Đại học Quốc gia Hà Nội Trường đại học Giáo dục Lê Tường Vân Quản lý hoạt động dạy học dạy học môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại Trường trung học phổ thông dân lập nguyễn siêu
Trang 1Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường đại học Giáo dục
Lê Tường Vân
Quản lý hoạt động dạy học dạy học môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại Trường trung học phổ thông dân lập nguyễn siêu hà nội
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục
Hà nội – 2010
Trang 2Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường đại học Giáo dục
Lê Tường Vân
Quản lý hoạt động dạy học dạy học môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại Trường trung học phổ thông dân lập nguyễn siêu hà nội
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đặng Quốc Bảo
Hà nội – 2010
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Các phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG THPT 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài 7
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 7
1.2.2 Hoạt động dạy học 11
1.2.3 Môn tiếng Anh 14
1.2.4 Chất lượng- Chất lượng cao- Lớp chất lượng cao 15
1.3 Quản lý hoạt động dạy học 17
1.4 Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh 20
1.5 Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại Trường THPT 30
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH CHO LỚP CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TRƯỜNG THPT DL NGUYỄN SIÊU HÀ NỘI 36
2.1 Đặc điểm phát triển trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội 36
2.2 Thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh lớp chất lượng cao tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội 37
Trang 42.2.1 Thực trạng về nội dung chương trình học môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội 37 2.2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy môn tiếng Anh lớp chất lượng cao tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội 37 2.2.3 Thực trạng học sinh các lớp chất lượng cao và hoạt động học tập của
học sinh tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội 42
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
của lớp chất lượng cao tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội 43 2.3.1 Quản lý chương trình 43 2.3.2 Quản lý hoạt động dạy của giáo viên, việc đổi mới hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá 45 2.3.3 Quản lý hoạt động học của học sinh 54
2.3.4 Quản lý việc cung ứng các điều kiện phục vụ hoạt động dạy học 60
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại các lớp chất lượng cao trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội 62
Tiểu kết chương 2 64 Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH CHO LỚP CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÂN LẬP NGUYỄN SIÊU HÀ NỘI 65
3.1 Định hướng phát triển của Trường THPT DL Nguyễn Siêu trong bối cảnh hiện nay 65 3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý 66 3.3 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội 68 3.3.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của bộ môn Tiếng Anh cho các lớp chất lượng cao 68 3.3.2 Cụ thể hoá chương trình môn học phù hợp với điều kiện nhà trường và xây dựng kế hoạch giảng dạy, học tập nhằm thực hiện mục tiêu và chương trình
dạy học ……… 72 3.3.3 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV tiếng Anh…… 77 3.3.4 Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học đối với giáo
Trang 53.3.5 Tăng cường quản lý hoạt động học của học sinh và nâng cao khả năng tự học
của học sinh ……… 86
3.3.6 Tăng cường đầu tư, quản lý sử dụng có hiệu cơ sở vật chất, thiết bị phương tiện trong DH ……… 88
3.3.7 Xây dựng môi trường thân thiện và phối hợp các lực lượng trong trường và ngoài trường để nâng cao chất lượng dạy học……… 92
3.3.8 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn tiếng Anh……… 94
3.4 Thăm dò mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 98
Tiểu kết chương 3……….100
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ:……….101
1 Kết luận ……… 101
2 Khuyến nghị……… 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO………106 PHỤ LỤC
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn Trường đại học Giáo dục và các thầy giáo, cô giáo Trường đại học Giáo dục đã tận tình giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, đã giúp
đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội, Phòng Giáo dục - Đào tạo Quận Cầu Giấy cùng toàn thể các cán bộ quản lý trong Hội đồng Quản trị nhà trường, Ban giám hiệu, tổ chuyên môn, giáo viên và học sinh trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nôi đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Đặng Quốc Bảo đã tận tình hướng dẫn để tác giả hoàn thành luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng song luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo, và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng … năm 2010
Tác giả
Lê Tường Vân
Trang 7DANH TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang thực hiện công việc đổi mới với mục tiêu những thập niên đầu thế kỷ 21 là công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng dân giàu nước mạnh
Để thực hiện những mục tiêu trên chúng ta cần phải chuẩn bị hết sức chu đáo trong việc đổi mới và giáo dục Thực chất dân tộc ta đang chuyển từ nền văn minh lúa nước sang nền văn minh công nghiệp, tiếp cận và từng bước hội nhập vào nền văn minh hậu công nghiệp Nếu chúng ta không thực hiện nhanh chóng những mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì chúng ta sẽ gặp rất nhiều những khó khăn, bất lợi Chính vì vậy mà ngay từ bây giờ nhiệm vụ của giáo dục là hết sức quan trọng Giáo dục được coi là đồng nghĩa với sự phát triển Có thể khẳng định rằng không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá Chính là nhờ có giáo dục mà các di sản tư tưởng và kỹ thuật của thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau Các di sản này được tích luỹ ngày càng phong phú làm cho xã hội được phát triển
Trong những năm qua, việc dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp của học sinh còn hạn chế Nguyên nhân là do việc tổ chức dạy học ngoại ngữ ở các cấp học còn nhiều bất cập, một bộ phận giáo viên dạy ngoại ngữ còn hạn chế về năng lực chuyên môn, phương pháp chưa đổi mới, chưa thích ứng với sự thay đổi để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Hiện nay tiếng Anh hầu như đã được xem như là ngôn ngữ Quốc tế Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc dạy học ngoại ngữ trong các nhà trường Tiếng Anh là một trong những ngoại ngữ bắt buộc được đưa vào dạy học ở trường bậc học khác nhau trong
hệ thống Giáo dục quốc dân
Ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong quá trình hội nhập và phát triển Một trong những nhiệm vụ trong tâm và giải pháp nhằm phát triển giáo dục vững chắc và mạnh mẽ hơn trong thời gian tới đó là đổi mới việc quản lý tổ chức hoạt động dạy học ngoại ngữ trong
Trang 9hệ thống Giáo dục quốc dân để cung cấp cho thế hệ trẻ một phương tiện giao tiếp, học tập và làm việc hữu hiệu trong môi trường đa ngôn ngữ của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thực tế cho thấy việc dạy học tiếng Anh ngày nay ở nước ta đang phát triển với nhiều thuận lợi Số lượng người có nhu cầu học ngày càng tăng; Hệ thống tài liệu dạy học phong phú; Các trang thiết bị hỗ trợ dạy học đa dạng, hiện đại v.v Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập trong thực tế dạy học bộ môn này Người dạy, người học còn lúng túng trong việc lựa chọn tài liệu, phương pháp, phương tiện dạy học hữu hiệu nhất
Các nhà quản lý giáo dục đang tìm phương pháp quản lý hiệu quả tốt nhất đối với quá trình dạy học bộ môn tiếng Anh Quản lý hoạt động dạy học bộ môn này ở các lớp chất lượng cao tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội trong thời gian qua đã đạt được những thành quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập về thực hiện nội dung chương trình để phù hợp với trình độ học sinh, việc đổi mới phương pháp giảng dạy chưa được thực hiện đồng bộ, đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, trang thiết bị cho dạy học được đầu tư nhiều nhưng chưa được sử dụng có hiệu quả
