tạo ra sự phát triển toàn vẹn của quá trình đào tạo
Hình 1.1 Mối liên hệ các yếu tố cấu thành quản lý nhà trường
Trang 2618
Quản lý nhà trường mà trong đó có quản lý đào tạo được hiểu là quản
lý mức độ đạt được mục tiêu giáo dục và thỏa mãn nhu cầu của người học; là quản lý kết quả của quá trình giáo dục được biểu hiện ở mức độ nắm vững kiến thức, hình thành những kỹ năng tương ứng, những thái độ cần thiết và được đo bằng những chuẩn mực xác định
1.4 Xu thế phát triển của giáo dục Việt nam trong thế kỷ 21 và sự phát triển của loại hình liên kết đào tạo với nước ngoài
1.4.1 Tình hình và xu thế phát triển của nền kinh tế - xã hội Việt Nam trong thế kỷ 21
1.4.1.1 Tình hình kinh tế xã hội
Nằm trong khu vực kinh tế năng động và nhạy cảm của nền kinh tế thế giới, Việt Nam không thể không chịu tác động của những xu hướng phát triển kinh tế quốc tế Chúng tạo ra nhiều cơ hội quý báu và cả những thách thức to lớn cho quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế của nước ta mà có thể sơ bộ nêu ra dưới đây:
Một mặt, chúng bảo đảm môi trường đối ngoại hòa bình để tập trung các nguồn lực trong nước cho công cuộc phát triển kinh tế, tăng khả năng đẩy nhanh tốc độ, nâng cao hiệu quả và giảm chi phí thực hiện quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước; cho phép nước ta sử dụng các quy luật
và nguyên tắc thị trường một cách thích hợp để thu hút các nguồn lực ngoài nước phục vụ cho quá trình phát triển của mình, đồng thời mở rộng thị trường bên ngoài cho nền sản xuất của đất nước Việt Nam sẽ có cơ hội tham gia bình đẳng và nâng cao vị thế đất nước trong các giao lưu và quan hệ kinh tế quốc tế, tiếp cận, nắm bắt các công nghệ tiên tiến nhất, bỏ qua những công nghệ đang và sẽ lạc hậu nhanh, để đi tắt, đón đường xu hướng phát triển thế giới, rút ngắn thời gian và khoảng cách trong tiến trình đuổi kịp trình độ các nước khu vực và thế giới trong nhiều lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực mới Do
đó, tránh được các bước tuần tự hoặc lặp lại không cần thiết, vừa kéo dài thời
kỳ quá độ, vừa làm tăng chi phí cho việc tháo dỡ và cải tạo thay thế chúng
Trang 2719
trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế Bên cạnh đó, sức ép cạnh tranh trong môi trường trong nước, khu vực và quốc tế có tính cạnh tranh hơn (song song với tính hợp tác lâu dài) sẽ tạo điều kiện cọ sát và điều chỉnh, cũng như thúc đẩy quá trình cải thiện sức cạnh tranh của các sản phẩm, các doanh nghiệp của toàn bộ nền sản xuất Việt Nam lên mức cao hơn, chiến thắng sức ỳ cố hữu là hệ quả của nền kinh tế kế hoạch hóa bao vây và khép kín kéo dài trước đây Tham gia ngày càng sâu rộng vào thị trường có tính cạnh tranh càng mạnh, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ càng có cơ hội, trưởng thành và phát triển hơn
Môi trường kinh doanh quốc tế rộng lớn, tự do và bình đẳng với việc ngày càng dỡ bỏ các rào cản, các phân biệt đối xử chính thức và không chính thức, kinh tế và phi kinh tế, sẽ tạo ra cơ hội không chỉ cho các công ty lớn, các nền kinh tế lớn mà còn cho cả các công ty nhỏ, các nền kinh tế nhỏ tham
dự bình đẳng và rộng rãi vào sự vận hành của guồng máy kinh tế thế giới mang tính toàn cầu Cùng với xu thế chuyển đổi sang kinh tế thị trường mở,
nó sẽ làm cho các sản phẩm, dịch vụ, bất động sản, nguồn nhân lực của nước
ta lâu nay không được coi là hàng hóa đang và sẽ trở thành hàng hóa, được lưu thông cả trên thị trường trong và ngoài nước Thị trường quốc gia vì thế
