1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

99 796 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giáo dục nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục.. Đối tượng của QLGD là hoạ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ MINH HUẾ

QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC

Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN AN DƯƠNG,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ MINH HUẾ

QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Xuân Mới

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tác giả bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám Hiệu cùng toàn thể các thầy cô giáo thuộc trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ trong thời gian tác giả học tập

và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS-TS Lưu Xuân Mới, người đã định hướng, cung cấp những kiến thức lý luận và thực tiễn đồng thời trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tác giả tận tình trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành bản luận văn này

Tác giả trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo Sở GD & ĐT thành phố Hải Phòng, Huyện uỷ - UBND huyện An Dương, Phòng GD &ĐT, các trường TH trong huyện, cùng gia đình và các bạn đồng nghiệp đã khuyến khích, động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện luận văn

Do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, nên trong quá trình thực hiện, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết Kính mong được

sự chỉ bảo tận tình của các thầy giáo, cô giáo, cùng ý kiến đóng góp quý báu của các bạn đồng nghiệp và bạn đọc để luận văn này có giá trị thực tiễn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hải Phòng, tháng 12 năm 2013

Nguyễn Thị Minh Huế

Trang 4

KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 5

TH Tiểu học

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cảm ơn……… i

Danh mục viết tắt……… ii

Mục lục……… ………iv

Danh mục các bản……….vii

Danh mục các sơ đồ……….…viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG HỌC 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 7

1.2.1 Quản lí 7

1.2.2 Quản lí giáo dục 11

1.2.3 Quản lí nhà trường/trường học 13

1.2.4 Thiết bị giáo dục 16

1.3 Quản lí thiết bị giáo dục 18

1.4 Cơ sở pháp lý của quản lý thiết bị giáo dục ở Tiểu học 21

1.4.1 Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân 21

1.4.2 Hiệu trưởng trường Tiểu học với công tác quản lí thiết bị giáo dục 23

1.4.3 Các văn bản của ngành về thiết bị giáo dục 26

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thiết bị giáo dục ở trường học 27

1.5.1 Cơ chế chính sách 27

1.5.2 Nhà quản lý 27

1.5.3 Giáo viên 28

1.5.4 Học sinh 28

1.5.5 Tài chính 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 31

Trang 7

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá- xã

hội, giáo dục và đào tạo huyện An Dương, thành phố Hải Phòng 31

2.1.1 Vài nét về tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội huyện An Dương, thành phố Hải Phòng 31

2.1.2.Vài nét về sự phát triển giáo dục và đào tạo huyện An Dương, thành phố Hải Phòng 32

2.2 Thực trạng thiết bị giáo dục các trường Tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng 42

2.2.1 Thực trạng xây dựng thiết bị giáo dục 42

2.2.2 Thực trạng sử dụng thiết bị giáo dục 46

2.2.3 Thực trạng bảo quản thiết bị giáo dục 47

2.3 Thực trạng quản lí thiết bị giáo dục của hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng 48

2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên thư viện-thiết bị, học sinh, phụ huynh học sinh về vai trò của viện-thiết bị và quản lý viện-thiết bị giáo dục trong nhà trường 49

2.3.2 Thực trạng xây dựng và tổ chức hoạt động bộ máy quản lí TBGD 49

2.3.3 Thực trạng về quản lí xây dựng TBGD 50

2.3.4 Thực trạng về quản lí việc sử dụng và bảo quản TBGD 50

2.3.5 Thực trạng quản lí nâng cao năng lực, tạo điều kiện cho CB,GV, NV tham gia quản lí TBGD 51

2.4 Đánh giá thực trạng thiết bị giáo dục và quản lý thiết bị giáo dục của hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng 52

2.4.1 Mặt mạnh 52

2.4.2 Hạn chế 52

2.4.3 Nguyên nhân 53

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 55

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 57

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 57

3.1.1 Nguyễn tắc đảm bảo tính pháp chế 57

Trang 8

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp 57

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi của các biện pháp 57

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp 58

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 58

3.2 Các biện pháp quản lí TBGD của hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện An Dương thành phố Hải Phòng 58

3.2.1 Bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên thư viện , học sinh, phụ huynh học sinh về vai trò của thiết bị giáo dục và quản lý thiết bị giáo dục 58

3.2.2 Xây dựng và tổ chức hoạt động hiệu quả bộ máy quản lí TBGD 61

3.2.3 Quản lí việc xây dựng thiết bị giáo dục 63

3.2.4 Quản lí việc sử dụng thiết bị giáo dục 66

3.2.5 Đẩy mạnh quản lí việc bảo quản thiết bị giáo dục 70

3.2.6 Tạo động lực thúc đẩy quản lý thiết bị giáo dục trong trường tiểu học 74

3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 78

3.3.1 Ý kiến đánh giá của chuyên gia về các biện pháp đề xuất 78

3.3.2 Kiểm nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất qua thực tiễn 80

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 82

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83

1 Kết luận 83

2 Khuyến nghị 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 867

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả thống kê quy mô trường lớp, HS các trường Tiểu học 37

Bảng 2.2 Kết quả thống kê CSVC và TBGD hiện có của các trường Tiểu học 38

Bảng 2.3: Thống kê kết quả khảo sát về đội ngũ CBQL 39

Bảng 2.4: Thống kê kết quả khảo sát về đội ngũ giáo viên 40

Bảng 2.5: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh năm học 2011-2012 41

Bảng 2.6: Kết quả xếp loại học lực của học sinh năm học 2011-2012 41

Bảng 2.7 Thống kê số lượng thiết bị giáo dục 43

Bảng 2.8 Đánh giá về chất lượng thiết bị giáo dục 44

Bảng 2.9 Mức độ sử dụng các loại thiết bị giáo dục 46

Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 79

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lý 9

Sơ đồ 1.2: Quan hệ các chức năng quản lý 10

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục và Đào tạo là vấn đề đặc biệt quan tâm của mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi dân tộc Sự nghiệp phát triển giáo dục luôn được Đảng và nhà nước ta coi trọng, được đánh giá là quốc sách hàng đầu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: "Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội "

Thiết bị giáo dục là phương tiện đặc biệt quan trọng quyết định đến việc đổi mới phương pháp dạy học Nó trực tiếp có mặt trong các giờ học được thầy và trò cùng sử dụng Thiết bị giáo dục có khả năng to lớn giúp cho việc tổ chức hoạt động của học sinh theo hướng tích cực, chủ động góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học Nó là nguồn tri thức quyết định năng suất lao động hay nói cách khác thiết bị giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

TBGD là một thành tố quan trọng trong quá trình dạy học, được xem như một trong những điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giáo dục như Nghị quyết số 40/20002/QH X ngày 9 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội nước cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhấn mạnh : "Đổi mới nội dung, chương trình,

sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải được thực hiện đồng bộ với

Trang 11

việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hoá trường sở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lí giáo dục"

Do đó, trong quá trình quản lí nhà trường đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lí giáo dục nói chung và công tác quản lí thiết bị giáo dục nói riêng

Quản lí thiết bị giáo dục làm cho thiết bị giáo dục có mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung, với phương pháp dạy, phương pháp học theo định hướng của mục tiêu đào tạo đã vạch ra là khâu quan trọng trong quản lí chung của nhà trường và Phòng Giáo dục và Đào tạo

Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã đầu tư tăng cường cơ thiết bị giáo dục cho các nhà trường nhằm xây dựng thiết bị giáo dục của nhà trường thành một hệ thống hữu hiệu, do đó thiết bị giáo dục trong các nhà trường ngày càng được trang bị nhiều hơn Tuy nhiên việc quản lí, sử dụng thiết bị giáo dục sao cho có hiệu quả cao nhất vẫn còn là vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn như nguồn kinh phí ít, bổ sung không đồng đều, không đồng bộ, chưa thường xuyên, chưa khoa học; khả năng và nhu cầu sử dụng của giáo viên ít; công tác chỉ đạo, quản lí sử dụng và bảo quản chưa thật sự được quan tâm sát sao Vì vậy việc nghiên cứu biện pháp quản lý thiết bị giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất thiết bị giáo dục là vấn

đề cần phải quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là trường Tiểu học - nhà trường mà mọi hoạt động chủ yếu phụ thuộc vào nguồn ngân sách của Nhà nước

Trong thời gian qua đã có một số nhà khoa học, một số thạc sỹ đã nghiên cứu về vấn đề quản lí thiết bị giáo dục nhưng chủ yếu đi sâu về lí luận, cách sử dụng thiết bị dạy học nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu việc quản lí thiết bị giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục góp phần nâng cao chất lượng dạy học Với tư cách là nhà quản lý tôi chọn đề tài luận

văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lí giáo dục của mình là : "Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

"nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng quản lí thiết bị giáo dục tại các

Trang 12

trường Tiểu học từ đó đề ra một số biện pháp quản lí thiết bị giáo dục góp phần đưa chất lượng dạy học tại các trường Tiểu học trên địa bàn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng ngày càng phát triển cao hơn

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường tiểu học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học

3.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

3.3 Đề xuất một số biện pháp về quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5 Giả thuyết khoa học

Trong những năm qua, công tác quản lí thiết bị giáo dục ở các trường Tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã đạt được kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên so với yêu cầu đổi mới giáo dục vẫn còn hạn chế Nếu vận dụng hợp lý những biện pháp quản lý thiết bị giáo dục do tác giả đề xuất thì hiệu quả xây dựng, sử dụng, bảo quản thiết bị giáo dục sẽ được nâng cao góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học

Trang 13

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Chỉ nghiên cứu các biện pháp quản lý thiết bị giáo dục tại các trường

Tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng trong các năm học:

2009-2010, 2010-2011, 2011-2012

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

7.2.2.Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

7.2.3 Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm

7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

8 Cấu trúc của luận văn

Mở đầu

Nội dung chính

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị giáo dục ở trường học Chương 2: Thực trạng về quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

Chương 3: Biện pháp quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

Kết luận và khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC

Ở TRƯỜNG HỌC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Trực quan trong dạy học là một trong những nguyên tắc lí luận dạy học, được nghiên cứu xuyên suốt qua các thời kì triết học: Trực quan trong triết học cổ đại, trực quan trong triết học siêu hình cận đại , trực quan trong triết học biện chứng duy tâm, trực quan trong triết học duy vật biện chứng

Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lí, giáo dục học, lí thuyết về dạy học trực quan đã có những bước tiến mới nhận thức được vai trò quan trọng của phương tiện- thiết bị dạy học trực quan Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của giáo viên, giúp học sinh không chỉ nhận biết được hiện tượng mà còn nắm rõ bản chất của hiện tượng

TBGD- phương tiện dạy học trực quan, có vai trò lớn trong quá trình nhận thức của học sinh Theo Lênin quy luật nhận thức của con người là "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn"

Theo VAT: Kiến thức thu được qua nghe là 11%, qua nhìn là 81%, qua các giác quan khác là 9% Kiến thức nhớ được qua nghe là 20%, qua nhìn là 30%, qua nghe và nhìn là 50%, qua nói là 80%, qua nói và làm là 90%

Tục ngữ Việt Nam đã có câu đúc kết: Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm

Người Ấn Độ cũng đã từng tổng kết: Tôi nghe- Tôi quên, Tôi nhìn- Tôi nhớ, Tôi làm- Tôi hiểu

Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: Học phải đi đôi với hành

TBGD đóng vai trò quan trọng đối với quá trình dạy học và giáo dục góp phần nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh vì vậy nhiều hội nghị về

Trang 15

giáo dục đã từng khẳng định: Ngành giáo dục cần phải được đổi mới thường xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBGD và phương pháp để tạo cho tất

cả học sinh có những cơ hội học tập Tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế, các nước trên thế giới đều có khuynh hướng hoàn thiện CSVC- TBGD phù hợp với nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

Quản lí TBGD là một trong những hoạt động quản lí của nhà trường,

nó góp phần to lớn cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục Việc quản lí TBGD cần tuân thủ theo đúng những nguyên tắc, nội dung, quy trình của quá trình quản lí, có như vậy biện pháp quản lí mới đạt hiệu quả cao góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TBGD và chất lượng dạy học của nhà trường

Đối với Việt Nam, việc đầu tư CSVC-TBGD đặc biệt được Đảng và Nhà nước quan tâm, từ những năm 1960 Bộ giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành tiêu chí TBGD từ mẫu giáo đến phổ thông, đến 2000 đã chính thức ban hành quy chế thiết bị giáo dục, đến 2010 chính thức ban hành danh mục thiết bị tối thiểu đối với các nhà trường

Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng TBGD của giáo viên chưa đạt hiệu quả do nhiều hạn chế về chất lượng TBGD, kĩ năng sử dụng của giáo viên, biện pháp quản lí của cán bộ quản lí

Chính vì vậy đã có nhiều đề tài nghiên cứu về việc sử dụng TBGD, quản lí TBGD nhằm tìm ra những biện pháp quản lí hiệu quả TBGD như:

Năm 2005, chủ nhiệm đề tài Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ về: "Một số biện pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng"

Năm 2006, đề tài luận văn thạc sỹ: "Một số biện pháp quản lí CSVC và thiết bị trường học của hiệu trưởng các trường THCS huyện miền núi Sơn Dương - Tuyên Quang" của tác giả Nguyễn Thị Huế

Trang 16

Năm 2008, đề tài luận văn thạc sỹ: "Biện pháp quản lí phương tiện dạy học của hiệu trưởng các trường Tiểu học quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Phan Kim Anh

Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề quản lí TBGD tại các trường Tiểu học còn ít đề tài đề cập đến, chính vì vậy mà tác giả đã tiến hành nghiên cứu

cơ sở lý luận và thực trạng quản lí TBGD tại các trường Tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng để từ đó đề xuất một số biện pháp quản lí thiết

bị giáo dục góp phần đưa chất lượng dạy học tại các trường Tiểu học trên địa bàn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng ngày càng phát triển cao hơn

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

sở đảm bảo cho các hoạt động chung của con người đạt được kết quả mong muốn Đó chính là những dấu ấn đầu tiên của hoạt động quản lý

Do đó, quản lí là một hiện tượng xã hội xuất hiện và phát triển cùng với

sự phát triển của xã hội loài người Quản lí là nhân tố khách quan được ra đời

từ bản thân nhu cầu của con người trong mỗi chế độ xã hội và không thể thiếu được trong đời sống con người Quản lí là một phạm trù tồn tại khách quan và

là một tất yếu lịch sử

Với nhiều cách tiếp cận ở các góc độ kinh tế, xã hội, giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã đưa ra những định nghĩa tương đối đồng nhất về khái niệm quản lý