Là một cán bộ quản lý phụ trách bộ môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội, bản thân tác giả nhận thấy việc nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường nhằm tìm ra các biện pháp có hiệu quả để khắc phục những hạn chế, khó khăn trong công tác quản
lý hoạt động dạy học bộ môn, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường là rất cần thiết Song để đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh, tác giả nghĩ cần phải đánh giá đúng thực trạng, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch dạy học và các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh khả thi, tạo nên sự đổi mới trong việc dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển đất nước
Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
cho lớp chất lượng cao tại trường Trung học phổ thông dân lập Nguyễn Siêu Hà Nội” với hy vọng tìm ra một hướng đi đúng để đưa môn tiếng Anh của trường có
chất lượng và hiệu quả
Trang 10Hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường Trung học phổ thông
Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động dạy học môn tiếng Anh lớp chất lượng cao tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội sẽ thực sự có kết quả nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý tác động đồng bộ và hệ thống đến các nhân tố của chương trình, người dạy, người học và cơ sở vật chất
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội
5.3 Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội
6 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề về lý luận và thực trạng các biện pháp quản lý
hoạt động dạy học môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại trường THPT DL
Nguyễn Siêu Hà Nội
- Tập trung khảo sát và nghiên cứu thực trạng với đối tượng là giáo viên trực tiếp giảng dạy, tổ trưởng chuyên môn và học sinh các lớp chất lượng cao
- Tiếp nhận những ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm về bộ môn
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn bản, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, Bộ,
Trang 117.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát (công việc dạy- học của giáo viên và học sinh)
- Phương pháp điều tra: Sử dụng mẫu phiếu điều tra với giáo viên học sinh viên, cán bộ quản lý về công tác quản lý hoạt động dạy học lớp chất lượng cao trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội
- Thống kê, phân tích các số liệu đạt được
- Các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ: Lấy ý kiến của các chuyên gia về lĩnh
vực nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục; Luận văn được trình bày trong 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại trường THPT DL Nguyễn Siêu Hà Nội
Trang 12Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG THPT 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử nhân loại con người đã thấy được lợi ích của quản lý Nhờ có
QL mà xã hội loài người đã tồn tại và phát triển với bao thành tựu đáng ghi nhớ
Cùng với sự phát triển đó, các tư tưởng QL cũng xuất hiện, hình thành và phát triển
theo: trên thế giới, trong nước, cả trong lĩnh vực kinh tế, chính trị và đặc biệt là giáo
dục Ngày nay được sự quan tâm đầu tư nghiên cứu vấn đề QL nói chung, QL giáo
dục nói riêng mà đặc biệt là QL giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành công
bước đầu rất đáng tự hào Nhiều công trình nghiên cứu về QL giáo dục của các tác
giả ở nước ta đã và đang được những thế hệ sau phổ biến, kế thừa và phát triển
Trong đó phải kể đến những tác giả nổi tiếng như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Cảnh
Toàn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Vũ Ngọc Hải , Đặng Bá Lãm, Đặng Quốc Bảo vv
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và xu thế hội nhập quốc tế, sự hiểu biết tiếng nói
của nhau đã trở thành một điều kiện không thể thiếu Có thể nói, sự toàn cầu hoá,
sự đổi mới công nghệ, đặc biệt là đổi mới công nghệ thông tin và nhu cầu học tập
suốt đời đã thôi thúc và giúp chúng ta tổ chức lại một cách cơ bản đời sống xã hội,
đưa loài người đến một nền kinh tế tri thức, nền văn minh trí tuệ Sự biến đổi này
tác động không nhỏ đến sự phát triển giáo dục Trong bối cảnh này giáo dục vừa
phải đảm bảo nhiệm vụ đào tạo người công dân tốt cho đất nước vừa phải đảm bảo
đào tạo thành viên tốt cho cộng đồng nhân loại Đặc biệt các trường trung học phổ
thông là cấp học mà mục tiêu thể hiện qua yêu cầu: học sinh học xong cấp trung học
phổ thông phải đạt được ở các mặt giáo dục: tư tưởng, đạo đức lối sống, học vấn
kiến thức phổ thông, hiểu biết kỹ thuật hướng nghiệp, kỹ năng học tập và vận dụng
kiến thức các mặt hoạt động
Đứng trước bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc dạy học
ngoại ngữ trong nhà trường Tiếng Anh là một trong những ngoại ngữ bắt buộc
được đưa vào dạy học ở nhiều bậc học khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân
Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của ngoại ngữ trong công cuộc xây
dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, Đảng và chính phủ đã có nhiều văn kiện về
việc đẩy mạnh việc dạy và ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta
Trang 13Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự hội nhập quốc tế và để mở cửa hướng ra thế giới, làm bạn với các nước trên thế giới, việc dạy và học ngoại ngữ càng trở lên cấp thiết hơn bao giờ hết
Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa 10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã yêu cầu xây dựng đề án dạy và học ngoại ngữ ở trường phổ thông đến năm 2010
Báo cáo của chính phủ tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XI (12/2004) cũng đã nêu: “Triển khai chiến lược dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, tập trung chủ yếu vào tiếng Anh, khuyến khích dạy và học ngoại ngữ thứ hai”
Điều 7, mục 3 của Luật giáo dục (sửa đổi), 2005 quy định: “Ngoại ngữ được qui định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế Việc tổ chức ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả”
Hiện nay, Ngoại ngữ, trong đó hầu hết là tiếng Anh, được dạy trong các trường phổ thông từ lớp 6 đến lớp 12 Ngoại ngữ đã trở thành một trong các môn thi tốt nghiệp trung học phổ thông
Trong văn bản Chuẩn chương trình giáo dục phổ thông, môn tiếng Anh (Ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT, ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT) đã xác định vị trí của môn tiếng Anh như sau:
Tiếng Anh, với tư cách là môn ngoại ngữ, là môn văn hóa cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông, là bộ phận không thể thiếu của học vấn phổ thông Môn tiếng Anh ở trường phổ thông góp phần phát triển tư duy (trước hết là
tư duy ngôn ngữ) và hỗ trợ cho việc dạy học tiếng Việt.Với đặc trưng riêng, môn tiếng Anh góp phần đổi mới phương pháp dạy học, lồng ghép và chuyển tải nội dung của nhiều môn học khác ở trường phổ thông
Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, môn tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông
Xu thế hội nhập đã đặt ra cho ngành giáo dục đối với dạy học ngoại ngữ là đào tạo ra nguồn nhân lực tầm cao, có khả năng sử dụng được ngoại ngữ thành thạo trong công việc chuyên môn của mình Chính vì vậy, quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào
Trang 14tạo trong nhà trường Quản lý tốt hoạt động này sẽ giúp giáo viên và học sinh có những bước đi đúng đắn trong từng khâu của quá trình dạy học nhằm đạt được các yêu cầu do mục tiêu giáo dục đề ra
1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.1.1 Quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực về quản lý đời sống xã hội, con người muốn tồn tại
và phát triển đều phải được dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội Quản lý là một cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội Lý luận về quản lý vì vậy được hình thành và phát triển quan các thời kỳ và trong các lý luận về chính trị, kinh tế xã hội Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần hình thành các
“lý thuyết quản lý” Từ khi F.W.Taylor phát biểu các nguyên lý về quản lý thì quản
lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh
nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất,