sẽ được mở rộng hơn Việc tham gia đầy đủ vào các tổ chức kinh tế khu vực
và quốc tế đang và sẽ tạo ra những cơ hội mới cho nước ta và cải thiện vị thế nền kinh tế Việt Nam trong nền kinh tế khu vực và thế giới Đồng thời, sự tương tác giữa các cơ chế kinh tế thị trường quốc gia với cơ chế thị trường khu vực sẽ giúp hoàn thiện cơ chế thị trường quốc gia theo những chuẩn mực
và thông lệ khu vực và quốc tế, giúp cơ chế thị trường Việt Nam trở nên mạnh hơn, hiệu quả hơn
Mặt khác, thách thức lớn nhất đang đặt ra cho chúng ta là nguy cơ tụt hậu gia tăng giữa Việt Nam với các nước trên thế giới, nhất là với các nước đang phát triển trong khu vực Việt Nam dường như chưa có được sự rõ ràng, mạnh mẽ, quyết đoán và được dẫn dắt bởi một chiến lược đồng bộ dài hạn và
Trang 2820
thống nhất, có cơ sở khoa học khách quan về chính sách nhằm ngăn chặn, phòng ngừa và chủ động vượt qua khủng hoảng, cũng như để xúc tiến mạnh hơn công cuộc chuyển đổi các nền kinh tế, xem ra Những khó khăn kinh tế đang bộn bề, những vấn đề mới nảy sinh trong mọi lĩnh vực kinh tế- xã hội- văn hóa và cả chính trị đang cho thấy điều đó Nếu so với những gì mà các nước có nền kinh tế chuyển đổi khác ở Đông Á, Đông và Trung Âu đã đạt được, so với những nước đang phát triển Mỹ La tinh đang vươn tới, thì bức tranh toàn cảnh về nguy cơ “lệch pha” và tụt hậu đó càng rõ nét hơn (chứ chưa cần so sánh với thực tế của các nước công nghiệp trên thế giới)
Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức to lớn phải xây dựng, phát triển và hoàn thiện các cơ sở hạ tầng cho tăng trưởng kinh tế- xã hội nhanh và vững chắc, đáp ứng được các nhu cầu mà tình hình kinh tế quốc tế mới đặt ra, bao gồm cả 3 lĩnh vực: pháp luật và năng lực thể chế; hệ thống giao thông vận tải, điện nước; mạng lưới dịch vụ xã hội và đào tạo nhân lực
Hệ thống pháp lý và năng lực thể chế nói chung của nước ta còn nhiều bất cập, nhiều “khoảng trống”, không đầy đủ, không đồng bộ, thiếu công khai
và rõ ràng, chưa phù hợp thực tiễn, lại hay thay đổi mà không thể dự báo trước được, còn sự thực thi trên thực tế rất kém hiệu năng đã, đang và sẽ gây
ra các ức chế, cản trở không đáng có cho việc khai thác các nguồn lực trong
và ngoài nước cho những mục tiêu phát triển mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
Hệ thống giao thông vận tải, điện nước còn kém phát triển, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện tại của nền kinh tế và càng chưa cho phép tạo ra những chuyển dịch cơ cấu căn bản trên toàn lãnh thổ
Nguồn nhân lực nước ta tuy đông đảo và rẻ, song thiếu đào tạo, nhất là thiếu hụt ghê gớm mảng công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, cũng như nguy
cơ gia tăng sự thiếu vắng những nhà khoa học đầu đàn trong hầu hết các lĩnh vực, thiếu đội ngũ những nhà quản lý, các doanh nhân và cả các công chức
Trang 29sự hình thành trình độ phát triển kinh tế quốc gia và thế giới mới về chất
Việc kiểm soát tăng trưởng và bảo đảm an toàn trong hội nhập là một thách thức mới và ngày càng trở nên quan trọng trong tương lai Việc giải quyết thách thức này đòi hỏi chúng ta phải xử lý một số vấn đề nổi bật sau:
Điều chỉnh các quan hệ cân đối lớn của nền kinh tế cho phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong hiện tại và tương lai, nhất là các quan hệ tích lũy- đầu
tư và tiêu dùng, thu và chi ngân sách, cung ứng tiền tệ, khối lượng tín dụng,
dự trữ ngoại tệ, lãi suất và tỷ giá, tỷ lệ và cơ cấu các ngành kinh tế, xuất- nhập khẩu, nợ nước ngoài và nợ trong nước, cơ cấu mỗi loại nợ