Theo nhà khoa học người Mỹ Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), người được hậu thế coi là "cha đẻ của thuyết quản lý khoa học ", là người rất thành công trong quản lý sản xuất Ông đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình

Trang 17

trong quản lý : "Quản lý là khoa học đồng thời là một nghệ thuật thúc đẩy xã hội phát triển" Ông cho rằng: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [23, tr 327]

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau

về thuật ngữ quản lý, tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau

Tác giả Trần Khánh Đức khẳng định "Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người, hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất" [18, tr 328]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: "Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, (lãnh đạo) và kiểm tra" [13, tr.9]

Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Trong giáo dục nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục

Với cách hiểu như vậy thì quản lí là một hệ thống gồm 3 thành tố cơ bản:

Chủ thể quản lý: là nơi đưa ra những tác động có mục đích, phù hợp

với quy luật chung đến đối tượng quản lí nhằm phối hợp những nỗ lực của các

cá nhân nhằm đưa tổ chức tiến đến mục tiêu Chủ thể quản lí có thể là cá nhân hoặc tập thể

Đối tượng quản lý: là nơi chịu tác động và thay đổi dưới những tác

động có mục đích của chủ thể quản lí Đối tượng quản lí bao gồm con người trong tổ chức và các nguồn lực khác trong và ngoài tổ chức

Trang 18

Mục tiêu quản lý: là hình ảnh mong muốn của tổ chức trong tương lai,

trong một giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể, là trạng thái cần có của tổ chức để

ổn định và phát triển

Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lý

Trong quan hệ quản lí, giữa chủ thể và khách thể thường xuyên tồn tại các mối quan hệ qua lại, với những tác động có tính tương hỗ lẫn nhau Chủ thể quản lí tạo ra các tác động quản lí, còn khách thể quản lí thì tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục tiêu của quản lí Ngày nay, quản lí được coi là một trong năm nhân tố cho phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm: Vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lí; trong đó quản lí đóng vai trò quan trọng, có tính quyết định cho sự thành công

Vậy, ta có thể định nghĩa một cách chung nhất về quản lí như sau:

Quản lý là các tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực và phối hợp mọi nỗ lực của cá nhân để đưa tổ chức tiến đến mục tiêu đã xác định

M«i tr-êng qu¶n lý

C«ng cô qu¶n lý

Ph-¬ng ph¸p qu¶n lý

Chñ thÓ

qu¶n lý

Kh¸ch thÓ qu¶n

Môc tiªu qu¶n lý

Trang 19

Quá trình quản lí là quá trình hoạt động của chủ thể quản lí nhằm thực hiện hệ thống các chức năng quản lí (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) để đưa hệ thống quản lí tới mục tiên đã dự kiến

Mối liên hệ các chức năng quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Quan hệ các chức năng quản lý

Trong quản lí người ta chia ra thành 3 cấp: cấp cao, cấp trung và cấp

cơ sở Nhà quản lí dù ở cấp nào cũng đều phải thực hiện cả 4 chức năng quản

lí nêu trên, song căn cứ vào tính chất và nhiệm vụ của mỗi cấp quản lí mà tỷ

lệ thời gian nhà quản lí phải dành cho các chức năng quản lí không giống nhau: càng ở cấp cao thì tỷ lệ thời gian và công sức dành cho hoạt động kế hoạch hóa càng nhiều hơn, ngược lại ở cấp thấp phải dành tỷ lệ thời gian cho hoạt động chỉ đạo nhiều hơn

Như vậy, thuật ngữ quản lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau Có thể nói rằng: quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Là hoạt động khoa học, bởi lẽ các hoạt động quản lý có tổ chức, có định hướng dựa trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể

Trang 20

Đồng thời, quản lý cũng là một nghệ thuật vì nó vận dụng sáng tạo trên những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong xã hội Quản lý đúng sẽ giúp cho tổ chức hạn chế được các tồn tại, phát huy những mặt mạnh góp phần tạo niềm tin, sức mạnh và truyền thống của một tổ chức

1.2.2 Quản lí giáo dục

Giáo dục là một bộ phận của xã hội, nên quản lý giáo dục (QLGD) là một loại hình quản lý xã hội Dựa trên khái niệm "quản lý" các nhà nghiên cứu về giáo dục đã đưa ra nhiều định nghĩa về QLGD như sau:

Học giả nổi tiếng M.I Kônđacôp cho rằng: QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức, cán bộ, kế hoạch, tài chính cung tiêu nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng cả về mặt số lượng lẫn chất lượng

Theo P.V.Khuđôminxky: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch,

có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ

Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống ở các cấp khác nhau (Từ Trung ương đến địa phương) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội" [24, tr.10]

Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có tổ chức và mang tính hệ thống của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động của mỗi cơ sở giáo dục, cũng như toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu xác định Đó là những tác động phù hợp quy luật khách quan, hướng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Trang 21

Bản chất của QLGD là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu giáo dục

Mục tiêu của QLGD chính là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục, đối với trường học, hoặc đối với những thông số chủ yếu của hệ thống giáo dục trong mỗi nhà trường Những thông số này được xác định trên cơ sở đáp ứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế

xã hội trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước Mục tiêu này gồm: Đảm bảo quyền học sinh vào các ngành học, cấp học, các lớp học đúng chỉ tiêu và tiêu chuẩn Đảm bảo chỉ tiêu và chất lượng đạt hiệu quả đào tạo, phát triển tập thể sư phạm đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đời sống vật chất Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức chính quyền, Đảng, đoàn thể, quần chúng để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo

Đối tượng của QLGD là hoạt động của cán bộ, giáo viên, học sinh và tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện kế hoạch và chương trình GD&ĐT nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã quy định với chất lượng cao

Nội dung QLGD bao gồm một số vấn đề cơ bản, đó là: xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược; quy hoạch; kế hoạch; chính sách phát triển giáo dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị trường học; tổ chức bộ máy QLGD; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý, GV; huy động sử dụng các nguồn lực

Quá trình quản lí giáo dục là quá trình thực hiện hoá các chức năng của quản lí (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) nhằm đưa hệ thống giáo dục tới các mục tiêu đã đặt ra Trong đó:

Chức năng kế hoạch của quản lí giáo dục là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Kế hoạch hoá là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lí giáo dục vào

Trang 22

công tác kế hoạch trong đó chỉ rõ các bước đi, biện pháp thực hiện và đảm bảo các nguồn lực để đạt tới các mục tiêu giáo dục của tổ chức

Chức năng tổ chức của quản lí giáo dục là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục đề ra

Chức năng chỉ đạo của quản lí giáo dục là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu giáo dục với chất lượng cao

Chức năng kiểm tra của quản lí giáo dục là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động giáo dục đạt tới mục tiêu của tổ chức

Quá trình quản lí giáo dục được diễn ra tuần tự từ chức năng kế hoạch đến chức tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Nhưng trong thực tế các chức năng này đan xen, hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện tạo thành quá trình quản lí giáo dục nhờ các chất xúc tác và liên kết là thông tin quản lí và quyết định quản lí