tổ chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: người quản lý và đối tượng bị quản lý
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tuỳ thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị Có thể điểm qua một số
lý thuyết đó như sau:
K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [26, tr.480]
Như vậy K.Marx đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động
để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình
Trang 15nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung
Khái niệm quản lý được giải trình từ nhiều góc độ Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [27,tr.35]
“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản
lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [27,tr.1]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song tựu chung các định nghĩa trên đều thống nhất: Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý; khách tghể quản lý (người
bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý và khách quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quản mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra
Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội bởi lẽ giáo dục là một hiện tượng xã hội, một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác, cùng giống như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng cần phải quản lý, dưới góc độ coi giáo dục là một hoạt động chuyên biệt thì quản lý giáo
Trang 16dục là quản lý các hoạt động của một cơ sở giáo dục như trường học, các đơn vị phục vụ đào tạo Dưới góc độ xã hội, quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội Khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu và được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của nhà quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” [11]
Trong cuốn Giáo dục học tác giả Phạm Viết Vượng đã viết: “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ biết sống và biết phấn đấu vì hành phúc của bản thân và xã hội” [36, tr.206]
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [27,tr.35]
Quản lý giáo dục có tính xã hội cao Bởi vậy, cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội: Kinh tế, Chính trị, Văn hoá, An ninh quốc phòng phục vụ công tác giáo dục
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng quản lý quan trọng nhất
Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thức đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội Trong QLGD, quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học, ngoài ra còn các mối quan hệ khác như quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa GV với HS, giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan
Trang 17Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo, thực hiện việc giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ Thành tích tập trung nhất của nhà trường là chất lượng và hiệu quả giáo dục, được thể hiện ở sự tiến bộ của học sinh, ở việc được mục tiêu giáo dục của nhà trường
Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường là cơ
sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước
“Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự cơ Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [27, tr.43]
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình DH, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận
Trang 18Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang phát triển lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào việc phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục
Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm:
+ Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HS
+ Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của Nhà nước đồng thời thực hiện xã hội hoá giáo dục, động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết
bị phục vụ các hoạt động giáo dục và DH
+ Quản lý đội ngũ các thầy giáo, cán bộ công nhân viên và tập thể HS thực hiện tốt các nhiệm vụ trong trương chình công tác của nhà trường
+ Quản lý tốt các hoạt động chuyên môn theo trương trình giáo dục của Bộ
GD và nhà trường Thực hiện nghiêm túc chương trình, đổi mới phương pháp giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng DH
+ Quản lý tốt việc học tập của HS Quản lý HS bao hàm cả quản lý thời gian
và chất lượng học tập, quản lý tinh thần và thái độ và phương pháp học tập
+ Quản lý việc kiểm tra và đánh giá
+ Quản lý việc chăm lo đến đới sống vật chất và tinh thần của tập thể GV, công nhân viên của nhà trường
Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường Vì vậy muốn thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục người quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng tới việc đổi mới công tác quản lý giáo dục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường
1.2.2 Hoạt động dạy học
Con người muốn tồn tại thì phải hoạt động Hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng các tác động vào đối tượng để tạo ra một sản phẩm nhằm thỏa
Trang 19Khái niệm về HĐDH: dạy học bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng; hoạt động dạy học của GV và hoạt động học tập của HS Trong đó dưới sự điều khiển của GV, người học tự giác, tích cực tự tổ chức điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những hoạt động dạy học Trong hoạt động dạy học, hoạt động học tập của HS có vai trò tự giác, chủ động tích cực Hoạt động dạy của
GV và hoạt động học tập của HS có liên hệ tác động lẫn nhau Nếu thiếu một trong hai hoạt động đó, việc dạy học sẽ không diễn ra Quản lý hoạt động dạy học là quản
lý hai hoạt động dạy và học trong mối quan hệ biện chứng thống nhất của chúng
Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Đó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giúp cho học sinh lĩnh hội được tri thức của xã hội loài người
Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và trong đời sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, yêu CHXN Ở trẻ em đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của học sinh sau này Vì vậy có thể nói hoạt động dạy học trong nhà trường đã tô đậm chức năng xã hội của nhà trường, đặc trưng cho nhiệm vụ của nhà trường và là hoạt động giáo dục trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục trong nhà trường Hoạt động dạy học có mối quan hệ biện chứng với nhau:
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội và với tự điều khiển trong học
Hoạt động dạy: Dạy là điều khiển quá trình trò chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó phát triển, hình thành nhân cách trò Dạy có hai chức năng: truyền đạt thông tin dạng học và điều khiển hoạt động DH
Hoạt động DH giúp trò lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học của trò, giúp trò nắm được kiến thức, hình thành kĩ năng, thái
độ Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển Nội dung, chương trình DH theo một quy định bắt buộc và được thống nhất trong mỗi cấp học Để đạt
Trang 20được mục đích, người dạy và người học đề phải phát huy các yếu tố chủ quan của
cá nhân (phẩm chất và năng lực của người dạy và người học) để xác định nôi dung, lựa chọn phương pháp, tìm kiếm các hình thức, các phương tiện dạy - học phù hợp
Hoạt động học: Học là quá trình trong đó dưới sự định hướng của người dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện Cũng như hoạt động dạy, hoạt động học có hai chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, bằng phương pháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa học 2耀 biến tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân
Nhưng để học đạt được hiệu qủa và tránh được những sai lầm thì học phải có
sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của thày Như vậy học cần phải diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy của thày, mối quan hệ này có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp tuỳ theo mức độ tự lực của người học, để đạt được mục đích cuối cùng của người học, đó là:
- Nắm vững tri thức khoa học
- Phát triển tư duy và năng lực hoạt động
- Hình thành thái độ, đạo đức và nhân cách, lý tưởng sống
* Mối quan hệ giữa hoạt động dạy - học