Điều chỉnh các quan hệ kinh tế đối ngoại (và cả chính trị) phù hợp lợi ích chiến lược của quốc gia, đồng thời bám sát các chuyển dịch về tương quan lực lượng kinh tế - chính trị thế giới, chú ý đến các cực, các trung tâm tăng trưởng khu vực
Hoạch định rõ ràng và chủ động thực hiện các lộ trình, thao tác cụ thể trong quá trình tự do hóa kinh tế, nhất là tự do hóa thị trường tài chính Đồng thời, biết tiếp cận, tham gia, duy trì, khai thác sử dụng đúng lúc và hiệu quả các cơ chế giám sát an toàn tài chính quốc gia, khu vực và quốc tế
Trang 3022
Chủ động và tích cực giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội phát sinh
do quá trình tăng trưởng và hội nhập gây ra như sự tăng nạn thất nghiệp, tệ nạn xã hội, sự chênh lệch trình độ phát triển và công bằng xã hội giữa thành thị - nông thôn - vùng sâu, vùng xa; các vấn đề về môi trường, đô thị hóa, về
ổn định dân số, kế hoạch hóa và tình trạng di dân tự do giữa các vùng của đất nước, giữa các nước trong khu vực; các vấn đề chủ quyền và an ninh quốc gia
1.4.1.2 Xu thế phát triển của nền kinh tế - xã hội Việt Nam trong thế kỷ 21
Nền kinh tế Việt Nam đã, đang và còn sẽ tiếp tục trải qua những đợt tái cấu trúc lớn, khởi đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX với việc thực hiện bước chuyển căn bản nền kinh tế từ cơ chế và cơ cấu bao cấp sang cơ chế và
cơ cấu kinh tế thị trường Cho đến nay, về cơ bản và tổng thể, kinh tế Việt Nam vẫn mang những đặc trưng chung của nền kinh tế chậm phát triển, với
cơ cấu ngành, sản phẩm và công nghệ lạc hậu, cơ cấu lao động và lãnh thổ còn nhiều bất cập, sức cạnh tranh thấp và tính dễ bị tổn thương cao
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu hiện nay, nhu cầu tái cấu trúc nền kinh tế đặt ra ngày càng bức thiết Hơn nữa, định hướng và yêu cầu tái cấu trúc cũng cần phù hợp với bối cảnh mới Hiện tại, Bản Đề án Tái cấu trúc lại nền kinh tế đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, doanh nghiệp, địa phương và tham khảo ý kiến các nhà khoa học trong cả nước cùng xây dựng Mục tiêu của Đề án, theo chỉ đạo của Chính phủ, là: “Để tranh thủ cơ hội thuận lợi, kịp thời bổ sung, thay thế và trang bị mới hệ thống máy móc, thiết bị công nghệ hiện đại nhằm phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững” Nội dung của tái cấu trúc bao gồm tái cấu trúc cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản phẩm ngành nghề, sắp xếp và cấu trúc lại DNNN
Để quá trình tái cấu trúc nền kinh tế đạt được mục tiêu đặt ra, cần bảo đảm các nguyên tắc sau :
Trang 3123
Thứ nhất, khuyến khích việc sáp nhập để phát triển các tập đoàn kinh
tế lớn, đa sở hữu, kinh doanh đa ngành, hoạt động xuyên quốc gia Đồng thời, loại dần các DN nhỏ, yếu kém sức cạnh tranh và không có triển vọng thị trường hình thành nền kinh tế với cơ cấu hai tầng: Tầng trên là các DN lớn, hiện đại; Tầng dưới là các DNNVV liên kết chặt chẽ với nhau và với tầng trên
Thứ hai, hình thành các sản phẩm chủ lực, quy mô lớn, có hiệu quả và phát huy lợi thế so sánh chung của đất nước, của địa phương và của DN trong chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu
Thứ ba, có sự tham gia rộng rãi, tự nguyện của các DN và đối tác liên quan theo nguyên tắc thị trường, đồng thời, đề cao bàn tay nhạc trưởng thống nhất của Nhà nước thông qua các công cụ luật pháp và ngân sách nhà nước
