1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ

256 923 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 256
Dung lượng 2,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ trương này được khẳng định trong Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về đổi mới toàn diện giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2020: “Xây dựng và t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

Trần Hữu Hoan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lời biết ơn sâu sắc tới

GS.NGƯT Nguyễn Thị Mỹ Lộc và GS.NGND Nguyễn Đức Chính, người Thầy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và thực hiện luận án Tôi chân thành cám ơn Ban Giám hiệu cùng toàn thể cán bộ, giảng viên, viên chức Trường Đại học Giáo dục đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ và hoàn thành luận án

Tôi xin gửi lời cám ơn tới các Thầy, Cô, đồng nghiệp, các bạn bè

đã giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai khảo sát số liệu cho nghiên cứu luận án

Tôi xin tri ân sự khích lệ và giúp đỡ của gia đình, người thân đã dành cho tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu khoa học

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2010 Tác giả luận án

Trần Hữu Hoan

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG, ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC TRONG HỌC CHẾ TÍN CHỈ 8

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

1.2 Chương trình giáo dục đại học 12

1.2.1 Chương trình 12

1.2.2 Chương trình giáo dục đại học 15

1.2.2.1 Yêu cầu của Luật giáo dục 16

1.2.2.2 Yêu cầu của thực tiễn 17

1.2.2.3 Công tác quản lý chương trình giáo dục đại học 19

1.2.3 Chương trình môn học 20

1.2.3.1 Khái niệm môn học 20

1.2.3.2 Môn học và chương trình đào tạo 23

1.2.3.3 Quản lý chương trình môn học 25

1.3 Yêu cầu của học chế tín chỉ đối với việc quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học 27

1.3.1 Đặc trưng của học chế tín chỉ 27

1.3.1.1 Khái niệm về tín chỉ 27

1.3.1.2 Đặc trưng của đào tạo theo học chế tín chỉ 31

1.3.2 Quản lý đào tạo trong học chế tín chỉ 34

1.3.2.1 Điều kiện triển khai đào tạo theo học chế TC ở các trường đại học VN 34

1.3.2.2 Quản lý đào tạo trong học chế tín chỉ 36

1.3.3 Yêu cầu của học chế tín chỉ đối với việc quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học 40

1.3.3.1 Chương trình môn học trong đào tạo theo học chế tín chỉ 40

1.3.3.2 Yêu cầu của học chế tín chỉ về cấu trúc nội dung CTMH 43

1.3.3.3 Yêu cầu về quản lý chương trình môn học 47

1.4 Xây dựng và đánh giá chương trình môn học 48

1.4.1 Cách tiếp cận xây dựng chương trình 48

1.4.1.1 Cách tiếp cận nội dung 48

1.4.1.2 Cách tiếp cận theo mục tiêu 49

1.4.1.3 Cách tiếp cận phát triển 50

1.4.2 Mô hình phát triển chương trình 51

1.4.2.1 Mô hình phát triển chương trình của Raph Tyler 52

1.4.2.2 Mô hình phát triển chương trình của Taba 53

1.4.2.3 Mô hình phát triển chương trình của Hunkins 54

1.4.2.4 Mô hình phát triển chương trình của Peter F Oliva 55

1.4.2.5 Phát triển chương trình theo mô hình CDIO 58

Trang 6

1.4.3.1 Khái niệm đánh giá trong giáo dục 62

1.4.3.2 Khái niệm đánh giá chương trình 63

1.4.3.3 Các loại đánh giá chương trình 64

1.4.3.4 Các mô hình đánh giá chương trình 65

1.5 Quản lý xây dựng và đánh giá CTMH trong học chế tín chỉ 70

1.5.1 Quản lý xây dựng chương trình môn học 70

1.5.2 Quản lý đánh giá chương trình môn học 72

1.6 Thực tiễn về quản lý xây dựng và đánh giá CTMH trong học chế tín chỉ 72 1.6.1 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý xây dựng và đánh giá CTMH ở một số trường đại học nước ngoài 73

1.6.2 Thực tiễn về quản lý xây dựng và đánh giá CTMH trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay 76

1.6.2.1 Nhận thức về chương trình môn học trong học chế tín chỉ 76

1.6.2.2 Thực trạng về quản lý xây dựng và đánh giá CTMH trong các trường đại học hiện nay 78

1.6.2.3 Đánh giá về thực trạng quản lý xây dựng và đánh giá CTMH trong các trường đại học hiện nay 81

1.7 Tiểu kết chương 1 84

Chương 2: QUẢN LÝ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC TRONG HỌC CHẾ TÍN CHỈ 86

2.1 Nguyên tắc quản lý xây dựng chương trình môn học trong học chế tín chỉ86 2.1.1 Cơ sở đề xuất nguyên tắc quản lý xây dựng CTMH 86

2.1.1.1 Nguyên tắc xây dựng chương trình đào tạo 86

2.1.1.2 Hệ mục tiêu trong giáo dục đại học 88

2.1.1.3 Hệ mục tiêu của môn học 90

2.1.1.4 Chuẩn đầu ra của ngành đào tạo đại học 91

2.1.1.5 Quản lý chuẩn đầu ra trong việc tổ chức xây dựng CTMH 103

2.1.2 Nguyên tắc xây dựng chương trình môn học 105

2.2 Định hướng quản lý xây dựng CTMH trong học chế tín chỉ 108

2.2.1 Bàn luận về thực trạng tổ chức xây dựng và quản lý CTMH 108

2.2.2 Định hướng quản lý xây dựng CTMH trong học chế tín chỉ 110

2.3 Quản lý qui trình tổ chức xây dựng CTMH trong học chế tín chỉ 113

2.3.1 Đề xuất cấu trúc chương trình môn học 113

2.3.1.1 Cấu trúc nội dung chương trình môn học 113

2.3.1.2 Hướng dẫn trình bày nội dung chương trình môn học 114

2.3.1.3 Tổ chức khảo sát về cấu trúc nội dung chương trình môn học 124

2.3.2 Quản lý qui trình tổ chức xây dựng chương trình môn học 129

2.3.2.1 Đề xuất mô hình quản lý xây dựng chương trình môn học 129

2.3.2.2 Quản lý qui trình tổ chức xây dựng chương trình môn học 131

2.3.2.3 Phân cấp quản lý qui trình tổ chức xây dựng CTMH 134

2.3.2.4 Tổ chức khảo sát về nội dung qui trình quản lý xây dựng CTMH 137

2.4 Tiểu kết chương 2 140

Trang 7

Chương 3: QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC

TRONG HỌC CHẾ TÍN CHỈ 142

3.1 Nguyên tắc và định hướng quản lý đánh giá chương trình môn học 142

3.1.1 Bản chất của qui trình đánh giá chương trình 142

3.1.2 Nguyên tắc đánh giá chương trình môn học 143

3.1.3 Định hướng quản lý đánh giá chương trình môn học 144

3.2 Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá chương trình môn học 145

3.2.1 Nguyên tắc xây dựng tiêu chí đánh giá 145

3.2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 146

3.2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 146

3.2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác 146

3.2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 147

3.2.2 Bộ tiêu chí đánh giá chương trình môn học 147

3.2.3 Hướng dẫn sử dụng tiêu chí đánh giá chương trình môn học 154

3.3 Tổ chức khảo nghiệm bộ tiêu chí đánh giá chương trình môn học 155

3.3.1 Tổ chức khảo nghiệm 155

3.3.2 Kết quả xử lý số liệu khảo nghiệm 156

3.2.2.1 Phân tích kết quả xử lý số liệu 156

3.2.2.2 Bàn luận về kết quả khảo nghiệm 161

3.4 Quản lý qui trình tổ chức đánh giá chương trình môn học 165

3.4.1 Đề xuất qui trình tổ chức đánh giá chương trình môn học 165

3.4.2 Quản lý qui trình đánh giá chương trình môn học 170

3.4.2.1 Phân cấp quản lý qui trình đánh giá CTMH 170

3.4.2.2 Quản lý nguồn thông tin đánh giá chương trình môn học 173

3.5 Thử nghiệm đánh giá chương trình môn học 174

3.5.1 Chuẩn bị tổ chức thử nghiệm 174

3.5.1.1 Mục đích thử nghiệm đánh giá 174

3.5.1.2 Chương trình môn học được thử nghiệm đánh giá 174

3.5.1.3 Đối tượng và phạm vi thử nghiệm 175

3.5.2 Triển khai thử nghiệm đánh giá chương trình môn học 175

3.5.2.1 Tổ chức thực hiện thử nghiệm 175

3.5.2.2 Kết quả xử lý số liệu thử nghiệm 175

3.6 Tiểu kết chương 3 181

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 182

DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT, CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 185

TÀI LIỆU THAM KHẢO 187

PHỤ LỤC 195

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 1 So sánh khối lượng kiến thức và thời lượng đào tạo tối thiểu thiết kế cho

chương trình đào tạo đại học ở một số nước 17

Bảng 1 2 Cấu trúc, thời lượng kiến thức tối thiểu của chương trình GDĐH 18

Bảng 1 3 Cấu trúc kiến thức của chương trình đào tạo ĐH khối ngành sư phạm 18

Bảng 1 4 Phân cấp quản lý chương trình môn học trong chương trình ĐT 26

Bảng 1 5 Phân cấp quản lý chương trình môn học trong CTĐT ở ĐHQG 26

Bảng 1 6 Hình thức tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ 29

Bảng 1 7 Chương trình môn học trong học chế niên chế và học chế tín chỉ 46

Bảng 1 8 Năm giai đoạn đánh giá của mô hình M Provus 69

Bảng 2 1 Chuẩn đầu ra chi tiết đến bậc 2 95

Bảng 2 2 Chuẩn đầu ra chi tiết đến bậc 3 96

Bảng 2 3 Chuẩn đầu ra chi tiết đến bậc 4 97

Bảng 2 4 Nội dung chuẩn đầu ra đào tạo cử nhân sư phạm bậc 1,2 100

Bảng 2 5 Minh hoạ nội dung chuẩn đầu ra đào tạo cử nhân sư phạm bậc 3 100

Bảng 2 6 Minh hoạ nội dung chuẩn đầu ra đào tạo cử nhân sư phạm bậc 4 101

Bảng 2 7 Minh hoạ về tương ứng chuẩn đầu ra của ngành ĐT và CTMH 104

Bảng 2 8 Kết quả khảo sát ý kiến của giảng viên về cấu trúc nội dung CTMH 124

Bảng 2 9 Kết quả khảo sát ý kiến CBQL về nội dung qui trình xây dựng CTMH 137

Bảng 3 1 Bộ tiêu chí đánh giá chương trình môn học 153

Bảng 3 2 Kết quả hỏi ý kiến giảng viên khảo nghiệm các tiêu chí đánh giá chương trình môn học 156