Hoạt động dạy học mang tính chất hai chiều, gồm hoạt động dạy và hoạt động học, đó là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại và bổ sung cho nhau, phối hợp chặt chẽ thống nhất với nhau giữa người dạy và người học Hoạt động dạy học diễn ra trong những điều kiện xác định, trong đó đóng vai trò chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả theo mục tiêu giáo dục đã xác định
Trong quá trình DH, quan hệ giữa thày và trò là vấn đề rất quan trọng và phức tạp Thày giáo là người điều khiển quá trình DH những trò là chủ thể nhận thức cũng như điều khiển hoạt động nhận thức của mình Quá trình điều khiển của thầy có mang lại hiệu quả hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào sự tiếp nhận của trò Như vậy, nguyên tắc “phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập của trò dưới sự chỉ
Trang 21Bản chất của quá trình DH: là sự thống nhất biện chứng của dạy và học, được thể hiện trong và bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và hợp tác giữa dạy và học tuân theo logíc khách quan của nội dung DH “Chỉ trong sự tác động qua lại giữa thày và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy - học Sự phá vỡ mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi sự toàn vẹn đó” [29,tr.23]
Hoạt động DH là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động khác trong nhà trường Hoạt động DH làm cho HS nắm vững tri thức khoa học một cách
có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và đời sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của HS, hình thành ở HS thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu CNXH, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của HS
1.2.3 Môn tiếng Anh
Tiếng Anh, với tư cách là môn Ngoại ngữ, là môn văn hóa cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông, là bộ phận không thể thiếu của học vấn phổ thông
Môn tiếng Anh ở trường phổ thông góp phần phát triển tư duy (trước hết là
tư duy ngôn ngữ) và hỗ trợ cho việc dạy học tiếng Việt Với đặc trưng riêng, môn tiếng Anh góp phần đổi mới phương pháp dạy học, lồng ghép và chuyển tải nội dung của nhiều môn học khác ở trường phổ thông
Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, môn tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông
Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông, môn tiếng Anh
Chương trình giáo dục phổ thông hiện nay đã quy định: ngoại ngữ (trong đó
có tiếng Anh) được dạy đại trà (môn học bắt buộc) ở cấp trung học cơ sở và THPT theo 2 loại chương trình: a) Chương trình chuẩn: 7 năm , với thời lượng 700 tiết (kế hoạch dạy học phân phối như sau: 4 năm học ở THCS: 385 tiết; 3 năm học ở THPT:
315 tiết); b) Chương trình nâng cao với thời lượng và phân phối như sau: 4 năm học
ở THCS: 385 tiết (như chương trình chuẩn); 3 năm học ở THPT: 420 tiết
Mục tiêu chương trình chuẩn:
Dạy học môn tiếng Anh ở trường phổ thông nhằm giúp học sinh:
Trang 22- Sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc viết
- Có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về tiếng Anh, phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí lứa tuổi
- Có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hóa của một số nước, con người, nền văn hóa và ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh, từ đó có tình cảm và thái độ tốt đẹp đối với đất nước, con người, nền văn hóa và ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh; biết tự hào, yêu quí và tôn trọng nền văn hóa ngôn ngữ của dân tộc mình
Môn tiếng Anh ở trường trung học nhằm giúp học sinh:
- Về kiến thức: Có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về tiếng Anh, phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí lứa tuổi
- Về kỹ năng: sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết
- Về thái độ: có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hóa của một số nước nói tiếng Anh, từ đó có tình cảm và thái độ tốt đẹp đối với đất nước, con người, nền văn hóa và ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh; biét tự hào yêu quí và tôn trọng nền văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc mình
Mục tiêu Chương trình nâng cao:
Ngoài những mục tiêu chung đã xác định trong chương trình chuẩn, chương trình nâng cao còn nhằm giúp học sinh sử dụng tiếng Anh tương đối thành thạo; có kiến thức tiếng Anh tương đối hoàn chỉnh và hệ thống nhằm đáp ứng yêu cầu khá chuyên sâu về khoa học xã hội và nhân văn
1.2.4 Chất lượng- Chất lượng cao- Lớp chất lượng cao
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, một sự việc Đó là tổng thể những thuộc tính
cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật và phân biệt nó với sự vật khác” Khái niệm chất lượng dùng để chỉ những giá trị vật chất, gia trị sử dụng của một vật phẩm, một sản phẩm trong hệ quy chiếu với một giá trị nào đó có tính quy ước, có tính xã hội Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu, mà nhu cầu thì luôn biến động nên chất lượng cũng luôn biến động theo thời gian không gian và điều kiện sử
Trang 23lượng là một khái niệm tương đối động, đa chiều và với những người ở các cương
vị khác nhau; có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó Ví dụ: đối với giáo viên và học sinh thì ưu tiên của khái niệm chất lượng là quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập Còn đối với người sử dụng lao động, ưu tiên về chất lượng của học là đầu ra tức là trình độ năng lực và kiến thức của học sinh
Có thể nói: “ Chất lượng là sự phù hợp với mục đích” hay “Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của cơ sở đào tạo” [12,tr.18]
* Chất lượng của quá trình giảng dạy - học tập:
Chất lượng giáo dục được xem xét từ quan điểm quản lý trọng tâm đặt vào các trường hiệu quả và phương pháp quản lý chất lượng tổng thể đối với cơ sở giáo dục đào tạo
Chất lượng bắt đầu bằng đào tạo và kết thúc cũng bằng đào tạo Đối với mỗi
cơ sở đào tạo (trường học), sản phẩm của họ chính là những con người được đào tạo Nhà trường có tạo dựng được và giữ vững được uy tín của mính hay không, có thu hút được nhiều người học hay không, người được đào tạo ra có đáp ứng được yêu cầu của xã hội hay không - tất cả đều phụ thuộc vào chất lượng của quá trình giảng dạy và học tập ở trường
Chất lượng quá trình dạy học là một tiêu thức phản ánh các mức độ của kết quả quá trình dạy học có tính liên tục từ khởi đầu của quá trình cho đến kết thúc quá trình đó
Chất lượng dạy học là sự thoả mãn tối đa các mục tiêu đã đặt ra đối với quá trình dạy học, là sự hoàn thiện trình độ kiến thức, kỹ năng thái độ theo mức độ đã xác định và khả năng đáp ứng yêu cầu xã hội hoặc cá nhân, đồng thời thoả mãn được yêu cầu đa dạng của kinh tế xã hội luôn phát triển
Mô hình giáo dục chất lượng cao, lớp chất lượng cao có nhiều quan điểm và
sự lựa chọn khác nhau:
- Đó là dạy học đáp ứng nhu cầu của xã hội về một chương trình chất lượng cao, theo kịp trình độ giáo dục của thế giới và khu vực Ví dụ dạy học so để khi hoàn thành chương trình, học sinh có đủ điều kiện để đi du học nước ngoài Trình
độ và bằng cấp của chương trình học tập được nước ngoài chấp nhận
Trang 24- Chất lượng cao còn có ý nghĩa giáo dục con người theo chuẩn mục mới ngang tầm quốc tế để có thể tiếp cận được thị trường lao động chất lượng cao khi nền kinh
tế hội nhập Đó là dạy học không những dạy kiến thức, có khả năng vượt qua các kỳ kiểm tra kiến thức để đi du học nước ngoài mà còn quan tâm dạy kỹ năng, xây dựng phong cách học tập hiện đại, đáp ứng yêu cầu học tập và làm việc theo chuẩn quốc
tế
- Đó là mô hình trong đó dịch vụ giáo dục được hiểu là sự chăm lo đến con người, đến học sinh, học tập kết hợp với vui chơi, rèn luyện thể chất, giáo dục văn hoá nghệ thuật, những dịch vụ ăn ở học cả ngày, thậm chí nội trú cả tuần giống như
mô hình nhà trường trong các nước công nghiệp phát triển
- Đó là mô hình nhà trường mà cơ sở vật chất ngang tầm quốc tế Cơ sở vật chất của nhà trường được thiết kế theo mô hình nhà trường hiện đại với chi phí cao
- Cũng có những sự lựa chọn mà chất lượng được xem xét chủ yếu dựa vào yếu
tố nước ngoài Càng đậm yếu tố nước ngoài thì càng cảm thấy chất lượng cao Ví dụ như trường của nước ngoài đặt tạiViệt Nam Trong trường ngôn ngữ tiếng Anh được sử dụng để dạy học và giao tiếp, một số môn học hay nhiều môn học do người nước ngoài giảng dạy