Thứ tư, cần bắt đầu tái cấu trúc theo từng ngành và sản phẩm kinh tế chủ lực từ đó hình thành phương án chung của cả nước; mở rộng quá trình cổ phần hóa các DNNN và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Cần đề cao vai trò của SCIC (Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước) trong việc chủ động mua bán các cổ phần doanh nghiệp để định hướng và thúc đẩy quá trình này
Về tổng thể và triển vọng dài hạn, quá trình tái cấu trúc này cần bảo đảm định hình và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XXI với 3 đặc trưng chủ yếu sau:
Thứ nhất, đó là nền kinh tế đa sở hữu, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tiếp tục là lực lượng sản xuất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, chủ yếu hoạt động trong những lĩnh vực thuộc độc quyền Nhà nước liên quan đến an ninh quốc phòng, khai thác các tài nguyên quý, hiếm, hoặc tham gia kinh doanh trong những ngành, lĩnh vực nhạy cảm quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, đảm bảo cơ sở cho sự ổn định lành mạnh và định hướng sự phát triển chung của nền kinh tế quốc gia Kinh tế tập thể sẽ tiếp tục được đổi mới và phát triển với nhiều hình thức hợp
Trang 3224
tác đa dạng, thực chất hơn, quy mô phù hợp với thực tiễn thị trường và năng lực của đơn vị; xuất hiện một số HTX tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ quy mô lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hình thành các liên hiệp HTX, hoạt động theo cơ chế thị trường, mang dáng dấp đời sống của một doanh nghiệp cổ phần; xuất hiện nhiều HTX chuyên ngành với kiểu tổ chức và cơ chế vận hành ngày càng đa dạng, khi đó một thể nhân hoặc pháp nhân đồng thời là xã viên của nhiều HTX khác nhau
Các loại hình trang trại và liên hiệp trang trại với quy mô lớn, kinh doanh tổng hợp kết hợp công - nông - lâm nghiệp và sinh thái sẽ trở thành mô hình có hiệu quả ở các vùng ngoại ô và địa phương Kinh tế có vốn ĐTNN sẽ tiếp tục phát triển theo hướng tăng cường cổ phần hóa, liên doanh, liên kết , những loại hình 100% vốn nước ngoài (kể cả các doanh nghiệp cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài với nhau) sẽ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong những lĩnh vực công nghiệp xuất khẩu nói riêng, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN nói chung; sẽ xuất hiện nhiều hơn các doanh nghiệp Việt Nam là đại
lý, chi nhánh hoặc công ty con của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, nhất là trong các ngành sản xuất phụ trợ Quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp được đẩy nhanh và diễn ra với quy mô ngày càng sâu, rộng, theo xu hướng thành
cơ cấu kinh tế 2 tầng – với tầng trên là các doanh nghiệp lớn, mạnh cả về tài chính, công nghệ, hoạt động xuyên quốc gia và tổ chức theo mô hình tập đoàn, công ty mẹ – con, còn tầng dưới là các doanh nghiệp vừa và nhỏ được chuyên môn hóa sâu và có quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn với các doanh nghiệp khác, đồng thời chủ động tham gia liên kết vào các khâu của chuỗi giá trị kinh doanh toàn cầu
Tính chất quốc tế hóa này bao phủ ngày càng đậm nét và xuyên suốt các quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, từ việc tiếp cận các yếu tố “đầu vào” (nguyên liệu, công nghệ, nguồn vồn, thiết bị máy móc, kể cả nhân lực), đến quá trình tổ chức quản lý bên trong doanh nghiệp (cơ cấu tổ chức, công nghệ quản lý, các tiêu chuẩn chất lượng), cũng như việc thực hiện
Trang 3325