Bảng 3 3 Kết quả hỏi ý kiến CBQL khảo nghiệm các tiêu chí đánh giá chương trình môn học 159

Bảng 3 4 Kết quả đánh giá của sinh viên về môn học 176

Bảng 3 5 Kết quả đánh giá của giảng viên về môn học 178

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 1 Tổ chức xây dựng và quản lý chương trình giáo dục đại học 20

Hình 1 2 Phân loại các môn học trong chương trình đào tạo 21

Hình 1 3 Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình đào tạo và CTMH 24

Hình 1 4 Mô hình phát triển chương trình của Tyler 52

Hình 1 5 Mô hình phát triển chương trình của Hunkins 54

Hình 1 6 Mô hình phát triển chương trình của P.F.Oliva 56

Hình 1 7 Các bước phát triển chương trình 57

Hình 1 8 Các khối kiến thức của chương trình theo CDIO 59

Hình 1 9 Khối kiến thức “tư duy và kiến thức công nghệ” ở cấp độ 2 60

Hình 1 10 Trình tự thực hiện các dạng đánh giá của mô hình CIPP 67

Hình 2 1 Các khối về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết trong chương trình đào tạo 94

Hình 2 2 CDIO trong bối cảnh doanh nghiệp và KT – XH 94

Hình 2 3 Khối kiến thức trong lĩnh vực tư duy và kiến thức công nghệ 95

Hình 2 4 Các khối về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết trong chương trình đào tạo cử nhân sư phạm 99

Hình 2 5 Khối kiến thức trong lĩnh vực nhận thức và tư duy kiến thức ngành 99

Hình 2 6 Mô hình xây dựng chương trình môn học tích hợp theo tiếp cận CDIO 129

Hình 3 1 Bản chất liên tục của qui trình đánh giá chương trình 142

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Nền giáo dục đại học ở các nước phát triển trên thế giới đang chuyển mạnh từ nền giáo dục "tinh hoa" với qui mô nhỏ sang nền giáo dục "đại chúng" với qui mô ngày càng lớn Cùng với sự phát triển đó, giáo dục đại học nước ta đứng trước cơ hội mới và những thức thách mới và đang thực hiện cuộc đổi mới và cải cách sâu rộng với xu hướng đại chúng hoá và đa dạng hoá Thực tế cho thấy, sau 23 năm đổi mới và gần 10 năm thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 giáo dục đại học đã và đang phát triển mạnh về cả qui mô và đa dạng về loại trường và hình thức đào tạo: nếu năm học 2000-2001 số cơ sở đào tạo đại học đã lên tới 77 đại học, trường đại học

và 63 trường cao đẳng với qui mô xấp xỉ 0,9 triệu sinh viên và đến tháng 9 năm 2009 đã có 376 trường đại học và cao đẳng, trong đó có 150 trường đại học và 226 trường cao đẳng với số lượng là 1.719.499 sinh viên Tổng số các trường đại học và cao đẳng công lập là 295, chiếm 78% [11, tr 28 -30] Khi qui mô đào tạo tăng nhanh mà các nguồn lực tại các cơ sở đào tạo (đội ngũ giảng viên, chương trình, chương trình giảng dạy, điều kiện cơ sở v.v ) còn hạn chế và chưa đủ khả năng đáp ứng, tất yếu sẽ không tránh khỏi nỗi băn khoăn, lo ngại về chất lượng đào tạo của toàn xã hội Vấn đề cấp bách nhưng rất cơ bản là làm thế nào để cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo của giáo dục đại học Chắc chắn rằng, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo sẽ là giải pháp duy nhất giúp giáo dục đại học nước ta làm tròn sứ mạng lịch sử của mình: cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và vươn lên ngang tầm khu vực, tiến tới trình độ giáo dục đại học thế giới

2 Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo Nội dung giáo dục đại học phải

có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học

cơ bản với kiến thức chuyên môn v.v , kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hoá dân tộc, tương ứng với trình độ chung của khu vực và

Trang 12

tiêu: “Đến năm 2020, giáo dục đại học phải có bước chuyển cơ bản về chất

lượng và quy mô, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội và nâng cao trí tuệ của dân tộc, tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, nâng một số trường đại học lên đẳng cấp quốc tế, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nguồn nhân lực và nền kinh tế đất nước”

[10, tr 22]

3 Để nội dung đào tạo luôn đảm bảo tính hiện đại và phát triển thì việc xây dựng, bổ sung cập nhật hay đổi mới chương trình giáo dục đại học cũng như chương trình môn học phải là công việc định kỳ và rất cần thiết Việc xây dựng mới hay bổ sung hoàn thiện chương trình giáo dục sẽ là một trong những giải pháp hữu hiệu để giúp giáo dục đại học đạt được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực với chất lượng đảm bảo nhằm thoả mãn yêu cầu thị trường lao động, phù hợp với các nhu cầu xã hội và đáp ứng mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Chiến lược

phát triển giáo dục 2001 – 2010 đã nhấn mạnh: “Tiến hành đổi mới mạnh mẽ

chương trình đào tạo theo hướng đa dạng hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện để mau chóng tiếp thu có chọn lọc những chương trình đào tạo của các nước phát triển về khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ v.v…, phù hợp với yêu cầu của đất nước, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, của từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng, từng địa phương nói riêng Các đại học quốc gia, các trường đại học trọng điểm, các ngành mũi nhọn của khoa học - công nghệ phải đi đầu trong việc đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục Thiết kế các chương trình chuyển tiếp, các chương trình đa giai đoạn và áp dụng các qui trình đào tạo mềm dẻo nhằm tăng cơ hội học đại học cho mọi người v.v…” [16, tr 29]

4 Việc chuyển đổi qui trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong việc đổi mới cơ bản

và toàn diện giáo dục đại học Chủ trương này được khẳng định trong Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về đổi mới toàn

diện giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2020: “Xây dựng và

thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ tạo điều kiện thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo trong nước và nước ngoài” Để

Trang 13

triển khai chủ trương này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính qui theo hệ thống tín chỉ tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 Đến nay nhiều đại học và trường đại học đã triển khai tổ chức đào tạo đại học theo học chế tín chỉ

Việc chuyển đổi phương thức tổ chức đào tạo đòi hỏi việc quản lý hoạt động đào tạo phải có sự thay đổi theo cho phù hợp Quản lí đào tạo trong học chế tín chỉ có nhiều điểm khác so với cách quản lí theo niên chế trước đây Việc quản lý CTMH, từ khâu biên soạn, triển khai thực thi, đánh giá theo cách tiếp cận, phương pháp nào để phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ chính là vấn đề cần được nghiên cứu và bàn luận Chương trình môn học giúp chúng ta xác định chuẩn kiến thức kỹ năng của môn học, đây cũng chính

là nhu cầu của người học Trong đào tạo theo học chế tín chỉ cần có CTMH được biên soạn chi tiết gồm cả kế hoạch giảng dạy của môn học Kế hoạch

giảng dạy môn học cần phải chỉ rõ những nội dung sau: 1) Nội dung giảng

dạy của từng buổi học (dạy cái gì?) trong suốt học kỳ (khoảng 15 tuần); 2) Phương pháp giảng dạy áp dụng cho từng nội dung dạy trong buổi học (dạy như thế nào?); 3) Người học phải làm gì, chuẩn bị những gì ứng với từng nội dung của buổi học (học như thế nào?); 4) Vào buổi học nào có kiểm tra, hình thức kiểm tra thế nào; và 5) Buổi học nào giảng viên tổng kết hay hệ thống hoá kiến thức môn học

Nhận thức rõ được những điều nêu trên, với cương vị người quản lý hoạt

động đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học, tác giả luận án chọn vấn đề “Quản

lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ” để nghiên cứu là rất cần thiết và hữu ích để góp phần vào việc đổi mới

nội dung chương trình giáo dục cho phù hợp hơn với nhu cầu xã hội, nhu cầu của thị trường nhân lực lao động ở nước ta và nhu cầu tiến tới hội nhập với giáo dục đại học các nước trong khu vực và thế giới

2 Mục đích nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý xây dựng và đánh giá chương trình giáo dục đại học, chương trình môn học, luận án tiến hành nghiên cứu vấn đề quản lý xây dựng và đánh

Trang 14

đó đề xuất quy trình và quản lý qui trình tổ chức xây dựng chương trình môn học, đề xuất bộ tiêu chí đánh giá và qui trình đánh giá chương trình môn học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Chương trình giáo dục đại học trong các cơ sở

đào tạo đại học

- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý chương trình môn học thuộc chương

trình giáo dục đại học trong học chế tín chỉ

4 Giả thuyết khoa học

Chương trình môn học là thành phần cốt lõi của chương trình giáo dục đại học, là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và quyết định chất lượng đào tạo của ngành học, của khoá đào tạo Quản lý chương trình môn học bao quát từ khâu tổ chức xây dựng, thực thi đến đánh giá luôn được coi là hoạt động quan trọng nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo của

cơ sở giáo dục đại học Tuy nhiên, trong các cơ sở giáo dục đại học hiện nay mới chỉ chú trọng đến việc xây dựng chương trình đào tạo, còn vấn đề quản lý

tổ chức xây dựng và giám sát đánh giá chương trình môn học vẫn chưa được

sự quan tâm đúng mức, thậm chí còn quá lỏng lẻo

Trong bối cảnh hiện nay khi thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ với triết

lý là “lấy người học làm trung tâm” trong quá trình triển khai đào tạo, tạo

điều kiện tối đa để người học chủ động trong việc tự lập kế hoạch học tập, tự quản lý việc học của mình, thì tầm quan trọng của CTMH lại càng được khẳng định rõ hơn Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của đào tạo theo học chế tín chỉ, thì CTMH đòi hỏi phải được xây dựng với cấu trúc nội dung chỉ rõ cho người học cách học, phương pháp chiếm lĩnh kiến thức, định hướng cho hoạt động dạy và học, giúp thầy lập kế hoạch dạy học, trò chủ động lập kế hoạch học tập

Như vậy, quản lý chương trình môn học nếu bao quát tất cả các khâu từ xây dựng, thực thi truyền tải nội dung môn học và giám sát đánh giá, luôn có

ý thức cải tiến chương trình xuất phát từ quyền lợi người học và tập trung vào

sự đáp ứng nhu cầu người học, thì chắc chắn sẽ đảm bảo được chất lượng môn học, đồng thời sẽ góp phần nâng cao chất lượng ngành đào tạo, cũng như chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học nói chung

Trang 15

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án sẽ triển khai thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

1) Nghiên cứu các vấn đề lý luận về xây dựng và đánh giá chương trình giáo dục đại học, chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ

2) Nghiên cứu đề xuất qui trình quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học Triển khai khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý việc xây dựng và đánh giá chương trình môn học ở một số cơ sở đào tạo đại học, trên cơ sở đó đề xuất định hướng quản lý hai hoạt động này trong

cơ sở giáo dục đại học

3) Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chương trình môn học thuộc chương trình giáo dục đại học Triển khai khảo nghiệm độ tin cậy, tính khả thi của các tiêu chí đã được đề xuất trong luận án

4) Thử nghiệm đánh giá một chương trình môn học cụ thể thuộc chương trình đào tạo cử nhân đại học theo các tiêu chí đã đề xuất trong luận án

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả kết hợp sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu Luật Giáo dục, Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp qui

của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định về GD và ĐT, vận dụng nội dung, quan điểm chỉ đạo làm cơ sở cho việc đổi mới chương trình, nội dung và mục tiêu phát triển GD và ĐT

- Nghiên cứu các sách, tài liệu, công trình nghiên cứu của các nhà khoa

học giáo dục trong nước và nước ngoài có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án

- Hệ thống hoá vấn đề lý luận về quản lý xây dựng chương trình GD,

CTMH, quan điểm phát triển chương trình giáo dục, phân tích và khái quát hoá các vấn đề lý luận về chương trình của các nhà khoa học trước

để thừa kế và tìm được được điểm khác biệt áp dụng cho vấn đề nghiên

Trang 16

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Nghiên cứu chương trình, chương trình môn học của một số ngành

trong các cơ sở đào tạo khác nhau, nhằm hiểu được thực trạng quản lý việc xây dựng và đánh giá CTMH

- Lấy ý kiến chuyên gia qua việc trao đổi, phỏng vấn và khảo sát bằng

phiếu hỏi với đối tượng là chuyên gia chương trình, cán bộ lãnh đạo, quản lý trường đại học, giảng viên và sinh viên về thực trạng quản lý quy trình xây dựng và đánh giá CTMH

- Thống kê, xử lý số liệu với hỗ trợ của phần mềm, phân tích các dữ liệu

đã xử lý, trên cơ sở đó đưa ra các nhận xét bàn luận của tác giả

7 Những luận điểm bảo vệ

- Để đảm bảo trình độ của ngành học, cũng như bậc đào tạo, và chất

lượng của CTĐT, việc đầu tiên phải xây dựng được CTMH trong đó

xác định được chuẩn đầu ra (learning outcomes) về kiến thức, kỹ năng

Đây cũng chính là cơ sở xây dựng CTMH Chuẩn kiến thức, kỹ năng

được thể hiện thông qua CTMH được tổ chức xây dựng theo luận điểm

“lấy người học làm trung tâm”, theo cách tiếp cận khoa học phù hợp mục tiêu của môn học, ngành học và thực thi gắn kết với việc giảng dạy môn học đó

- Chương trình môn học là yếu tố cốt lõi cho các hoạt động dạy và học,

định hướng cho hoạt động này và là cơ sở giúp thầy lập kế hoạch dạy, giúp trò lập kế hoạch học, đồng thời là công cụ hữu hiệu cho quản lý đào tạo, quản lý việc giảng dạy và học tập, kiểm tra - đánh giá môn học Vai trò đặc biệt quan trọng của CTMH kèm lịch trình giảng dạy, chỉ rõ hình thức tổ chức dạy học cũng như phương pháp dạy từng nội dung của môn học càng được nhấn mạnh và khẳng định hơn trong việc

tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ

- Quản lý chương trình môn học chặt chẽ từ khâu biên soạn, thực thi,

truyền tải chương trình đến người học, giám sát đánh giá chương trình

để cải tiến, hoàn thiện dựa vào các tiêu chí đánh giá được đề xuất trong luận án có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng môn học, ngành học và chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục đại học

Trang 17

8 Đóng góp mới của luận án

- Luận án nghiên cứu một cách có hệ thống để làm rõ một số vấn đề lý

luận về quản lý xây dựng và đánh giá chương trình giáo dục đại học, đặc biệt là chương trình môn học

- Đề xuất qui trình và quản lý qui trình xây dựng và đánh giá CTMH, các

định hướng quản lý hai hoạt động này trong cơ sở giáo dục đại học nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

- Đề xuất khung chuẩn đầu ra CTĐT cử nhân sư phạm theo triết lí mô

hình CDIO để làm cơ sở cho việc quản lý xây dựng CTMH

- Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá CTMH nhằm giúp các cơ sở giáo dục đại

học trong việc đánh giá, rà soát lại CTMH hiện hành và đánh giá thẩm định các môn học mới trước khi bổ sung vào chương trình

- Luận án đã tổ chức thử nghiệm đánh giá một chương trình môn học cụ

thể thuộc chương trình đào tạo cử nhân đại học trên cơ sở các tiêu chí

đã đề xuất trong luận án

9 Giới hạn nghiên cứu của đề tài

- Luận án đề xuất qui trình và quản lý việc xây dựng và đánh giá chương

trình môn học trình độ đại học

- Trong khuôn khổ luận án, tác giả chọn một CTMH thuộc khối ngành

sư phạm để triển khai thử nghiệm bộ tiêu chí đề xuất trong luận án

10 Cấu trúc luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo

và các phụ lục, nội dung luận án được trình bày trong 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý xây dựng, đánh giá

chương trình môn học trong học chế tín chỉ

- Chương 2: Quản lý xây dựng chương trình môn học trong học chế tín chỉ

- Chương 3: Quản lý đánh giá chương trình môn học trong học chế tín chỉ

Trang 18

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ XÂY

DỰNG, ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC TRONG HỌC CHẾ TÍN CHỈ

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phát triển chương trình giáo dục là một ngành khoa học đã được các nhà khoa học, chuyên gia chương trình của nhiều nước trên thế giới đầu tư nghiên cứu nhiều năm nay Trải qua hơn 100 năm phát triển, ngành khoa học này đã nghiên cứu hàng chục mô hình phát triển chương trình giáo dục, phản ánh trung thực từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, trong từng thời đại mà nó đáp ứng Như vậy, phát triển chương trình giáo dục cũng như chương trình môn học là lĩnh vực nghiên cứu có bề dày lịch sử, là công việc thường xuyên đối với các trường đại học tiên tiến, song đối với nước ta lĩnh vực này vẫn còn

là mới mẻ Có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực phát triển chương trình giáo dục nói chung, sau đây là nét khái quát về một số công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan gần với vấn đề nghiên cứu của luận án

+ Nghiên cứu ở nước ngoài

Trước hết phải đề cập đến tài liệu “Xây dựng và đánh giá môn học và

chương trình học” [102] của Robert M Diamond (1998) Tác giả đã trình bày

và phân tích các vấn đề về xây dựng chương trình, chương trình môn học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm; quan hệ giữa mục tiêu, môn học, chương trình và giảng dạy; và thực thi, đánh giá và cải tiến chương trình giáo dục và chương trình môn học

Trong tài liệu “Chương trình: Những cơ sở, nguyên tắc, và chính sách xây

dựng” [87] của Allan C Ornstein và Francis P Hunkins (1998), các tác giả đã

tổng thuật khá toàn diện về: 1) Các cơ sở xây dựng chương trình (cơ sở triết

học, lịch sử, tâm lý học, xã hội) cùng hệ thống lý luận về chương trình; 2) Phát triển chương trình giáo dục (thiết kế xây dựng, thực thi và đánh giá chương trình); và 3) Các chính sách và khuynh hướng phát triển chương trình Những vấn đề này cũng được tìm thấy trong công trình “Chương trình: các phương pháp tiếp cận và vấn đề đang tiếp diễn” [89] của Collin J Marsh

và George Willis (2003) Tác giả Susan Tooshey (1999) trong cuốn “Thiết kế

môn học trong giáo dục đại học” [105] đã trình bày về mô hình, phương pháp

Trang 19

thiết kế môn học trong GDĐH và các chiến lược giảng dạy trong thực thi chương trình môn học

Trong công trình rất nổi tiếng “Xây dựng chương trình học” (Developing

the Curriculum) [71], tác giả Peter F Oliva đã phân tích một cách toàn diện

về triết lý, mục đích giáo dục; các vấn đề lý luận và quá trình xây dựng chương trình học (thiết kế, thực thi và đánh giá); các mô hình xây dựng chương trình học; phân tích mối quan hệ giữa chương trình học và giảng dạy Đặc biệt, tác giả đã đưa ra quan điểm về phát triển chương trình của chính tác giả, một mô hình phát triển chương trình được cho là toàn diện nhất, bởi lẽ

mô hình của tác giả đã gắn kết quá trình phát triển chương trình với quá trình giảng dạy (thực hiện chương trình)

Vấn đề về thiết kế, xây dựng và đánh giá chương trình giáo dục và chương trình môn học được phân tích làm sáng tỏ trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, chuyên gia chương trình nổi tiếng khác như: tác giả

Hilda Taba (1962) trong “Xây dựng chương trình: Lý luận và thực tiễn”; Kelly A.V (1977) trong “Chương trình: những vấn đề lý luận và thực tiễn”; tác giả Tanner, Daniel and Laurel (1995) trong “Xây dựng chương trình: từ lý

luận đến thực tiễn”; và nhiều tác giả khác

+ Nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây số lượng công trình nghiên cứu về khoa học phát triển chương trình giáo dục cũng đã nhiều, song phần lớn chỉ ở mức độ tài liệu tham khảo cho giảng dạy và học tập, các bài báo hoặc báo cáo khoa học tại các hội nghị khoa học

Tác giả Lê Viết Khuyến trong nhiều bài viết đã phân tích làm sáng tỏ một

số vấn đề về chương trình đào tạo, thiết kế nội dung chương trình, tổ chức triển khai chương trình đào tạo bậc đại học trong học chế tín chỉ và đổi mới phương thức quản lý nhà nước về chương trình nội dung đào tạo đại học và cao đẳng theo tinh thần Luật giáo dục [45] Trong bài viết cho chương trình tập huấn về phương thức đào tạo theo tín chỉ tại Đại học Quốc gia Hà Nội

“Cấu trúc lại chương trình đào tạo để chuyển từ đào tạo theo niên chế sang

chương trình đào tạo theo tín chỉ ở các trường đại học hiện nay” tác giả Ngô

Doãn Đãi đã phân tích đặc điểm của học chế tín chỉ, yêu cầu của học chế tín

Trang 20

chỉ đối với việc cấu trúc nội dung, phân bổ thời lượng chương trình đào tạo và nêu các yêu cầu để có được chương trình đào tạo phù hợp với học chế tín chỉ Những vấn đề về chương trình ĐT, tổ chức xây dựng và quản lý chương trình

ĐT trong học chế tín chỉ được đề cập và phân tích trong một số bài viết khác của tác giả Lâm Quang Thiệp, Lê Viết Khuyến và một số tác giả khác

Trong hai bài viết “Cơ sở khoa học của việc xây dựng chương trình đào

tạo đại học và sau đại học” và “Chương trình chi tiết và ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn học là công cụ để đổi mới phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo” đăng tại kỷ yếu Hội thảo “Xây dựng chương

trình đào tạo đại học” [83] năm 2003, tác giả Lê Đức Ngọc đã đề cập và phân tích nội hàm chất lượng đào tạo đại học, các nguyên tắc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo; vai trò chương trình môn học trong quản lý, giảng dạy, học tập và nội dung chương trình môn học Cũng trong kỷ yếu Hội thảo

này, trong bài viết “Xây dựng chương trình đào tạo hướng đến rèn luyện kỹ

năng” [83] tác giả Lê Văn Hảo đã đề cập đến thực trạng về xây dựng chương

trình đào tạo bậc đại học ở Việt Nam và đề xuất về xây dựng chương trình đào tạo hướng đến tích hợp rèn luyện các kỹ năng cần thiết đối với người tốt nghiệp đại học, đây cũng là ý tưởng mới trong xây dựng chương trình đào tạo

ở thời điểm đó

Đã có nhiều tài liệu, bài viết về đánh giá chương trình đào tạo, trong đó các tác giả cũng đề cập đến tiêu chí đánh giá, qui trình đánh giá chương trình

Tác giả Nguyễn Đức Chính trong tài liệu “Chương trình đào tạo và phát triển

chương trình đào tạo” (2007) đã phân tích các giai đoạn phát triển chương

trình đào tạo, đề xuất các tiêu chí đánh giá chương trình đào tạo: 1) Tính trình

tự; 2) Tính gắn kết; 3) Tính thích hợp; 4) Tính cân đối; 5) Tính cập nhật; và 6) Tính hiệu quả [21]

Trong bài viết “Một số vấn đề cần quan tâm khi xây dựng chương trình

đào tạo đại học” [83], tác giả Phùng Rân đã phân tích các nguyên tắc cơ bản

trong xây dựng chương trình và đề xuất 5 tiêu chí mà chương trình đào tạo

bậc đại học cần đáp ứng: 1) Phù hợp với sự phân cấp, phân luồng trong hệ

thống giáo dục quốc dân; 2) Phù hợp với trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ trong nước; 3) Đào tạo lực lượng lao động phù hợp với sự phân công

Trang 21

lao động xã hội; 4) Đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập nền kinh tế khu vực

và thế giới; 5) Đáp ứng tính liên thông tạo điều kiện thuận lợi cho người học

Tác giả Trần Khánh Đức với bài viết “Phát triển và đánh giá chương trình

đào tạo giáo viên trong nền giáo dục hiện đại” [30] trong kỷ yếu Hội thảo

“Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, cao đẳng và đại học sư phạm”, đã đề cập đến 6 tiêu chí đánh giá

chương trình đó là: 1) Tính định hướng mục tiêu; 2) Tính hệ thống; 3) Tính

hiện đại; 4) Tính hiệu quả; 5) Tính khả thi; và 6) Khả năng cập nhật và đánh giá liên tục trong quá trình thực hiện

Trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu đánh giả thẩm định chương trình giáo

dục đại học” [41] tác giả Trần Thị Hoài đã đề xuất 4 tiêu chuẩn gồm 16 tiêu

chí đánh giá thẩm định chương trình giáo dục đại học, bốn tiêu chuẩn đó là: 1) Mục tiêu của chương trình giáo dục đại học; 2) Nội dung của chương trình; 3) Thời lượng của chương trình; và 4) Các điều kiện thực hiện chương trình Bốn tiêu chuẩn này chính là 4 yếu tố cấu trúc nên chương trình đào tạo đại học Đồng thời, trong luận án tác giả còn đề xuất 6 tiêu chí dùng để đánh giá

thẩm định đề cương môn học: 1) Tiêu chí 1: Thông tin chung về môn học; 2)

Tiêu chí 2: Mục tiêu của môn học; 3) Tiêu chí 3: Nội dung môn học; 4) Tiêu chí 4: Hình thức tổ chức dạy học; 5) Tiêu chí 5: Hình thức kiểm tra – đánh

giá; và 6) Tiêu chí 6: Học liệu Các tiêu chí dùng để đánh giá thẩm định đề

cương môn học chính là các yếu tố thành phần cấu trúc đề cương môn học Các tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học được đề cập đến trong một số tài liệu và công trình của các nhà khoa học và tổ chức khác như: Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2007; Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo do Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành năm 2007

Qua một số công trình nghiên cứu, tài liệu về chương trình giáo dục, chương trình môn học mà tác giả đã biết và tham khảo, đã trình bày khái quát trên đây, tác giả nhận thấy các tài liệu tập trung vào nghiên cứu chương trình giáo dục đại học với lý luận về chương trình, mô hình phát triển chương trình

và đề cập đến các tiêu chí đánh giá chương trình đào tạo và mới chỉ ở mức độ chuyên khảo, tài liệu học tập, các bài báo hoặc báo cáo khoa học tại các hội

Trang 22

về qui trình xây dựng và đánh giá chương trình môn học - một yếu tố cốt lõi cấu thành chương trình giáo dục đại học

1.2 Chương trình giáo dục đại học

Trong phần này, tác giả luận án sẽ đề cập làm rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: chương trình, chương trình giáo dục đại học và chương trình môn học

1.2.1 Chương trình

Thuật ngữ Curriculum trong tiếng Anh đã được nhiều tác giả, nhà khoa học giáo dục chuyển dịch sang tiếng Việt là chương trình đào tạo, chương

trình giáo dục, chương trình học, chương trình dạy học v.v… Thuật ngữ này

trong các tài liệu tiếng Anh về giáo dục, chương trình giáo dục trong nhà trường cũng được định nghĩa và giải thích theo nhiều cách khác nhau

Đưa ra định nghĩa về chương trình hoàn toàn không phải là việc dễ dàng

Có lẽ định nghĩa thông dụng nhất cho thuật ngữ này xuất phát từ một từ gốc

La tinh có nghĩa là “trường đua” (race course) Thực ra, đối với người học thì

chương trình học trong nhà trường cũng là một cuộc đua mà họ phải tham gia

“chạy” và phải vượt qua hàng loạt các vật cản và rào chắn - đó là các môn học Từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, trường học trong nền văn minh Tây

Âu với sự ảnh hưởng tư tưởng triết học của Plato và Aristotle, từ chương trình

(curriculum) được sử dụng để miêu tả các môn học được giảng dạy trong thời

kỳ cổ điển của nền văn minh Hy Lạp Theo thời gian, tuỳ thuộc vào quan điểm triết học, quan điểm về giáo dục trong nhà trường của mỗi người mà

cách hiểu và giải thích về chương trình của họ sẽ khác nhau, chẳng hạn họ hiểu và giải thích chương trình (curriculum) là: 1) Những gì được giảng dạy

trong nhà trường; 2) Tập hợp các môn học; 3) Tất cả những gì diễn ra trong nhà trường, bao gồm việc dạy, những hoạt động trong giờ, ngoài giờ học, và các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau; 4) Những gì được dạy trong và ngoài trường do nhà trường định hướng; 5) Những hoạt động, kinh nghiệm

mà người học trải qua trong trường, và những gì người học thu nhận được qua quá trình học của chính mình trong trường; 6) Là những môn học hữu ích nhất cho cuộc sống xã hội hiện tại; 7) Là toàn bộ các hoạt động, kinh nghiệm học tập mà nhà tường tổ chức cho người học để họ có thể đạt được những kỹ năng, kiến thức chung ở các môi trường học khác nhau; v.v… và 8) Là tất cả

Trang 23

những kiến thức mà người học thu nhận được trong trường đời (the course of living) [87] Theo những cách giải thích và quan niệm trên đây, thì chương trình được hiểu theo nghĩa hẹp là những môn học, hoặc theo nghĩa rộng hơn

là tất cả những hoạt động, kinh nghiệm của người học ở cả trong và ngoài nhà trường

Đến thế kỷ XX, ý nghĩa của thuật ngữ chương trình được mở rộng hơn

Tuỳ theo quan điểm về cách tiếp cận xây dựng chương trình, quan điểm về phương thức tổ chức triển khai các hoạt động trong chương trình, căn cứ vào nhu cầu thực tế của sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn, các chuyên gia giáo dục, các nhà xây dựng chương trình (curriculum developers)

đã đưa ra các định nghĩa về chương trình một các khái quát, đầy đủ và khác biệt hơn

Theo Phenix (1962), chương trình bao gồm toàn bộ những kiến thức do các môn học cung cấp

Hilda Taba (1962) định nghĩa chương trình học là một bản kế hoạch học

tập Khi định nghĩa về chương trình, Hilda Taba chỉ ra các yếu tố của chương

trình gồm 4 yếu tố sau: 1) Tuyên bố mục đích và mục tiêu cụ thể; 2) Lựa chọn

và cấu trúc nội dung chương trình; 3) Các chiến lược giảng dạy, cách học phù hợp; và 4) Hệ thống đánh giá kết quả học tập

Trong Từ điển giáo dục của Carter V Good (1973) chương trình được miêu tả là “một nhóm có hệ thống và trình tự các môn học cần phải có để

được tốt nghiệp hoặc được chứng nhận hoàn thành một ngành học, lĩnh vực học”

Theo Tanner (1975) chương trình là các kinh nghiệm (experiences) học

tập được hướng dẫn, và kế hoạch hoá, với các kết quả học tập được xác định trước và hình thành thông qua việc thiết lập kiến thức và kinh nghiệm một cách có hệ thống dưới sự hướng dẫn của nhà trường nhằm tạo ra cho người học sự phát triển liên tục về năng lực xã hội - cá nhân

Albert, I Oliver cho rằng chương trình bao gồm 4 yếu tố cơ bản: các môn

học; các hoạt động, kinh nghiệm học tập; các dịch vụ; và các hoạt động

“ẩn” Các môn học, hoạt động, kinh nghiệm học và các dịch vụ là những

Trang 24

phần hiển nhiên của chương trình, còn khái niệm các hoạt động “ẩn” có thể là những giá trị văn hoá tổ chức của nhà trường, xã hội v.v…

Chương trình được nhìn nhận với góc độ qui mô rộng hơn, nhấn mạnh đến

sự phát triển kỹ năng và các giá trị khác mà người học đạt được trong trường học Điều này được thể hiện qua quan điểm của tác giả Ronald C Doll (1996)

về chương trình: “Chương trình học của nhà trường là nội dung giáo dục và

các hoạt động chính thức và không chính thức; quá trình triển khai nội dung hoạt động, thông qua đó người học thu nhận được kiến thức và sự hiểu biết, phát triển các kỹ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức dưới sự tổ chức của nhà trường”

Một số chuyên gia giáo dục khác nhìn nhận chương trình với một cách tổng thể từ góc độ người quản lý, người thiết kế, thực hiện chương trình, và chính vì vậy họ quan tâm nhiều hơn đến mục đích, mục tiêu, các phương pháp

thực hiện để đạt được mục đích, mục tiêu đó White (1995) cho rằng: Chương

trình là một kế hoạch đào tạo phản ánh các mục tiêu giáo dục, đào tạo mà nhà trường theo đuổi Bản kế hoạch đó cho biết nội dung và phương pháp dạy

và học cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra Tim Wentling (1993) định nghĩa:

“Chương trình là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo Hoạt động

đó có thể chỉ là một khoá học trong thời gian vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết nội dung cần đào tạo, chỉ

rõ những gì có thể kỳ vọng ở người học sau khi kết thúc khoá học, nó phác hoạ qui trình thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho ta biết các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập, và toàn bộ các vấn đề của bản thiết kế này được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ”

Có cùng quan điểm về chương trình, Raph Tyler cho rằng chương trình phải

bao gồm 4 yếu tố cơ bản sau: 1) Mục tiêu đào tạo; 2) Nội dung đào tạo; 3)

Phương pháp hay qui trình đào tạo; và 4) Đánh giá kết quả đào tạo Và

tương tự, bất luận định nghĩa thế nào về chương trình, tác giả Kelly cho rằng

chương trình giáo dục cũng cần có 4 yếu tố cấu thành: 1) Ý định của người

xây dựng chương trình; 2) Qui trình thực hiện ý định đó; 3) Kinh nghiệm, kiến thức mà người dạy cung cấp cho người học trong khi thực hiện ý định của người thiết kế chương trình; và 4) Một sản phẩm phụ của chương trình giáo dục được thể hiện qua khả năng học tập “ẩn” (hidden) của người học

Trang 25

Nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về chương trình (curriculum) của riêng họ

với sự nhấn mạnh các ý nghĩa của từ này ở mức khác nhau Theo Portelli (1987), hơn 120 định nghĩa về thuật ngữ này đã xuất hiện trong các tài liệu chuyên ngành về chương trình giáo dục Việc quan niệm thế nào về chương trình giáo dục không phải đơn thuần là vấn đề định nghĩa về chương trình mà

nó thể hiện rõ quan điểm của mỗi người về giáo dục

Nghiên cứu các quan niệm, định nghĩa về chương trình giáo dục của nhiều tác giả, chuyên gia giáo dục, chuyên gia chương trình giáo dục; với sự hiểu biết và kinh nghiệm công tác trong quản lý đào tạo, xây dựng chương trình giáo dục đại học, chương trình môn học; có quan điểm đồng thuận với quan niệm của Tim Wentling, Raph Tyler và Kelly về chương trình giáo dục, tác

giả luận án có thể bày tỏ ý kiến về chương trình như sau: “Chương trình giáo

dục là bản thiết kế tổng thể được trình bày một cách có hệ thống cho một hoạt động giáo dục, đào tạo của một khoá học trong một khoảng thời gian xác định, và thể hiện 4 yếu tố sau: 1) Mục tiêu đào tạo được cụ thể hoá qua kết quả đào tạo (Learning outcomes); 2) Nội dung cần đào tạo (các môn học) và thời lượng của chương trình và mỗi môn học; 3) Qui trình và các phương pháp triển khai thực hiện nội dung đào tạo đã được qui định trong chương trình để đạt được mục tiêu đào tạo; và 4) Phương thức kiểm tra – đánh giá kết quả đào tạo”, ngoài ra cần có hướng dẫn thực hiện chương trình”

Có thể nói rằng chương trình trong lĩnh vực giáo dục là một khái niệm động, quan niệm về chương trình giáo dục được phát triển, mở rộng theo trình

độ phát triển kinh tế - xã hội, của khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin Với mục đích góp phần tạo ra nguồn lực đáp ứng yêu cầu thị trường lao động

ở các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội, chương trình giáo dục cũng phải phát triển, cập nhật không ngừng để thực hiện được chức năng của mình

1.2.2 Chương trình giáo dục đại học

Chương trình giáo dục đại học được xác định rõ trong Luật Giáo dục Việt

Nam (2005), tại Điều 41: “Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu

GD đại học; qui định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung

GD đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, bậc đào tạo của GD đại học; bảo

Trang 26

định của Hội đồng quốc gia thẩm định ngành về chương trình giáo dục đại học, Bộ trưởng Bộ GD và ĐT qui định chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, trình độ đại học bao gồm cơ cấu nội dung, các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, thực tập Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng, trường đại học xác định chương trình giáo dục của trường mình” [72]

Quan điểm coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu được khẳng định trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Giáo dục đại học là bộ phận chủ yếu tạo ra nguồn nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Thực hiện nhiệm vụ trên, chương trình GDĐH phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:

1.2.2.1 Yêu cầu của Luật giáo dục

- Về mục tiêu: Mục tiêu giáo dục đại học được ghi tại Điều 39 của Luật

Giáo dục 2005: “Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý

thức phục vụ nhân dân, có ý thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo” [72]

- Về nội dung: Điều 40 của Luật Giáo dục 2005 chỉ rõ nội dung chương

trình giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp

lý giữa kiến thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn và các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hoá dân tộc; tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới Đào tạo trình độ đại học phải đảm bảo cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn tương đối hoàn chỉnh, có phương pháp làm việc khoa học,

có năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn [72]

Trang 27

1.2.2.2 Yêu cầu của thực tiễn

1) Chương trình đào tạo trình độ đại học: Để đạt bằng cử nhân (Bachelor

Degree) sinh viên thường phải tích lũy đủ khối lượng 120 – 140 tín chỉ (theo chương trình của các trường đào tạo 4 năm với 2 học kỳ mỗi năm theo kiểu chương trình đào tạo của Mỹ) Khối lượng kiến thức tối thiểu được thiết kế trong CTĐT đại học ở một số mô hình được so sánh trong bảng sau:

Bảng 1 1 So sánh khối lượng kiến thức và thời lượng đào tạo tối thiểu thiết kế cho

chương trình đào tạo đại học ở một số nước

Chương

trình

đại học

Sư phạm tích cực (HTTC của Thái Lan)

Sư phạm thụ động (Học chế niên chế của Liên bang Nga)

Sư phạm thụ động (Học chế niên chế kết hợp với học phần của Việt Nam)

320 ĐVHT

4800 (tiết lên lớp)

9600 (tiết làm việc thực của SV)

(Nguồn: Vụ Đại đại học, Bộ GD và ĐT, 2003)

Trong đó: 1 tín chỉ = 15 tiết lên lớp + 30 tiết chuẩn bị cá nhân

= 45 tiết làm việc thực của sinh viên

1 ĐVHT = 15 tiết lên lớp + 15 tiết chuẩn bị cá nhân

= 30 tiết làm việc thực của sinh viên Qua bảng tổng hợp trên, số giờ lên lớp trong chương trình của học chế tín

chỉ bằng 2/3 số giờ lên lớp của học chế học phần và bằng ½ số giờ lên lớp của

học chế niên chế Đây là một yếu tố ảnh hưởng nhiều đến việc cấu trúc và xây dựng chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ, và theo đó sẽ có ảnh hưởng đến phương pháp dạy - học trong quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ

2) Theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo: khối lượng và cấu trúc kiến

thức tối thiểu cho chương trình giáo dục đại học gồm 2 khối kiến thức: kiến

Trang 28

thức giáo dục đại cương (tối thiểu) và kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, cụ

thể như sau:

Bảng 1 2 Cấu trúc, thời lượng kiến thức tối thiểu của chương trình GDĐH

TT Chương trình GD ĐH Khối lượng CT Kiến thức GD

đại cương

Kiến thức GD chuyên nghiệp

(Đơn vị tính: ĐVHT; Nguồn Vụ Đại học - 1993)

- Khối kiến thức giáo dục đại cương bao gồm các môn học, học phần (bắt

buộc và tự chọn) thuộc lĩnh vực lý luận chính trị, khoa học xã hội, nhân văn, toán và khoa học tự nhiên, ngoại ngữ, tin học cơ sở, giáo dục thể chất,

và giáo dục quốc phòng, không tính các học phần về giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng

- Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp bao gồm các môn học thuộc phần

kiến thức cơ sở của khối ngành và của ngành, phần kiến thức chuyên ngành, kiến thức nghiệp vụ ngành, kiến thức thực hành, thực tập, khoá luận (hoặc thi tốt nghiệp), ngoài ra có thể có các môn học thuộc phần kiến thức bổ trợ, chuyên biệt của ngành

Từ năm 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình khung giáo dục đại học cho các khối ngành đào tạo, thời lượng của khối kiến thức GD đại cương và GD chuyên nghiệp có thay đổi, cụ thể kiến thức đại cương từ 75 –

90 đvht tuỳ theo từng khối ngành Ví dụ, theo chương trình khung giáo dục đại học khối ngành sư phạm do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tại Quyết định số 28/2006/QĐ-BGDĐT, cấu trúc kiến thức của chương trình đào tạo gồm 2 khối kiến thức và được phân bổ thời lượng như trong bảng sau:

Bảng 1 3 Cấu trúc kiến thức của chương trình đào tạo ĐH khối ngành sư phạm

(đvht)

1 Kiến thức giáo dục đại cương

(chưa kể phần nội dung về GD thể chất và Giáo dục quốc phòng)

80

Trang 29

- Kiến thức ngành (kể cả kiến thức chuyên ngành)

- Kiến thức bổ trợ/chuyên biệt của ngành

- Thực tập, thực tế chuyên môn

- Khoá luận (hoặc thi tốt nghiệp)

1.2.2.3 Công tác quản lý chương trình giáo dục đại học

Về công tác quản lý chương trình đào tạo đại học ở nước ta có thể tóm tắt như sau: Từ giữa thập niên 90, với xu hướng tăng quyền tự chủ cho các trường đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương chỉ ban hành khung chương trình đào tạo (Curriculum Framework) cho các cấp học đại học, trong

đó qui định khối kiến thức tối thiểu và cơ cấu kiến thức tại các Quyết định 2677/GD-ĐT và 2678/GD-ĐT ngày 3/2/11993 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT Căn cứ vào các khung chương trình này, các trường đại học được quyền chủ động xây dựng chương trình đào tạo và trình Bộ GD và ĐT phê duyệt trước khi triển khai thực hiện

Đến năm 1998, khi Quốc hội thông qua Luật giáo dục, phương thức quản

lý chương trình nội dung đào tạo đại học cần phải điều chỉnh lại theo hướng tập trung thêm quyền lực vào Nhà nước, theo đó Bộ GD và ĐT không chỉ qui định và quản lý đến khung chương trình mà phải quản lý đến chương trình khung (Core curiculum) của tất cả các ngành đào tạo Chương trình khung gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học cơ bản và chuyên ngành, giữa lý thuyết, thực hành

và thực tập Căn cứ vào chương trình khung, trường đại học xây dựng chương trình đào tạo của trường Như vậy, các chương trình khung do Bộ GD và ĐT ban hành không phải là một chương trình đào tạo hoàn chỉnh, mà chỉ là phần nội dung cứng, dựa vào đó các trường bổ sung thêm phần nội dung mềm, cấu trúc, xắp sếp lại các học phần một cách hợp lý, thiết kế xây dựng chương trình đào tạo cụ thể cho trường mình có thể theo hướng một ngành (kiểu chương trình đơn), hoặc từ một số ngành (ngành chính - phụ, song ngành, và văn bằng 2) [83, tr 3-5] Nhận thấy vai trò quan trọng của chương trình khung trong tiến trình đổi mới GDĐH Việt Nam, kết luận của Hội nghị đại học tháng 10

năm 2001 đã chỉ rõ: “Chương trình khung là cơ sở để đảm bảo tính chuẩn

Trang 30

thống nhất về chuẩn kiến thức của chương trình GDĐH, tạo thuận lợi cho việc công nhận văn bằng giữa các quốc gia và sự hội nhập ”[83, tr 5]

Từ đó đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định và quản lý tổ chức xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình khung cho các ngành đào tạo Việc quản lý chương trình khung bao gồm cơ cấu, nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời lượng giữa kiến thức giáo dục đại cương và kiến thức giáo dục chuyên nghiệp Trên cơ sở chương trình khung, hiệu trưởng các trường đại học có nhiệm vụ tổ chức xây dựng, đánh giá thẩm định, ban hành chương trình đào tạo cho các ngành đào tạo của trường

Hình 1 1 Tổ chức xây dựng và quản lý chương trình giáo dục đại học

Việc quản lý chương trình giáo dục đại học được khẳng định trong Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính qui theo hệ thống tín chỉ ban hành tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ

trưởng Bộ GD và ĐT như sau: “Chương trình được các trường xây dựng trên

cơ sở chương trình khung do Bộ trưởng Bộ GD và ĐT ban hành (mục 2, điều 2); Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp (mục 3, điều 2); Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ, mỗi tiết học được tính bằng 50 phút (mục 4, 5; điều 3)” [13]

1.2.3 Chương trình môn học

1.2.3.1 Khái niệm môn học

Theo Đại từ điển tiếng Việt, môn học là “Bộ phận gồm những tri thức về

một khóa học, trong chương trình học tập nào đó” [86, tr 1136]

Môn học là “Khối kiến thức và kỹ năng của một phần chương trình bộ môn

cần dạy - học trong một học kỳ ở bậc đại học” [43, tr 155]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), môn học là “Hệ thống (hoặc

bộ phận tri thức) về một lĩnh vực khoa học được sắp xếp theo yêu cầu sư

Cơ sở giáo dục đại học/

Trường đại học Chương trình giáo dục đại học

Trang 31

phạm để truyền thụ cho người học, mang các đặc điểm: a) Phản ánh các sự kiện, tri thức, qui luật của khoa học tương ứng phù hợp với mục đích, nhiệm

vụ dạy học và khả năng nhận thức của học sinh; b) Các câu hỏi, bài tập v.v… giúp học sinh tự kiểm tra luyện tập kỹ năng, kỹ xảo Môn học còn có những yêu cầu phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và giáo dục, lô gíc của môn học không rập khuôn theo lô gíc khoa học tương ứng mà là sự thống nhất giữa lô gíc khoa học và lô gíc nhận thức chung của học sinh” [82]

Qua các khái niệm về môn học nêu trên, môn học được định nghĩa như

sau: Môn học là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho

người học tích luỹ trong quá trình học tập Môn học thường có thời lượng từ

2 - 4 tín chỉ, được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân phối đều trong một học

kỳ Kiến thức trong mỗi môn học phải gắn với một mức trình độ của người

học theo năm học thiết kế Dựa vào chế độ tích luỹ, môn học gồm 3 loại:

- Môn học bắt buộc là môn học có chứa đựng những nội dung kiến thức chính

yếu của của ngành hoặc chuyên ngành đào tạo, các môn học này là cơ sở để tiếp thu và phát triển các kiến thức của các môn học kế tiếp có trong chương trình, và bắt buộc người học phải tích luỹ để được công nhận văn bằng

- Môn học tự chọn (lựa chọn có hướng dẫn) là môn học chứa đựng những nội

dung kiến thức cần thiết nhưng người học được tự chọn theo hướng dẫn của

cố vấn học tập, của nhà trường Những môn học tự chọn có hướng dẫn là cơ

sở định hướng hay mở rộng kiến thức cho chuyên ngành đào tạo

- Môn học chọn tuỳ ý là môn học có trong chương trình đào tạo do người học

chọn theo sở thích, nhu cầu riêng của các nhân người học, chỉ có giá trị mở rộng kiến thức của ngành hoặc chuyên ngành đào tạo và để tích luỹ đủ số tín chỉ quy định của chương trình

Trang 32

Dựa vào hình thức và tính chất nội dung, môn học gồm 3 loại sau:

- Môn học lý thuyết là môn học giảng viên và sinh viên làm việc trên lớp, bao

gồm thuyết trình, chữa bài tập, thảo luận (xêmina), làm việc theo nhóm có thầy hướng dẫn Để triển khai thực hiện môn học lý thuyết, giảng viên cần lựa chọn trong nội dung dạy - học vấn đề cốt lõi và tìm các phương pháp phù hợp truyền đạt kiến thức cho sinh viên, các vấn đề còn lại giảng viên hướng dẫn cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu, đồng thời hướng dẫn các hình thức KT –

ĐG đối với nội dung của môn học Nói đến môn học lý thuyết, nhiều người nghĩ rằng chỉ có những giờ học lý thuyết với việc thuyết trình của giảng viên

và sự lắng nghe của sinh viên Trong đào tạo theo tín chỉ, điều này lại càng không hẳn vậy Sau các giờ lý thuyết, giảng viên cần tổ chức các xêmina, giờ thảo luận nhóm, yêu cầu sinh viên trình bày các vấn đề mà trong giờ lý thuyết giảng viên đã giao cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu, hoặc các vấn đề lý thuyết cần được mở rộng, hoặc làm sâu thêm và vận dụng vào thực tiễn Trong các giờ xêmina giảng viên đóng vai trò quan trọng trong hướng dẫn, định hướng, đánh giá và tổng kết Để chuẩn bị các hoạt động cho giờ thảo luận nhóm, xêmina, giảng viên phải chuẩn bị các vấn đề mang tính sáng tạo

và ứng dụng thực tiễn cao

- Môn học thực hành là môn học sinh viên phải làm thực hành, thí nghiệm,

khảo sát thực địa, làm việc trong phòng thí nghiệm, v.v… Trong các môn học này, sinh viên phải làm việc tương đối độc lập, phát huy tính sáng tạo để vận dụng những kiến thức tiếp thu được trong môn học lý thuyết vào thực hành, thực nghiệm, giảng viên chỉ đóng vai trò chỉ đạo và hướng dẫn sinh viên trong quá trình thực hành, áp dụng các kiến thức lý thuyết của môn học vào tình huống gần thực tế hoặc thực tế

- Môn học kết hợp lý thuyết và thực hành là môn học có một phần giảng lý

thuyết hoặc thuyết trình của giảng viên về vấn đề cốt lõi, cơ bản của môn học

mà sau đó sinh viên sẽ phải tiến hành làm thí nghiệm hoặc thực hành những kiến thức, kỹ năng của môn học trong phòng thí nghiệm, khảo sát thực địa, điền dã

Trang 33

1.2.3.2 Môn học và chương trình đào tạo

Môn học là thành tố cấu thành nên chương trình đào tạo, có thể so sánh môn học như những viên gạch, chương trình đào tạo như bức tường của ngôi nhà Để xây dựng nên bức tường của ngôi nhà vững chắc cần những viên gạch đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật Trong chương trình đào tạo của ngành học, khoá học nói chung và trong từng khối kiến thức của chương trình nói riêng, mỗi môn học có vị trí, ý nghĩa vai trò và đặc thù riêng, cung cấp những kiến thức nhất định cho người học, và thông qua việc truyền tải kiến thức của mỗi môn học các kỹ năng khác được rèn luyện

Chương trình đào tạo đại học thường gồm 4 - 5 khối kiến thức: 1) Khối

kiến thức chung (đại cương); 2) Khối kiến thức cơ bản chung của nhóm ngành; 3) Khối kiến thức cơ sở ngành; 4) Khối kiến thức chuyên ngành; và 5) Khối kiến thức nghiệp vụ Mỗi khối kiến thức và các môn học thuộc khối kiến

thức đó có vai trò của mình trong việc đạt chuẩn đầu ra của một ngành đào tạo, cũng như hình thành một cử nhân khoa học bậc đại học, đồng thời có mối quan hệ qua lại, tương tác với nhau trong quá trình đào tạo một giáo viên, kỹ

sư v.v… đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang đòi hỏi ngày càng cao Cán bộ quản lý chương trình cũng như giảng viên phải xác định được vị trí của môn học, vai trò của nó trong quá trình đào tạo và mối quan hệ của nó với các môn học khác

Trong CTMH cần xác định vị trí của môn học trong chương trình đào tạo của ngành học, chỉ rõ loại môn học, môn học tiên quyết và môn học kế tiếp của môn học đó, đồng thời cũng cần nêu được cấu trúc môn học, thời lượng (số tín chỉ) Điều quan trọng và không thể thiếu được đó là xác định mục tiêu môn học, mục tiêu từng nội dung của môn học về kiến thức, kỹ năng, thái độ Việc xác định mục tiêu cụ thể của từng phần, từng nội dung là rất cần thiết, bởi lẽ mục tiêu này được xem như là chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng của môn học, làm cái mốc cho người dạy và người học cùng hướng tới, và làm cơ sở cho quản lý việc kiểm tra - đánh giá kết quả môn học Trên cơ sở mục tiêu cụ thể của môn học, phần nội dung môn học, cần chỉ rõ các tài liệu học tập cho môn học, tài liệu học tập cho từng nội dung của môn học Cũng trên cơ sở mục tiêu môn học, căn cứ số lượng và trình độ của sinh viên, điều kiện về cơ

sở, trang thiết bị phục vụ dạy học, giảng viên lựa chọn và kết hợp hài hoà các

Trang 34

hình thức tổ chức và phương pháp dạy học phù hợp Đây chính là sự khác

biệt của chương trình môn học trong học chế tín chỉ so với chương trình môn học trong niên chế truyền thống

Để đảm bảo chất lượng môn học trong chương trình đào tạo, việc xác định và phân cấp quản lý các phần cấu trúc nội dung môn học là rất cần thiết Việc phân cấp quản lý cấu trúc nội dung môn học được thể hiện trong hình 1.3 dưới đây:

Mục tiêu môn học

Ma trận mục tiêu cấu trúc đề thi

Ngân hàng câu hỏi

và tổ chức thi

Học liệu (giáo trình, tài liệu)

Hình thức tổ chức dạy - học

Phương pháp dạy - học

Hình thức thi, KT-ĐG kết quả học tập môn học

Trang 35

1.2.3.3 Quản lý chương trình môn học

+ Khái niệm: Trong tiếng Anh thuật ngữ course syllabus dùng để chỉ một

chương trình cụ thể với các bố cục chi tiết về kế hoạch giảng dạy, và qui định

nội dung kiến thức, kỹ năng môn học trong chương trình học (curriculum)

Song, trong thực tế hoạt động giáo dục đào tạo các trường đại học, giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo hiểu về thuật ngữ này và có những cách gọi khác nhau:

chương trình môn học, chương trình môn chi tiết học, đề cương môn học, đề cương chi tiết môn học (theo mẫu 2 thuật ngữ này hiểu là Đề cương chi tiết

học phần) Trong khuôn khổ công trình nghiên cứu này, tác giả sử dụng thuật

ngữ chương trình môn học (CTMH), còn mức độ cụ thể và chi tiết của văn

bản chương trình phụ thuộc vào các yếu tố khác như phương thức đào tạo yêu cầu

Trong Đại từ điển tiếng Việt, chương trình môn học được giải thích là

“Nội dung kiến thức và kỹ năng về một môn học ấn định cho từng lớp, cấp học trong từng năm học” Trong từ điển Giáo dục học, chương trình môn học

là: “Văn bản Nhà nước qui định với từng môn học về mục tiêu, yêu cầu, nội

dung, khối lượng kiến thức và kỹ năng, kế hoạch phân bổ, thời lượng cần thiết, phương pháp thích hợp, phương tiện tương ứng theo từng lớp học, bậc học Chương trình bộ môn của mỗi lớp (năm) học được trình bày theo trình tự chương, mục, chủ đề, vấn đề song song với bảng phân bố thời lượng tương ứng”

Chương trình môn học là văn bản qui định mục tiêu, nội dung dạy học, phương pháp dạy và học, hình thức và phương pháp kiểm tra - đánh giá kết quả học tập cho một môn học hay một học phần [67, tr 364]

+ Quản lý chương trình môn học: Thực tế hiện nay việc quản lý chương

trình môn học thuộc chương trình GDĐH cũng được phân định khác nhau

Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức xây dựng và quản lý chương trình các môn học thuộc khối kiến thức lý luận chính trị, giáo dục thể chất, quốc phòng (quản lý về nội dung và thời lượng các môn học này) Chương trình các môn học khác trong chương trình đào tạo do các trường đại học, cơ sở giáo dục đại học tổ chức xây dựng và quản lý Tuỳ theo cơ cấu tổ chức và qui định của từng trường, chương trình các môn học lại được phân cấp quản lý cũng khác

Trang 36

nhau, do bộ môn trực thuộc trường hoặc khoa thuộc trường quản lý Việc phân cấp quản lý chương trình môn học được thể hiện như trong bảng sau:

Bảng 1 4 Phân cấp quản lý chương trình môn học trong chương trình ĐT

1 Các môn Lý luận chính trị (Những nguyên lý cơ

bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ

Chí Minh; Đường lối cách mạng của Đảng

Cộng sản VN)

Bộ Giáo dục và Đào tạo

2 Các môn học thuộc khối kiến thức cơ sở,

chuyên ngành, nghiệp vụ v.v…

Các Đại học, các trường đại học

Đối với các Đại học Quốc gia (và Đại học vùng), các đại học được trao quyền tự chủ cao trong hoạt động đào tạo, sự phân cấp quản lý chương trình môn học cũng khác so với các trường đại học khác Một số môn học thuộc khối kiến thức chung, các môn học thuộc khối kiến thức theo lĩnh vực được tổ chức giảng dạy thống nhất ở tất cả các đơn vị đào tạo có ngành học thuộc cùng lĩnh vực do ĐHQG quản lý xây dựng và ban hành để dùng chung cho các trường thành viên, khoa trực thuộc

Bảng 1 5 Phân cấp quản lý chương trình môn học trong CTĐT ở ĐHQG

1 Các môn thuộc khối kiến thức chung (đại

cương), ngoài các môn Lý luận chính trị,

như Tin học, Ngoại ngữ, Giáo dục thể chất,

Giáo dục An ninh - quốc phòng

Đại học Quốc gia

2 Các môn học thuộc khối kiến thức cơ bản

chung của nhóm ngành, các môn học thuộc

kiến thức liên ngành (những môn học được

tổ chức giảng dạy thống nhất ở tất cả các

đơn vị đào tạo có ngành học cùng lĩnh vực)

Đại học Quốc gia

3

Các môn học thuộc khối kiến thức cơ sở,

chuyên ngành, nghiệp vụ v.v…

Các trường ĐH thành viên, các Khoa trực thuộc

Trang 37

1.3 Yêu cầu của học chế tín chỉ đối với việc quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học

1.3.1 Đặc trưng của học chế tín chỉ

1.3.1.1 Khái niệm về tín chỉ

Hệ thống tín chỉ lần đầu tiên được triển khai áp dụng tại Đại học Harvard, Hoa Kỳ vào năm 1872 Đến năm 1890 ở Đại học Harvard, sinh viên được công nhận hoàn thành chương trình khoá đào tạo và được nhận bằng tốt nghiệp sau khi đã tích luỹ đủ số tín chỉ cần thiết theo qui định của trường Từ

đó tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ nhanh chóng được các trường đại học

ở Hoa Kỳ áp dụng và cho đến nay các trường đại học của nhiều nước, kể cả các nước đang phát triển cũng áp dụng triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ học tập

Tín chỉ, giờ tín chỉ (Credit, credit hour) đã được sử dụng khá phổ biến trong giáo dục đại học của nhiều nước trên thế giới để chỉ một đơn vị chuẩn dùng đo kết quả học tập và sự tiến bộ của sinh viên, song về khía cạnh định lượng của đơn vị đo này lại có nhiều định nghĩa chưa đồng nhất Trong các tài liệu về giáo dục đại học có những khái niệm khác nhau về thuật ngữ này Tín chỉ (credit) là một số đo định lượng theo thời gian được gán cho các môn học hoặc các hoạt động học tập tương ứng với môn học Đơn vị đo này được xác định bởi 50 phút giảng dạy trong một tuần cho một học kỳ [15, tr.74]

Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được qui định bằng 15 tiết lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 60 tiết thực tập tại cơ sở; 45 - 60 tiết làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp [13, tr.2]

Tín chỉ là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học một môn học Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của môn học mà người học cần phải tích luỹ được trong một khoảng thời gian nhất định

Như vậy, có nhiều định nghĩa về tín chỉ, tuy các định nghĩa này khác nhau

Trang 38

bài giảng trực tiếp trên lớp; 2) Phần thực hành, xêmina, làm việc tại phòng thí nghiệm; 3) Phần dành cho tự học, tự nghiên cứu, chuẩn bị bài

Xem xét các khái niệm trên về tín chỉ, tác giả luận án nhất trí với định nghĩa về tín chỉ do James Quann, thuộc Đại học Quốc gia Washington, Hoa

Kỳ đưa ra trong buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hoa Trung ở Vũ Hán, Trung Quốc trước các chuyên gia, nhà khoa học của 28 trường Đại học hàng đầu của Trung Quốc:

“Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ phần thời gian bắt buộc của một

sinh viên bình thường để học một môn học cụ thể, gồm 3 thành tố: 1) Thời gian lên lớp; 2) Thời gian học tập ở phòng thí nghiệm, studio, thực tập, hoặc các phần việc khác đã được qui định trong thời khoá biểu; và 3) Thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, hoặc chuẩn bị bài Đối với môn học lý thuyết 1 tín chỉ cần có 1 giờ tiếp xúc trực tiếp trên lớp với 2 giờ chuẩn bị ở nhà trong 1 tuần và được kéo dài trong 15 tuần học kỳ 2 quý hoặc

10 tuần học kỳ 1 quý; đối với các môn học ở Studio, phòng thí nghiệm, ít nhất cần 2 giờ tiếp xúc trong tuần với 1 giờ chuẩn bị ở nhà; đối với việc tự học, tự nghiên cứu, ít nhất cần 3 giờ làm việc hàng tuần cho 1 giờ tín chỉ [15, tr 37]

Trong Điều 3 Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính qui theo hệ

thống tín chỉ ban hành theo Quyết định số 43/2007/QĐ – BGDĐT chỉ rõ: “Tín

chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 40 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 – 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 – 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân Hiệu trưởng các trường quy định số tiết, số giờ đối với từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của trường Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn

vị học trình thì 1,5 ĐVHT được quy đổi thành 1 TC, 1 tiết học được tính bằng

50 phút”

Qua phân tích định nghĩa này, cần làm rõ một số điểm sau đây:

+ Thứ nhất: Hoạt động dạy - học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự học Trong ba hình thức tổ chức dạy học, hai hình

thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên (giảng viên giảng bài, hướng dẫn, sinh viên nghe giảng, thực hành, thực tập

Trang 39

dưới sự hướng dẫn của giảng viên v.v ), hình thức thứ ba không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên (giảng viên giao nội dung để sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành) Ba hình thức tổ chức dạy học tương

ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín

chỉ tự học Như vậy, hình thức tổ chức một giờ tín chỉ được thể hiện như sau:

Bảng 1 6 Hình thức tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ

Giờ tín chỉ Lý thuyết Thực hành, thí

nghiệm, xemina

Tự học (tự NC)

Tổng

Theo bảng trên, tuỳ theo loại giờ tín chỉ, một giờ tín chỉ được hiểu như sau:

- Một giờ tín chỉ lên lớp bao gồm 1 tiết (50 phút) giảng viên giảng lý thuyết

và 2 tiết sinh viên tự học, tự nghiên cứu có hướng dẫn của giảng viên

- Một giờ tín chỉ thực hành bao gồm 2 tiết giảng viên hướng dẫn sinh viên

thực hành, thực tập trên lớp và 1 tiết sinh viên chuẩn bị cho bài thực tập, thực hành đó

- Một giờ tín chỉ tự học bao gồm 3 tiết sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự

thực hành theo sự hướng dẫn của giảng viên và sự cần thiết của bản thân sinh viên Giờ tín chỉ này được thực hiện ở nhà, thư viện, phòng thí nghiệm v.v…

Giờ lý thuyết và giờ thực hành được bố trí vào thời khóa biểu bắt buộc Bên cạnh đó, sinh viên cần 3 giờ chuẩn bị cho hai hoạt động trên và 3 giờ tự nghiên cứu các vấn đề khác liên quan đến môn học mà giảng viên yêu cầu

+ Thứ hai: Trong ba hình thức tổ chức dạy - học, cụ thể là trong ba kiểu giờ

tín chỉ, lượng kiến thức sinh viên thu được có thể khác nhau nhưng để thuận tiện cho việc tính toán (giờ chuẩn cho giáo viên, kinh phí cho từng môn học, nhân lực để phục vụ dạy - học, v.v ), ba kiểu giờ tín chỉ này được coi là có giá trị ngang nhau

+ Thứ ba: Tùy thuộc tính chất đặc thù của từng môn học (mục tiêu, nội dung

môn học) mà có các hình thức tổ chức dạy - học khác nhau Có những môn

Trang 40

học chỉ có một loại giờ tín chỉ, nhưng có những môn học có hai hoặc cả ba loại giờ tín chỉ Trong mọi trường hợp, công thức tính cho mỗi môn học là không đổi: 1 + 0 + 2 (môn học lý thuyết); 0 + 2 + 1 (môn học thực hành); 0 +

0 + 3 (môn học tự học)

+ Thứ tư: Ba kiểu giờ tín chỉ trong phương thức đào tạo này có mối liên hệ cơ

hữu với nhau, hỗ trợ cho nhau giúp cho người học chiếm lĩnh được kiến thức một cách hiệu quả nhất Người học sẽ gặp khó khăn khi nghe giảng nếu họ không có sự chuẩn bị bài hay đọc trước tài liệu ở nhà Nhiều kiến thức lý thuyết sẽ trở nên mơ hồ, khó hiểu nếu sinh viên chỉ được nghe giảng mà không được tham gia thực hành, thực tập v.v…

+ Thứ năm: Theo định nghĩa này, tín chỉ tập trung đo năng lực học tập của

người học thông qua thời lượng và theo số lượng tín chỉ được tích lũy mà chưa đo được các mục tiêu hay chất lượng đầu ra của quá trình học tập Chất lượng đầu ra của sinh viên chỉ phụ thuộc vào điểm trung bình chung của từng học kỳ và của toàn khóa học do nhà trường quy định

+ Thứ sáu: Một đặc điểm rất quan trọng góp phần tạo nên sự khác biệt với

phương thức đào tạo truyền thống là phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ coi tự học là một thành phần hợp pháp và không thể thiếu của sinh viên Để học được 1 giờ lý thuyết hay 2 giờ thực hành, thực tập trên lớp sinh viên cần phải có 2 hay 1 giờ chuẩn bị, tự học ở nhà Đó là yêu cầu bắt buộc trong cơ cấu giờ học của sinh viên và được đánh giá nghiêm túc trong các bài kiểm tra thường xuyên và bài thi hết môn

Như vậy, khi tổ chức xây dựng chương trình môn học cấp quản lý cần phải chỉ đạo, giám sát về cấu trúc và nội dung của CTMH để đáp ứng yêu cầu của học chế tín chỉ, cụ thể là phải chỉ rõ các loại giờ tín chỉ, loại giờ tín chỉ cần phải thực hiện những nội dung gì của môn học, như vậy người học sẽ chủ động thực hiện

Song trong thực tế, hiểu về các loại giờ tín tín chỉ trong đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo và giảng viên cũng chưa phải là có sự thống nhất Từ đó dẫn đến việc quản lý chương trình, kế hoạch dạy học của các cán bộ quản lý, cũng như việc thực thi chương trình của giảng viên là còn những hạn chế nhất định Đây là trách nhiệm của các cấp quản lý trong cơ sở GDĐH

Ngày đăng: 16/03/2015, 17:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục (2002), Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI: Kinh nghiệm của các quốc gia, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI: Kinh nghiệm của các quốc gia
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Đại học (1994), Về hệ thống tín chỉ học tập, Tài liệu sử dụng nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hệ thống tín chỉ học tập
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Đại học
Năm: 1994
16. Chính phủ Nước Công hoà XHCN Việt Nam (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010
Tác giả: Chính phủ Nước Công hoà XHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
17. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
18. Nguyễn Hữu Châu (Chủ biên) (2008), Chất lượng giáo dục: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng giáo dục: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
19. Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Phương Nga, Lê Đức Ngọc, Trần Hữu Hoan và John J. McDonald (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Phương Nga, Lê Đức Ngọc, Trần Hữu Hoan và John J. McDonald
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
20. Nguyễn Đức Chính (2009), Đo lường và đánh giá trong giáo dục. Tập bài giảng dành cho cao học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2009
21. Nguyễn Đức Chính (2007), Chương trình đào tạo và phát triển chương trình đào tạo. Tập bài giảng dành cho cao học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình đào tạo và phát triển chương trình đào tạo
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
22. Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Đào tạo (2006), Đào tạo theo học chế tín chỉ, Tập tài liệu, báo cáo tham khảo nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Đào tạo
Nhà XB: Tập tài liệu
Năm: 2006
23. Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Hướng dẫn chuyển đổi chương trình đào tạo hiện hành phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ. Tài liệu hướng dẫn dùng nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chuyển đổi chương trình đào tạo hiện hành phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
24. Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Hướng dẫn xây dựng đề cương môn học phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ. Tài liệu hướng dẫn dùng nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn xây dựng đề cương môn học phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Tài liệu hướng dẫn dùng nội bộ
Năm: 2006
25. Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Hướng dẫn sử dụng phương pháp dạy học phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ. Tài liệu hướng dẫn dùng nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng phương pháp dạy học phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Tài liệu hướng dẫn dùng nội bộ
Năm: 2006
26. Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Hướng dẫn xây dựng và phát triển chương trình theo chuẩn đầu ra ở ĐHQGHN, Tài liệu hướng dẫn dùng nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn xây dựng và phát triển chương trình theo chuẩn đầu ra ở ĐHQGHN
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
27. Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), Qui chế đào tạo đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội, ban hành theo Quyết định số 3413/ĐT ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Giám đốc ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui chế đào tạo đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
28. Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Qui chế đào tạo đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội, ban hành theo Quyết định số 3079/QĐ-ĐHQGHN ngày 26 tháng 10 năm 2010 của Giám đốc ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui chế đào tạo đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
29. Vũ Cao Đàm (1996), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1996
30. Trần Khánh Đức (2006), “Phát triển và đánh giá chương trình đào tạo giáo viên trong nền giáo dục hiện đại” Kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, cao đẳng và đại học sư phạm”, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và đánh giá chương trình đào tạo giáo viên trong nền giáo dục hiện đại
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, cao đẳng và đại học sư phạm”
Năm: 2006
31. Trần Khánh Đức (2007), “Kinh tế tri thức và phát triển chương trình đào tạo đại học hiện đại”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn tập 23 (2), tr. 135 -147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức và phát triển chương trình đào tạo đại học hiện đại
Tác giả: Trần Khánh Đức
Năm: 2007
32. Edward F. Crawly, Johan Malmqvist, Soren Ostlund, Doris Brodeur (2010), Cải cách và xây dựng chương trình đào tạo kỹ thuật theo phương pháp tiếp cận CDIO (Hồ Tấn Nhựt và Đoàn Thị Minh Trinh dịch), Nxb ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách và xây dựng chương trình đào tạo kỹ thuật theo phương pháp tiếp cận CDIO
Tác giả: Edward F. Crawly, Johan Malmqvist, Soren Ostlund, Doris Brodeur
Nhà XB: Nxb ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
33. Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 2. Phân loại các môn học trong chương trình đào tạo - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Hình 1. 2. Phân loại các môn học trong chương trình đào tạo (Trang 31)
Hình thức tổ chức và phương pháp dạy học phù hợp.  Đây chính là sự khác  biệt của chương trình môn học trong học chế tín chỉ so với chương trình  môn học trong niên chế truyền thống - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Hình th ức tổ chức và phương pháp dạy học phù hợp. Đây chính là sự khác biệt của chương trình môn học trong học chế tín chỉ so với chương trình môn học trong niên chế truyền thống (Trang 34)
Bảng 1. 5. Phân cấp quản lý chương trình môn học trong CTĐT ở ĐHQG - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Bảng 1. 5. Phân cấp quản lý chương trình môn học trong CTĐT ở ĐHQG (Trang 36)
Hình 1. 4. Mô hình phát triển chương trình của Tyler - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Hình 1. 4. Mô hình phát triển chương trình của Tyler (Trang 62)
Hình phát triển chương trình Hunkins được thể hiện qua hình sau [87]: - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Hình ph át triển chương trình Hunkins được thể hiện qua hình sau [87]: (Trang 64)
Hình 1. 6. Mô hình phát triển chương trình của P.F.Oliva - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Hình 1. 6. Mô hình phát triển chương trình của P.F.Oliva (Trang 66)
Hình 1. 7. Các bước phát triển chương trình - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Hình 1. 7. Các bước phát triển chương trình (Trang 67)
Hình 1. 10. Trình tự thực hiện các dạng đánh giá của mô hình CIPP - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Hình 1. 10. Trình tự thực hiện các dạng đánh giá của mô hình CIPP (Trang 77)
Hình 2. 1. Các khối về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết trong ch ƣơng - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Hình 2. 1. Các khối về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết trong ch ƣơng (Trang 104)
Hình 2. 2.CDIO trong bối cảnh doanh nghiệp và KT – XH Bậc 2: Chi tiết hóa các lĩnh vực thành các khối kiến thức, kỹ năng - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Hình 2. 2.CDIO trong bối cảnh doanh nghiệp và KT – XH Bậc 2: Chi tiết hóa các lĩnh vực thành các khối kiến thức, kỹ năng (Trang 104)
Bảng 2. 3. Chuẩn đầu ra chi tiết đến bậc 4 - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Bảng 2. 3. Chuẩn đầu ra chi tiết đến bậc 4 (Trang 107)
Hình 2. 5. Khối kiến thức trong lĩnh vực nhận thức và tƣ duy kiến thức ngành - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Hình 2. 5. Khối kiến thức trong lĩnh vực nhận thức và tƣ duy kiến thức ngành (Trang 109)
Bảng 2. 4. Nội dung chuẩn đầu ra đào tạo cử nhân sƣ phạm bậc 1,2 - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Bảng 2. 4. Nội dung chuẩn đầu ra đào tạo cử nhân sƣ phạm bậc 1,2 (Trang 110)
Bảng 2. 8. Kết quả khảo sát ý kiến của giảng viên về cấu trúc nội dung CTMH  T - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Bảng 2. 8. Kết quả khảo sát ý kiến của giảng viên về cấu trúc nội dung CTMH T (Trang 134)
Hình 2. 6. Mô hình xây dựng chương trình môn học tích hợp theo tiếp cận CDIO - Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ
Hình 2. 6. Mô hình xây dựng chương trình môn học tích hợp theo tiếp cận CDIO (Trang 139)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w