Như vậy sứ mạng của giáo dục thời kỳ hội nhập không còn là xóa mù hay phổ cập mà là cung cấp nền giáo dục có chất lượng cao Thực tế đã chứng minh, bên cạnh số lượng học sinh du học ngày càng tăng, các trường quốc tế và các chương trình quốc tế mở tại Việt Nam cũng thu hút rất nhiều học sinh tham gia Điều này cho thấy đã xuất hiện nhu cầu dịch vụ giáo dục chất lượng cao và một bộ phận phụ huynh sẵn sàng trả mức phí cao để con em họ được học tập tốt hơn Ngành giáo dục cần xây dựng những ngôi trường tiên tiến ngang tầm với khu vực và thế giới để đáp ứng yêu cầu chính đáng của phụ huynh học sinh Ngôi trường tiên tiến là mô hình nhà trường có sĩ số lớp học 20 - 30 học sinh, hội đủ điều kiện để thầy giáo thực hiện phương pháp giảng dạy tiên tiến
1.3 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động DH là quản lý một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố cấu trúc như: Mục đích và nhiệm vụ DH, nội dung DH, phương pháp DH và phương tiện DH, thày với hoạt động dạy, trò với hoạt động học tập và kiểm tra - đánh giá kết quả DH
Trang 25để điều chỉnh cho hiệu quả ngày càng tốt hơn Quản lý hoạt động DH là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Cụ thể hoá mục tiêu DH qua các nhiệm vụ DH nhằm nâng cao tri thức, kỹ năng, bồi dưỡng thái độ và hình thành phát triển những năng lực, phẩm chất tốt đẹp cho người học
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung DH Nội dung DH phải đảm bảo bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người học cần phải nắm vững trong quá trình DH
- Quản lý hoạt động giảng dạy của GV (Biên soạn giáo trình, giáo án, chuẩn
bị đồ dùng DH, lên lớp, kiểm tra HS học tập)
- Quản lý hoạt động học tập của HS (nề nếp, thái độ, kết quả học tập)
- Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động DH
1.3.1 Quản lý hoạt động dạy
Hoạt động dạy của thày là hoạt động chủ đạo trong quá trình DH, quản lý hoạt động này bao gồm: Quản lý việc thực hiện chương trình DH, quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, quản lý giờ lên lớp của GV, quản lý việc dự giờ và phân tích bài học sư phạm, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS Trong quá trình GD&ĐT, GV vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý của hoạt động giảng dạy
Quản lý hoạt động giảng dạy bao gồm một số nội dung quản lý cơ bản:
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy (nội dung, tiến trình)
- Quản lý giờ lên lớp và vận dụng PP, sử dụng phương tiện dạy học Hình thức dạy và học trên lớp hiện nay vẫn được coi là một trong các hình thức cơ bản và chủ yếu của quá trình dạy học Vì vậy chất lượng của hoạt động dạy học phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các giờ lên lớp của thày
- Quản lý việc thực hiện quy chế kiểm tra, đánh giá chất lượng Kiểm tra đánh giá là khâu quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động dạy học Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của trò là quá trình thu thập và xử lý trông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của người học, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợp giúp họ học tập tiến bộ
- Quản lý hồ sơ chuyên môn của các GV: là phương tiện giúp người quản lý nắm chắc được tình hình thực hiện nhiệm chuyên môn của các GV là một trong
Trang 26những cơ sở pháp lý đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn của họ Những hồ
sơ cơ bản cần phải có của mỗi GV gồm:
- Chương trình những phân môn được phân công giảng dạy
- Kế hoạch năm học: kế hoạch hoạt động chuyên môn chung của GV
- Kế hoạch giảng dạy môn học
- Giáo án
- Sổ dự giờ
- Sổ theo dõi chuyên cần và điểm của người học
- Hồ sơ nghiên cứu khoa học (bao gồm: Đăng ký đề tài, đề cương nghiên cứu,
tư liệu và kết quả nghiên cứu)
- Hồ sơ tự học, tự bồi dưỡng (kế hoạch, nội dung và tài liệu học tập)
Quản lý hoạt động dạy của thày là quản lý một quá trình chủ đạo của người thày trong quá trình DH, đòi hỏi người quản lý nhà trường phải hiểu nội dung, yêu cầu cần quản lý để đưa ra những quyết định quản lý vừa mang tính nghiêm chỉnh, chính xác, nhưng lại vừa là mềm dẻo linh hoạt để đưa hoạt động dạy của thầy vào
nề nếp kỷ cương nhưng vẫn phát huy được khả năng sáng tạo khoa học của GV trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình
1.3.2 Quản lý hoạt động học
Hoạt động học tập của HS là một hoạt động song song tồn tại cùng với hoạt động dạy của thày giáo
Quản lý hoạt động học tập của người học là quản lý việc thực hiện các nhiệm
vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập Người học vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý
Trong quản lý hoạt động học tập cần lưu ý tính phức tạp và tính trừu tượng
về sự chuyển biến trong nhân cách, do tác động đồng thời của nhiều yếu tố chủ thể
và khách thể, làm cho kết quả học tập của họ bị hạn chế
Quản lý hoạt động học tập có nội dung, yêu cầu cụ thể, vì vậy cần phải tăng cường việc KT-ĐG các hoạt động học tập của người học và hoạt động giảng dạy của người thày
Quản lý hoạt động học tập bao gồm: Quản lý học trên lớp, hoạt động tự học
và các hoạt động ngoại khoá
Trang 271.3.3 Quản lý cơ sở vật chất - thiết bị phục vụ dạy và học
Cơ sở vật chất là điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học đảm bảo được 3 yêu cầu liên quan mật thiết với nhau đó là:
- Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học
- Sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất- kỹ thuật trong việc dạy và học
- Tổ chức quản lý tốt cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nhà trường
Nội dung quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học trong nhà trường gồm:
- Quản lý trường lớp, phòng học, bàn ghế, bảng
- Quản lý các trang thiết bị phục vụ DH, hoạt động của các phòng chức năng
- Quản lý thư viện trường học với các sách báo, tài liệu
- Quản lý nguồn kinh phí, xây dựng nội quy và kế hoạch sử dụng trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐDH
1.4 Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh
1.4.1 Đặc trưng của hoạt động dạy học ngoại ngữ, dạy học tiếng Anh
* Bản chất của ngôn ngữ và dạy học ngoại ngữ
Ngôn ngữ là một trong những phương tiện hay công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người và bản chất của ngôn ngữ là thực hiện chức năng giao tiếp Hiện nay trên thế giới có nhiều ngôn ngữ khác nhau đang cùng tồn tại Mặc dù mỗi ngôn ngữ có những đặc điểm riêng về âm thanh, chữ viết, hình thức bên ngoài hay cấu trúc bên trong song tất cả các ngôn ngữ đều có chung một bản chất là làm công cụ giao tiếp cho dù ngôn ngữ đó có ít hay nhiều người sử dụng
Dạy và học ngoại ngữ thực chất là DH cách sử dụng một ngôn ngữ mới ngoài tiếng mẹ đẻ làm công cụ giao tiếp Bản chất của công cụ giao tiếp được thể hiện trong dạy và học ngoại ngữ qua: mục đích dạy và học ngoại ngữ là hình thành
và phát triển một ngôn ngữ mới như một công cụ giao tiếp, nội dung là dạy và học một công cụ giao tiếp bằng tiếng nước ngoài, phương pháp dạy và học là giúp HS chiếm lĩnh một công cụ giao tiếp mới và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là xem xét, đánh giá khả năng sử dụng ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp
Dạy và học ngoại ngữ phải mang mục đích kép là vừa hình thành và phát triển một công cụ giao tiếp mới vừa thông qua đó để tiếp thu những giá trị văn hoá
Trang 28của dân tộc có ngôn ngữ đang học Trong hai mục đích đó thì mục đích thứ nhất vừa là mục đích dạy và học ngoại ngữ vừa là cách thức hay con đường nhằm đạt được mục đích lâu dài hơn là mục đích thứ hai Điều này giúp cho quá trình dạy và
HS động hơn, hấp dẫn hơn, dễ dàng hơn và do vậy kết quả dạy và học sẽ nhanh hơn
và bền vững hơn
* Phương pháp dạy học ngoại ngữ
Ngày nay, dạy học ngoại ngữ đều theo đường hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp
Nó đáp ứng được những nhu cầu giao tiếp bằng ngoại ngữ qua hai kênh khẩu ngữ (nghe và nói) và bút ngữ (đọc và viết)
- Phương pháp DH nghe hiểu:
Có hai quan điểm về quá trình nghe hiểu: nghe từ dưới lên (nghĩa là, người nghe quan tâm đến thông điệp từ những đơn vị nhỏ nhất - âm đến hơn vị lớn nhất - văn bản) và quan điểm nghe hiểu từ trên xuống (nghĩa là, việc sử dụng kiến thức trong đầu hay là kiến thức không được nhập mã trực tiếp trong ngôn ngữ) Ngày nay cả hai quản điểm này đều được công nhận rộng rãi và phải được tích hợp lại và