“đầu ra” cho các hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp (thị trường, đối tác và các luật lệ, thể chế quốc tế) Sẽ ngày càng giảm dần sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế và tính chất trong nước - nước ngoài của các doanh nghiệp, cũng như các thị trường Các công ty cổ phần, đa sở hữu sẽ ngày càng trở thành hình thức chủ yếu trong tổ chức của doanh nghiệp Các công ty tư nhân và công ty có vốn đầu tư nước ngoài sẽ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn và có đóng góp ngày càng quan trọng hơn, trở thành động lực chính cho sự phát triển kinh tế tương lai của mỗi địa phương, cũng như cả nước Sự hợp tác, gắn kết kinh tế giữa các doanh nghiệp
sẽ ngày càng đậm nét và hiệu quả hơn, cũng như ngày càng trở nên phức tạp, với sự tham gia đồng thời của tất cả các doanh nghiệp với đủ loại hình, quy
mô, tính chất và trình độ phát triển khác nhau, ngày càng mang tính liên cấp, liên ngành, liên quốc gia trong sự tuân thủ các luật chơi và tiêu chuẩn chất lượng đồng nhất
Mỗi doanh nghiệp sẽ vừa có sự chuyên môn hóa sâu trong sản xuất kinh doanh, vừa có sự năng động cao, sẵn sàng điều chỉnh, thay đổi, đa dạng hóa các mẫu mã, sản phẩm, lĩnh vực sản xuất kinh doanh trước những biến động nhanh chóng của thị trường và đơn đặt hàng của đối tác Các doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi lực lượng lao động có trình độ, chất lượng cao Lao động trong các doanh nghiệp và trên thị trường lao động nói chung cũng sẽ có tính linh hoạt nhiều hơn và dần phù hợp với các chuẩn mực quốc tế Nhu cầu thành lập hiệp hội những người chủ sử dụng lao động sẽ ngày càng đậm nét Xuất hiện ngày càng phổ biến các hiện tượng phá sản, giải thể, chia tách và sáp nhập, mua bán chuyển nhượng các doanh nghiệp, các cổ phần, cổ phiếu doanh nghiệp; Bên cạnh đó, những khả năng và biểu hiện độc quyền kinh tế kiểu mới, phi truyề̀n thống, phi hành chính sẽ ngày càng hiện hình trong sự đa dạng, thậm chí rất tinh vi của nó Các tranh chấp và chấn động kinh tế, thương mại, lao động và các dạng tội phạm khác cả truyề̀n thống và phi truyề̀n thống, ngày càng mang tính quốc tế và liên ngành, có tổ chức hơn, trực
Trang 34sử dụng đồng bộ các công cụ kinh tế - hành chính (trong đó công cụ kinh tế thị trường là chủ yếu) điều chỉnh "nồng độ" môi trường đầu tư - kinh doanh
để định hướng hoạt động của các doanh nghiệp theo chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch đã thông qua, phù hợp đòi hỏi thị trường Các cơ quan tư pháp sẽ được củng cố, được tôn trọng và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn Các thiết chế thị trường sẽ được hình thành và phát triển đồng bộ, lành mạnh và ngày càng đóng vai trò bà đỡ, trực tiếp nuôi dưỡng, thẩm định và phán quyết hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các tổ chức đoàn thể, hiệp hội ngành nghề của doanh nghiệp cũng sẽ có sự phát triển, mở rộng quy mô, tính chất để trở nên có tính “mở” hơn, mang tính thị trường hơn, bao quát và thu hút ngày càng rộng rãi hơn các doanh nghiệp hội viên, không phân biệt nguồn gốc sở hữu, loại hình tổ chức và tính chất ngành nghề, địa phương Vai trò hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ sẽ ngày càng tăng và củng cố trong kinh tế, đồng thời mở rộng dần sang lĩnh vực xây dựng chính sách, cải thiện môi trường đầu tư và cả các lĩnh vực chính trị -
xã hội khác
Thứ ba, đó là nền kinh tế ngày càng hướng vào khai thác các động lực
và đáp ứng các yêu cầu phát triển theo chiều sâu và bền vững Khoa học công nghệ (nhất là công nghệ sạch, hiện đại), khả năng lao động tự giác, sáng tạo
và trách nhiệm đạo đức của người lao động được tôn trọng (đặc biệt là bộ phận nhân lực trình độ, chất lượng cao; các nhà hoạch định chính sách, nhà
