Các loại hình trung tâm đào tạo không chính quy, ngoài các tổ chức và cá nhân trong nước đứng ra thành lập, còn có người nước ngoài tham gia, làm cho hoạt động GDTX thêm phong phú, đá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
-
NGUYỄN ĐỨC TRỌNG
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN - TỈNH VĨNH PHÚC TRONG GIAI ĐOẠN
Trang 2CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁM ĐỐC
TRUNG TÂM GDTX CẤP HUYỆN
14
1.2.1 Khái niệm quản lý , chư ́ c năng quản lý 16
1.2.3.Mô ̣t số vấn đề cơ bản về Trung tâm GDTX 25
1.4.2.Nô ̣i dung công tác xây dựng và phát triển đô ̣i ngũ 34 1.5 Quản lý phát triển đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX 38 1.5.1.Nô ̣i dung quản lý phát triển đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX 38 1.5.2.Yêu cầu công tác của trung tâm GDTX trong giai đoạn hiện nay và nhiệm vụ
quản lý phát triển đội ngũ giám đốc của các trung tâm GDTX
44
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM 47
Trang 32.3.2 Chất lượng đội ngũ giám đốc Trung tâm GDTX 54 2.3.3.Những đánh giá chung về đội ngũ giám đốc TT GDTX cấp huyện ở Vĩnh
2.4.1.Vấn đề đánh giá thực trạng năng lư ̣c quản lý của đội ngũ giám đốc TT GDTX 59
2.4.3.1.Đội ngũ lãnh đạo các Trung tâm GDTX tự đánh giá 62 2.4.3.2 Tổng hợp kết quả đánh giá của giáo viên các Trung tâm GDTX và cán
bộ Sở Giáo dục - Đào tạo Vĩnh Phúc về thực hiện các chức năng quản lý của Giám
đốc, Phó giám đốc các Trung tâm
65
2.4.4 Các biện pháp đã thực hiện để nâng cao NLQL của đội ngũ giám đốc TT
Trang 4hướng đến 2020
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁM ĐỐC TRUNG
TÂM GDTX CẤP HUYỆN THUỘC TỈNH VĨNH PHÚC
77
3.2 Các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX cấp
3.2.2.Tuyển chọn va ̀ sử dụng hợp lý đội ngũ CBQL GDTX phù hợp với tình hình phát
triển của các TT GDTX
81
3.2.3.Tăng cường công tác đào ta ̣o , bồi dưỡng cho đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm và hiểu biết xã hội
89
3.2.4.Tăng cường kiểm tra, đánh giá xếp loại giám đốc trung trung tâm GDTX
trong việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định
94
3.2.5.Xây dựng các cơ chế, chế độ, chính sách chăm lo đời sống vật chất, tinh
thần cho đội ngũ giám đốc TT GDTX
98
Trang 53.2.5.1.Mục đích 98
3.2.6.Từng bước hoàn thành xây dựng các tiêu chí của trung tâm GDTX chuẩn
quốc gia và tiêu chuẩn chức danh của giám đốc trung tâm GDTX cấp huyện
103
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp 106
Trang 6MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Xã hội loài người ngày nay đang trong thời kỳ có nhiều thay đổi sôi động về chính trị, kinh tế và xã hội với cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão Những thành tựu của khoa học công nghệ đang thực sự đưa loài người vào kỷ nguyên mới của nền văn minh nhân loại Trong thập niên đầu của thế
kỷ XXI với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, sự xuất hiện của nền “kinh tế tri thức”, “xã hội thông tin” và tiến tới xây dựng một “xã hội học tập”
đã tạo ra những cơ hội và thách thức mới cho mỗi quốc gia Trước vận hội đó, cùng với định hướng lớn về phát triển kinh tế, Thủ tướng chính phủ phê duyệt:
”Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010”, đề án:” Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010” tập trung “xây dựng và phát triển mạnh mẽ giáo dục thường xuyên” Giáo dục thường xuyên(GDTX) thực sự đã trở thành công cụ để
cung ứng thật nhiều cơ hội cho mọi người và xây dựng một xã hội học tập Vấn đề mấu chốt trong đổi mới sự nghiệp giáo dục Việt Nam mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định là "Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự cụng bằng xã hội trong giáo dục" Luật giáo dục
2005 khẳng định vị trí của giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc
dân tại Điều 4: “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính qui và giáo dục thường xuyên” Chính vì vậy giáo dục thường xuyên ngày nay đã trở thành công
cụ để mở rộng cơ hội học tập cho mọi người và xây dựng một xã hội học tập
Trang 7GDTX là xu thế phát triển tất yếu không những trên thế giới, trong khu vực
mà cả ở Việt Nam và ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu
được trong hệ thống giáo dục quốc dân Thực tế ở nước ta, GDTX trong những
năm qua đã phát triển mạnh cả về quy mô, mạng lưới với các nội dung học tập phong phú và đa dạng GDTX phát triển nhanh chóng đáp ứng nhu cầu học tập liên tục, suốt đời cho hàng triệu người GDTX có vai trò quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển tài nguyên con người GDTX với các hình thức hoạt động đa dạng đó trở thành một hệ thống giáo dục từ Trung ương đến cơ sở với nội dung học tập thiết thực giúp cho mọi người có thể chọn cho mình một nội dung học tập phù hợp nhằm bổ sung kiến thức và hiểu biết để sống và làm việc tốt hơn Sự nghiệp đổi mới của nước ta đem lại nhiều đổi thay
về kinh tế - xã hội đó có tác dụng thúc đẩy nhu cầu học tập để nâng cao hiểu biết của người lao động Thực tế đó đòi hỏi GDTX phải phát triển mạnh hơn nữa để đáp ứng được nhu cầu của từng cộng đồng, từng địa phương và cả nước
Thực tế ở nước ta, giáo dục thường xuyên đã phát triển nhanh chóng và đáp ứng cho hàng triệu người có nhu cầu học tập liên tục, học suốt đời Giáo dục thường xuyên có vai trò quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nhằm thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con người, góp phần thực hiện mục
tiêu giáo dục của Đảng “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Bên cạnh hệ thống giáo dục chính đào tạo thế hệ trẻ được tổ chức chặt chẽ
về thời gian, độ tuổi, thì giáo dục thường xuyên linh hoạt hơn về thời gian, độ tuổi, phương thức; có thể vừa học, vừa làm, học từ xa, tự học có đăng ký Từ việc xây dựng mục tiêu, xác định nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, tổ chức thi cử, cấp văn bằng, chứng chỉ đến việc xây dựng hệ thống cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục ngày càng được quan tâm và phát triển để thực hiện chức năng quan trọng - xây dựng xã hội học tập
Trang 8Tuy nhiên, trong quá trình phát triển do nhiều nguyên nhân, bên cạnh những kết quả đạt được, GDTX vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội, của người học; chưa tương xứng với vị trí và vai trò ngày càng quan trọng của nó GDTX đã phát triển mạnh trong những năm gần đây song tiến độ còn chậm, chất lượng còn thấp, cơ sở vật chất của các trung tâm GDTX còn nghèo nàn; còn thiếu các chính sách cụ thể đồng bộ và đủ mạnh để cho
GDTX phát triển bền vững vv, đặc biệt là việc xây dựng và phát triển đội ngũ
cán bộ quản lý trung tâm GDTX nói chung, giám đốc trung tâm GDTX nói riêng còn nhiều hạn chế, chưa thực sự ngang tầm với chức năng nhiệm vụ được giao Đa số cán bộ quản lý giáo dục chưa được đào tạo có hệ thống về quản
lý, làm việc dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tính chuyên nghiệp thấp Năng lực điều hành, quản lý của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục còn bất cập trong công tác tham mưu, xây dựng chính sách, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và thực thi công vụ Kiến thức về pháp luật, về tổ chức bộ máy, về quản lý nhân sự, nhất là
về quản lý tài chính còn nhiều hạn chế dẫn đến lúng túng trong thực thi trách nhiệm và thẩm quyền, đặc biệt khi được Nhà nước phân quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm Phần lớn cán bộ quản lý giáo dục còn bị hạn chế về trình độ ngoại ngữ, kỹ năng sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin Năng lực điều hành, quản lý của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục còn bất cập
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của giáo dục tỉnh nhà, ngành học GDTX Vĩnh Phúc không ngừng phát triển về mạng lưới và quy mô Tuy vậy, GDTX Vĩnh Phúc còn rất nhiều khó khăn, bất cập như tình trạng chung
của cả nước Hiện nay không ít trung tâm GDTX hoạt động kém hiệu quả, quản
lý phát triển đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX còn yếu chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của GDTX tỉnh nhà Hoạt động GDTX muốn đạt hiệu quả cao,
đòi hỏi người quản lý các Trung tâm GDTX, Trung tâm học tập cộng đồng phải
Trang 9việc, phải biết nắm lấy nhu cầu học tập của cộng đồng, phải tích cực tham mưu
để cấp ủy, chính quyền địa phương thấy được tác động tích cực của GDTX đối với việc nâng cao dân trí, phổ biến trình độ khoa học, kỹ thuật phục vụ lao động sản xuất cho cộng đồng Người cán bộ quản lý Trung tâm GDTX phải thấy được rằng, đầu tư của Nhà nước chỉ là một phần nhỏ để phát triển trung tâm, nguồn đầu tư lớn và thường xuyên là của toàn xã hội
Trước thực tế đó, để các trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc phát triển đa dạng, có chiều sâu đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, công tác xây dựng đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX là nhiệm vụ hết sức quan trọng Đây vừa là nhiệm vụ trước mắt, vừa là nhiệm vụ lâu dài nhằm chuẩn hoá đội ngũ giám đốc TT GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc Căn cứ vào tình hình thực tế đội ngũ giám đốc TT GDTX cấp huyện ở Vĩnh Phúc trong những năm qua, để đáp ứng yêu cầu của ngành học GDTX hiện nay tác giả
chọn đề tài: “Quản lý phát triển đội ngũ giám đốc trung tâm giáo dục
thường xuyên cấp huyện-tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay”
2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý phát triển của đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX cấp huyện nhằm đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của ngành học GDTX trên địa bàn
cả nước nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
3.Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1.Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý nguồn nhân lực đối với đội ngũ
giám đốc Trung tâm GDTX cấp huyện
3.2.Đối tƣợng nghiên cứu: Công tác xây dựng phát triển đội ngũ giám đốc
trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc
4.Giả thuyết khoa học: Nếu đề xuất các biện pháp phù hợp, khả thi về phát
triển đội ngũ giám đốc TT GDTX cấp huyện thì sẽ góp phần mở rộng quy mô
Trang 10và nâng cao chất lượng GDTX Vĩnh Phúc, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi
đối tượng trong xã hội
5.Nhiệm vụ nghiên cứu
-Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX cấp huyện
-Nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý của đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX cấp huyện
-Đề xuất một số biện pháp có tính khả thi nhằm phát triển đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
7.Phương pháp nghiên cứu: Quá trình thực hiện đề tài kết hợp các nhóm
phương pháp nghiên cứu:
-Nhóm các phương pháp lý luận : Phân tích , tổng hợp các vấn đề lý luận
từ các tài liệu khoa học , các văn bản nghị quyết của Đảng , Chính phủ , Bộ Giáo dục và Đào tạo liên quan đến các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ quản lý của ngành học GDTX
-Nhóm các phương pháp thực tiễn: quan sát, thống kê, phỏng vấn, phân tích dữ liệu đã thu thập, từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp, khuyến nghị việc thực hiện, thăm dò tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp
8.Kế hoạch, tiến độ nghiên cứu: Đề tài bắt đầu nghiên cứu vào tháng 4/2008
hoàn thành vào tháng 12/2008
Trang 119.Cấu trúc luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục
tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được viết thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý phát triển đội ngũ giám đốc trung tâm
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QU ẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM GDTX CẤP HUYỆN
1.1 Tổng quan của nghiên cứu vấn đề
Quản lý là một hoạt động đặc trưng, diễn ra trong mọi lĩnh vực, bao trùm mọi mặt đời sống và là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội Trong sự nghiê ̣p phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay, quản lý được coi là khâu đột phá nhằm đổi mới và phát triển giáo dục Trong các hoa ̣t đô ̣ng giáo dục , CBQL có vai trò hết sức quan trọng về nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục Xây dựng đội ngũ CB QLGD chính là quá trình phát triển nguồn nhân lực sư phạm- yếu tố
cơ bản quyết đi ̣nh phát triển nhà trường Trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay vấn đề xây dựng đô ̣i ngũ CBQL GD nói chung và ta ̣i Vĩnh Phúc nói riêng đã và đang được Đảng, Nhà nước và tỉnh nhà quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho bằng những chủ chương và đi ̣nh hướng cụ thể Đó là:
-Chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư, QĐ 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ về :"Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục"
-Quyết định 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010 có nhiệm
vụ quan tro ̣ng "Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, cộng tác viên trong các cơ sở GDTX";
-Kế hoạch số 87/KH-TU ngày 01 tháng 6 năm 2005 của Tỉnh Uỷ Vĩnh Phúc về việc thực hiện Chỉ thi 40-CT-TW vớ i nhiê ̣m vụ tro ̣ng tâm là :” xây dựng kế hoa ̣ch và tổ chức th ực hiện tốt việc đào tạo , bồi dưỡng đô ̣i ngũ nhà giáo , CBQL GD ở mỗi địa phươn g, đơn vị; rà soát bổ sung và ban hành các quy định thực hiê ̣n chính sách ưu tiên đầu tư cho giáo dục , tạo động lực mạnh mẽ cho quá
Trang 13trình đào tạo bồi dưỡng nâng cao có chất lượng và có sự chuyển biến về chất
lươ ̣ng trong đô ̣i ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục”
Đổi mới công tác quản lý một trong những nhiệm vụ quan trọng và cần thiết của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay Muốn vâ ̣y phải thực hiê ̣n nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ CBQL giáo dục, phát triển đội ngũ CBQL cả về số lươ ̣ng và chất lượng Những nhiệm vụ và mục tiêu của hoạt động Giáo dục có được thực hiện với chất lượng và hiệu quả cao, phụ thuộc rất nhiều ở đội ngũ CBQL
Với các cơ sở GDTTX, hiện nay vẫn còn nhiều CBQL có năng lực, nghiệp
vụ quản lý hạn chế, khả năng tiếp cận với đổi mới còn chậm, một số có tuổi đời cao, một số khó thay đổi trong nếp nghĩ, cách làm và cách chỉ đạo nên hiệu quả quản lý chưa cao Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục nhưng tâ ̣p trung c hủ yếu đến giáo dục đại họ c, giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục phổ thông Vấn đề nghiên cứu về phát triển đô ̣i ngũ CBQL GDTX còn ít Tiến hành đ iều tra các nghiên cứu về đô ̣i ngũ CBQL GD Vĩnh Phúc cho thấy : Viê ̣c nghiên cứu về đội CBQL GDTX được thực sự đươ ̣c quan tâm , chưa có những nghiên cứu cụ thể về phát triển đội ngũ giám đốc , phó giám đốc các TT GDTX Vì thế rất cần thiết trong viê ̣c nghiên cứu tìm những biê ̣n pháp quan tro ̣ng , hiê ̣u quả để xây dựng , phát triển đội ngũ CBQL các trung tâm GDTX trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay
Trong bối cảnh GDTX Vĩnh Phúc phát triển mạnh mẽ , nhanh chóng , thì phải có đội ngũ CBQL phát triển ngang tầm Chính vì vậy phải khẩn trương có những biê ̣n pháp để xây dựng , phát triển đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Từ đó đă ̣t r a vấn đề xây dựng , phát triển đội ngũ CBQL trung tâm GDTX cấp huyện trên đi ̣a bàn Tỉnh Vĩnh Phúc cần được quan tâm nghiên cứu bài bản , hệ thống trên cơ sở: Phát triển đội ngũ CBQL GDTX không chỉ đơn thuần là duy trì theo kế hoạch mà phải có tính định hướng lâu dài trong tương lai
Trang 14và quá trình đó phải được liên tục phát triển Phải xây dựng chính sách, chiến lược quản lý phát triển đội ngũ CBQL GDTX đáp ứng yêu cầu hiê ̣n ta ̣i, có đi ̣nh hướng trên
cơ sở mục tiêu, xu hướng phát triển của đơn vị, của địa phương
1.2.Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm quản lý, chức năng quản lý
Khái niệm quản lý :
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, mọi hoạt động của đời sống
xã hội đều cần tới quản lý Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển hệ thống xã hội ở tầm vi mô và vĩ mô Có tập thể, tổ chức là có quản
lý Quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung K marx đã nói đến sự cần thiết của quản lý: “bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung, trực tiếp được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý Một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”
Vậy quản lý là gì? có rất nhiều định nghĩa về quản lý:
- Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
- Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm nhiệm vụ và các mục tiêu đã định
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng bị quản lý) về các mặt chính trị văn hoá xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ta môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
Trang 15- Quản lý là việc đảm bảo sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có
sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống tới trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới
Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy mặc dù các tác giả
có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất:
Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đưa ra khái niệm:
“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [3]
Một xu hướng nghiên cứu phương pháp quản lý ở Việt Nam cho rằng: hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đề ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới Quản lý về vật chất bao gồm quá trình Quản và quá trình
Lý
Quản: là coi sóc, giữ gìn, là duy trì - ổn định
Lý: là sửa sang, sắp xếp, là đổi mới phát triển
Hệ ổn định mà không phát triển tất dẫn đến suy thoái
Hệ phát triển mà thiếu ổn định tất yếu dẫn đến rối ren
Như vậy: Quản lý = ổn định + Phát triển
- Trong “Quản” phải có “Lý”; trong “Lý” phải có “Quản”; ổn định đi tới phát triển, phát triển trong thế ổn định Nói một cách tổng quát có thể xem: quản
Trang 16lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua cơ chế quản lý, nhằm đạt được mục đích quản lý
- Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một
tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra
Như vậy quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội Chủ thể quản lý và khách thể quản lý luôn luôn có quan hệ tác động qua lại và chịu tác động của môi trường Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lý vì thế quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Người quản lý phải nhạy cảm, linh hoạt, sáng tạo và mềm dẻo
Các chức năng quản lý:
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các chức năng quản lý như quan điểm của Henri fayol; quan điểm của V.g afanaxiep, …v.v Song hoạt động quản lý có bốn chức năng cơ bản sau:
ba nội dung cơ bản là:
- Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;
Trang 17- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này
- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên
Tổ chức là quá trình hình thành nên các cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ thực hiện chức năng tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực và nhân lực
Theo Ernest Dale, chức năng tổ chức gồm năm bước:
- Bước một: lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu của tổ chức
- Bước hai: phân chia toàn bộ công việc thành những nhiệm vụ để các thành viên hay các bộ phận (nhóm) trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi và hợp lô gích Đây gọi là bước phân công lao động
- Bước ba: kết hợp các nhiệm vụ một cách lô gích và hiệu quả Đây là bước phân chia bộ phận
- Bước bốn: thiết lập một cơ chế điều phối sự liên kết hoạt động của các các nhân, các nhóm, các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện để đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn
- Bước năm: theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cấu trúc tổ chức và tiến hành những điều chỉnh cần thiết
Chỉ đạo hay lãnh đạo bao gồm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được các mục tiêu của
tổ chức chỉ đạo tập trung vào các ưu tiên sau:
- Nhận thức lãnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng, sứ mệnh của hệ thống
Trang 18- Làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống, phân tích các mâu thuẫn trong quá trình phát triển, phát hiện ra nhân tố mới
- Tổng kết được quy luật, xu thế phát triển của hệ thống
- Đề xuất các phương án chiến lược phát triển hệ thống
Kiểm tra là chức năng cuối cùng trong bốn chức năng cơ bản của quản lý kiểm tra đề cập đến các phương pháp và cơ chế được sử dụng để đảm bảo rằng các hành vi, hoạt động và thành tựu phải tuân thủ, phù hợp với mục tiêu, kế hoạch và chuẩn mực của tổ chức Cố thủ tướng phạm văn đồng đã nói: “quản lý
mà không kiểm tra thì coi như không quản lý”
Theo Rorbert j mockler, kiểm tra có bốn bước:
- Bước một: xác định tiêu chuẩn (chuẩn mực) và phương pháp đo lường thành tựu Các tiêu chuẩn thành tựu phải đủ tường minh để các thành viên liên quan lĩnh hội được một cách dễ dàng, thống nhất Phương pháp đo lường chuẩn mực phải đảm bảo so sánh chính xác và công bằng giữa thành tựu với chuẩn mực đặt ra
- Bước hai: đo lường thành tựu, là một quá trình lặp đi lặp lại và diễn biến liên tục, với tần suất thực hiện phụ thuộc vào các dạng hoạt động
Trang 19Tóm lại: Bốn chức năng quản lý này có quan hệ hữu cơ, biện chứng với
nhau Cả bốn chức năng trên đều được triển khai khi tiến hành hoạt động quản lý
Bất cứ người quản lý nào cũng phải làm công việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu khái niệm Quản lý như sau: Quản lý là
hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm
người hay một nhóm cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách
hiệu quả nhất Hoặc có thể hiểu như sau: Quản lý là sự tác động có định hướng,
có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống của chủ thể QL đến khách thể QL (đối
tượng bị quản lý), sao cho bảo đảm sự cân đối cả hai mặt ổn định và phát triển
của bộ máy
Khái niệm quản lý có thể được mô tả dưới đây
Bảng 1 : Tính logic của khái niệm quản lý .
1.2.2.Quản lý giáo dục
Từ khái niệm chung về quản lý, nội dung của khái niệm quản lý giáo dục
có nhiều cách hiểu khác nhau Các nhà lý luận đã đưa ra một số quan điểm về
quản lý giáo dục như sau:
Quản lý giáo dục (nghĩa rộng) là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực
giáo dục Ngày nay lĩnh vực giáo dục mở rộng hơn nhiều so với trước, do chỗ
Khách thể quản lý
Trang 20mở rộng đối tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn bộ xã hội Tuy nhiên giáo dục thể hệ trẻ vẫn là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục trong xã hội Quản lý giáo dục (nghĩa hẹp), chủ yếu là quản lý giáo dục thế hệ trẻ, giáo dục nhà trường, giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân Quản lý giáo dục gồm 2 mặt lớn là quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý nhà trường
và các cơ sở giáo dục khác Quản lý giáo dục là việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục, đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phương và
cơ sở Quản lý giáo dục còn là một ngành, một bộ môn khoa học có tính liên ngành nhằm vận dụng những khoa học quản lý sao cho phù hợp với nhu cầu
và đặc điểm của hệ thống giáo dục Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng trong xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển của giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ, cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức
là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.[13]
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”[2]
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm
Trang 21các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về chất”[20]
Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tồn tại phát triển và mở rộng của cả hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng Là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự phát triển toàn diện, hài hoà, trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như quy luật khách quan của quá trình giáo dục, của sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ em, thanh thiếu niên Từ đây chúng ta có thể hiểu khái niệm quản lý giáo dục đầy đủ hơn như sau:
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tìm đến điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng
xã hội trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa cơ sở giáo dục vận hành theo
lý thuyết giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh Hệ thống giáo dục là một bộ phận quan trọng nằm trong hệ thống xã hội, trong đó quản lý con người là yếu tố trọng tâm số một của quản lý giáo dục Con người vừa là người quản lý vừa là người bị quản lý Trình độ năng lực quản lý của người cán bộ quản lý giáo dục thể hiện trước hết ở khả năng làm việc với những con người có tính đa dạng, biết phát huy các mặt mạnh, hạn chế mặt yếu , động viên họ làm việc tự giác
Trang 22với tinh thần làm chủ, lao động có năng suất cao Nhân tố con người trong quản lý giáo dục không chỉ là đối tượng quản lý mà còn là sản phẩm của quá trình quản lý, sản phẩm đó chính là con người được đào tạo, nhân cách được hình thành và phát triển Vậy quản lý con người là vấn đề có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong toàn bộ công tác quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một lĩnh vực khoa học, đòi hỏi tính chuyên môn cao,
là công cụ giữ vai trò quan trọng để giữ gìn kỷ cương trong việc tổ chức, triển khai các hoạt động giáo dục, nhất là trong dạy và học, bảo đảm điều kiện cần thiết cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
Quản lý cơ sở giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (các cấp quản lý của hệ thống giáo dục) nhằm làm cho các cơ sở giáo dục vận hành theo nguyên lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra Quản lý cơ sở giáo dục thực chất là quản lý tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi cơ
sở giáo dục
Biện pháp quản lý: Khái niệm “biện pháp” theo Viện ngôn ngữ học (Từ điển
Tiếng Việt- Trung tâm từ điển - Nhà xuất bản giáo dục - 1994) là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” Biện pháp quản lý chính là nội dung, cách
làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó của người quản lý về lĩnh vực mà người quản lý chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện Trong QLGD thì biện pháp quản lý là tổ hợp các nội dung, cách thức tiến hành của chủ thể hệ quản lý làm cho hệ vận hành, phát triển đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra phù hợp với đường lối, chiến lược và chính sách của nhà nước, phù hợp với qui luật khách quan Quá trình giáo dục được xem như là một hệ thống, do vậy, để thực hiện mục đích quản lý, người làm công tác quản lý phải xây dựng được hệ thống mục tiêu cần đạt được trong công tác quản lý Khi xác định được mục tiêu, người quản
Trang 23tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu Đồng thời người quản lý phải xác định được các mục tiêu trước mắt, mục tiêu lâu dài, mục tiêu cơ bản và xây dựng được tiêu chuẩn để đánh giá việc thực hiện mục tiêu
1.2.3.Mô ̣t vấn đề cơ bản về trung tâm GDTX
*Khái niệm về giáo dục thường xuyên (Continuing Eduction)
Giáo dục không chính quy
Uỷ ban quốc tế về phát triển giáo dục năm 1972 đã đưa ra định nghĩa Giáo dục không chính quy như sau: “Giáo dục không chíng quy có chức năng đa dạng:
Nó thay thế giáo dục ban đầu cho những người thất học, nó bổ sung giáo dục cơ
sở cho những người có trình độ văn hoá thấp Nó kéo dài thêm thời kỳ học tập của những người cần học để đáp ứng những yêu cầu mới của cuộc sống và sản xuất, nó hoàn thiện thêm sự giáo dục cho những người có học vấn cao, nó là phương thức phát triển và hoàn thiện nhân cách”
Theo Điều 40, mục 5, Luật Giáo dục Việt Nam (năm 1998), Giáo dục không chính quy được hiểu: “Giáo dục không chính quy là phương thức giáo dục giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội”
Thuật ngữ này được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trong khu vực: Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia, Bangladesh, Pakistan, Campuchia Nepal, Lào, và gần đây là ở Việt Nam, giáo dục không chính quy chỉ những chương trình, giáo trình học ngoài hệ thống Giáo dục chính quy ở nước ta hiện nay trong các văn kiện, thuật ngữ “Giáo dục không chính quy” cần được hiểu bao gồm cả Giáo dục phi chính quy
Giáo dục thường xuyên
Giáo dục thường xuyên (Continuing Education -tiếng Anh, éducation permanente - tiếng Pháp) được hiểu một cách khái quát là "Cung ứng cơ hội cho
Trang 24mọi người để học tập suốt đời nhằm thúc đẩy tài nguyên con người thông qua các chương trình xoá mù chữ, chương trình tương đương, chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống, chương trình tạo thu nhập, chương trình đáp ứng sở thích cá nhân, chương trình định hướng tương lai"[21] Với quan niệm này, giáo dục thường xuyên đồng nghĩa với giáo dục tiếp tục, tức là mở rộng chủ yếu của xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học nhằm thúc đẩy tài nguyên Người, giáo dục thường xuyên có chức năng thay thế, tiếp nối, bổ sung và hoàn thiện kiến thức cho Giáo dục chính quy
Thuật ngữ “Giáo dục thường xuyên “ được hiểu là sự giáo dục dành cho hay tiến hành bởi những người đã hoàn thành vòng giáo dục ban đầu trong thời niên thiếu GDTX là một khái niệm rộng lớn, bao gồm tất cả các cơ hội học tập và mọi người muốn hoặc cần có sau xoá mù chữ và giáo dục tiểu học Điều 44 Luật giáo dục 2005 nêu rõ: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách,
mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội”[17] Để tiếp tục bổ sung tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, con người cần được học tập thụng qua phương thức GDTX với các hình thức học mềm dẻo, linh hoạt, phự hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đối tượng người học GDTX đúng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hoàn thiện nhân cách, kỹ năng sống và hoạt động nghề nghiệp của bản thân mỗi con người Như vậy GDTX là một nhu cầu thiết yếu nhằm giúp mọi người tự mình nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp nhằm giải quyết những yêu cầu cấp thiết của công tác và đời sống Những hình thức học như vừa học vừa làm, học
từ xa đang được phổ biến và ngày một rộng rãi trên thế giới Trước đây, GDTX chỉ làm một số nhiệm vụ đơn giản là xoá mù chữ và dạy bổ túc văn
Trang 25phát triển, kéo theo nhiều yêu cầu mới về nội dung và hình thức của công tác giáo dục và đào tạo; trong đó GDTX chịu sự tác động rất lớn và trực tiếp Các hình thức học không chính quy như vừa học vừa làm, học từ xa, các loại hình trung tâm mới như tin học, ngoại ngữ, bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp ra đời hết sức đa dạng Các loại hình trung tâm đào tạo không chính quy, ngoài các
tổ chức và cá nhân trong nước đứng ra thành lập, còn có người nước ngoài tham gia, làm cho hoạt động GDTX thêm phong phú, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội; nhưng đồng thời là một thách thức lớn đối với công tác quản lý chỉ đạo của ngành, mà trước hết là công tác quản lý hoạt động các trung tâm GDTX ở địa phương
Trong thời đại ngày nay, con người luôn luôn phải được trang bị thêm tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mới có thể đáp ứng được yêu cầu của công tác và cuộc sống Tri thức, kỹ năng nghề nghiệp được trang bị cho con người thông qua hệ thống giáo dục quốc dân ở hai phương thức giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên (GDTX) Giáo dục chính quy với quy mô, hệ thống trường lớp với những quy định chặt chẽ và yêu cầu cao về thời gian học, về chế độ, hình thức học tập đòi hỏi người học phải có những điều kiện nhất định mới thực hiện được Trong cuộc đời của mỗi con người, tuỳ hoàn cảnh gia đình, bản thân, được hưởng thụ giáo dục chính quy ở mỗi một mức độ và thời gian khác nhau Nhưng không ai có thể ngồi trên ghế nhà trường chính quy suốt đời được Như thế, để tiếp tục bổ sung tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, con người cần được học tập thông qua phương thức GDTX với các hình thức học mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đối tượng người học GDTX đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hoàn thiện nhân cách, kỹ năng sống và hoạt động nghề nghiệp của bản thân mỗi con người Như vậy GDTX là một nhu cầu thiết yếu nhằm giúp mọi người tự mình nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp nhằm giải quyết những yêu
Trang 26cầu cấp thiết của công tác và đời sống Những hình thức học như vừa học vừa làm, học từ xa đang được phổ biến và ngày một rộng rãi trên thế giới Để giải quyết nhu cầu học tập thường xuyên , suốt đời, Nhà nước và toàn xã hội phải đầu tư, từ cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị đến đội ngũ giáo Về
phương châm giáo dục thì “GDTX được hiểu một cách khái quát là cung ứng
cơ hội cho mọi người để học tập suốt đời nhằm thúc đẩy tài nguyên con người thông qua các chương trình xóa mù chữ, chương trình tương đương, chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống, chương trình tạo thu nhập, chương trình đáp ứng sở thích cá nhân, chương trình định hướng tương lai”[21]
Trong khuôn khổ của “Chương trình giáo dục cho mọi người “ Châu á- Thái Bình Dương, GDTX được hiểu là “Một khái niệm rộng lớn, bao gồm tất cả các cơ hội học tập mà mọi người muốn hoặc cần có sau xoá mù chữ cơ bản và giáo dục tiểu học”[32] Định nghĩa này hàm ý như sau:
- GDTX là dành cho người lớn ( người được xã hội coi là người lớn);
- GDTX đáp ứng nhu cầu mong muốn học tập;
- GDTX có thể bao gồm các kinh nghiệm do các bộ phận giáo dục chính
quy hay không chính quy và không cấp lớp cung cấp;
- GDTX được định nghĩa là “cơ hội học tập suốt đời sau khi học xong bậc tiểu học hay tương đương “
Tuy nhiên ở Việt Nam, khi sử dụng thuật ngữ “Giáo dục thưòng xuyên” ta
chưa phân biệt rạch ròi như thế Cho đến nay, GDTX được hiểu và quan niệm dựa trên các điều kiện khác nhau
Tại hội thảo về chiến lược phát triển GDTX đến năm 2020, báo cáo của vụ
Giáo dục thường xuyên - Bộ GD&ĐT đã nêu: “Giáo dục thường xuyên được hiểu một cách khái quát là cung ứng cơ hội cho mọi người để học tập suốt đời nhằm
Trang 27tương đương, chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống, chương trình tạo thu nhập, chương trình đáp ứng sở thích cá nhân, chương trình định hướng tương lai”[31]
Điều 44, Luật giáo dục năm 2005 nêu rõ: “GDTX giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội”; Điều
4 qui định “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính qui và giáo dục thường xuyên”[17]
Như vậy, GDTX là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời là một phương tiện để tạo cơ hội thường xuyên, tốt nhất cho mọi người có thể thỏa mãn nhu cầu hiểu biết
1.3.Trung tâm GDTX cấp huyện
* Trung tâm GDTX (Continuing Education Centre)
Tại Hội nghị về Trung tâm GDTX được tổ chức ở Srilanca tháng 11 năm
1994 đã nêu định nghĩa: “Trung tâm GDTX là tổ chức giáo dục địa phương, ngoài hệ thống giáo dục chính qui, thuộc các làng hoặc các cộng đồng thành phố, thường được quản lý bởi nhân dân địa phương có nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực cho sự phát triển của địa phương và việc học tập định hướng trong gia đình và cung cấp thông tin về câu hỏi cái gì? Làm sao? ở đâu? Khi nào? Các cá nhân có thể tham gia vào các hình thức học tập khác nhau của GDTX”
Trung tâm GDTX là nơi mà ai có nhu cầu học tập đều tìm thấy ở đó một
tổ chức hoạt động giáo dục có nội dung học, hình thức học mà mình hài lòng nhất, giúp mình thêm những hiểu biết cần thiết để hòa nhập với cộng đồng, vươn tới nhu cầu hạnh phúc
Trang 28- Trung tâm GDTX có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động đa dạng với nhiều hình thức nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học, huy động được nguồn lực sẵn có trong xã hội (cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên) tham gia và các hoạt động của Trung tâm Tổ chức bộ máy của Trung tâm gọn nhẹ, có thể chuyển đổi dễ dàng để đáp ứng nhiệm vụ ở Việt Nam, Trung tâm GDTX được hiểu là tổ chức căn bản của hệ thống GDTX Vai trò của Trung tâm GDTX trong hệ thống GDTX tương tự như vai trò của nhà trường trong hệ thống giáo dục chính qui truyền thống Hệ thống Trung tâm GDTX gồm: Trung tâm GDTX tỉnh (thành phố), Trung tâm GDTX huyện (quận), Trung tâm HTCĐ ở các xã (phường)
1.3.1.Vị trí, vai trò, nhiệm vụ
Là cơ sở giáo dục thường xuyên trên địa bàn huyện có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục, điều tra nhu cầu học tập, xác định nội dung học tập đề xuất với các cấp quản lý giáo dục, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng và tổ chức các chương trình giáo dục thường xuyên khác theo trên địa bàn huyện theo điều 3 Quy chế hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên, ban hành kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ-BGD ĐT ngày 02/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện thiên về các hoạt động giáo dục phù hợp với trình độ học vấn và trình độ khoa học của nhân dân địa phương Theo Qui chế thì Trung tâm GDTX có hai chức năng:
+ Chức năng tổ chức hoạt động giáo dục: tạo cơ hội học tập nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập đa dạng, phong phú của mọi người, trong đó có những người không có điều kiện tiếp tục học ở các trường lớp chính qui
+Chức năng tư vấn về GDTX trong phạm vi huyện: Với chức năng này, Trung tâm GDTX huyện giữ vai trò như một bộ phận nghiệp vụ của cơ quan
Trang 29Trung tâm GDTX cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở đại phương, góp phần thúc đẩy xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái Trung tâm GDTX cấp huyện thiên về các hoạt động giáo dục phù hợp với trình độ học vấn và trình độ khoa học kỹ thuật của nhân dân địa phương, bao gồm:
-Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;
-Chương trình Bổ túc tiểu học, Bổ túc trung học cơ sở, Bổ túc trung học phổ thông;
- Chươnng trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng;
- Các chương trình đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỹ năng;
- Các chương trình đáp ứng yêu cầu của người học;
- Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập cần thiết, đề xuất việc tổ chức các hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng;
- Tổ chức các lớp học riêng theo các chương trình qui định cho các đối tượng hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật và các đối tượng chính sách xã hội;
- Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập
Các nhiệm vụ của Trung tâm GDTX huyện được qui chế qui định có thể xem là những hoạt động cơ bản Tuy nhiên, cũng như Trung tâm GDTX tỉnh, Trung tâm GDTX huyện có thể thực thi tất cả các nhiệm vụ hoặc một số các nhiệm vụ theo qui định
* Hoạt động giáo dục của Trung tâm GDTX quận, huyện
Trung tâm GDTX từ những ngày đầu chỉ tập trung chủ yếu vào tổ chức học BTVH cấp lớp và tổ chức học một số chuyên đề sau xoá mù chữ cho người lao động Tuy nhiên, đến nay hoạt động giáo dục của Trung tâm GDTX đã ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, linh hoạt Quyết định số 01/2007/QĐ-
Trang 30BGD&ĐT ngày 02/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giáo dục thường xuyên quy định:
- Học viên học tại Trung tâm GDTX theo các hình thức học khác nhau, đã hoàn thành chương trình của mỗi cấp học, có đủ điều kiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo được tham dự kỳ thi tốt nghiệp cấp tương ứng và đủ điều kiện tốt nghiệp được cấp bằng tốt nghiệp ứng với cấp học đó
1.3.2.Giám đốc TT GDTX cấp huyện
Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDTX quy định: Giám đốc Trung tâm GDTX là người quản lý, điều hành mọi hoạt động của Trung tâm và chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên về mọi hoạt động của Trung tâm Giám đốc là người có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp đại học và công tác trong ngành giáo dục ít nhất 5 năm, được bổ nhiệm và
bổ nhiệm lai theo nhiệm kỳ; mỗi nhiệm kỳ là 5 năm Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc giám đốc sở giáo dục và đào tạo theo ủy quyền của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên Nhiệm
vụ và quyền hạn của giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên:
-Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá việc thực hiện kế
Trang 31-Quản lý cơ sở vật chất và các tài sản của trung tâm và Quản lý nhân viên, giáo viên và học viên của trung tâm;
-Bổ nhiệm các trưởng phòng, phó phòng, tổ trưởng, tổ phó; thành lập các phòng chuyên môn, nghiệp vụ, tổ chuyên môn, nghiệp vụ;
-Quản lý tài chính, quyết định thu chi và phân phối các thành quả lao động, thực hành kỹ thuật, dịch vụ theo quy định;
-Ký học bạ, các giấy chứng nhận trình độ học lực và kỹ thuật, nghề nghiệp, chứng chỉ giáo dục thường xuyên cho học viên học tại trung tâm theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
1.4 Quản lý phát triển nguồn nhân lực
1.4.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Trong lý thuyết phát triển, nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính
Nguồn nhân lực, theo nghĩa hẹp và có thể lượng hoá được là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi quy định, từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, hay còn gọi là lực lượng lao động Số lượng nguồn nhân lực được xác định trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố theo khu vực và vùng lãnh thổ
Nguồn nhân lực với tư cách là nơi cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường(không bị khiếm khuyết hoặc
dị tật bẩm sinh) Với tư cách là nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội, nguồn nhân lực được hiểu là khả năng lao động của xã hội bao gồm nhóm dân cư trong
độ tuổi lao động có khả năng lao động
Nguồn nhân lực còn được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia trong quá trình lao động, là tổng hợp các yếu tố về thể chất
Trang 32và tinh thần được huy động vào quá trình lao động Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người bắt đầu bước vào độ tuổi lao động trở lên có tham gia vào nền sản xuất xã hội Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động, những người lao động
có kỹ năng được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một công việc nào đó trong cơ cấu lao động của xã hội
Nguồn nhân lực trong giáo dục là tập thể sư phạm các nhà trường bao gồm:
Cán bộ quản lý , đội ngũ thầy giáo , nhân viên phục vụ dạy học , trong đó nòng cốt
là đội ngũ CBQL và giáo viên
1.4 2.Nội dung công tác xây dựng và phát triển đội ngũ
Tiếp cận trên cơ sở lý luận quản lý nguồn nhân lực thì ĐNNG & CBQLGD
là một bộ phận trong nguồn nhân lực cho hệ thống giáo dục Xây dựng và phát triển ĐNNG &CBQLGD là quản lý và phát triển nguồn nhân lực của các nhà trường và các cơ quan quản lý giáo dục đối với các trường học Nội dung xây dựng và phát triển đội ngũ được đề cập đưới đây chủ yếu dựa trên lý luận phát triển nguồn nhân lực Nội dung đề cập chủ yếu tới các phần sau:
(1) Qui hoạch đội ngũ
Việc đầu tiên để xây dựng và phát triển đội ngũ là công tác quy hoạch ĐNNG và CBQLGD Đó chính là việc xây dựng các loại kế hoạch về nhu cầu phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cho việc sử dụng có hiệu quả đội ngũ hiện có và các cán bộ trong tương lai Các kế hoạch xây dựng và phát triển ĐNNG và CBQLGD được dựa vào kế hoạch chiến lược của từng đơn
vị nhà trường và hệ thống giáo dục của từng địa phương Thông thường kế hoạch xây dựng và phát triển đội ngũ CBQLGD có bốn vấn đề sau:
- Xác định số lượng CBQLGD cần phải có trong tương lai đáp ứng với tiêu chuẩn CBQLGD của cấp học
Trang 33- So sánh số lượng CBQLGD và trình độ năng lực hiện có với chỉ tiêu và tiêu chuẩn đặt ra cho cán bộ quản lý giáo dục
- Lên kế hoạch bổ nhiệm các cán bộ QLGD mới hoặc cho thôi công tác quản lý đối với các cán bộ không đáp ứng được yêu cầu
- Lên kế hoạch đào tạo bồi dưỡng hoặc phát triển nâng cao trình độ cho CBQLGD
Quy hoạch đội ngũ CBQLGD hay xây dựng kế hoạch có hai bước cơ bản sau đây:
Bước 1: Dự báo yêu cầu về số lượng, trình độ đào tạo về chuyên môn, trình
độ kiến thức quản lý hành chính nhà nước, về chính trị …
Bước 2: Kiểm kê số lượng và chất lượng đội ngũ CBQLGD theo những yêu cầu và nhiệm vụ các công tác quản lý đang đòi hỏi Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức nếu sử dụng đội ngũ hiện có cho công tác mới trong tương lai Từ đó có những đánh giá thực trạng, nguyên nhân của thực trạng
và đưa ra các biện pháp cụ thể cho việc thuyên chuyển, đề bạt hoặc bãi nhiệm đối với các đối tượng cụ thể
Trước hết, phải xác định vị trí công tác cần tuyển và mô tả rõ công việc, có nghĩa là nhà tuyển mộ phải “nêu rõ tên gọi (chức danh) công việc hay vị trí công tác; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho vị trí sắp đặt trong tổ chức”
Trang 34Sau đó phải đưa ra yêu cầu hay tiêu chuẩn tuyển mộ về trình độ, văn bằng chứng chỉ, kiêm nghiệm, kỹ năng tay nghề để hoàn thành công việc hay vị trí quản lý sẽ đảm đương
Nguồn tuyển mộ có thể từ bên trong tổ chức hoặc bên ngoài tổ chức Mỗi nguồn tuyển mộ đều có ưu điểm và nhược điểm riêng Chẳng hạn như nếu tuyển
mộ từ bên trong tổ chức, người được tuyển mộ có thể thích nghi nhanh chóng với nhiệm vụ mới vì họ đã quen với hoạt động, truyền thống, luật lệ của tổ chức; khích lệ sự trung thành kiên định của mọi thành viên với tổ chức; cổ vũ sự nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và ít tốn kém hơn Tuy nhiên, nhược điểm của cách làm này là dễ dẫn đến sự tự mãn của nhiều thành viên trong tổ chức và gây nên trạng thái tâm lý “sống lâu lên lão làng” Nếu tuyển mộ từ nguồn ngoài tổ chức thì cần phải lưu ý đến vấn đề pháp luật, áp lực từ bên trong tổ chức, sự ảnh hưởng và tác động của người quản lý và tốn kém hơn
Như vậy với công tác tuyển mộ nhân sự đối với các cán bộ quản lý cũng cần tuân theo các yêu cầu trên Tuy nhiên đối với đội ngũ cán bộ quản lý GDTX cần kết hợp các xu hướng khác nhau để tuyển mộ được những người quản lý có phẩm chất tốt, tận tuỵ với ngành học GDTX về nâng cao dân trí, đào ta ̣o nhân lực
(3) Định hướng hay xã hội hoá từng có thể để hội nhập vào môi trường quản lý
Khi đã chọn lựa được nhân sự phù hợp cho tổ chức rồi, công việc tiếp theo
là định hướng hoạt động cho họ hay nói cách khác là tạo điều kiện cho họ hội nhập vào môi trường làm việc mới
Định hướng là một quá trình chính thức hay không chính thức nhằm giới thiệu cho người mới đến làm quen với nhiệm vụ mới, với đồng nghiệp mới và các chính sách của tổ chức Mục đích của công tác định hướng là:
- Đẩy nhanh sự phát triển để đạt được kết quả làm việc mong đợi
Trang 35- Người mới đến sẽ hoà nhập nhanh vào tổ chức vì họ hiểu rõ những giá trị của tổ chức cần tuân thủ và giữ gìn
- Giảm bớt công sức và thời gian mà tổ chức phải bỏ ra để huấn luyện người mới đến
- Giảm sự hoán chuyển thành phần tổ chức, người mới gia nhập tổ chức yên tâm làm việc lâu dài trong tổ chức
(4) Huấn luyện bồi dưỡng và phát triển
Trong lý luận quản lý nguồn nhân sự, nội dung này được chia ra làm hai chương trình: chương trình huấn luyện/bồi dưỡng và chương trình phát triển
Các chương trình huấn luyện/bồi dưỡng hướng vào việc duy trì và hoàn thiện kết quả thực hiện công việc hiện có, đang diễn ra; còn các chương trình phát triển đội ngũ sẽ hướng vào phát triển, hình thành và nâng cao các kỹ năng cho các công việc trong tương lai
Các chương trình huấn luyện/bồi dưỡng hướng vào nhân sự mới để giúp họ làm quen với công việc Ngoài ra, các nhân viên lâu năm cũng cần phải được bồi dưỡng thêm kiến thức, kỹ năng cho công việc Để xác định nhu cầu huấn luyện/bồi dưỡng một cách chính xác, chúng ta có thể sử dụng quy trình bốn bước
cụ thể sau: thẩm định kết quả làm việc; phân tích yêu cầu của công việc; phân tích tổ chức; nghiên cứu nguồn nhân lực
Các chương trình phát triển là chương trình huấn luyện/bồi dưỡng và chương trình phát triển, người ta thường dùng hình thức huấn luyện tại chỗ và huấn luyện ngoài công việc
Tuy nhiên, các chương trình huấn luyện/bồi dưỡng cụ thể còn tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của mỗi đơn vị và tổ chức
(5) Đánh giá thành tựu
Trong quản lý nguồn nhân lực, đánh giá thành tựu là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhưng không ít khó khăn Đánh giá thành tựu bao gồm đánh
Trang 36giá đánh giá không chính thức và đánh giá có hệ thống Mục đích của công tác đánh giá thẩm định là xem xét đội ngũ nhân viên có xứng đáng để cất nhắc, đề bạt hay thuyên chuyển, giáng cấp hoặc sa thải
Việc đánh giá thẩm định lao động của con người sẽ giúp cho họ tự hoàn chỉnh, đồng thời cũng giúp ích cho các nhà quản lý khi đưa ra các quyết định về chế độ đãi ngộ, đề bạt, sa thải, chuyên chuyển Đây là một hoạt động cần thiết và hữu ích đối với những nhà quản lý giáo dục, không phân biệt ở cấp quản lý nào hay ở một cơ sở giáo dục cụ thể nào
(6) Các chính sách khen thưởng và xử phạt
Khen thưởng và xử phạt là hai vấn đề rất lớn và nhạy cảm trong quản lý nguồn nhân lực nói chung và trong việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản
lý nói riêng Theo nội dung này, người có nhiều thành tích thì được khen thưởng,
kẻ có “tội” thì phải xử phạt Người ta có thể áp dụng các hình thức khen thưởng
và xử phạt bằng vật chất và bằng tinh thần như: tăng lương, thưởng tiền, thăng chức, đề bạt, phong tặng danh hiệu cao quý … hoặc phạt tiền, thuyên chuyển, giáng cấp, sa thải v.v…
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, việc khen thưởng và xử phạt cần được tiến hành thường xuyên Các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên, theo thẩm quyền của mình, cần rà soát đội ngũ cán bộ quản lý các trường học theo các chuẩn mực cụ thể về năng lực và phẩm chất, trên cơ sở đó có thể thay thế, bổ sung đội ngũ cán bộ quản lý có phẩm chất và năng lực tốt một cách kịp thời cho các trường học Mặt khác, các cán bộ quản lý trường học có nhiều cống hiến tốt cho phong trào cần được tôn vinh và khen thưởng, động viên kịp thời như bố trí
đi thăm quan học tập để nâng cao trình độ và có thêm những cơ hội mới để cống hiến cho phong trào chung của các trường học
1.5 Quản lý phát triển đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX
Trang 37Quản lý phát triển đội ngũ giám đốc trung tâm GDTX là bao gồm : quy hoạch CBQL về cơ cấu, số lươ ̣ng, chất lươ ̣ng ; tuyển cho ̣n , sử dụng, đào ta ̣o, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình đô ̣ năng lực cho CBQL
+Về quy hoạch phát triển đội ngũ : Trên cơ sở thu nhâ ̣p thông tin thực tế , điều tra thực tra ̣ng phát triển đội ngũ để lâ ̣p kế hoa ̣ch dự báo
+Về tuyển chọn đô ̣i ngũ là sự lưa cho ̣n những người cụ thể theo tiêu
chuẩn cụ thể của CBQL TT GDTX do tổ chức đă ̣t ra
+Về đào ta ̣o đô ̣i ngũ là mô ̣t hoa ̣t đô ̣ ng trong nô ̣i dung quản lý phát triển
đô ̣i ngũ Được coi là một quá trình trang bị kiến thức , kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiê ̣p và phẩm chất đa ̣o đức cho đô ̣i ngũ CBQL
+Về bồi dưỡng đô ̣i ngũ : là tăng thêm trình độ hiệ n có của đô ̣i ngũ QLGD(phẩm chất, năng lực) với nhiều hình thức , mức đô ̣ khác nhau
Phát triển đội ngũ quản lý là nói đến phát triển đồng thời cả 3 yếu tố: Số
lượng, phẩm chất và trình độ đội ngũ, nhằm đảm bảo cho chất lượng của công tác quản lý, rất cần thiết thực hiện một quá trình phát triển đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý tập trung vào phát triển năng lực quản lý của Giám đốc, Phó
giám đốc Trung tâm GDTX Nói về hoạt động quản lý và người quản lý cần
tìm hiểu người quản lý đó phải làm gì và làm công việc ấy như thế nào, hay nói cách khác là họ phải có những năng lực gì Trung tâm GDTX là một loại hình
đa chức năng, do đó đòi hỏi người lãnh đạo phải năng động, sáng tạo, vận dụng
và thích ứng nhanh với thực tế công việc Giám đốc, Phó giám đốc phải có đủ
phẩm chất, năng lực của người quản lý, đó là: Năng lực kế hoạch hóa; năng lực
tổ chức; năng lực lãnh đạo và năng lực kiểm tra
+Năng lực kế hoạh hoá
Kế hoạch hoá là chức năng quan trọng của công tác quản lý Trung tâm GDTX, đồng thời cũng là năng lực cần phải có của người CBQL Năng lực kế hoạch hoá chính là khả năng làm cho mọi hoạt động diễn ra trong Trung tâm có
Trang 38tính kế hoạch với mục tiêu, biện pháp và điều kiện thực hiện kế hoạch được xác định đầy đủ, rõ ràng Đó là năng lực lập kế hoạch và tổ chức chỉ đạo thực hiện có kết quả các kế hoạch của Trung tâm Công tác kế hoạch trong Trung tâm GDTX đòi hỏi người CBQL phải quan tâm đầy đủ những kế hoạch dài hạn, ngắn hạn, kế hoạch tổng thể, bộ phận (kế hoạch của từng lĩnh vực hoạt động), kế hoạch của tập thể (các cơ quan, tổ chức liên kết, phối hợp với Trung tâm để triển khai thực hiện các hoạt động), cá nhân (các thành viên ban giám đốc, giáo viên ), trong đó đặc biệt chú ý tới kế hoạch trong năm Kế hoạch mỗi năm là cụ thể hoá việc thực hiện nhiệm vụ trong năm đó với các mục tiêu, biện pháp rõ ràng Kế hoạch trong năm là cơ sở để xây dựng kế hoạch của từng bộ phận cũng như của các cá nhân trong Trung tâm Lập kế hoạch bao gồm sự lựa chọn các mục tiêu
và xác định các phương án hành động hợp lý để đạt mục tiêu Vì vậy, kế hoạch là
cơ sở để thống nhất mọi hoạt động của các thành viên trong ban giám đốc Trung tâm và các lực lượng phối kết hợp, hỗ trợ của cộng đồng nhằm thực hiện nhiệm
vụ trong năm Nhưng điều quan trọng không chỉ dừng ở khâu lập kế hoạch, mà người CBQL phải có năng lực chỉ đạo thực hiện kế hoạch Thực hiện tốt khâu này sẽ biến kế hoạch thành hiện thực, biến mục tiêu thành kết quả Nhờ có năng lực kế hoạch hoá, người CBQL sẽ chủ động điều hành được công việc, làm cho tập thể những người dưới quyền tự giác, hăng hái và có sự phối hợp trong việc thực hiện kế hoạch
Có thể nói rằng, thông qua việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch, mỗi Trung tâm GDTX có thể tự đánh giá được kết quả thực hiện nhiệm vụ trong năm của Trung tâm mình và cũng qua kết quả đó các cơ quan quản lý cấp trên cũng có thể đánh giá được năng lực kế hoạch hoá của người CBQL Năng lực kế hoạch hoá của Giám đốc, Phó giám đốc Trung tâm GDTX thể hiện ở các nội dung sau:
Trang 39- Xác định nhiệm vụ chung, nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ cụ thể phù hợp, khả thi của Trung tâm trên cơ sở quán triệt nhiệm vụ năm học của ngành GD-
ĐT, của các cấp uỷ và chính quyền các cấp các ban ngành, tổ chức xã hội, đoàn thể có liên quan và nhu cầu học tập của người dân ở địa phương;
- Nắm vững các văn bản chỉ đạo của ngành GD & ĐT, của cấp uỷ, chính quyền địa phương và các ban, ngành liên quan;
- Nắm vững thực trạng các hoạt động của Trung tâm, nắm vững khả năng, điều kiện thực hiện kế hoạch như: đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, huy động các nguồn tài chính, công tác quản lý
- Xây dựng mục tiêu kế hoạch phù hợp;
- Đề ra các biện pháp khả thi thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu kế hoạch;
- Kế hoạch toàn diện các mặt hoạt động, xây dựng đầy đủ các loại kế hoạch, chú ý đến kế hoạch nâng cao chất lượng các hoạt động của Trung tâm;
- Kế hoạch phải được tập thể góp ý và thông qua, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ;
- Kế hoạch có quy định thời gian cụ thể và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, đảm bảo các nguồn lực để thực hiện mục tiêu;
- Cụ thể hoá kế hoạch thành chương trình hành động;
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch, báo cáo trước cơ
quan quản lý và cấp trên;
Năng lực kế hoạch hoá của người CBQL có ý nghĩa đối với sự ổn định và phát triển của đơn vi, tăng cường tính chủ động, tính khoa học trong quản lý Năng lực kế hoạch hoá là nội dung quan trọng cấu thành NLQL của Giám đốc, Phó giám đốc Trung tâm GDTX, có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định và phát triển của Trung tâm
+Năng lực tổ chức
Trang 40Nói đến hoạt động quản lý trước hết là nói đến hoạt động tổ chức Hoạt động tổ chức tùy thuộc vào hoàn cảnh khách quan của tổ chức và vào một loạt những phẩm chất bên trong của người quản lý Năng lực tổ chức chính là thuộc tính bên trong, thuộc tính cơ bản của nhân cách CBQL và quyết định thành quả của hoạt động quản lý Năng lực tổ chức của người Giám đốc, Phó giám đốc Trung tâm GDTX được thể hiện ở năng lực huy động và sử dụng các nguồn nhân lực, tài lực, vật lực vào việc thực hiện có kết quả mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra của Trung tâm Năng lực tổ chức cũng được thể hiện ở một hệ thống những thuộc tính tâm lý cơ bản như óc quan sát; tính mềm dẻo, linh hoạt của trí tuệ hoà hợp với óc tưởng tượng, sáng tạo; sự nỗ lực cao của ý chí Năng lực tổ chức của Lãnh đạo Trung tâm GDTX thể hiện ở các nội dung sau:
- Xác định cơ cấu tổ chức của đơn vị một cách phù hợp
- Qui định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các bộ phận và từng
cá nhân trong Trung tâm
- Lựa chọn, sắp xếp, phân công nhiệm vụ cho những người dưới quyền phù hợp với năng lực chuyên môn và sở trường của họ;
- Xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên vững vàng về chuyên môn, nghiệp
vụ, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của Trung tâm;
-Tạo điều kiện thuận lợi cho đô ̣i ngũ phát huy hết khả năng, sở trường trong công ta ́ c;
- Xác lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, xây dựng và giải quyết tốt các mối quan hệ trong nội bộ;
-Xây dựng và giải quyết tốt các mối quan hệ ngoài nhà trường, với các tổ chức,
cá nhân trong cộng đồng địa phương để thực hiện nhiệm vụ của Trung tâm và thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục;
- Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ CBGV Trung tâm;