Trong quá trình quản lí giáo dục mối liên hệ giữa thông tin quản lí giáo dục với các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra; mối liên hệ giữa chức năng kế hoạch với chức năng tổ chức; mối liên hệ giữa chức năng tổ chức với chức năng chỉ đạo, mối liên hệ giữa chức năng chỉ đạo với chức năng kiểm tra là mối liên hệ thuận và tác động trực tiếp; còn mối liên hệ giữa chức năng kiểm tra và chức năng kế hoạch là mối liên hệ ngược hoặc thông tin phản hồi trong quá trình quản lí giáo dục

1.2.3 Quản lí nhà trường/trường học

Quản lý giáo dục có thể chia làm hai cấp độ là cấp vĩ mô và cấp vi mô Quản lý giáo dục cấp vĩ mô là quản lí cả hệ thống giáo dục bao gốm tất cả các thành tố của hệ thống trong đó quản lí nhà trường là trọng tâm Quản lí nhà trường là thuật ngữ đồng nghĩa với quản lí giáo dục ở cấp vi mô Nó là những tác động quản lí diễn ra trong phạm vi nhà trường

Nhà trường là một thiết chế xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội, hoạt động trong tính

Trang 23

quy định của xã hội theo những dấu hiệu phân biệt : tính mục đích tập trung; tính tổ chức và kế hoạch cao; tính hiệu quả giáo dục và đào tạo nhờ quá trình truyền thụ có ý thức; tính biệt lập tương đối; tính chuyên biệt cho từng đối tượng

Trường học là một tổ chức tập hợp những con người (giáo viên, nhân viên, học sinh) mà hoạt động của họ đều nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, điều đó tạo cho họ một sự liên kết chặt chẽ cơ chế hoạt động theo tính quy luật cả khách quan, cả chủ quan và cả hoạt động quản lí của chính bản thân giáo viên và học sinh Trong nhà trường giáo viên và học sinh không những là khách thể mà còn là chủ thể quản lí Với tư cách là khách thể quản lí, giáo viên và học sinh là đối tượng tác động của chủ thể quản lí là Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng Với tư cách là chủ thể quản lí, giáo viên và học sinh là người tham gia chủ động, tích cực vào hoạt động quản lí và biến toàn bộ hệ thống thành hệ tự quản

Quản lí nhà trường là quá trình hoạt động nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra tiến đến trạng thái có chất lượng mới cao hơn và ổn định Quản lí nhà trường chủ yếu là tác động đến tập thể giáo viên và học sinh

để tổ chức và phối hợp các hoạt động của họ trong quá trình giáo dục học sinh theo mục tiêu đào tạo

Quản lí nhà trường là quá trình nắm vững các văn bản pháp quy, thực trạng nhà trường về cán bộ giáo viên và các điều kiện vật chất , các thông tin

về môi trường từ đó lựa chọn, sắp xếp, hướng dẫn thực hiện các quyết định quản lí theo một phương án tối ưu nhằm giúp cho các đối tượng quản lí vận động hướng tới việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của nhà trường

Trang 24

động được thuận lợi và có hiệu quả, chỉ đạo sát sao và kiểm tra đánh giá hoạt động của trường học

Quản lý vi mô là quản lý của các nhà quản lý ở trong nhà trường, quản

lí trực tiếp trường học về các mặt: quản lí quá trình giáo dục và đào tạo; quản

lí trường sở, TBGD; quản lí hành chính; quản lí tài chính; quản lí nhân sự (cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh); quản lí môi trường giáo dục

Có thể khái quát : Quản lí trường học/ nhà trường là hoạt động của

các cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường Quản lý nhà trường là vận hành quá trình giáo dục trong nhà trường theo quan điểm đường lối giáo dục của Đảng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu học tập của nhân dân, phát triển nhân cách toàn diện cho người học đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội

Có thể thấy, quản lí trường học bao gồm quản lí các tác động qua lại giữa trường học và xã hội, đồng thời quản lí chính nhà trường Có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống bao gồm các thành tố:

- Thành tố tinh thần: mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục

- Thành tố con người: thầy giáo, học sinh

- Thành tố vật chất: CSVC, thiết bị phục vụ giáo dục

Quản lí nhà trường là quản lí hệ thống sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng của chủ thể quản lí trên tất cả các mặt của đời sống của nhà trường Như vậy, quản lí nhà trường thực chất là quản lí lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học; là quản lí tập thể giáo viên và học sinh để chính họ lại quản lí (đối với giáo viên) và tự quản lí (đối với học sinh) trong quá trình dạy - học Đồng thời, quản lí nhà trưòng còn bao gồm quản các công việc khác có tính chất điều kiện như: đội ngũ, tổ

Trang 25

chức hoạt động của các đoàn thể trong trường, CSVC, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh

1.2.4 Thiết bị giáo dục

Trong trường học, hệ thống cơ sở vật chất và thiết bị dạy học có chức năng sử dụng cho mục đích giáo dục và đào tạo được gọi là hệ thống cơ sở vật chất sư phạm CSVC và TBGD là tất cả các phương tiện vật chất được huy động vào việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục đích giáo dục

TBGD là thuật ngữ đại diện cho các cách gọi khác nhau: học cụ, đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học, là một bộ phận của CSVC trường học trực tiếp

có mặt trong các giờ học được thầy trò cùng sử dụng

Hệ thống CSVC sư phạm được chia ra là ba bộ phận: Trường sở (nhà cửa, lớp học, sân chơi bãi tập, khuôn viên ); Sách và thư viện trường học; TBGD (máy móc, dụng cụ thí nghiệm, mô hình, tranh ảnh, tư liệu điện tử ) Cái lõi của CSVC sư phạm trường học chính là TBGD

TBGD là các phương tiện vật chất cần thiết được giáo viên và học sinh

sử dụng nhằm thực hiện có hiệu quả các chương trình giáo dục, giảng dạy giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, trong hoạt động khám phá và lĩnh hội tri thức góp phần nâng cao chất lượng giáo dục để đạt được mục tiêu đề ra

TBGD là các phương tiện phục vụ hoạt động dạy học và giáo dục của nhà trường, được trang bị hoặc do giáo viên tự làm, được chi kinh phí từ nguồn ngân sách ; được trang bị từ công tác XHH giáo dục hoặc nhà trường

tự mua sắm bằng nguồn kinh phí được phép thu từ phí học sinh hay gia đình học sinh

TBGD được phân loại theo nhiều cách khác nhau :

Phân loại theo loại hình là căn cứ vào hình thức tồn tại của đối tượng gồm có mô hình, mẫu vật, vật thật, ấn phẩm, tài liệu nghe nhìn, dụng cụ thí nghiệm, phương tiện hiện đại, hoá chất

Trang 26

Phân loại theo chức năng: TBGD truyền tải thông tin (chứng minh), TBGD luyện tập (thực hành), TBGD kiểm tra (đối chứng), TBGD hỗ trợ (dùng chung), TBGD phục vụ công tác nghiên cứu khoa học

Phân loại theo nguồn gốc xuất xứ hay giá trị: TBGD chính quy, không chính quy, TBGD tự làm, TBGD giá thành hạ

Từ thực tế, có thể khái quát TBGD trong nhà trường được quy định theo danh mục thiết bị tối thiểu được Bộ giáo dục và đào tạo ban hành năm

2009 gồm : Tranh ảnh, bản đồ, lược đồ; Dụng cụ; Mẫu vật; Mô hình; Băng đĩa; Thiết bị dùng chung (đầu đĩa, tivi, đài, máy tính, máy chiếu, máy ảnh ) Ngoài ra nhà trường còn có TBGD tự làm