Trang 3527
quản lý, nhà khoa học, tư vấn các doanh nhân, các chuyên gia và thợ giỏi )
và ngày càng trở thành động lực phát triển kinh tế mạnh nhất của đất nước Thông tin, khoa học - công nghệ và nhân tài trở thành động lực chính cho sự phát triển doanh nghiệp Giám đốc doanh nghiệp trở thành một nghề chuyên nghiệp Đồng thời, các doanh nghiệp thành công cũng thường là các doanh nghiệp xây dựng và bảo vệ thành công thương hiệu, cũng như văn hóa kinh doanh đặc sắc của mình và thực hiện tốt các trách nhiệm xã hội có liên quan của doanh nghiệp Các yêu cầu bảo vệ môi sinh, bảo vệ thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu chất phát thải và phế liệu sản xuất sẽ ngày càng được
đề cao, kiểm soát chặt chẽ với sự phát động, thúc đẩy và kiểm soát ngày cang nghiêm ngặt và hiệu quả hơn của bàn tay Nhà nước…Đặc biệt, sự phát triển các tiềm năng và tự do cá nhân; sự hợp tác và thịnh vượng về kinh tế; sự đồng thuận, dân chủ và gắn kết về xã hội trong một thế giới ngày càng “phẳng”, hòa hợp và thân thiện hơn với môi trường đang và sẽ ngày càng được coi là 3 trụ cột hợp thành chủ yếu, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của đất nước trong nền văn minh nhân loại đương đại
Điều quan trọng là cần chủ động tìm ra một hướng đi thích hợp, bền vững Đặc biệt, cần chủ động thực hiện hiệu lực và hiệu quả vai trò của bàn tay Nhà nước với tư cách người khởi xướng, định hướng và thúc đẩy chung, thông qua những Quy hoạch, kế hoạch, Đề án và Dự án tổng thể, chung và chuyên ngành thích hợp, cùng với sự hỗ trợ của các công cụ thuế, đầu tư, thông tin, các hoạt động đào tạo, xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh có tính định hướng cao, cũng như tăng cường các hoạt động điều tiết và giám sát khác giúp các doanh nghiệp Việt Nam tăng sức cạnh tranh trong kinh tế thị trường; bảo đảm ổn định hợp đồng và thị trường; tăng gắn kết kinh tế, giảm chi phí kinh doanh; phát triển theo hướng hiện đại hóa, quốc tế hóa và bền vững hơn
Tóm lại, đột phá về thể chế kinh tế đồng bộ với thể chế chính trị, cơ sở
hạ tầng, nguồn nhân lực và thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế vừa là yêu cầu
Trang 3628
cấp bách là định hướng chiến lược lâu dài; đồng thời, vừa là phương cách quan trọng nhất cho Việt Nam chủ động phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong tương lai
1.4.2 Nhu cầu về đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
Bước vào thế kỷ 21, khoa học và công nghệ đã có những phát triển mạnh mẽ với đòi hỏi cao của nền kinh tế tri thức Cục diện chính trị và kinh tế trên thế giới đã có những thay đổi cơ bản Xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa trong kinh tế và trên nhiều lĩnh vực khác là một thực tế khách quan Sự toàn cầu hóa trong kinh tế tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia Để phát triển kinh tế, các quốc gia đều phải cần đến nguồn nhân lực được đào tạo và đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao Vì lẽ đó, nhiều nước đã coi giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển Giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đại học nói riêng không chỉ cung cấp nguồn nhân lực tại chỗ cho mỗi quốc gia
mà còn cung cấp nguồn nhân lực xuất khẩu Xu hướng toàn cầu hóa trên nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục đại học đã tạo điều kiện cho nền giáo dục đại học Việt Nam phát triển, hội nhập Đó là thời cơ nhưng cũng là thách thức lớn đối với giáo dục đại học nước nhà