sử dụng trong giảng dạy thì mới có thể nâng cao khả năng và hiệu quả nghe của HS Tuy nhiên, lúc nào sử dụng mô hình này nhiều hơn hay mô hình kia phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể Để kỹ năng nghe được dạy có hiệu quả, cần phải chia bài nghe làm ba giai đoạn: a) Giai đoạn trước khi nghe; b) Giao đoạn trong khi nghe; c) Giai đoạn sau khi nghe
- Phương pháp DH nói: Học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng, nói dường như là kĩ năng quan trọng nhất và khó phát triển nhất Trong tiếng Anh, những người biết một ngôn ngữ được coi là những “người nói của ngôn ngữ đó” (speaker of the language) Chính vì vậy mà các hoạt động phát triển khả năng tự diễn đạt của người học thông qua nói dường như là một thành phần quan trọng nhất trong việc học ngoại ngữ Giống như kĩ năng nghe, kĩ năng nói cũng được chia ra làm ba giai đoạn: a) Giai đoạn trước khí nói; b) Giai đoạn trong khi nói; c) Giai đoạn sau khi nói
- Phương pháp DH đọc: Giao tiếp không chỉ qua các kênh khẩu ngữ (nghe và nói) mà còn qua các kênh bút ngữ (đọc và viết) nữa
Trong học ngoại ngữ, đọc có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó cung cấp kiến
Trang 29kiểu đọc và các kiểu đọc này được phân chia dựa vào hai thông số chính: đọc theo phong cách và theo mục đích Đọc theo phong cách bao gồm đọc to và đọc thầm Đọc theo mục đích bao gồm đọc rộng, đọc sâu, đọc lướt, đọc quét
Để đọc có hiểu quả, kĩ năng đọc hiểu được chia làm ba giai đoạn: a) Giai đoạn trước khi đọc; b) Giai đoạn trong khi đọc; c) Giai đoạn sau khi đọc
- Phương pháp DH viết: Viết là một kĩ năng vô cùng phức tạp Trong khi viết, người viết phải có kiến thức và phải quan tâm đến nhiều nội dung như cú pháp (cấu trúc câu, danh giới câu, lựa chọn văn phòng), ngữ pháp (thì, thể, thức, và thái của động từ, sự hoà hợp giữa chủ ngữ, và động từ, mạo từ, đại từ), nội dung bài viết (lấy ý, bắt đầu viết, viết nháp, viết lại ), độc giả (ai sẽ là người đọc bài viết?) mục đích viết (viết để làm gì?), chọn từ ngữ, tổ chức bài viết, các khía cạnh cơ học Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh vào những đặc điểm của viết kết hợp với việc nghĩ viết
có thể được học như thế nào để phát triển đường hướng dạy viết cho lớp học ngoại ngữ Phương pháp thực hành dạy viết tiếng Anh là sự kết hợp của nhiều đường hướng trong đó có đường hướng viết giao tiếp và đường hướng viết theoquá trình được xem là chủ đạo Đường hướng này được dựa trên bốn điểm quan trọng như: tại sao lại viết?; người ta viết để giao tiếp với độc giả; người ta viết để hoàn thành những mục đích cụ thể; viết là một quá trình phức tạp Với quan điểm này, viết được xem như là một hành động giao tiếp
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự hội nhập quốc tế, ngoại ngữ trở thành công cụ quan trọng nhất của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Ngoại ngữ chính là chìa khoá để mở cánh cửa đến với thế giới, với khoa học công nghệ, với kinh tế toàn cầu và kinh tế tri thức
1.4.2 Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
1.4.2.1 Quản lý hoạt động dạy của giáo viên
* Quản lý các loại hồ sơ của giáo viên
Quản lý hồ sơ chuyên môn của GV: là phương tiện giúp cán bộ quản lý nắm chắc được tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các GV trong tổ bộ môn, đồng thời hồ sơ chuyên môn của các GV là một trong những cơ sở pháp lý đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn của họ Hồ sơ giáo viên gồm: kế hoạch giảng dạy
bộ môn, giáo án, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo, sổ điểm bộ môn, sổ dự giờ,
sổ báo giảng, sổ chủ nhiệm, kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng hội thảo chuyên môn
Trang 30* Quản lý việc phân công giảng dạy
Nắm vững được chất lượng đội ngũ: biết được mặt mạnh, mặt yếu, hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ thì không những sử dụng đúng người, đúng việc mà còn làm cho họ tự tin trong nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm Họ sẽ phấn khởi và
cố gắng hết sức mình để hoàn thành công việc được giao
Phân công giáo viên đúng khả năng sẽ đem lại kết quả giảng dạy tốt
Phân công giảng dạy: cần quan tâm tới khối lượng công việc của mỗi người, đặc điểm từng lớp, chất lượng của HS để đảm bảo hài hoà trong dạy học
* Quản lý việc thực hiện chương trình
Thực hiện chương trình dạy học là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo kế hoạch theo đúng tiến độ mục tiêu, nó là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Vì vậy yêu cầu giáo viên lập kế hoạch giảng dạy bộ môn, thường xuyên theo dõi việc thực hiện chương trình hàng tuần, hàng tháng thông qua hệ thống sổ đầu bài, sổ báo giảng và các hệ thống quản lý khác (thời khoá biểu, kiểm tra tiến độ thực hiện chương trình qua dự giờ )
Quản lý GV dạy đúng, dạy đủ các bài, đúng tiến độ và kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của HS theo đúng phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo đúng lịch từ đầu năm học Quản lý giờ lớp và vận dụng phương pháp, sử dụng phương tiện DH trong giảng dạy ngoại ngữ, thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo đường hướng lấy người học làm trung tâm; phát huy tính tích cực học tập của HS; dành nhiều thời gian cho luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết); phát huy hình thức luyện tập cá nhân, cặp nhóm GV giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn HS tự học và làm bài tập ở nhà
* Quản lý việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên
(Soạn giáo án, các đồ dùng thiết bị dạy học, các điều kiện khác )
Sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy Quản lý hoạt động giảng dạy của GV là một trong những yếu tố quan tâm hàng đầu đối với đào tạo THPT như việc thiết kế các giáo án điện tử, việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, sử dụng phương tiện dạy - học hiện đại, ứng dụng vào DH tiếng Anh
Kết quả của quá trình dạy học nói chung, các môn học, từng tiết học nói riêng phụ thuộc nhiều ở khâu chuẩn bị cho giờ lên lớp của giáo viên
Trang 31Quá trình chuẩn bị thể hiện ở một số công việc cơ bản: Soạn bài, chuẩn bị đồ dùng dạy học (nếu có), suy ngẫm lựa chọn phương pháp giảng dạy cho phù hợp từng bài dạy
Bài soạn phải đảm bảo theo đúng phân phối chương trình môn học Bài soạn phải đảm bảo truyền thụ để kiến thức, khoa học, chính xác, thể hiện rõ công việc của thầy và trò, phát huy tính tích cực của HS
Thông qua việc dự giờ để đánh giá kết qủa của việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên Giáo viên phải coi việc chuẩn bị lên lớp chu đáo là bước hữu hiệu cho thành công của giờ lên lớp
* Quản lý việc lên lớp của giáo viên
Xây dựng thời khoá biểu khoa học và sử dụng thời khoá biểu để quản lý giờ lên lớp của GV và có thể duy trì biện pháp quản lý lao động của giáo viên, tạo sự phối hợp nhịp nhàng của tổ chuyên môn
Tổ chức tốt hoạt động dự giờ, rút kinh nghiệm bài dự giờ
Kiểm tra giờ dạy của GV thông qua GV chủ nhiệm, phụ huynh HS, phỏng vấn HS, kiểm tra vở ghi để tìm hiểu việc thực hiện chương trình môn học ở lớp mà
GV đã dạy
* Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên
Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vì vậy, trong quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cần làm các công việc cụ thể sau:
Điều tra, đánh giá toàn diện giáo viên Tiếng Anh
Xây dựng chuẩn GV Tiếng Anh theo hướng kết hợp yêu cầu của mục tiêu đào tạo trong nước và chuẩn trình độ Quốc tế
Xây dựng chương trình, kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo lại số giáo viên hiện có
Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên nhằm nâng cao trình độ theo chuẩn cho đội ngũ GV với các hình thức phù hợp điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta
Nội dung bồi dưỡng phải tập trung vào những kiến thức, kĩ năng sử dụng Tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai và các kiến thức, kĩ năng phụ trợ khác như:
Kĩ năng sử dụng thiết bị đa phương tiện, khả năng khai thức Internet và các phần mềm chuyên dụng, phương pháp giảng dạy của bộ môn Tiếng Anh
Trang 32Một yếu tố không kém phần quan trọng là quản lý hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV, giúp GV nâng cao trình độ Nội dung của bồi dưỡng là cập nhật kiến thức, hướng dẫn GV việc đổi mới, áp dụng phương pháp DH mới và các hình thức DH có hiệu quả cao Để nắm bắt thêm PP giảng dạy mới, nâng cao chất lượng giờ lên lớp, mỗi GV đăng ký với nhà trường tự nghiên cứu cách dạy một trong những thể loại sau đây: Dạy trọng tâm ngôn ngữ; Dạy kĩ năng Nói; Dạy kĩ năng Nghe; Dạy kĩ năng Đọc; Dạy kĩ năng Viết Tổ, nhóm trưởng chuyên môn có thể điều chỉnh nội dung đăng ký để tránh trùng lặp Lập kế hoạch để các thành viên trình bày trước tổ, nhóm các nội dung trên, lên lớp minh hoạ, cho tổ nhóm dự, sẵn sáng trình bày, lên lớp trước hội giảng quận huyện hay thành phố khi cần
* Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra đánh giá là một bộ phận hợp thành, không thể thiếu đươc trong quá trình giáo dục ở tất cả các môn học Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh được tồn tại đồng thời với quy trình dạy học, đó là quy trình thu nhận và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của HS Trên cơ sở đó
đề ra những biện pháp phù hợp giúp HS học tập tiến bộ Để việc quản lý kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của HS đạt mục đích, cần: xác định trình độ ngoại ngữ của
HS so với mục tiêu đề ra; xem xét nội dung chương trình học có phù hợp với yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ DH Ngoài ra, việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập cho
HS cũng không ngừng đổi mới như hình thức thi trắc nghiệm trên máy tính, tự luận nhằm tránh thói quen học vẹt của HS, giúp cho HS có phương pháp tích cực trong học tập cũng như trong tư duy
Qua việc QL hoạt động kiểm tra đánh giá HS của GV, người quản lý sẽ nắm được chất lượng dạy và học của từng GV Nó là cơ sở để đánh giá quá trình và hiệu quả của người dạy lẫn người học Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi tình trạng dạy thêm học thêm đang tràn lan, khi trình độ của một số bộ phận GV còn hạn chế thì việc QL hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS là điều quan trọng Việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của HS là việc làm hết sức cần thiết của người QL nhằm tác động trực tiếp đến GV thực hiện đầy đủ và chính xác quá trình nâng cao hiệu quả dạy học theo mục tiêu.QL hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của HS phải đạt được những yêu cầu sau:
Trang 33Phải thực hiện nghiêm chỉnh quy chế chuyên môn trong nhà trường thông qua số điểm, đánh giá được chất lượng học tập của HS và giảng dạy của GV Từ đó rút ra được những vấn đề cần phải điều chình, uốn nắn và bổ sung giúp người QL chỉ đạo hoạt động này một cách đầy đủ, chặt chẽ hơn
Phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các văn bản hướng dẫn đánh giá xếp loại
HS theo quy định
Đánh giá xếp loại HS một cách công bằng, chính xác, tránh những biểu hiện không đúng trong việc đánh giá kết quả học tập của HS Trong quá trình kiểm tra - đánh giá người QL phân công nhiệm vụ cụ thể tới từng thành viên: Hiệu phó phụ trách chuyên môn, tổ trưởng, GV, các thành viên phải lập kế hoạch kiểm tra đánh giá một cách đầy đủ theo yêu cầu của chương trình, người QL thường xuyên kiểm tra xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của các thành viên để đảm bảo hiệu quả công việc đã đề ra, từng bước nâng cao được hiệu quả của công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của HS
1.4.2.2 Quản lý hoạt động học của học sinh
Quản lý hoạt động học tập của học sinh là quản lý việc thực hiện các nhiệm
vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập, học sinh vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể tự quản lý
Việc quản lý hoạt động học tập của HS là một trong những yếu tố không nhỏ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Hoạt động học tập của HS song song cùng tồn tại với hoạt động dạy của GV Quản lý hoạt động học tập của HS là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp và việc thực hiện các bài tập ở nhà Quản
lý hoạt động học tập của HS cần đạt được những yêu cầu sau:
Xây dựng động cơ học tập cho HS Bất cứ hoạt động nào của con người cũng đều có mục đích, có động cơ Động cơ là nhân tố thúc đẩy, định hướng và duy trì hoạt động tự học của HS Theo thuyết nhu cầu được xếp từ thấp tới cao: nhu cầu cơ bản sinh học; nhu cầu về an toàn, nhu cầu về được thừa nhận, nhu cầu về sự thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện, động cơ học tập của HS cũng
có nhiều thứ bậc khác nhau: bắt đầu từ nhu cầu phải hoàn thành các nhiệm vụ học tập, tự khẳng định mình, cơ hội có việc làm và công danh sự nghiệp, nhu cầu học để biết, để khẳng định, để thể hiện mình Động cơ là tiền đề là điều kiện cho việc học tiếng Anh của HS Việc xây dựng động cơ tích cực học tập cho HS là nội dung cơ
Trang 34bản, rất quan trọng của công tác quản lý hoạt động học tiếng Anh của HS Phải làm cho HS có động cơ và thái độ đúng đắn trong học tập và có ý thức tự giác tìm tòi, nghiên cứu, chủ động lĩnh hội kiến thức
Quản lý PP học tập ngoại ngữ của HS: tổ chức hướng dẫn HS tìm ra phương pháp học môn tiếng Anh một cách hiệu quả Phương pháp học tập có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập và đáp ứng được mục tiêu của giáo dục phổ thông Ngoài hướng dẫn HS tự học, tự nghiên cứu, động viên HS và giúp
HS tham gia vào các hoạt động giao tiếp tích cực, chủ động, sáng tạo và với tinh thần hợp tác cao HS cần luyện tập thực hành giáo tiếp một cách có ý thức trong hoạt động học tập trên lớp và tự học
Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động học ngoại ngữ của HS: việc xây dựng kế hoạch, thực hiện mua sắm và sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật hiện đại trong dạy - học ngoại ngữ sẽ thu hút, kích thích HS tham gia học ngoại ngữ tốt hơn Để tăng cường hiệu quả học tập phải đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất như: lớp học, phòng tự học, thư viện, tài liệu tham khảo và các trang thiết bị cho HS tự học ngoại ngữ như: đài cát xét, đầu video, băng hình
1.4.2.3 Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ dạy học
Cơ sở vật chất luôn là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện tốt mục tiêu môn học Cơ sở vật chất cũng được coi như là phương tiện để phục vụ việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh theo xu hướng giao tiếp, nâng cao hiệu quả quá trình dạy học tiếng Anh Quản lí cơ sở vật chất có nghĩa là quản lí thực trạng trang thiết bị dạy học ngoại ngữ hiện có
Xây dựng danh mục thiết bị đạt tiêu chuẩn
Biên soạn tài liệu hướng dẫn và tổ chức huấn luyện về sử dụng trang thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy
Xây dựng các phần mềm chuyên dụng phục vụ dạy học tiếng Anh
Phối hợp, phát huy tác dụng các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học tiếng Anh
Tóm lại, nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh là quản lý một quá trình với một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố như: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, chương trình, các hoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò, kiểm tra
Trang 35đánh giá kết quả dạy học Hai quá trình này đã ghi nhận được mục tiêu, kế hoạch hoạt động giáo dục của mỗi cấp học
Xuất phát từ mục đích, yêu cầu và dựa trên cơ sở lí luận dạy học, bộ môn Tiếng Anh trong chương trình giáo dục nói chung qui định những nội dung thiết yếu nhất các mặt: Giáo dục tư tưởng đạo đức, bồi dưỡng tri thức văn hoá và rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Anh Các nội dung này liên quan chặt chẽ với nhau, hợp thành một thể thống nhất với hạt nhân trung tâm là kỹ năng giao tiếp để thông qua hoạt động dạy học tạo nên ở mỗi người học khả năng tiếp bằng Tiếng Anh được tốt hơn
1.5 Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại Trường Trung học phổ thông
1.5.1 Yêu cầu xã hội đặt ra với việc dạy học tiếng Anh
Trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập với khu vực và quốc tế Trong những điều kiện cần thiết để hội nhập và phát triển thì ngoại ngữ là điều kiện tiên quyết, là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu Biết ngoại ngữ có thể giúp được chúng ta học hỏi kinh nghiệm hay của các nước đi trước, rút ngắn quãng đườc phải mầy mò, tránh lặp lại những bước đi không cần thiết trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mặt khác cũng tạo ra cơ hội cho từng người dân có thể lựa chọn, tìm kiếm việc làm trong nước và nước ngoài, giúp con người phát triển những giá trị nhân văn , đặc biệt là tạo cơ hội cho thế hệ trẻ của nước ta có thể theo học, nghiên cứu mở mang kiến thức ở bât cứ nơi đâu hứa hẹn một tương lai tốt đẹp cho cá nhân họ và những cống hiến thực sự cho đất nước Để hoà nhập vào sự phát triển chung của xã hội, tìm cho mình một chỗ đứng thực sự trong thế giới ngày này, chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn, Đảng và Chính phủ đã có nhiều chỉ thị đẩy mạnh việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta nhằm phục vụ tích cực hiệu quả sự nghiệp cộng nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Đại hội toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Con người và nguồn nhận lực là yếu tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo” Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ của các nhà trường
Trang 36trung học là đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá Nguồn nhân lực này chính là những người có khả năng thường xuyên cập nhật được kiến thức của mình, chiếm lĩnh được những trình độ chuyên môn mới, và không những có khả năng tìm được việc làm mà còn có khả năng tạo ra được việc làm trong một thị trường sức lao động đầy biến động
1.5.2 Mục tiêu dạy học tiếng Anh trong trường Trung học phổ thông
Trong thời đại hội nhập hiện nay, ngoại ngữ và tin học đóng vai trò quan trọng, ngoại ngữ là phương tiện chính để chúng ta giao tiếp với các dân tộc khác để chúng ta hiểu biết họ, tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật của họ, cảm thụ cái hay trong văn hóa của họ, từ đó chúng ta có thể học hỏi, hợp tác với họ trong các lĩnh vực
Xuất phát từ thực tế hội nhập của Việt Nam, mục tiêu chung của dạy học ngoại ngữ là: “thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đảm bảo đến năm 2015 nâng cao rõ rệt trình độ ngoại ngữ của một số đối tượng ưu tiên, đồng thời triển khai chương trình dạy học ngoại ngữ đối với các cấp học và trình độ đào tạo, tạo điều kiện để đến năm 2020 tăng đáng kể
tỉ lệ thanh niên Việt Nam có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ, đa văn hóa phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Dạy và học tiếng Anh ở trường phổ thông giúp HS:
- Sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết Có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về ngôn ngữ tiếng Anh, phù hợp với trình độ, đặc biệt tâm lí lứa tuổi
- Có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hoá của một số nước nói tiếng Anh, từ đó có tình cảm và thái độ tốt đẹp đối với đất nước con người, nền văn hoá và ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh; biết tự hào, yêu quí và tôn trọng nền văn hoá và ngôn ngữ dân tộc mình
- Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, phát triển tư duy và hình thành phương pháp học tập mới
Nhận thức được tầm quan trọng của môn tiếng Anh, nhiều gia đình tạo điều kiện tối đa cho con có thể học tiếng Anh ở những cơ sở có chất lượng tốt Chính vì
Trang 37cũng đòi hỏi trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên càng ngày càng phải nâng cao để đáp ứng yêu cầu xã hội Đối với học sinh thì rất nhiều em tìm được hứng thú thực sự trong việc học ngoại ngữ vì các em có động cơ học tập đúng đắn, có môi trường học tập tốt
1.5.3 Đặc trưng dạy học tiếng Anh tại trường THPT và tại các lớp chất lượng cao
1.5.3.1 Kế hoạch hoá thực hiện chương trình
Có thể nói hoạt động dạy học NN cho các lớp chất lượng cao tại trường THPT Hà Nội luôn đi theo chu trình như thể hiện trong sơ đồ do GS Nguyễn Đức Chính xây dựng sau đây:
Sơ đồ 1: Hoạt động dạy học Ngoại ngữ trong các trường Trung hoc
Trang 38Tiếp thu ý tưởng của GS Nguyễn Đức Chính, tác giả xin cụ thể về bối cảnh tình hình thực tiễn của nhà trường với sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Hoạt động chỉ đạo dạy học môn tiếng Anh cho các lớp chất lƣợng cao
Thăm dò khảo sát yêu cầu
xã hội
Xác định mục tiêu
Cụ thể hóa nội dung chương trình
Thiết kế nội dung dạy học (Tổ chức dạy học cho phù hợp với đối tượng)
Lựa chọn phương
pháp giảng dạy Lựa chọn phương pháp học tập
Kiểm tra đánh giá (tổng kết) kết quả học tập Thiết lập hình thức dạy học
Giám sát - Kiểm tra – Đánh giá thường xuyên
Trang 39Trước đây sách giáo khoa của HS được coi là nguồn duy nhất chứa đựng nội dung dạy và học tiếng Anh, là phương tiện tiềm ẩn chứa đựng các phương pháp dạy của GV và phương pháp học của HS Sách giáo khoa cũng là nền tảng của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Quan điểm dạy cho rằng toàn bộ hoạt động dạy và học trong nhà trường
được thể hiện qua chương trình môn học là tổ hợp các kinh nghiệm và hoạt động
được tổ chức trong một môi trường sư phạm nhất định nhằm hình thành và phát triển ở HS những năng lực trí tuệ đạo đức và thẩm mỹ cần thiết cho HS
Chương trình tiếng Anh ở trường phổ thông được biên soạn theo 6 chủ đề, được lặp lại và có mở rộng từ lớp 6 đến lớp 12 Dưới chủ đề là các chủ điểm Hệ thống chủ đề và chủ điểm là cơ sở hình thành và phát triển các khả năng ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng ngữ pháp, cần quán triệt các phương pháp DH cơ bản sau:
GV tổ chức và hướng dẫn HS tham gia tích cực vào qúa trình học tập thông qua các hoạt động cá nhân, theo cặp và nhóm GV cần kết hợp hài hoà các phương pháp và kỹ thuật DH, sử dụng hiệu quả các thiết bị đồ dùng DH và các tài liệu hỗ trợ nhằm tạo hứng thú học tập cho HS GV cần sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách hợp
lý và có hiệu quả trong quá trình dạy học
HS là chủ thể của hoạt động học tập HS tham gia học tập và hoạt động giao tiếp tích cực, chủ động, sáng tạo và với tinh thần hợp tác cao HS cần luyện tập thực hành giao tiếp một cách có ý thức trong hoạt động học tập trên lớp và tự học
Việc lựa chọn phương pháp DH cần phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình, đối tượng đào tạo Phải kết hợp nhiều phương pháp và luôn sáng tạo để phù hợp với từng tiết dạy GV phải tìm cách dẫn dắt HS thâm nhập vào môi trường ngôn ngữ, nhận thức các hiện tượng và hành vi ngôn ngữ để từ đó hình thành các kỹ năng nói, nghe, đọc, viết
1.5.3.2 Tổ chức phân công
Tổ chức phân công hoạt động dạy học là khâu rất quan trọng để làm cho việc dạy học tiếng Anh đạt được chất lượng và hiệu quả Giáo viên bộ môn tiếng Anh được biên chế vào tổ tiếng Anh với một tổ trưởng, một tổ phó và đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của một phó hiệu trưởng Trình độ giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn
Trang 40- Kế hoạch phân bổ quỹ thời gian: Thời lượng giảng dạy là một điều kiện đầu tiên ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Để đạt được mục đích cuối cùng hoặc mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn đều phải có một quỹ thời gian tương ứng dùng vào việc luyện tập hình thành các kỹ năng giao tiếp theo yêu cầu của mục tiêu Đồng thời các lớp chất lượng cao được tăng cường thời lượng học với giáo viên nước ngoài giúp học sinh rèn luyện 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết chuẩn và có thể giao tiếp được với người nước ngoài một cách tự tin, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học song ngữ và thi lấy chứng chỉ du học hoặc học tập và làm việc sau này
- Phân bổ nội dung: Sau khi xác định rõ các giai đoạn và phân bố thời gian cho từng giai đoạn, việc tiếp theo là phân bố nội dung chương trình cho phù hợp với thời gian của từng giai đoạn Bài học ngoại ngữ là một đơn vị cơ bản trong quá trình dạy học Việc phân bổ nội dung bài học và thời gian càng chi tiết và khoa học thì hiệu quả dạy học càng cao
ra hiệu quả trong công việc Nội dung chủ yếu của chức năng chỉ đạo: Quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai nhiệm vụ phải bảo đảm thiết thực, phù hợp và cụ thể với những khả năng và trình độ của từng thành viên trong toàn bộ hệ thống trên cơ
sở sự dụng đúng đắn các quyền của người quản lý
Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích lao động, điều này có tác động như quá trình tạo động cơ làm việc của mọi thành viên Người quản lý cần có tác động cần thiết tới các đối tượng để biến các yêu cầu của tập thể thành nhu cầu hoạt động của mọi người Khi đó mọi người sẽ thể hiện được hết khả năng và công