Tuy nhiên, TBGD được sử dụng trong quá trình dạy học và giáo dục phải đảm bảo các yêu cầu và tính chất của TBGD

TBGD phải phù hợp với đối tượng ; TBGD phải phù hợp với khả năng

và đặc điểm tư duy của học sinh

TBGD phải đảm bảo tính khoa học (mức độ chuẩn xác trong việc phản ánh hiện thực); TBGD phải đảm bảo tính sư phạm (phù hợp với các yêu cầu

về mặt sư phạm như độ rõ, kích thước, màu sắc, dễ sử dụng, phù hợp tâm lí học sinh); TBGD phải đảm bảo tính thẩm mỹ, khả thi và an toàn; TBGD phải đảm bảo tính kinh tế (giá thành tương xứng với hiệu quả giáo dục – đào tạo, hợp lí với chất lượng sản phẩm)

Như vậy TBGD có thể đơn giản hay hiện đại nhưng qua sử dụng nó phải cho kết quả khoa học, đảm bảo yêu cầu về mặt mỹ quan, sư phạm, an toàn và giá cả hợp lí, tương xứng với hiệu quả mà nó mang lại và không nhất thiết là những thiết bị đắt tiền

Quá trình dạy học, giáo dục được cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau đó là : Mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh, TBGD TBGD là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của quá trình dạy học, giáo dục TBGD là cầu nối để giáo viên, học sinh sử dụng phương pháp thông qua hội dung để đạt nội dung TBGD là một bộ

Trang 27

phận của nội dung và phương pháp, chúng có thể vừa là phương tiện để nhận thức, vừa là đối tượng để nhận thức TBGD cho phép thực hiện nguyên tắc trực quan trong dạy học; Góp phần đảm bảo chất lượng kiến thức theo những đặc trưng cơ bản (tính chính xác, khoa học; tính tổng quát; tính hệ thống; tính chuyển hoá; tính thực tiễn, vận dụng được; tính bền vững); Dạy phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học, làm việc; Rèn luyện kĩ năng nhiều mặt cho người học

TBGD có vai trò là công cụ lao động của người giáo viên; là công cụ nhận thức của học sinh; là sự cụ thể hoá nội dung dạy học; vật chất hoá phương pháp đào tạo; tham gia vào thúc đẩy sự hiện thực hoá mục tiêu đào tạo góp phần làm cho quá trình đào tạo có chất lượng, hiệu quả

Trước đây, TBGD chủ yếu để minh họa cho bài giảng Đây là quan niệm đã lỗi thời, chưa đầy đủ, chưa thể hiện hết tầm quan trọng cũng như vai trò của TBGD Hiện nay quan niệm mới TBGD là nguồn tri thức Giáo viên dùng chính TBGD để dạy Học sinh thu nhận những kiến thức chính từ TBGD chứ không phải đơn thuần dựa trên những lời giảng của giáo viên

TBGD lại đặc biệt quan trọng đối với học sinh Tiểu học vì nó giúp các

em quan sát sự vật, hiện tượng một cách trực quan, giúp học sinh nhận thức sâu hơn nội dung bài học, hình thành tốt kỹ năng kỹ xảo, tạo điều kiện trực tiếp cho học sinh phát huy tính tích cực chủ động, phát triển năng lực sáng tạo trong tiếp thu kiến thức, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

1.3 Quản lí thiết bị giáo dục

Quản lí TBGD là một trong những mục tiêu (hay là một hoạt động quản lí trong nhà trường) Quản lí TBGD làm cho TBGD có mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung, với phương pháp dạy, với phương pháp học theo định hướng của mục tiêu đào tạo đã vạch ra, là khâu quan trọng trong quản lí nhà trường

Trang 28

Quản lí TBGD là tác động có mục đích của người quản lí nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống TBGD phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và đào tạo

Nội dung của TBGD mở rộng đến đâu thì tầm quản lí cũng phải mở rộng

và sâu tương ứng TBGD chỉ phát huy được tác dụng tốt trong việc giáo dục, đào tạo khi được quản lí tốt

Quản lí TBGD là một lĩnh vực vừa mang đặc tính kinh tế - giáo dục vừa mang đặc tính khoa học - giáo dục nên quản lí TBGD một mặt vừa phải tuân thủ các yêu cầu chung về quản lí kinh tế, khoa học vừa phải tuân theo các yêu cầu quản lí chuyên ngành giáo dục

Quản lí TBGD cần tuân thủ theo các nguyên tắc chung :

- TBGD được đầu tư cấp phát, nhà trường tự mua sắm bổ sung hoặc được các tổ chức, cá nhân ngoài nhà trường tặng, biếu phục vụ các hoạt động của nhà trường dù đơn giản hay hiện đại có giá trị kinh tế đều thuộc tài sản của Nhà nước do nhà trường quản lí và hiệu trưởng nhà trường chịu trách nhiệm theo đúng quy định của Nhà nước TBGD phải được quản lí sử dụng hiệu quả, phục vụ các hoạt động của nhà trường và các hoạt động giáo dục khác theo yêu cầu cấp trên, không sử dụng vào các mục đích khác

- Hàng năm phải có kế hoạch kiểm kê TBGD theo định kì hay kiểm tra bất thường và có trách nhiệm báo cáo, chịu sự quản lí, thanh kiểm tra của cấp trên

- TBGD phải được quản lí bằng hồ sơ sổ sách, có đầy đủ biên bản giao nhận, cập nhật hàng năm, trình bày khoa học, rõ ràng ; được phân loại, thống

kê theo dõi có tính đến tỷ lệ hao mòn Mua sắm TBGD phải có hợp đồng, hoá đơn chứng từ liên quan

- TBGD bị mất mát, hỏng hóc không sử dụng được, thừa thiếu phải có biên bản, thể hiện trong sổ sách, muốn thanh lí phải có quyết định của cấp có thẩm quyền theo đúng chế độ về quản lí tài chính hiện hành

Trang 29

Theo tác giả Bùi Minh Hiền quản lí TBGD cần tuân thủ nghiêm ngặt bốn nguyên tắc:

- Nguyên tắc về tính mục đích: Khi sử dụng một TBGD nào đó phải xác định được nhiệm vụ của nó theo chương trình học Nếu TBGD không có nhiệm vụ rõ ràng đối với bài học, đối với chương trình học đang đặt ra trong nhà trường thì không nên sử dụng nó vì điều đó sẽ đem lại các hậu quả tiêu cực về mặt sư phạm

- Nguyên tắc về tính phù hợp: Sử dụng TBGD phải đúng lúc, đúng chỗ

và đủ cường độ Mỗi TBGD có vị trí xác định theo nội dung bài học, người giáo viên phải xác định được phương pháp sử dụng TBGD đó cho phù hợp với tiến trình bài học

- Nguyên tắc về tính kế thừa và phát triển: Các nhà trường cần có kế hoạch sửa chữa, tái trang bị TBGD nhằm tận dụng TBGD cho phù hợp với kế hoạch đào tạo của nhà trường đồng thời cần khai thác tích cực các nguồn có thể có như vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước, vốn theo phương thức XHH giáo dục, vốn tự có do thành quả lao động của mình để từng bước hiện đại hoá các TBGD và khuyến khích giáo viên, học sinh tự tạo TBGD để bổ sung thêm TBGD TBGD phải phục vụ cho mục tiêu phát huy tính tích cực của người học làm cho khâu thực hành và học gắn liền với nhau TBGD trong nhà trường không chỉ phục vụ cho việc đào tạo nội bộ của nhà trường mà còn phải được phát triển để phát huy ảnh hưởng tới các nhà trường trong đời sống cộng đồng

- Nguyên tắc tuân thủ theo chu trình quản lí: Việc sử dụng TBGD trong nhà trường không chỉ là công việc của giáo viên mà nó liên quan đến người quản lí nhà trường vì vậy việc quản lí TBGD cần tuân thủ theo các bước của chu trình quản lí: Kế hoạch hoá, tổ chức thực hiện, điều hành (chỉ đạo), kiểm tra giám sát (điều chỉnh, phân tích, tổng kết, rút kinh nghiệm) Quản lí TBGD phải phù hợp với bậc học, với điều kiện của từng nhà trường Quản lí TBGD phải đảm bảo tính hai mặt của công tác quản lí Mặt hành chính nhằm đảm

Trang 30

bảo sự tồn tại và phát triển của TBGD trong nhà trường đòi hỏi phải tuân thủ theo các quy định của Nhà nước về quản lí tài sản Mặt chuyên môn nhằm phát huy tiềm năng sẵn có của TBGD để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường đòi hỏi cần động viên, khuyến khích giáo viên trong việc trang bị, sử dụng, bảo quản TBGD

Hoạt động quản lí TBGD được thực hiện thông qua các chức năng của quản lí: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra với các nội dung của quản lí TBGD đó là: quản lí việc xây dựng TBGD, quản lí việc sử dụng TBGD, quản lí việc bảo quản TBGD

Quản lý việc xây dựng TBGD: bao gồm công tác mua sắm, sửa chữa TBGD đã hỏng

Quản lý việc sử dụng TBGD: Dựa trên các văn bản quy định mà hiệu trưởng có quy định cho việc sử dụng TBGD

Quản lý việc bảo quản TBGD: Xây dựng kế hoạch bảo quản TBGD Tùy từng loại TBGD mà có cách bảo quản riêng

Quản lý TBGD ở các trường Tiểu học là một trong các công tác mà nhà trường coi trọng trong giai đoạn hiện nay Đây là một trong công tác trọng tâm của Hiệu trưởng trường Tiểu học

1.4 Cơ sở pháp lý của quản lý thiết bị giáo dục ở Tiểu học

1.4.1 Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Điều 26, Luật Giáo dục năm 2005 đã quy định: "Giáo dục Tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của HS vào học lớp một là sáu tuổi "

Giáo dục Tiểu học là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, trường Tiểu học gắn liền với cộng đồng, hoạt động giáo dục ở cấp Tiểu học trong và ngoài nhà trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt văn hoá và đời sống địa phương Phát triển giáo dục Tiểu học bền vững là xây dựng nền móng vững chắc không chỉ cho giáo dục phổ thông mà còn cho cả sự hình

Trang 31

thành và phát triển nhân cách của mỗi con người - nguồn nhân lực cho mai sau

Điều 27, Luật Giáo dục năm 2005 quy định mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm

mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở (Khoản 2, Điều 27, Luật

GD 2005)

Mục tiêu giáo dục tiểu học được cụ thể hoá thành mục tiêu của các môn học và các hoạt động giáo dục khác trong chương trình tiểu học Đặc biệt, mục tiêu giáo dục tiểu học đã được cụ thể hoá thành các yêu cầu cơ bản cần đạt của học sinh tiểu học bao gồm các yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng, thói quen, niềm tin, thái độ, hành vi, định hướng, Các yêu cầu cơ bản này lại phân định thành các mức độ phù hợp với từng lớp ở cấp tiểu học

Nội dung và phương pháp giáo dục Tiểu học cũng được quy định cụ thể

ở điều 28 luật giáo dục năm 2005: "Giáo dục Tiểu học phải đảm bảo cho HS

có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng

cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể; giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật "

"Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp dạy tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh "

Trang 32

Như vậy, giáo dục Tiểu học là cấp học hình thành cho người học những điều kiện cần thiết ban đầu, mang tính nền tảng, để từ đó học sinh có thể tiếp tục học lên cao hơn Trong giai đoạn hiện nay, khi giáo dục đang thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa để phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước thì vai trò, nhiệm vụ của cấp Tiểu học càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

1.4.2 Hiệu trưởng trường Tiểu học với công tác quản lí thiết bị giáo dục

Trường Tiểu học là một cơ sở giáo dục nên quản lí trường Tiểu học được hiểu là quản lí theo nghĩa hẹp Quản lý trường Tiểu học là tập hợp các động tác, tối ưu sự cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp của Hiệu trưởng đến tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh, nhằm tận dụng các nguồn lực, hướng vào việc đẩy mạnh hoạt động của nhà trường, để thực hiện

có chất lượng các mục tiêu đề ra

Hiệu trưởng trường tiểu học là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường Hiệu trưởng do Trưởng phòng giáo dục và đào tạo bổ nhiệm đối với trường tiểu học công lập, công nhận đối với trường tiểu học tư thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền.

Hiệu trưởng trường Tiểu học công lập có nhiệm vụ và quyền hạn :

- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;

- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó Đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;

- Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;

- Quản lý hành chính; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài

Trang 33

chính, tài sản của nhà trường;

- Quản lý học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỷ luật, phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;

- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;

- Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;

- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng

Quản lí TBGD là một hoạt động trong quá trình quản lí trường học của người hiệu trưởng, là một trong những nhiệm vụ đã được quy định đối với người hiệu trưởng trong nhà trường Tiểu học

Hoạt động quản lí TBGD của người hiệu trưởng trường Tiểu học là cả một quá trình lâu dài, do đó để quản lí TBGD trong nhà trường người hiệu trưởng cần phải nắm vững cơ sở lí luận và thực tiễn về lĩnh vực quản lí; nắm vững các chức năng, nội dung quản lí, biết phân lập và phối hợp các nội dung, các mặt quản lí ; hiểu rõ đòi hỏi của chương trình giáo dục và những điều kiện TBGD để thực hiện chương trình; có ý tưởng đổi mới và thực hiện ý tưởng bằng một kế hoạch khả thi; biết huy động mọi tiềm năng có thể có của tập thể

và cộng đồng cao công việc; có biện pháp tập trung mọi tiềm năng vật chất vào một hướng thống nhất là đảm bảo TBGD để nâng cao chất lượng giáo dục

Hiệu trưởng phải nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, vị trí, vai trò của TBGD trong quá trình sư phạm của nhà trường đồng thời làm cho các thành viên của

Trang 34

Hội động sư phạm và học sinh thấy rõ mối quan hệ giữa TBGD với phương pháp và chất lượng giáo dục Để quản lí tốt TBGD người hiệu trưởng ngoài lòng nhiệt tình, năng lực còn cần có một số hiểu biết và kĩ năng chuyên ngành phụ trách, hiệu trưởng cần nắm được một số nội dung và phương pháp làm việc trong công tác quản lí TBGD như sau :

Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lí toàn diện về TBGD: Hiệu trưởng có trách nhiệm và quyền hạn là người đứng đầu nhà trường trong việc quản lí TBGD, có tư cách pháp nhân quản lí toàn bộ TBGD đồng thời là người có trách nhiệm bảo quản, sử dụng và phát huy hiệu quả của TBGD trong mọi vấn đề đặt ra bằng mọi biện pháp như thực thi thẩm quyền; nghiêm chỉnh thực hiện quy định của Nhà nước và của các cấp quản lí Ngành; thực hiện dân chủ hoá trường học, phát huy tinh thần là chủ, sáng tạo, chủ động của đội ngũ giáo viên và học sinh; đề xuất, phân công, động viên vật chất và tinh thần; huy động các nguồn lực

Hiệu trưởng tổ chức công tác quản lí TBGD: Trường Tiểu học phải có biên chế nhân viên thư viện-thiết bị chuyên trách; hiệu trưởng quản lí TBGD theo đúng nguyên tắc quy định của Nhà nước, có đủ hồ sơ và sổ sách quản lí; thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm kê theo định kì, đột xuất; Xây dựng kế hoạch hàng năm về trang bị, tái trang bị TBGD bằng nhiều con đường; đảm bảo chế

độ tiêu hao trong công tác thực nghiệm, kinh phí hỗ trợ cho việc tự làm và sáng tạo TBGD cho việc dạy học của nhà trường; Nhân viên thư viện-thiết bị giúp hiệu trưởng dự trù kinh phí, kế hoạch mua sắm TBGD hàng năm, có biện pháp quản lí tốt và phát huy hiệu quả của TBGD, trang bị TBGD bằng nhiều biện pháp khác nhau, hỗ trợ đắc lực về chuyên môn cho giáo viên; Kinh phí cho TBGD từ nhiều nguồn khác nhau như ngân sách nhà nước, đóng góp của nhân dân vì vậy cần có kế hoạch sử dụng tốt các nguồn kinh phí đúng mục đích, không cắt xén hay dùng cho việc khác; Luôn có sự cải tiến, bổ sung điều kiện đáp ứng việc hiện đại hoá công tác giáo dục và đào tạo

Trang 35

Quản lí TBGD của người hiệu trưởng là quản lí cả một khối công việc lớn nên người hiệu trưởng phải không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và bản lĩnh người lãnh đạo, nỗ lực lớn vì mục đích tất cả vì sự nghiệp giáo dục, vì thế hệ tương lai

Hiệu trưởng Tiểu học phải nắm rõ Thông tư 15/2009/TT-BGDĐT ngày 16/7/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp Tiểu học để so sánh, đối chiếu với TBGD mà nhà trường hiện có để có kế hoạch quản lý TBGD trong trường mình một cách tốt nhất

Công tác quản lí TBGD của hiệu trưởng bao gồm các nội dung cơ bản sau: Quản lí việc xây dựng TBGD; Quản lí việc sử dụng TBGD; Quản lí việc bảo quản TBGD Tuy nhiên để công tác quản lí TBGD trong nhà trường đóng góp vai trò quan trọng trong đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng TBGD thì hiệu trưởng cần quan tâm, chú trọng đến các biện pháp:

Bồi dưỡng nâng cao nhận thức về vai trò của TBGD, QL TBGD đối với CB, GV, NV, HS và PHSH

Xây dựng và tổ chức hoạt động bộ máy quản lí TBGD

Quản lí xây dựng TBGD

Tăng cường quản lí sử dụng và bảo quản TBGD

Tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho CB, GV, NV, HS tham gia quản lí TBGD

1.4.3 Các văn bản của ngành về thiết bị giáo dục

Thông tư Liên bộ số 34/TT - LB ngày 26/7/1990 của Bộ Tài chính - Bộ Giáo dục và Ðào tạo hướng dẫn quản lý vốn sự nghiệp đầu tư cho giáo dục đã

ghi rõ: "Liên sở Giáo dục và Tài chính cần kết hợp chặt chẽ để bố trí hợp lý

đáp ứng kinh tế cho các khoản chi khác, trong đó dành tối thiểu 6 - 10% tổng ngân sách chi cho sự nghiệp giáo dục phổ thông, để mua sắm trang thiết bị,

đồ dùng dạy học, sách giáo khoa và các thiết bị cho thư viện trường học nhằm tạo điều kiện nâng cao chất lượng dạy học cho nhà trường "

Trang 36

Luật Giáo dục đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã chỉ rõ trong điều 99 (Nội dung quản lý nhà nước về GD), điều 100 (Cơ quan quản lý

nhà nước về GD: "Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về

GD theo sự phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện

về đội ngũ nhà giáo , tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các nhà trường công lập thuộc phạm vi quản lý, đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả GD tại địa phương "

Điều lệ trường Tiểu học

Thông tư 15/2009/TT-BGDĐT ngày 16/7/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp Tiểu học

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thiết bị giáo dục ở trường học

Quản lý TBGD là công tác chung và có tầm ảnh hưởng đến tất cả mọi hoạt động của nhà trường Ngược lại có một số yếu tố sau ảnh hưởng đến quản lý TBGD:

1.5.1 Cơ chế chính sách

Hầu hết các TBGD cung cấp cho các trường Tiểu học đều do Nhà nước cấp phát Tuy nhiên số lượng có hạn, chỉ một số trường được ưu tiên mới nhận được TBGD cấp phát Nếu có cơ chế chinh sách phù hợp thì việc trang

bị TBGD cho các trường sẽ tốt hơn, đáp ứng nhu cầu sử dụng của giáo viên

và học sinh

1.5.2 Nhà quản lý

Quản lý thiết bị giáo dục là công việc của người quản lý chính là Hiệu trưởng Hiệu trưởng có trách nhiệm quản lý toàn diện về TBGD từ khâu xây dựng, sử dụng, bảo quản Do đó TBGD có phát huy tính tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hay không chính là do nghệ thuật quản lý của Hiệu trưởng Hiệu trưởng phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bên cạnh

đó phải có năng lực lãnh đạo và một số phẩm chất khác để quản lý TBGD đạt hiệu quả cao

Trang 37

1.5.3 Giáo viên

Giáo viên là người sử dụng trực tiếp TBGD để giảng dạy cho học sinh Giáo viên cần hiểu rõ tính năng cũng như tình trạng của TBGD Hiệu quả sử dụng của TBGD đến đâu là do giáo viên bởi vậy giáo viên phải có trình độ, biết cách sử dụng và khai thác TBGD Không chỉ sử dụng tốt, giáo viên cũng phải biết cách bảo quản nó đúng theo quy định Điều này phụ thuộc vào sự cẩn thận, lòng nhiệt tình của người sử dụng Song song với việc sử dụng TBGD sắn có, giáo viên tự sáng tạo ra TBGD phục vụ cho dạy học của mình, chính họ là người tạo ra TBGD phù hợp với tình hình thực tế nhất Qua đây

có thể thấy vai trò của giáo viên rất lớn ảnh hưởng tới quản lý thiết bị giáo dục

1.5.4 Học sinh

Học sinh là đối tượng trực tiếp sử dụng TBGD, thông qua TBGD để thu nhận kiến thức Do đó, học sinh ảnh hưởng không nhỏ đến việc quản lý TBGD Học sinh kết hợp với giáo viên sử dụng, bảo quản và xây dựng TBGD

1.5.5 Tài chính

Trước đây TBGD chủ yếu được cấp từ ngân sách nhà nước, tuy nhiên chưa thể đầy đủ và đồng bộ Nhà trường hàng năm đã huy động các nguồn vốn để mua bổ sung thiết bị giáo dục Trong thời đại CNTT, TBGD hiện đại được sử dụng là chủ yếu nhưng giá thành rất cao Do đó để trang bị 1 loại TBGD thôi cũng rất tốn kém Bên cạnh đó, việc sửa chữa, tu bổ, bảo quản TBGD cũng mất khoản chi phí không nhỏ Do đó trường nào có nguồn tài chính dồi dào thì việc quản lý TBGD của trường đó chắc chắn sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn

Trang 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1 của luận văn đã tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản có tính chất cơ sở để triển khai nội dung các chương tiếp theo Đó là các luận điểm lý luận sau:

Lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, thiết bị giáo dục Quản lí đã và đang khẳng định vai trò của nó trong mọi mặt của đời sống xã hội Quản lý giáo dục, đặc biệt là quản lí nhà trường vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, đòi hỏi người Hiệu trưởng phải nắm vững những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí nói chung, quản lý giáo dục nói riêng để vận dụng tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường đạt hiệu quả cao

TBGD là các phương tiện vật chất cần thiết được giáo viên và học sinh

sử dụng nhằm thực hiện có hiệu quả các chương trình giáo dục, dạy học giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, trong hoạt động khám phá và lĩnh hội tri thức góp phần nâng cao chất lượng giáo dục để đạt được mục tiêu đề ra

Lý luận về quản lý thiết bị giáo dục

TBGD là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của quá trình dạy học, giáo dục

Quản lí TBGD là hoạt động quan trọng và cần thiết trong quản lí hoạt động dạy học Quản lí TBGD là một trong những công việc của người cán bộ quản lí , là đối tượng quản lí trong nhà trường

Cơ sở pháp lý của quản lý thiết bị giáo dục ở các trường Tiểu học Giáo dục Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây là cấp học hình thành cho người học những điều kiện ban đầu, mang tính nền tảng, để từ

đó học sinh có thể tiếp tục học lên cao hơn

- Hiệu trưởng trường Tiểu học quản lý TBGD bao gồm các nội dung cơ bản: Quản lí xây dựng TBGD; Quản lí sử dụng TBGD; Quản lí bảo quản TBGD

Trang 39

- Các văn bản về TBGD

Có 5 yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thiết bị giáo dục: cơ chế chính sách, nhà quản lý, giáo viên, học sinh, tài chính

Thực tiễn cho thấy, nhiệm vụ quản lí TBGD được thực hiện thành công

là nhờ vào nhận thức đầy đủ, quyết định đúng đắn, ý đồ chuyên môn rõ rệt, khả năng dựa vào đội ngũ giáo viên của người Hiệu trưởng Chính vì vậy quản lí TBGD trong nhà trường thực sự là cần thiết và để có thể có được những biện pháp quản lí TBGD hiệu quả thì người hiệu trưởng luôn phải đánh giá được thực trạng quản lí TBGD của trường mình

Từ cơ sở lí luận nghiên cứu ở trên, tác giả đã tiến hành điều tra, đánh giá thực trạng công tác quản lí TBGD của Hiệu trưởng các trường Tiểu học trên địa bàn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC

Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN AN DƯƠNG,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá-

xã hội, giáo dục và đào tạo huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

2.1.1 Vài nét về tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

Huyện An Dương nằm ở phía tây thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố khoảng 10 km Với tổng diện tích đất tự nhiên là 97,6 km2

Về vị trí địa lý: phía bắc tiếp giáp huyện Thuỷ Nguyên; phía nam tiếp giáp với quận Kiến An; phía đông tiếp giáp với quận Lê Chân và Hồng Bàng Là một huyện cửa ngõ của thành phố với quốc lộ đường 5, đường 10 đi qua, An Dương có nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế - xã hội Với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa phát triển nhanh, cơ sở hạ tầng nhất là cơ sở phục vụ sản xuất được quan tâm đầu tư, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, huyện

An Dương chủ trương tiếp tục thực hiện cơ cấu kinh tế theo mô hình công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, thực hiện tốt các chính sách xã hội, thực hiện bình đẳng trong quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp

Có nhiều khu công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thu hút nhiều lao động trong và ngoài thành phố đến làm việc và sinh sống, như khu công nghiệp Nomura - Nhật Bản, thuộc xã An Hưng, khu công nghiệp Tràng Duệ xã Lê Lợi, khu công nghiệp Thẩm - Việt Trung Quốc xã Hồng Phong, Thu nhập bình quân đầu người đạt mức 1.080 USD/năm, điều kiện kinh tế xã hội tương đối ổn định Toàn huyện có 16 đơn vị hành chính xã, thị trấn với tổng dân số

là 150.865 người và 40.073 số hộ An Dương là huyện có truyền thống cách mạng, và hiếu học, nhân dân An Dương cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn, thách thức

Ngày đăng: 16/03/2015, 17:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Mô hình về quản lý - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Sơ đồ 1.1. Mô hình về quản lý (Trang 18)
Sơ đồ 1.2: Quan hệ các chức năng quản lý - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Sơ đồ 1.2 Quan hệ các chức năng quản lý (Trang 19)
Bảng 2.1. Kết quả thống kê quy mô trường lớp, HS các trường Tiểu học TT  Tên trường  Số lớp  Số HS  Đạt chuẩn QG - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Bảng 2.1. Kết quả thống kê quy mô trường lớp, HS các trường Tiểu học TT Tên trường Số lớp Số HS Đạt chuẩn QG (Trang 46)
Bảng 2.2.  Kết quả thống kê CSVC và TBGD hiện có của các trường Tiểu học - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Bảng 2.2. Kết quả thống kê CSVC và TBGD hiện có của các trường Tiểu học (Trang 47)
Bảng 2.3: Thống kê kết quả khảo sát về đội ngũ CBQL - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Bảng 2.3 Thống kê kết quả khảo sát về đội ngũ CBQL (Trang 48)
Bảng  2.3  cho  thấy:  Đội  ngũ  cán  bộ  quản  lý  tại  các  trường  TH  An  Dương là những cán bộ nhiều năm công tác - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
ng 2.3 cho thấy: Đội ngũ cán bộ quản lý tại các trường TH An Dương là những cán bộ nhiều năm công tác (Trang 49)
Bảng 2.6: Kết quả xếp loại học lực của học sinh  năm học 2011-2012  Xếp loại học lực môn Toán - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Bảng 2.6 Kết quả xếp loại học lực của học sinh năm học 2011-2012 Xếp loại học lực môn Toán (Trang 50)
Bảng 2.6 cho thấy: Chất lượng giáo dục đạo đức của các trường Tiểu  học trên địa bàn huyện An Dương rất tốt, 100% học sinh thực hiện đầy đủ - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Bảng 2.6 cho thấy: Chất lượng giáo dục đạo đức của các trường Tiểu học trên địa bàn huyện An Dương rất tốt, 100% học sinh thực hiện đầy đủ (Trang 51)
Bảng 2.7. Thống kê số lƣợng thiết bị giáo dục - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Bảng 2.7. Thống kê số lƣợng thiết bị giáo dục (Trang 52)
Bảng 2.8. Đánh giá về chất lƣợng thiết bị giáo dục - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Bảng 2.8. Đánh giá về chất lƣợng thiết bị giáo dục (Trang 53)
Bảng 2.9. Mức độ sử dụng các loại thiết bị giáo dục - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Bảng 2.9. Mức độ sử dụng các loại thiết bị giáo dục (Trang 55)
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi   của các biện pháp đề xuất - Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất (Trang 88)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w