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa giáo dục, giáo dục cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 được xây dựng trên nền tảng triết lý: lấy học tập thường xuyên, học suốt đời làm nền tảng hướng tới xây dựng một “xã hội học tập”, với mục tiêu học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm người Triết lý giáo dục đó đã tạo ra sự đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Sự đổi mới đó đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức hệ thống giáo dục Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học, công nghệ và ứng dụng Phương pháp đào tạo ở trường đại học cũng đã có
Trang 3729
những thay đổi cơ bản từ chỉ truyền đạt tri thức độc thoại chuyển sang phân tích và tổng hợp Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội đã chuyển sang quan niệm là đầu tư phát triển
Việt Nam là một nước nằm trong khu vực phát triển và năng động trên thế giới đang tham gia tích cực vào qúa trình hội nhập quốc tế Sau khi gia nhập WTO, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một nâng cao Chính sách đổi mới đặc biệt là sự năng động về mặt kinh tế đã thu hút được
sự đầu tư của nhiều nước trên thế giới Sự cạnh tranh mạnh mẽ về mặt kinh tế đòi hỏi Việt Nam phải đào tạo nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt
là nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học công nghệ và lĩnh vực kinh tế
Đảng và Chính phủ Việt Nam đã coi giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu Vì vậy, đầu tư cho giáo dục được tăng dần Công cuộc đổi mới giáo dục đã đạt được nhiều thành tựu Quy mô và cơ cấu đã có những thay đổi lớn Công tác xã hội hóa giáo dục tăng quyền tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học được thực hiện ngày càng có kết quả tốt Lĩnh vực kinh tế và công nghệ luôn được Nhà nước quan tâm đầu tư phát triển Mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục 2010-2020 của Nhà nước đã chỉ rõ
“Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao” Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
X cũng nhấn mạnh “Phát triển khoa học và công nghệ phải đi ngay vào công nghệ hiện đại, chú trọng phát triển công nghệ cao để tạo đột phá Phát triển khoa học tự nhiên theo hướng tập trung nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, phát triển công nghệ cao nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên, chủ động phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn” Có thể nói rằng các lĩnh vực chuyên môn của trường đều gắn với chủ trương ưu tiên phát triển của Nhà nước và nhu cầu thực tế cấp bách của công cuộc xây dựng đất nước
Trang 3830
Cùng với quá trình chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng, quy mô giáo dục đại học trên phạm vi toàn thế giới tăng mạnh từ 14 triệu sinh viên (năm 1960) lên hơn 80 triệu sinh viên hiện nay Ở Việt Nam sau 17 năm quy mô giáo dục đại học tăng gấp hơn 7 lần (từ khoảng 300.000
sinh viên năm 1995 lên hơn 2.2 triệu sinh viên năm 2011) (Số liệu của Tổng
cục thống kê năm 2012)
Số trường đại học, cao đẳng cũng tăng mạnh từ 109 trường năm 1995
lên 419 trường năm 2011 (Số liệu của Tổng cục thống kê năm 2012)
Trang 3931
Trong bối cảnh sôi động của các xu hướng phát triển của đời sống xã hội hiện đại, giáo dục đại học ở nước ta đã và đang có nhiều cơ hội phát triển, đồng thời phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn đặc biệt là vấn đề giải quyết các mối quan hệ giữa quy mô, chất lượng và hiệu quả đào tạo; giữa đào tạo và nghiên cứu, dịch vụ; giữa nhu cầu và nguồn lực cho phát triển…Để giải quyết được các yêu cầu đó, giáo dục đại học ở nước ta đã và đang thực hiện các cuộc đổi mới và cải cách sâu rộng với các xu hướng sau:
Xu hướng đại chúng hóa: Chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng và phổ cập Quy mô giáo dục đại học tăng nhanh Tỷ lệ sinh viên đại học trong độ tuổi từ 18-26 ở nước ta chiếm chủ yếu
Xu hướng đa dạng hóa : Phát triển nhiều loại hình trường với cơ cấu đào tạo đa dạng về trình độ và ngành nghề theo hướng hàn lâm hoặc nghề nghiệp và công nghệ nặng về thực hành
Tư nhân hóa : Để tăng hiệu quả đào tạo và thu hút nhiều nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học, mô hình trường đại học tư thực, dân lập được phát triển mạnh mẽ
Phát triển mạng lưới các đại học nghiên cứu để trở thành các Trung tâm sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giao công nghệ mới, hiện đại Thông qua đào tạo và nghiên cứu để phát hiện và thu hút nhân tài khoa học, công nghệ
Đẩy mạnh các loại hình dịch vụ đào tạo liên kết, hợp tác quốc tế và khu vực Các trường đại học trở thành các cơ sở dịch vụ đào tạo nhân lực thu hút vốn đầu tư vào đào tạo từ nhiều nước Tiếp cận các mô hình đào tạo, các chương trình đào tạo tiên tiến trên thế giới
1.4.3 Chính sách phát triền giáo dục đại học và trách nhiệm xã hội của trường đại học
1.4.3.1 Chính sách phát triển giáo dục đại học của Việt Nam
Theo Điều 12 – Luật giáo dục đại học – được Quốc hội ban hành vào năm
2012, chính sách phát triển giáo dục đại học của nước ta như sau:
Trang 4032
Phát triển giáo d ục đại học để đào t ạo nhân lực có trình độ và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước
Tăng ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục đại học; đầu tư có trọng
điểm để hình thành mô ̣t số cơ s ở giáo dục đại học chất lượng cao, theo định hướng nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản, các ngành công nghệ cao
và ngành kinh tế - xã hội then chốt đạt trình đ ộ tiên tiến của khu vực và thế giới
Thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học; ưu tiên về đất đai, thuế, tín dụng, đào tạo cán bộ để khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học tư thục và
cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận; ưu tiên cho phép thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục có vốn đầu
tư lớn, bảo đảm các điều kiện thành lâ ̣p theo quy đ ịnh của pháp luật; cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục đại học vì mục đích vụ lợi
Gắn đào tạo vớ i nghiên c ứu và triển khai ứng du ̣ng khoa ho ̣c và công nghê ̣; đẩy ma ̣nh h ợp tác giữa cơ sở giáo dục đại học với t ổ chức nghiên cứu khoa học và với doanh nghiệp
Nhà nước đặt hàng và bảo đảm kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đối với cơ sở giáo dục đại học có tiềm lực mạnh về khoa học và công nghệ
Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có quyền và trách nhiệm tiếp nhận, tạo điều kiện để người học, giảng viên thực hành, thực tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Có chế độ thu hút, sử dụng và đãi ngộ thích hợp để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, chú trọng phát triển đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ và ch ức danh phó giáo sư, giáo sư của các cơ sở giáo dục đại học
Thực hiện chính sách ưu tiên đối với đối tượng được hưởng chính sách
xã hội, đối tượng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế