ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ NGA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ NGA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG QUỐC BẢO
HÀ NỘI - 2009
Trang 21.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 9
Trang 31.4.1 Vị trí, vai trò của công tác quản lý sinh viên trong các trường đại học 28
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN KHOA NN&VH NGA TRƯỜNG ĐHNN -
ĐHQGHN
34
2.1 Khái quát về trường ĐHNN-ĐHQGHN 34
2.2 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên khoa NN&VH
Nga trường ĐHNN-ĐHQGHN trước yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
43
2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên
khoa NN&VH Nga
54
2.3.1 Thực trạng về công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận
thức về vai trò tự học
54
Trang 42.4.1 Những điểm mạnh 63
Chương 3 NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN KHOA NN&VH NGA TRƯỜNG ĐHNN-ĐHQGHN
ĐÁP ỨNG YẾU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
3.2.1 Biện pháp 1 Thay đổi nhận thức của giảng viên và sinh viên
trước yêu cầu dạy và học theo học chế tín chỉ lấy tự học làm cốt, tăng
cường trao đổi, thảo luận và có chỉ đạo chặt chẽ
67
3.2.2 Biện pháp 2 Xây dựng hệ thống cố vấn học tập có chất lượng
hướng dẫn sinh viên tự học có hiệu quả
71
3.2.3 Biện pháp 3 Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên thúc
đẩy giảng viên cải tiến phương pháp giảng dạy giúp sinh viên tự học tốt
75
3.2.4 Biện pháp 4 Hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp
với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ tạo điều kiện cho sinh viên tự học
79
3.2.5 Biện pháp 5 Phối kết hợp đồng bộ giữa các đơn vị chức năng
hướng tới hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ
81
3.3 Mối liên quan của các biện pháp 84
3.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 86
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Nhân loại đang bước vào thế kỷ 21 với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ Kinh tế tri thức đang ngày càng mở rộng, với quá trình toàn cầu hoá có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia,
mỗi dân tộc, từng cộng đồng, từng gia đình và cá nhân
Việt Nam chúng ta cũng đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp, văn minh hiện đại và hội nhập quốc tế Điều đó đặt ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục- đào tạo là phải “…đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự
học, khả năng thực hành, lòng say mê và ý chí vươn lên”
Tự học là một yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi công dân nói chung, thế hệ trẻ, sinh viên nói riêng Tự học đã trở thành vấn đề cấp thiết đối với giáo dục và đào tạo nước ta Hoạt động tự học có ý nghĩa quyết định biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Để hoạt động tự học của sinh viên đạt được những thành quả như mong đợi thì đổi mới công tác quản lý giáo dục được xem như giải pháp quan trọng
Chuyển đổi phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ tạo sự thay đổi lớn về phong cách, thói quen dạy - học của cả thầy và trò Đối với hình thức đào tạo này thì khối lượng giờ dạy trên lớp sẽ giảm đi, mà giờ tự học, tự nghiên cứu của sinh viên sẽ tăng lên Vì vậy việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên có vai trò hết sức quan trọng, mang tính quyết định hiệu quả chất lượng đào tạo
Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga nói riêng và trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung, trong các hội thảo về nâng cao
Trang 7chất lượng học tập của sinh viên, hội nghị nghiên cứu khoa học cũng đã nhiều năm đề cập đến vấn đề tự học của sinh viên … và làm thế nào để kích thích sinh viên ngoại ngữ tích cực hơn nhằm nâng cao kết quả học tập Đồng thời cũng đã có một số giải pháp như: đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, tính sáng tạo, đặc biệt là công tác quản lý, tổ chức của trường đối với hoạt động tự học song các biện pháp đó chưa được chú ý và quan tâm đúng mức nên kết quả vẫn chưa được như mong muốn Do vậy, ngoài việc đổi mới phương pháp dạy học thì việc cải tiến một số biện pháp trong công tác quản lý để nâng cao hoạt động tự học cho sinh viên của trường
là một vấn đề cấp thiết Nhất là trong giai đoạn hiện nay, trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đang chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ thì vấn đề tự học càng trở nên là vấn đề đặc biệt quan tâm
Chính vì vậy tôi đã chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài: “Quản lý
hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tự học của sinh viên các trường đại học 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa
Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên
Trang 8- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
5 Giả thuyết khoa học
Nếu tìm được biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp, đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ thì chất lượng hoạt động học tập của sinh viên sẽ được nâng cao, đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
6 Phạm vi đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội từ năm học 2006-2007 đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Thu thập, nghiên cứu, phân tích xử lý tài liệu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp chuyên gia
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ:
- Sử dụng công cụ thống kê để xử lý số liệu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Trang 9Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ
và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội theo học chế tín chỉ
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ
và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
Trang 10Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những quan điểm về tự học:
Trong lịch sử phát triển giáo dục, tự học là vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ lâu cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phát huy vai trò của người học và nâng cao chất lượng của hoạt động tự học Song từng giai đoạn lịch sử nhất định, ở mỗi quốc gia tự học được nghiên cứu đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau
Khổng Tử (551-479 trước công nguyên), nhà tư tưởng nổi tiếng và nhà
sư phạm vĩ đại của Trung Quốc, về phương pháp giáo dục ông đã đề cao việc
tự học, tự luyện, tu nhân, trú trọng phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nội sinh Đề cập đến việc học tập, Khổng Tử xác định “Học nhi thời tập chí”, việc học tập theo ông phải gắn liền với thực hành để thông suốt những điều đã học Ông đề cập và nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tư duy trong học tập, ông cho đó là hai yếu tố ràng buộc không thể thiếu của một vấn đề: “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi” Ông cho rằng học mà không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công Do vậy, với ông việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau
Socrat (469-309 trước công nguyên) đã từng nêu khẩu hiệu “Anh hãy
tự biết lấy anh” qua đó, mong muốn học trò phát hiện ra “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để dần dần tìm ra kết luận
Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế
kỷ XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm về quá trình “Nhận biết dạy- học”, và ông chủ trương rằng người học phải là người tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy - học” Theo ông
“Sự học tập do người học chủ đạo”
Một trong những đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội học tập
là tư tưởng tự học tập suốt đời Vì “việc học không bao giờ là muộn” (Ngạn
Trang 11ngữ), hay “Bác học không có nghĩa là ngừng học” (Đác-uyn) Quan niệm tự học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa khoá mở cửa đi vào thế kỉ 21 - thế giới của nền kinh tế tri thức
Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm trong tự học, tự rèn luyện Người luôn cho rằng học tập giúp con người tiến
bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi hiệu quả lao động Người đã động viên toàn dân: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập
là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được do đó
mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập”
Khi bàn về vấn đề tự học, giáo sư Tạ Quang Bửu cũng đã viết “Tự học
là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng sự sáng tạo Ai giỏi tự học ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, người đó sẽ tiến
xa hơn”
Tự học - tự đào tạo là một vấn đề được nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thức VIII và Trung ương II (khoá VIII) đề cập đến rất đậm nét: “Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, sáng tạo của học sinh” (NQĐH VIII), “bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển mạnh phong trào tự học - tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân…”
Trong bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc
tế hiện nay, nhất là khi nước ta chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), đã đặt ra những yêu cầu mới cho giáo dục và đào tạo Đòi hỏi GD-ĐT phải tự đổi mới Một trong những nội dung đổi mới giáo dục được đề cập nhiều hơn cả là đổi mới phương pháp dạy - học, nhất là phương pháp học tập - tự học
Trong khoa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về vấn đề
tự học như: “Quá trình dạy - tự học” của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, giáo sư
Vũ Văn Tảo; “Luận bàn về kinh nghiệm tự học” của giáo sư Nguyễn Cảnh
Trang 12Toàn, “Tự học - chìa khoá vàng của giáo dục” của giáo sư Phan Trọng Luận,
và nhiều công trình nghiên cứu về tự học của các giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu giáo dục như: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức…với mục đích nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
1.1.2 Những quan điểm dạy và học theo tín chỉ:
Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống, vào năm 1982 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách rộng rãi Có thể xem đó là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ
Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường đại học Hoa Kỳ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thống tín chỉ trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Ấn Độ… Tại Trung Quốc từ cuối thập kỷ 80 đến nay hệ thống tín chỉ cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học Vào năm
1999, 29 Bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh
Châu Âu đã ký Tuyên ngônBoglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục
đại học Châu Âu thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan
trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế tín chỉ trong toàn hệ thống giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho việc cơ động hoá, liên thông hoạt động học tập của sinh viên trong khu vực Châu Âu và trên thế giới
Trước năm 1975, một số trường đại học chịu ảnh hưởng của Mỹ tại Miền Nam Việt Nam đã áp dụng tín chỉ: Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức…
Trang 13Trong quá trình “Đổi mới” ở nước ta từ cuối 1986 chuyển nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, GDĐH ở nước ta cũng có nhiều thay đổi Hội nghị Hiệu trưởng đại học tại Nha Trang hè 1987 đã đưa ra nhiều chủ trương đổi mới GDĐH, trong đó
có chủ trương triển khai trong các trường đại học quy trình đào tạo 2 giai
đoạn và môđun hoá kiến thức Theo chủ trương đó, học chế “học phần” đã ra
đời và triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳng nước
ta từ năm 1988 đến nay Học chế học phần được xây dựng trên tinh thần tích
luỹ dần kiến thức theo các môđun (môn học) trong quá trình học tập, tức là
theo ý tưởng học chế tín chỉ xuất phát từ Mỹ Tuy nhiên, về một số phương diện, học chế học phần chưa thật sự mềm dẻo như học chế tín chỉ của Mỹ, do
đó nó được gọi là “sự kết hợp niên chế với tín chỉ”, tuy nhiên những khó khăn
về đời sống xã hội nói chung và trong các trường đại học nói riêng lúc đó chưa cho phép đặt vấn đề thực hiện học chế môđun hoá triệt để
Vào năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nước và của các trường đại học có phần dịu bớt, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương tiến thêm một bước, thực hiện học chế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chế tín chỉ của Mỹ Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụng học chế tín chỉ từ năm 1993, rồi các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thuỷ Sản Nha Trang… và một số trường đại học khác
áp dụng từ năm 1994 và các năm sau đó
Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN bắt đầu chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm học 2006-2007 Mặc dù trong các hội thảo về nâng cao chất lượng học tập của sinh viên, hội nghị nghiên cứu khoa học cũng
đã đề cập nhiều đến vấn đề tự học của sinh viên nhưng nghiên cứu về hoạt động tự học theo học chế tín chỉ thì vẫn còn mới lạ, nhất là đối với sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga, nhiều sinh viên ngay từ khi đăng ký dự thi vào khoa đó không phải vì học giỏi ngôn ngữ đó, cũng không phải vì niềm
Trang 14say mê mà chủ yếu là giải pháp tình thế dẫn đến kết quả học tập của các em không được cao Chính vì vậy, là một cán bộ quản lý sinh viên của khoa, tác giả đi sâu vào việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên khoa NN&VH Nga nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục của Nhà trường trong xu hướng đào tạo theo học chế tín chỉ
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Sinh viên:
là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức Nó được dùng tương đương với từ “student” trong tiếng Anh, “Etudiant” trong tiếng Pháp và “Cmgenm” trong tiếng Nga để chỉ những người đang theo học
ở bậc đại học, được phân biệt với học sinh đang học ở phổ thông
Theo X.L.Rubinsen quan niệm: “sinh viên” là đại biểu của một nhóm
xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bị cho hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội Nhóm sinh viên rất cơ động được tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong lĩnh vực xã hội, sinh viên là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo thành người lao động có tay nghề cao tham gia hoạt động tích cực
Quy chế công tác HSSV trong các trường đạo tạo của Bộ Giáo dục và đào tạo thì “sinh viên” là người đang học hệ Đại học và Cao đẳng
Như thế, nếu không xét về hình thức gọi tên thì sự ra đời của thuật ngữ
“sinh viên” đã gắn liền với lịch sử ra đời của trường đại học (hơn 700 năm đối với SV thế giới và gần 300 năm đối với sinh viên Việt nam)
Trang 15Theo cách phổ biến hiện nay trong xã hội thì khái niệm “sinh viên” được Nhà nước thể chế hoá, pháp lý hoá thuật ngữ này bằng luật định Trong Luật giáo dục đã thống nhất cách gọi đối với sinh viên như sau:
Sinh viên là người đang học tại các trường cao đẳng, trường đại học [3,tr.73]
Như vậy, tất cả những người đang học ở bậc cao đẳng và đại học đều được gọi là sinh viên
Ngày nay, “học, học nữa, học mãi” (Lênin) là khẩu hiệu của toàn xã hội
và học tập là công việc suốt đời Các trường cao đẳng và đại học mở rộng cửa cho tất cả những ai có nguyện vọng và điều kiện không phân biệt lứa tuổi, giới tính, giàu nghèo… đều có thể học bằng nhiều con đường, hình thức khác nhau: chuyên tu, tại chức, văn bằng 2… Do đó, với khái niệm SV như trên thì ngoại diên của nó rất rộng
Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu với đối tượng
là sinh viên hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này như sau:
- Đó là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông
- Họ đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh đại học và đỗ vào trường
- Họ thuộc nhóm thanh niên nam, nữ từ 17 đến 25 tuổi
- Họ chưa có nghề nghiệp, việc làm xác định do đó còn lệ thuộc gia đình về kinh tế
- Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn để bước vào một nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ
1.2.2 Quản lý, các chức năng quản lý
1.2.2.1 Quản lý:
Trang 16Thuật ngữ “quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích nhau Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định” Quá trình
“lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống (tổ chức) vào thế “phát triển” Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì tổ chức phát triển không bền vững Do đó trong “quản” phải có “lý” và ngược lại để làm cho hệ thống ở trạng thái cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên
ngoài tổ chức [9, tr.1]
Quản lý là sự điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ mô cũng như vi mô vì vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận
có những định nghĩa khác nhau
K.Marx đã từng nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ một lao động
xã hội nào được tiến hành trên một quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hoà giữa các công việc riêng rẽ và thực tiễn những chức năng chung nhất xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấu sản xuất khác với vận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy
Một nghệ sĩ vĩ cầm tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”
[4, tr.480]
Còn theo H.Koontz “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [12, tr.33]
F.W.Taylor (1856-1915), người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: “Mọi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ” Theo ông:
“Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”
Trang 17Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [19, tr.1]
Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[20, tr.7]
Tóm lại, hoạt động quản lý luôn tồn tại hai thành tố đó là chủ thể quản
lý và khách thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý, điều khiển tổ chức để tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu Khách thể quản lý là những người chịu sự tác động chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung
1.2.2.2 Chức năng quản lý:
Chức năng của quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt mục đích, mục tiêu quản lý đề ra Có nhiều cách phân chia về chức năng quản lý nhưng cơ bản thống nhất ở bốn chức năng cơ bản:
Kế hoạch là văn bản trong đó xác định mục tiêu, mục đích của một tổ chức và những con đường, các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Chức năng kế hoạch hoá có 3 nội dung cơ bản là:
+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;
Trang 18+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên
- Chức năng tổ chức:
Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học cho con người, công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần Công tác tổ chức bao gồm:
+ Xác định cấu trúc bộ máy + Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy + Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong
tổ chức
- Chức năng chỉ đạo:
Chỉ đạo là quá trình điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp
đỡ con người, tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
+ Chỉ huy, ra lệnh
+ Động viên, khen thưởng + Theo dõi, giám sát + Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý
- Chức năng kiểm tra:
Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần thiết
và phải thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo
Trang 19Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
+ Xây dựng chuẩn thực hiện + Đánh giá việc thực hiện trên chính sách so với chuẩn + Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động
Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham gia của hai yếu tố quan trọng thông tin và quyết định Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo
Sơ đồ 1.1 Các chức năng trong một chu trình quản lý
1.2.3 Dạy - học:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, dạy học bao gồm hai hoạt động: hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò
Dạy là quá trình hoạt động của thầy, thông qua sự truyền đạt nội dung
mà chỉ đạo (tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra) hoạt động của trò, nhằm làm cho trò đạt tới mục đích dạy học [21, tr.91]
Lập
kế hoạch
Chỉ đạo
Trang 20Học là quá trình con người lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
và những phương thức hành vi mới, do vậy ta thấy học chính là hoạt động nhằm tạo ra sự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền vững Để lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, con người có nhiều cách chiếm lĩnh khác nhau Đó có thể là do được truyền thụ, do tự quan sát, đúc kết từ lao động, môi trường sống…v.v
Học có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày và
nó diễn ra mọi nơi, mọi lúc Cách học này diễn ra khi tiến hành công việc qua lao động sản xuất, hoạt động vui chơi…, cách học này không có chủ định dẫn đến kết quả tri thức mà người học nắm được sẽ rời rạc và không có hệ thống
Ở người học chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm mang lại
Nhưng thực tiễn có thể tự cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người thì đòi hỏi con người phải nắm được các quy luật của tự nhiên, xã hội
và quy luật về sự hình thành, phát triển con người Nói cách khác, ngoài việc lĩnh hội những tri thức mang tính kinh nghiệm ra, con người cần phải nắm bắt được những tri thức khoa học, những năng lực thực tiễn mới mà cách học ngẫu nhiên không tạo ra được Để có được những năng lực đó người ta tiến hành một hoạt động hướng vào để thực hiện mục tiêu đó là hoạt động học (có chủ định)
Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất của hoạt động chỉ đạo của thầy với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực, sáng tạo của trò, nhằm làm cho cho trò đạt được mục đích dạy học [21, tr.91]
Quá trình dạy - học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản: thầy, trò, tri thức Ba thành tố này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết hợp chặt chẽ quá trình dạy của thầy với quá trình học của trò làm cho dạy học cộng hưởng với
tự học tạo ra chất lượng và hiệu quả trong giáo dục
Trang 21Sơ đồ 1.2 Cấu trúc của quá trình dạy - học
1.2.4 Tự học
Tự học (self-learning) là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi…)
để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [22, tr59-60]
Theo giáo sư Vũ Văn Tảo: “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người mình bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ môi trường sống xung quanh mình”[24, tr.1]
Theo quan điểm của tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [16, tr.3]
Trang 22Có nhiều cách tự học:
- Tự mình mò mẫm (người học không có điều kiện đi học, các tri thức
họ có được là do sự tìm tòi trải nghiệm của chính bản thân họ trong cuộc sống)
- Tự học không cần thầy hướng dẫn (người học đã có một trình độ học vấn nhất định, đã có một thời gian dài học với thầy)
- Tự học với sự hướng dẫn của thầy (hoạt động tự học này gắn với quá trình dạy học)
1.3 Dạy học theo học chế tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải biết tự học
1.3.1 Học chế tín chỉ:
1.3.1.1 Khái niệm tín chỉ
Hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên đạt được văn bằng qua việc tích luỹ các kiến thức, kỹ năng khác nhau được đo lường bằng một đơn vị xác định, căn cứ trên khối lượng lao động học tập trung bình của một sinh viên, gọi là tín chỉ (credit)
1.3.1.2 Đặc điểm của học chế tín chỉ:
- Kiến thức được cấu trúc thành các mô-đun (học phần)
+ Học phần là môn học có cấu trúc chặt chẽ, được giảng dạy trọn vẹn trong một học kỳ và được đánh giá độc lập với các học phần khác
+ Đơn vị đo khối lượng học tập của sinh viên và tín chỉ Một tín chỉ được quy định bằng một số tiết học trên lớp tương đương với 15 tiết lý thuyết; 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại
cơ sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn
+ Đối với học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị bài ở nhà
+ Một tiết học được tính bằng 50 phút
- Quá trình học tập là sự tích luỹ kiến thức của người học theo từng
học phần (tín chỉ)
Trang 23- Lớp học tổ chức theo từng học phần, sinh viên đăng ký học các học
phần ở đầu mỗi kỳ học Một năm học có thể gồm 2 học kỳ chính (15 tuần học
và 3 tuần thi ) và có thể có một học kỳ hè (5 tuần học và 1 tuần thi), hay gồm
3 học kỳ (12 tuần học và 3 tuần thi) hoặc chia làm 4 học kỳ (10 tuần học và 2 tuần thi)
- Đánh giá thường xuyên, thang điểm 4 bậc (A, B, C, D hay 4, 3, 2, 1)
- Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng Dựa
vào khối lượng tín chỉ đã tích luỹ để xếp năm học phù hợp cho người học
- Có hệ thống cố vấn học tập: Mỗi cố vấn học tập phụ trách một số sinh
viên kể từ lúc vào trường cho đến khi ra trường Cố vấn học tập phải nắm vững tình hình học tập của sinh viên mình phụ trách, tư vấn cho sinh viên chọn chương trình và tiến trình học phù hợp và giúp sinh viên đăng ký học
từng học kỳ
- Chương trình đào tạo mềm dẻo, có nhiều khả năng lựa chọn cho sinh
viên và tạo điều kiện dễ dàng cho sinh viên chuyển ngành hoặc học một lúc 2 chương trình
- Không có thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khoá luận tốt nghiệp
đối với các chương trình cao đẳng và đại học
(Theo Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
ban hành theo Quyết định số 43/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007)
1.3.1.2 Các ưu điểm của học chế tín chỉ:
- Hiệu quả trong giáo dục và đào tạo:
Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích luỹ kiến thức
và kỹ năng của sinh viên để dẫn đến văn bằng Với học chế này, sinh viên được chủ động thiết kế kế hoạch học tập cho mình, được quyền lựa chọn cho mình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường đại học trở nên mềm
Trang 24dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo với nhau
- Tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao:
+ Với học chế tín chỉ, SV có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức Nó cho phép SV dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không cần phải học lại từ đầu
+ Với học chế tín chỉ, các trường đại học có thể mở thêm ngành học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của SV
+ Học chế tín chỉ cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung, tạo thuận lợi cho SV khi cần chuyển trường cả trong nước và ngoài nước
- Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo
+ Với học chế tín chỉ, kết quả học tập của sinh viên được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, SV không bị buộc phải quay lại học từ đầu Chính vì vậy giá thành đào tạo thấp hơn so với đào tạo theo niên chế
+ Trường đại học lớn đa lĩnh vực có thể tổ chức những môn học chung cho SV nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp nhiều nơi; ngoài ra SV có thể học môn lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức trên cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học
1.3.1.3 Các nhược điểm của học chế tín chỉ:
- Cắt vụn kiến thức:
Phần lớn các môđun trong học chế tín chỉ được quy định tương đối nhỏ,
cỡ 3 hoặc 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày thật sự có đầu, có đuôi, theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấn tượng kiện thức bị cắt vụn Vì vậy người ta thường khắc phục bằng cách không thiết kế các môđun
Trang 25quá nhỏ dưới 3 tín chỉ, và trong những năm cuối người ta thường thiết kế các môn học hoặc tổ chức các kỳ thi có tính tổng hợp để SV có cơ hội liên kết, tổng hợp các kiến thức đã học
- Khó tạo nên sự gắn kết giữa sinh viên:
Các lớp học môđun không ổn định, khó xây dựng tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khoá học nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của SV gặp không ít khó khăn Vì nhược điểm này mà có SV nói học chế tín chỉ
“khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng” Tuy nhiên người ta thường khắc phục bằng cách xây dựng các tập thể tương đối ổn định qua các lớp khoá học trong năm thứ nhất và đảm bảo sắp xếp một số buổi xác định không bố trí thời khoá biểu để SV có thể cùng tham gia các sinh hoạt đoàn thể chung
1.3.2 Dạy - học theo học chế tín chỉ:
1.3.2.1 Nội dung hoạt động giảng dạy theo học chế tín chỉ:
- Giới thiệu về học phần và đề cương học phần; hướng dẫn sinh viên chuẩn bị tài liệu, dụng cụ học tập; thông báo các quy định của giảng viên đối với sinh viên trong quá trình giảng dạy
- Giảng dạy theo đề cương học phần
- Thực hiện giờ tư vấn học tập
- Tổ chức kiểm tra - đánh giá thường xuyên và định kỳ
- Đánh giá và tự đánh giá chất lượng giảng dạy
1.3.2.2 Hoạt động giảng dạy theo các loại giờ tín chỉ:
- Giờ lý thuyết:
Ngoài việc hướng dẫn sinh viên nắm rõ được vấn đề đã nêu trong đề cương học phần về mục tiêu, nội dung tự học, học liệu, cách thức kiểm tra-đánh giá thường xuyên, giảng viên có trách nhiệm xây dựng kịch bản cho một giờ lên lớp:
Trang 26+ Xác định thời gian, chủ đề, nội dung, yêu cầu cho giờ lên lớp lý thuyết;+ Giới thiệu mục tiêu của bài học và các yêu cầu cần thực hiện; + Trình bày cấu trúc nội dung dạy học và các yêu cầu cần thực hiện; + Lựa chọn và chuyển tải nội dung trình bày trên lớp;
+ Chỉ rõ nội dung, vấn đề mà sinh viên sẽ phải thảo luận, làm bài tập trên lớp hoặc tự học ở nhà
- Giờ thảo luận:
Giờ thảo luận có thể được tổ chức theo các cách dưới đây
+ Sinh viên chuẩn bị ở nhà (cá nhân hoặc nhóm) và tiến hành thảo luận trên lớp
+ Sinh viên được phân nhóm thảo luận ở nhà, tổng hợp kết quả
và gửi cho giảng viên trước giờ thảo luận trên lớp Tại giờ thảo luận trên lớp, giảng viên phân tích những vấn đề cốt lõi của nội dung thảo luận và hướng dẫn sinh viên xử lý tiếp những nội dung cần mở rộng hay còn vướng mắc, chưa giải quyết được khi thảo luận ở nhà
+ Sinh viên được phân nhóm thảo luận ở nhà và chuẩn bị bài thuyết trình của nhóm Tại giờ thảo luận trên lớp, đại diện các nhóm trình bày bài thuyết trình và cùng tranh luận, giảng viên phân tích những vấn đề cốt lõi của nội dung thảo luận và hướng dẫn sinh viên xử lý tiếp những nội dung cần
mở rộng hay còn vướng mắc, chưa giải quyết được khi thảo luận ở nhà
Một số yêu cầu cơ bản đối với giờ thảo luận:
+ Sinh viên thảo luận ở nhà hay ở trên lớp theo nhóm do giảng viên chỉ định và không nên vượt quá 10 sinh viên/nhóm
+ Giảng viên giao cho từng nhóm nội dung thảo luận cụ thể và nêu rõ yêu cầu cần đạt được, những sản phẩm phải báo cáo, các lưu ý về tài liệu tham khảo
+ Điều hành và tổng kết thảo luận Giảng viên nhất thiết cần khẳng định những nội dung đúng, sửa chữa những nội dung chưa đúng của
Trang 27sinh viên trong quá trình thảo luận, nhấn mạnh những điểm quan trọng của nội dung thảo luận
- Giờ bài tập: Giờ bài tập là thời gian lên lớp dành cho sinh viên làm
bài tập hoặc chữa bài tập đã giao cho sinh viên tự làm ở nhà
Một số yêu cầu đối với giờ bài tập:
+ Xác định rõ mục tiêu của bài tập + Chỉ rõ những nội dung lý thuyết sinh viên cần sử dụng và yêu cầu phản ánh được nội dung đó trong quá trình làm bài tập
+ Nêu rõ tiêu chí đánh giá kết quả bài tập + Chữa bài tập
+ Đánh giá, cho điểm + Với giờ bài tập mà sinh viên báo cáo sản phẩm của quá trình thực hiện như các bài tập lớn, giảng viên cần xây dựng kịch bản tổ chức giờ bài tập và thông báo trước để sinh viên chuẩn bị
- Giờ thực hành: Bao gồm giờ thực hành của học phần có cả lý thuyết
và thực hành; giờ thực hành của học phần thực hành, thực tập
Một số yêu cầu đối với giờ thực hành:
+ Xác định rõ mục tiêu của giờ thực hành + Chỉ rõ các tài liệu có liên quan và điều kiện khác mà sinh viên cần chuẩn bị
+ Phân công nhiệm vụ rõ ràng cho sinh viên + Nêu rõ tiêu chí đánh giá kết quả thực hành + Chỉ đạo hướng dẫn sinh viên thực hành, thực tập
Trang 28Một số yêu cầu cơ bản đối với giờ tự học xác định:
+ Chỉ rõ mục đích, nội dung, yêu cầu để sinh viên tự học;
+ Nêu đầy đủ các công việc sinh viên phải làm + Quy định về cách thức báo cáo kết quả tự học của sinh viên + Hướng dẫn sinh viên cách tìm, xử lý thông tin khi tự học + Quy định rõ nội dung giờ tư vấn học phần tương ứng với thời gian sinh viên thực hiện nội dung giờ tự học xác định
+ Nhận xét kết quả tự học và trả bài cho sinh viên
1.3.3 Dạy học theo tín chỉ đòi hỏi SV phải biết tự học:
1.3.3.1 Đặc điểm tự học của sinh viên ở các trường đại học:
Tại “Báo cáo về tình hình giáo dục” của Chính phủ -2004 đã ghi rõ:…
“Mục tiêu của của giáo dục không chỉ đào tạo nhân lực mà còn là phát triển con người Việt Nam với đầy đủ bản lĩnh sắc thái Việt Nam” Cũng tại Báo cáo trên, còn nhấn mạnh: Đối với người học, giờ đây Học không phải chỉ có 4 trụ cột “Học để biết, để làm, để cùng chung sống với nhau và để làm người”
mà còn cần phải biết tìm tòi, sáng tạo, biết độc lập, tự lực suy nghĩ, biết đưa
ra quyết định của mình và làm chủ được thị trường đưa đất nước tiến kịp các nước phát triển
Tự học luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình học tập và phát triển của mỗi người Bàn về vai trò của tự học nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã phát biểu: “Tự học tự đào tạo là con đường phát triển suốt mỗi cuộc đời, mỗi con người trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả của giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quy
mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học” Trích thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo 6/1/1998
Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu đào tạo của các trường đại học là:
Trang 29“ Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nghiệp vụ, có trình
độ, có lý tưởng cách mạng, có quyết tâm vươn lên những đỉnh cao của văn hoá, khoa học hoặc chỉ đạo việc thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn do mình phụ trách, có tiềm lực để từng bước tiến hành giải quyết các vấn đề thực tiễn do cuộc sống đặt ra trong phạm vi “nghề nghiệp” của mình với phương châm “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trên ý nghĩa đó, việc tự học của sinh viên không còn giống tự học của học sinh ở phổ thông Đối với sinh viên đại học việc tự học có vai trò đặc biệt quan trọng Phần lớn
SV khi mới bước chân vào ngưỡng của đại học thường ngỡ ngàng và lúng túng với cách giảng dạy và học tập mới bởi họ đã quá quen với cách học ở phổ thông Học đại học là đi sâu vào một chuyên ngành để chuẩn bị cho một nghề trong tương lai Do đó, sinh viên phải tự trang bị cho mình những hiểu biết cơ bản, vững vàng về nghề đó, đồng thời phải có nhiều hiểu biết khác nữa theo yêu cầu của cuộc sống Giờ đây, công việc tự học của sinh viên trở nên rất quan trọng, rất nặng nề, nó trở thành một bộ phận cấu thành của giáo dục đại học Do phương pháp học tập ở trường đại học khác cơ bản so với phương pháp học ở phổ thông, ở đại học không có sự kiểm tra hàng ngày của giáo viên nên việc học tập của sinh viên phần lớn là tự học Sinh viên tự đề ra kế hoạch và tự thực hiện kế hoạch Các bài kiểm tra chính là kết quả học tập và nghiên cứu của sinh viên Việc tự học của sinh viên đại học còn có một đặc điểm; đó là hoạt động tự học diễn ra liên tục, trong một phạm vi lớn nhằm lĩnh hội rất nhiều tri thức Sinh viên đại học phải tự tìm tòi tài liệu, chọn đọc tài liệu sao cho thích hợp với môn học và phải tỏ ra thật sự khoa học trong công tác tự học mới đạt được kết quả Tự học của sinh viên đại học với sự nỗ lực cao, tự giác cao; sinh viên thực sự làm chủ thời gian, phương pháp, phải quan tâm đến chất lượng học tập của bản thân để từ đó có phương hướng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho mình, chuẩn bị cho ngày mai lập nghiệp bằng sự tự tin tuyệt đối
Trang 30Hoạt động tự học của SV đại học gắn liền với sự hướng dẫn của thầy Hoạt động này sẽ diễn ra ở 2 phạm vi: tự học trên lớp và tự học ngoài giờ lên lớp
- Tự học trên lớp:
+ Nghe giáo viên giảng và hướng dẫn + Ghi chép theo cách hiểu của bản thân + Trao đổi với thầy và bạn những vấn đề còn thắc mắc
- Tự học ở ngoài lớp:
+ Đọc giáo trình, tư liệu tham khảo + Lập nhóm học để tiến hành thảo luận theo nhóm + Hoàn thành các bài tập được giao và tìm thêm những bài tập cùng dạng để làm nhằm rèn luyện những kiến thức cần học cho thuần thục
+ Tiến hành làm các đề án, các đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn tốt nghiệp…
Để việc tự học được thuận lợi, SV ngay từ khi bước chân vào giảng đường đại học cần chuẩn bị tâm lý sẵn sàng với cách học mới Khi đã chuẩn
bị tâm lý thì việc sắp xếp, tổ chức thời gian cho việc tự học cần được tiến hành một cách khoa học với các hoạt động cụ thể Từ đó SV mới có thể tiến hành tự học một cách nề nếp và có kế hoạch
Ngày nay khi khoa học, công nghệ thông tin phát triển mạnh, thông tin bùng nổ thì những kiến thức nhà trường chỉ là kiến thức nền tảng để trên cơ
sở đó người học vươn ra tiếp thu kiến thức trong gia đình và ngoài xã hội Vấn đề tự học lúc này trở thành con đường cơ bản để nâng cao trình độ hiểu biết cho bản thân Để hoàn thành tốt chương trình ở bậc đại học và cũng là để chuẩn bị cho mình một hành trang tốt khi bước vào cuộc đời, mỗi sinh viên cần xây dựng cho mình kế hoạch học tập khoa học và sáng tạo phù hợp với năng lực của bản thân
1.3.3.2 Tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ:
Trang 31Tự học được đánh giá là rất quan trọng và nó càng trở nên quan trọng hơn đối với đào tạo theo tín chỉ Học theo tín chỉ là phải áp dụng phương pháp học tích cực, đó là phương pháp lấy tự học và học cái cốt lõi là chính Phương pháp học này phát huy tính năng động và sáng tạo của sinh viên SV phải tự hình thành tính tự giác học tập, khi đã có nhu cầu thì SV sẽ tự tìm được phương pháp học tập phù hợp Mô hình đào tạo này vừa là thách thức nhưng cũng là cơ hội cho SV mới rèn luyện và thích nghi, để tự tin hơn trong xu thế hội nhập
Đào tạo theo học chế tín chỉ sinh viên phải vừa tiếp thu kiến thức trên lớp thông qua bài giảng của giảng viên, vừa thảo luận, làm bài tập trên lớp và tìm kiếm tích luỹ kiến thức ngoài lớp học (qua các tài liệu mà giảng viên yêu cầu đọc, qua các bài tập, thí nghiệm mà giảng viên giao) vừa tự học ở nhà, thư viện…Giờ học trên lớp giảm mà tăng thời gian thảo luận, học nhóm và thời gian tự học Để lĩnh hội được kiến thức đòi hỏi mỗi sinh viên phải hiểu rõ được bản chất của học chế tín chỉ, từ đó mới tìm ra được phương pháp học tập phù hợp với từng loại hình lớp học
- Học lý thuyết trên lớp:
Giờ học lý thuyết sinh viên không chỉ ghi chép những lời thầy cô giảng trên lớp một cách thụ động mà phải nghe, suy ngẫm và nắm được “linh hồn” những vấn đề mà thầy cô truyền đạt Thầy cô đặt vấn đề thế nào? Tại sao lại đặt vấn đề như vậy? Nguyên tắc để giải quyết vấn đề là gì? Sinh viên chưa cần nắm rõ những chi tiết cụ thể Vì thế sinh viên không đến lớp sẽ không có được bức tranh tổng quát của học phần, của từng chương, từng mục
- Học thảo luận trên lớp:
Giờ thảo luận trên lớp là giờ để làm rõ những vấn đề của giờ lý thuyết
áp dụng vào những bài toán cụ thể Nếu như giờ lý thuyết sinh viên chủ yếu là nghe, suy ngẫm thì giờ thảo luận sinh viên phải nói nhiều và tranh luận Ưu
Trang 32tiên đặt câu hỏi hơn là trả lời, không nên nôn nóng hiểu sâu, mà phải hiểu những vấn đề cơ bản trước
- Học ở nhà:
Học cách tự đọc tài liệu, tham khảo giáo trình để hiểu sâu “linh hồn” của từng chương và tiến tới cả học phần Cụ thể việc đọc sách, tài liệu phải được thực hiện theo các bước sau:
+ Bước 1: Đọc lướt để nắm ý chung + Bước 2: Đọc kỹ để nắm ý chi tiết + Bước 3: Đọc và nắm thông tin theo từng chủ để + Bước 4: Ghi chép lại những vấn đề đọc được
Tự triển khai những vấn đề cụ thể của học phần như giải bài tập, thiết
kế, chuẩn bị câu hỏi cho các giờ thảo luận trên lớp Tăng cường trao đổi bài theo nhóm
1.3.3.3 Những khó khăn trong việc tự học theo tín chỉ:
Khó khăn chủ yếu liên quan đến việc tự học là sinh viên chưa có phương pháp học, thái độ học tập đúng Sinh viên chưa có động cơ tự học, chưa tìm hứng thú học, tự học chưa trở thành nhu cầu của họ Đặc biệt, nhiều sinh viên chưa có các kỹ năng quan trọng của việc tự học, chưa có phương pháp tự học đúng đắn, hợp lý và khoa học Cụ thể:
- SV chưa lập được kế hoạch, thời gian biểu tự học khoa học và phù hợp với điều kiện của mình
- SV chưa có kỹ năng tìm tài liệu
- Chưa có kỹ năng đọc sách, khả năng tổng hợp tài liệu chưa tốt…
- Chưa biết cách chất vấn, tìm thắc mắc để tự hỏi (tự hỏi mình, hỏi bạn
bè, hỏi thầy giáo hay bất cứ ai có khả năng)
- Chưa biết cách vận dụng điều mới học được để trả lời các câu hỏi, để làm bài tập…
Trang 33- Chưa biết cách tận dụng hết các điều kiện thuận lợi trong hoàn cảnh của mình và không biết cách khắc phục khó khăn trong quá trình tự học
Ngoài ra, các yếu tố khách quan, những yếu tố ngoại lực ảnh hưởng đến việc tự học của SV như: cơ sở vật chất, môi trường…
1.4 Quản lý tự học theo học chế tín chỉ
1.4.1.Vị trí, vai trò của công tác quản lý sinh viên trong các trường đại học:
Trong số những người được giáo dục - đào tạo để có đủ sức làm chủ nền khoa học, công nghệ hiện đại của nước nhà sau này thì SV là người tiêu biểu, là những người đang được đầu tư, đang được đào tạo ở giai đoạn cuối cùng trong nhà trường một cách có hệ thống Đó là nguồn lực con người lao động có chất lượng và có trình độ cao, có chuyên môn sâu, là lực lượng ưu tú
về học vấn trong thanh niên, được Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, gia đình và toàn xã hội quan tâm chăm sóc và đặt nhiều tin tưởng, hy vọng
Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo nói chung và công tác quản lý nói riêng thì công tác quản lý SV góp phần hỗ trợ tích cực cho hoạt động dạy - học, cũng như đảm nhận mọi mặt của công tác quản lý Quản lý SV từ các khâu hành chính, giáo vụ, đến giáo dục ngoài giờ, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức và tổ chức phong trào SV… sẽ hỗ trợ và tạo điều kiện về vật chất và tinh thần học tập để SV rèn luyện trở thành nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao Công tác quản lý sinh viên có ý nghĩa quyết định trong việc đổi mới bền vững yếu tố con người về chất lượng nhận thức thức tri thức và hành động Quản lý SV là mảng công tác trọng tâm thiết yếu của nền giáo dục đại học nước ta
1.4.2 Quản lý tự học - các nội dung quản lý tự học:
Nghị quyết đại hội IX “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy - học … Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề…”
Trang 34Nếu như đào tạo theo niên chế, sinh viên phải học theo tất cả những gì nhà trường sắp xếp thì ngược lại, đào tạo theo học chế tín chỉ có nhiều ưu điểm vượt trội Sinh viên có thể chủ động học theo điều kiện và năng lực của mình Sinh viên được phép lựa chọn nội dung, phương thức học tập, kế hoạch học để đạt được mục tiêu đã chọn Trong quá trình học có thể tuỳ yêu cầu của
xã hội, sở thích và khả năng của mình, sinh viên có thể thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp học tập Nói một cách hình tượng là, tổ chức đào tạo đã vạch ra cho sinh viên một bản đồ trên đó có những hướng đi khác nhau mà sinh viên có thể chọn để đi tới mục tiêu đào tạo Chính vì vậy việc quản lý hoạt động tự học cực kỳ quan trọng đối với sinh viên Giúp các em có sự lựa chọn đúng đắn phù hợp với khả năng của mình Với ý nghĩa quan trọng đó quản lý tự học theo học chế tín chỉ có những nội dung sau:
- Thay đổi nhận thức của giảng viên và sinh viên trước yêu cầu dạy
- học theo học chế tín chỉ
Bất kỳ một hoạt động nào muốn đạt được kết quả tốt thì trước hết bản thân con người đó phải có nhận thức đúng đắn về việc làm của mình, phải có mục đích, động cơ rõ ràng Theo thuyết “nhu cầu” về động cơ của A.Maslow, các nhu cầu được xếp theo hình tháp từ thấp tới cao: nhu cầu cơ bản - sinh học; nhu cầu về an toàn, nhu cầu về sự được thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện Động cơ tự học của sinh viên cũng có nhiều thứ bậc khác nhau Bên cạnh đó mỗi giảng viên, sinh viên phải biết thích ứng với một môi trường, hoàn cảnh mới với những yêu cầu, đòi hỏi mới chưa hề có trong kinh nghiệm của bản thân Chúng ta cần đến sự “thích ứng” khi phải làm quen, xâm nhập vào môi trường đó - như một điều kiện, một phẩm chất quan trọng của con người tồn tại, phát triển Nói ngắn gọn, “thích ứng” là sự thay đổi, điều chỉnh bản thân (về ý thức, thói quen, hành vi…) cho phù hợp với những yêu cầu của hoàn cảnh mới nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển
Trang 35- Xây dựng hệ thống cố vấn học tập có chất lượng hướng dẫn sinh viên tự học có hiệu quả:
Đối với đào tạo tín chỉ thì hệ thống cố vấn học tập có vai trò hết sức to lớn Để việc học tập của sinh viên đạt kết quả tốt thì việc đăng ký các học phần phù hợp với bản thân là một việc làm hết sức quan trọng Nhiều sinh viên tự bản thân các em chưa đánh giá được đúng năng lực học tập cũng như chưa lường hết được hoàn cảnh điều kiện cụ thể của mình dẫn đến lựa chọn, đăng ký các môn học không phù hợp do vậy kết quả học tập không cao Lúc này các em rất cần sự hỗ trợ, tư vấn từ các cố vấn học tập Cố vấn học tập chính là những người nắm vững quy chế đào tạo, các quy định hướng dẫn của nhà trường về công tác đào tạo tín chỉ; phải nắm chắc năng lực, hoàn cảnh điều kiện của sinh viên, tư vấn sinh viên chọn chương trình, tiến trình học phù hợp và giúp sinh viên đăng ký học từng học kỳ
- Quản lý hoạt động dạy của giảng viên thúc đẩy giảng viên cải tiến phương pháp dạy học:
Hoạt động dạy của giáo viên mang tính quyết định chất lượng giáo dục
- đào tạo nói chung và chất lượng dạy học nói riêng Bởi vậy quản lý hoạt động dạy là một biện pháp quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện nâng cao chất lượng dạy-học
Quản lý hoạt động dạy của giảng viên là quản lý chương trình, nội dung và phương pháp dạy học thông qua quy chế chuyên môn, thông qua chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học, thông qua kiểm tra đánh giá việc thực hiện mục tiêu giảng dạy của giảng viên đối với từng học phần Trưởng bộ môn chịu trách nhiệm kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên theo đề cương học phần đã ban hành của tổ bộ môn mình Đầu mỗi học kỳ,
Tổ trưởng bộ môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn để thông báo, thảo luận về những nội dung chuyên môn hay những vấn đề về phương pháp giảng dạy, kỹ
Trang 36năng tư vấn học phần, phát triển tài liệu, dụng cụ học tập, phương pháp kiểm tra - đánh giá để giúp giảng viên nâng cao chất lượng giảng dạy
Giảng viên phải chuẩn bị bài giảng nghiêm túc, giảng dạy theo đúng đề cương môn học đã được phê duyệt; sử dụng các phương pháp dạy tiên tiến phù hợp với đào tạo tín chỉ; cung cấp danh mục tài liệu, hướng dẫn sinh viên
tự học, tự nghiên cứu và phải có hình thức kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của sinh viên Hoạt động giảng dạy trong phương thức đào tạo tín chỉ có nhiều điểm khác biệt và phức tạp hơn nhiều so với đào tạo theo niên chế Để
tổ chức quản lý tốt hoạt động giảng dạy nhà trường phải có quy chế, quy định hướng dẫn phù hợp và một hệ thống quản lý theo dõi kiểm tra một cách chặt chẽ
- Hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị:
Trong đào tạo tín chỉ, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả học tập của sinh viên Để nhà trường phát triển, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đào tạo ra những sản phẩm có chất lượng thì càng đòi hỏi phải đầu tư và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động dạy - học như phòng làm việc riêng cho thầy để
có điều kiện tư vấn trả lời sinh viên, phương tiện Internet, thư viện với đầy đủ học liệu cho người học, máy tính, projetor, phòng thí nghiệm…
- Phối kết hợp đồng bộ giữa các đơn vị chức năng hướng tới hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo học chế tín chỉ mang lại nhiều lợi ích trong công tác giáo dục đào tạo ở trường đại học: nó làm cho sinh viên chủ động hơn trong học tập, đặc biệt nó tạo ra một tác phong công nghiệp đối với mọi hoạt động của nhà trường
Tuy nhiên việc triển khai học chế tín chỉ cũng gặp rất nhiều khó khăn
về phía những người trực tiếp thực hiện: trước hết, đối với sinh viên, những người đã được “chăn dắt” từ trường phổ thông khi bước vào đại học hết sức ngỡ ngàng về mọi mặt, học chế tín chỉ tạo nên bước chuyển khá đột ngột, họ
Trang 37phải mất thời gian dài để thích ứng Đối với giảng viên, khó khăn lớn nhất là tình trạng quá tải hiện nay của hoạt động giảng dạy làm họ không còn đủ thời gian đầu tư vào việc cải tiến phương pháp giảng dạy và các hoạt đông khác
mà học chế tín chỉ đòi hỏi Hơn nữa, học chế tín chỉ làm cho mức độ tự do của giáo viên giảm nhiều vì học phải được gắn với các giờ học và lớp học xác định phân bố trong suốt cả học kỳ, rất khó bố trí tập trung thời gian cho các hoạt động ở ngoài trường Từ đó cần có những vận động để hoạt động hoá sinh viên và nâng cao trách nhiệm của giáo viên thì việc triển khai học chế tín chỉ mới thuận lợi
Chính vì vậy cần phải có sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng đối với tất
cả các đơn vị chức năng, tất cả cán bộ quản lý, giảng viên Để việc đào tạo theo học chế tín chỉ đạt hiệu quả phải có sự chỉ đạo rất kiên quyết của Ban Giám hiệu, vai trò lãnh đạo của Hiệu trưởng, sự phối hợp đồng bộ giữa các đơn vị trong trường, giảng viên nhận thức được trách nhiệm và tham gia vào quá trình đào tạo bằng cả tấm lòng của người thầy
1.4.3 Các biện pháp quản lý tự học
Các biện pháp quản lý là tổ hợp các phương pháp, cách thức tiến hành của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã
đề ra Các biện pháp quản lý hoạt động tự học bao gồm:
- Thay đổi nhận thức của giảng viên và sinh viên trước yêu cầu dạy - học theo học chế tín chỉ lấy tự học làm cốt, tăng cường trao đổi thảo luận và
Trang 38- Phối kết hợp đồng bộ giữa các đơn vị chức năng hướng tới hoạt động
tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ
Tiểu kết chương 1
Sau khi trình bày các khái niệm và các thuật ngữ có liên quan tới đề tài
với mục đích cuối cùng làm sáng tỏ khái niệm về Biện pháp quản lý hoạt
động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ, chương 1 của luận văn đã đi
vào tìm hiểu mục đích và nội dung của công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên Qua đó, toàn bộ chương 1 đã cho chúng ta một cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động tự học của SV theo học chế tín chỉ Những cơ sở lý luận này là nền tảng và định hướng cho việc tìm hiểu thực trạng cũng như đề xuất các giải pháp cho công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
Trang 39Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH
VIÊN KHOA NN&VH NGA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐHQGHN
2.1 Khái quát về trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
2.1.1 Quá trình thành lập trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN
Năm 1955, Trường Ngoại ngữ đặt tại khu Việt Nam Học xá (Bạch Mai-
Hà Nội) được thành lập theo đề nghị của Bộ Giáo dục và được Thủ tướng Chính phủ đồng ý Ngày 5 tháng 9 năm 1955, Trường khai giảng khoá học đầu tiên Năm 1958, Trường Đại học Ngoại ngữ được sát nhập vào trường Đại học Sư phạm Hà Nội và trở thành khoa Ngoại ngữ, đến năm 1963 phát triển thành 4 khoa ngoại ngữ: khoa Nga văn, khoa Anh văn, khoa Trung văn, khoa Pháp văn
Ngày 14 tháng 8 năm 1967, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 128/CP thành lập trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội trên cơ sở 4 khoa ngoại ngữ được tách ra từ trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Ngày 10 tháng 12 năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/CP thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở sát nhập 3 trường đại học: Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội Là thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1995 trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội được đổi tên thành Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN
2.1.2 Mục tiêu chiến lược phát triển của Trường
Trong giai đoạn hội nhập và phát triển, Trường Đại học Ngoại ĐHQGHN xác định rõ sứ mạng của Nhà trường, đó là “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ cho hệ thống giáo dục quốc dân và hầu hết các lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước; đào tạo cán bộ biên dịch, phiên dịch, chuyên gia nghiên cứu ngoại ngữ; đồng thời thực hiện đào tạo ngoại ngữ và tiếng Việt cho người nước ngoài, từ đó định ra các mục tiêu cơ bản để hoàn thành nhiệm
ngữ-vụ chiến lược mà Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và đào tạo và ĐHQGHN
Trang 40giao phó, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế của đất nước”
Với sứ mạng đó, Nhà trường đã không ngừng phấn đấu phát triển quy
mô và loại hình đào tạo, nâng cao chất lượng đạo tạo, chất lượng nghiên cứu khoa học, đào tạo chuyên gia ngoại ngữ chất lượng cao theo danh mục các ngành đào tạo, loại hình đào tạo ở các trình độ đại học và sau đại học để giảng dạy ngoại ngữ ở các cấp học, bậc học, nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá nước ngoài; xây dựng và phát triển các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hoá nước ngoài và việc dạy - học ngoại ngữ ở Việt nam cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam
Hiện nay, Nhà trường có 9 khoa đào tạo, 5 trung tâm nghiên cứu và 01 trường THPT chuyên Ngoại ngữ với 8 ngành đào tạo chính là các thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung Quốc, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Ả Rập Năm học 2007-
2008 Nhà trường đã mở thêm một số ngành mới là tiếng Tây Ban Nha và tiếng Thái Lan (hiện này tiếng Thái Lan được giảng dạy là ngoại ngữ 2) Nhà trường đào tạo liên kết trong nước trong nước bằng tiếng Anh các chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính ngân hàng, Kinh tế đối ngoại với trường
ĐH Kinh tế-ĐHQGHN và Du lịch-tiếng Anh với trường ĐH KHXH&NV - ĐHQHGHN… Đào tạo liên kế ngoài nước bằng tiếng Pháp các chuyên ngành Kinh tế-Quản lý, Quản lý doanh nghiệp, Công nghệ thông tin ứng dụng vào quản lý kinh tế và Quản trị Du lịch; đào tạo bằng tiếng Trung Quốc các chuyên ngành NN&VH Trung Quốc, Tiếng Hán-Thương mại với trường ĐH Thiểm Tây và ĐH Hoa Đông, Thượng Hải, Trung Quốc Đây chính là bước đột phá, một hướng đi mới của Nhà trường nhằm thu hút sinh viên, và một lần nữa khẳng định vị thế của Nhà trường trong bối cảnh hội nhập
Hàng năm Nhà trường tuyển sinh khoảng 1200 sv đại học chính quy,
200 học viên sau đại học, 2000 sv hệ vừa học vừa làm, 200 sv hệ chuyên tu,
100 sv hệ của tuyển, 380 học sinh THPT Sinh viên, học viên tốt nghiệp của