Gần đây, do tác động tích cực của chính sách đổi mới, sự tăng trưởng kinh tế và những tác động của kinh tế thị trường, quá trình đô thị hoá đang có xu hướng tăng nhanh với sự phát triển
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
KIM KYUNG
ĐÔ THỊ HOÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN
NGOẠI THÀNH HÀ NỘI
(QUA TRƯỜNG HỢP LÀNG PHÚ ĐÔ)
Chuyên ngành : Việt Nam học
Trang 2M ỤC L ỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Đối tượng và phạm vi 10
3 Đóng góp mới của luận văn 11
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1 TỔNG QUAN 13
Chương 2: ĐÔ THỊ HÓA - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 18
2.1 Khái niệm đô thi ̣ hóa, các nhân tố tác động đến đô thi ̣ hóa và các tác động của đô thi ̣ hóa đến kinh tế - xã hội- văn hoá 18
2.1.1 Khái niệm đô thị hoá 18
2.1.2 Tình hình đô thị hoá và các nhân tố tác động đến đô thị hoá ở Việt Nam 19
2.1.2.1 Tình hình đô thị hoá ở Việt Nam 19
2.1.2.2 Các nhân tố tác động đến đô thị hoá ở Việt Nam 22
2.1.3 Sự tác động của đô thị hoá đến kinh tế - xã hội – văn hoá 25
2.2 Đô thị hoá ở ngoại thành Hà Nội 29
2.2.1 Tình hình đô thị hoá ở ngoại thành Hà Nội 29
2.2.2 Các nhân tố đô thị hoá tác động đến ngoại thành Hà Nội 34
2.2.3 Sự tác động của đô thị hoá đến cuộc sống người dân ven đô 37
2.2.3.1 Những mặt tích cực của đô thị hoá với người dân ven đô 38
Trang 3Chương 3 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG PHÚ ĐÔ 41
3.1 Vài nét về vị trí địa lý 41
3.2 Lịch sử làng Phú Đô 42
3.3 Dân số làng 47
3.4 Cơ cấu kinh tế 48
3.4.1.Nông nghiệp 48
3.4.2.Thủ công nghiệp truyền thống và các nghề phụ 49
3.4.3.Thương mại và chợ làng 49
3.5 Các tổ chức xã hội 50
3.5.1 Gia đình 50
3.5.2 Dòng họ 52
3.5.3 Tổ chức giáp 55
3.5.4 Tổ chức xóm, ngõ 56
3.5.5 Bộ máy quản lý hành chính làng 57
3.6 Tôn giáo và tín ngưỡng làng 60
3.6.1 Đình và chùa làng 61
3.6.2 Hội làng 64
3.6.3 Việc tổ chức tế lễ, giỗ chạp hàng năm 65
Chương 4 67
SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THI ̣ HÓA VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA LÀNG PHÚ ĐÔ 67
4.1 Những nhân tố đô thi ̣ hóa tác động đến làng Phú Đô. 67
4.1.1 Sự chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất đô thị. 67
4.1.2 Quá trình nhập cư ngoại tỉnh 68
4.1.3 Quá trình t ự chuyển đổi nghề nghiệp trong các làng xã đô thị hoá, từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. 69
4.2 Những biến đổi của làng Phú Đô dưới tác động của đô thi ̣ hóa 70
Trang 44.2.3 Biến đổi dân số 75
4.2.4 Biến đổi kinh tế 79
4.2.4.1 Cơ cấu kinh tế 79
4.2.4.2 Sự thay đổi về thu nhập, chi tiêu 86
4.2.5 Biến đổi nghề nghiệp: sự chuyển dịch nghề nghiệp 87
4.2.6 Mối quan hệ xã hội 91
4.2.6.1 Quan hệ gia đình và dòng họ 92
4.2.6.2 Quan hệ làng xóm 94
4.2.7 Những biến đổi về văn hoá - lối sống 96
4.2.8 Nhận thức của người dân trong quá trình đô thị hoá 98
4.2.8.1 Nhận thức về kinh tế 98
4.2.8.2 Nhận thức về lối sống 99
4.3 Từ trường hợp Phú Đô đánh giá đô thị hoá làng xã ngoại thành Hà Nội 102
4.3.1 Những điểm chung 103
4.4.2 Những khác biệt 107
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
- Bảng 2.1: Dân số trung bình phân theo thành thị và nông thôn so
với tổng dân số
- Bảng 2.2: Tốc độ tăng và cơ cấu kinh tế
- Bảng 4.1: Biến động diện tích đất nông nghiệp và đất ở của xã Mễ
Trì
- Bảng 4.2: Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất làng Phú Đô
- Bảng 4.3: Biến động dân số làng Phú Đô từ năm 2005-2007
- Bảng 4.4: Thống kê tình hình kết quả đăng ký quản lý tạm trú,
thông báo lưu trú, tạm vắng tại công an xã
Trang 6DANH MỤC HÌNH
- Hình 1: Bản đồ địa hình làng Phú Đô năm 1989
- Hình 2: Bản đồ địa hình làng Phú Đô năm 2000
- Hình 3: Bản đồ địa hình làng Phú Đô năm 2007
- Hình 4 : Sơ đồ phân chia làng Phú Đô
- Hình 5: Sơ đồ những địa điểm làng Phú Đô
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
- Bộ TN&MT: Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Bộ NN&PTNT: Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển nông thôn
- ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng
- UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước được xây dựng trên cơ sở nông nghiệp nông thôn, trong đó cộng đồng làng xã là trung tâm cuộc sống của người Việt Từ xưa đến nay và trong tương lai, tính cộng đồng làng xã là tinh thần của cả nước Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình phát triển lịch sử, làng xã Việt Nam cũng thay đổi về nhiều mặt Một trong những yếu tố thúc đẩy sự thay đổi làng xã là đô thị hoá Đô thị hoá là yếu tố không thể tránh được trong xu hướng phát triển trên thế giới cũng như Việt Nam và nó dẫn đến những biến đổi trong cuộc sống cộng động làng xã
Đô thị hoá ở Việt Nam đã bắt đầu phát triển từ thế kỷ 16-17 Trong thời kỳ Pháp thuộc, quá trình này được đẩy mạnh hơn Tuy nhiên, trong thời
kỳ chiến tranh chống Pháp, quá trình này bị ngừng lại vì dân đô thị phải tản
cư và trong thời chiến tranh chống Mỹ, đô thị hoá ở miền Bắc bị chậm lại nhưng ở miền Nam lại tăng lên Nên từ năm 1954 đến 1970 dân số đô thị tăng
từ khoảng 7% lên 20% Tuy nhiên hơn 20 năm sau đó tỷ lệ này đã thay đổi không đáng kể Sau công cuộc đổi mới, tốc độ đô thị hoá tăng rất nhanh Năm
1989 tỷ lệ đô thị hoá 19,8% nhưng năm 1999 tăng lên đến 23,4% Theo dự báo trong định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam, tỷ lệ dân
cư đô thị toàn quốc đến năm 2020 sẽ là 45% Điều đó có nghĩa trong tương lai
sẽ có hơn 15 triệu dân nông thôn chuyển thành dân cư đô thị
Gần đây, do tác động tích cực của chính sách đổi mới, sự tăng trưởng kinh tế và những tác động của kinh tế thị trường, quá trình đô thị hoá đang có
xu hướng tăng nhanh với sự phát triển của các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định v.v… Trong đó thành phố Hà Nội là thủ đô của Việt Nam và trung tâm miền Bắc Việt Nam Sự mở
Trang 9rộng về ranh giới, quy mô, phát triển kinh tế, tạo ra sức hút dân nhập cư đang tác động trực tiếp đến quá trình đô thị hoá ở các làng xã hiện nay
Tác giả chọn đề tài “Đô thị hoá và tác động của nó đến những biến đổi làng xã ngoại thành Hà Nội (qua trường hợp làng Phú Đô)” vì nhiều lí do Làng Phú Đô có một vài điều đặc trưng tiêu biểu cho làng xã ngoại thành Hà Nội Làng Phú Đô có nghề làm bún truyền thống, trong lịch sử Việt Nam làng nghề truyền thống là một trong những nét văn hóa đặc sắc của làng xã Việt Nam Về vị trí địa lý, trước đây làng Phú Đô nằm giữa cánh đồng như một ốc đảo Nhưng những năm gần đây, nhất là sau năm 2002, đường phố xung quanh làng đã hoàn thiện, Phú Đô đã được thoát khỏi cô lập về mặt địa lý, khởi đầu cho việc chịu ảnh hưởng sâu sắc của đô thị hoá Đô thị hoá ảnh hưởng đến cuộc sống người dân Phú Đô về mặt kinh tế-xã hội, văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần
2 Đối tượng và phạm vi
Là người nước ngoài, chúng tôi có nhiều hạn chế về mặt ngôn ngữ và không đủ điều kiện để thực hiện nghiên cứu toàn diện về làng xã ngoại thành
Hà Nội Vì vậy, chúng tôi lấy một làng nghề ở ven đô để nghiên cứu Phú Đô
là một làng nghề tiêu biểu ở ngoại thành Hà Nội để từ đó xem xét những quá trình đô thị hoá Làng này vừa là làng nghề chứa những đặc trưng của một làng nghề truyền thống Việt Nam, vừa là một làng đã và đang trải qua đô thị hoá nhanh chóng, vì thế qua đây có thể thấy những biến đổi làng truyền thống Việt Nam nói chung và làng ven đô nói riêng Trong luận văn, chúng tôi nghiên cứu sự biến đổi của làng Phú Đô trong quá trình đô thị hoá và ảnh hưởng của sự biến đổi này đến các cơ cấu kinh tế, cơ cấu tổ chức, cơ cấu dân
số, bản sắc văn hóa truyền thống, v.v…
Trong luận văn chúng tôi không nghiên cứu tất cả các giai đoạn cụ thể
Trang 10Đây là giai đoạn có nhiều sự thay đổi có tính chất thời sự về mọi mặt của làng Phú Đô
3 Đóng góp mới của luận văn
Nhiều nhà nghiên cứu và học giả đã và đang nghiên cứu về đô thị và
đô thị hoá ở Việt Nam Đồng thời các cơ quan Nhà nước và những nhà nghiên cứu nước ngoài cùng cống hiến để khảo sát và nghiên cứu làng xã Việt Nam Chính vì vậy đề tài tìm hiểu về đô thị hoá và sự tác động của nó đối với cộng đồng làng xã ngoại thành Hà Nội không phải là đề tài mới, mục đích là qua nghiên cứu hy vọng đóng góp một vài điểm sau:
Thứ nhất: Bước đầu tập hợp được các tư liệu về làng Phú Đô ở nhiều khía cạnh: lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, cơ cấu kinh tế, sản phẩm truyền thống và cả những thay đổi của làng trong quá trình đô thị hoá Qua đó nêu lên được những ưu điểm và đồng thời cũng chỉ ra một số hạn chế do sự tác động của đô thị hóa đối với làng Phú đô
Thứ hai: Nêu một số biện pháp phát huy những ưu thế của quá trình đô thị hoá, đảm bảo giữ gìn được bản sắc văn hoá truyền thống của làng, góp phần định hướng và đào tạo nghề nghiệp cho người dân làng Phú Đô và đặc biệt là dân di cư
Thứ ba: Có thể dự báo những làng nghề xung quanh Hà Nội quy mô không lớn không nhỏ sẽ phát triển như thế nào trong quá trình đô thị hoá
Hy vọng là những kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ góp thêm một phần nhỏ vào việc nghiên cứu những biến đổi cộng đồng làng xã Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu với sự vận dụng phối hợp các phương pháp sau đây:
Phương pháp phân tích: Các tư liệu, tài liệu được phân tích bao gồm các
Trang 11bản hương ước Đặc biệt là những tài liệu, số liệu được tổng hợp và phân tích trong thời điểm trước và sau năm 2002
Phương pháp so sánh: Phương pháp được sử dụng để làm nổi bật những nét
tương đồng và sự khác biệt của làng Phú Đô trong quá trình đô thị hoá trước
và sau năm 2002
Quan sát: Bao gồm cả việc tái hiện những hiện tượng đã quan sát được trong
đời sống của làng và những đợt đi tìm hiểu thực tế để phục vụ các đề tài về nông thôn, nông dân, nông nghiệp của cơ quan
Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn: Các tài liệu thu được bằng các
phương pháp khác được thẩm tra, bổ xung và định tính hoá bằng các cuộc trò chuyện và phỏng vấn sâu Chúng tôi tập chung chủ yếu phỏng vấn đối tượng
là người dân gốc của làng Phú Đô và những người từ nơi khác di cư đến
Phương pháp tổng hợp: Việc tổng hợp các dữ kiện, tài liệu sau khi đã phân
tích kỹ lưỡng là thao tác quan trong trong bài báo cáo này Từ đó chúng tôi rút ra những kết luận cuối cùng sau một chặng đường tiến hành nghiên cứu
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai trong bốn chương
Chương 1 Tổng quan
Chương 2 Đô thị hoá-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương 3 Khái quát về làng Phú Đô
Chương 4 Sự tác động của đô thị hoá và những biến đổi của làng Phú Đô
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
Đến nay, những công trình nghiên cứu về đô thị hoá và làng xã khá nhiều và rất hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Qua những tác giả đã dành nhiều giấy mực nghiên cứu làng xã Việt Nam mà chúng tôi hiểu biết được những đặc điểm của nó
Trước hết phải kể đến những công trình nghiên cứu mang tính khái
quát về nông thôn và làng xã Tác phẩm Người nông dân châu thổ Bắc kỳ do
Pierre Gourou [57] năm 1936 là một công trình nghiên cứu đặc sắc nghiên cứu về địa lý nhân văn vùng châu thổ sông Hồng Mặc dù được nghiên cứu và xuất bản từ những năm 30 của thế kỷ trước, nhưng đến nay nó vẫn còn mang tính thời sự Cuốn sách này đề cập đến môi trường và vật chất, cư dân nông thôn, phương tiện sống của nông dân Bắc kỳ Mặc dù đã có nhiều biến đổi về chính trị, kinh tế và xã hội ở vùng đồng bằng sông Hồng nhưng những nghiên cứu của Pierre Gourou vẫn là nền tảng cơ bản, một số vấn đề ông đưa ra cho đến nay vẫn còn mang tính thời sự Cuối những năm 70 của thế kỉ trước,
Nông thôn Việt Nam trong lịch sử tập hợp các bài nghiên cứu của các tác giả
trong và ngoài Viện sử học [70] có ý nghĩa khoa học quan trọng Những bài nghiên cứu tuy chỉ mới nằm ở dạng phác thảo những ý tưởng, quan điểm nghiên cứu đã có tác dụng khai mở những vấn đề vốn tồn tại trong lòng xã hội nông thôn Việt Nam Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên
cứu đi theo hướng nghiên cứu khái quát như cuốn Cộng đồng làng xã Việt
Nam hiện nay do Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông Chủ [47] năm 2001 Mục
tiêu của cuốn sách là làm sáng tỏ những quan điểm, chủ trương, chính sách, giải pháp của Đảng và Nhà nước Việt Nam về nông nghiệp, nông thôn Đề xuất những kiến nghị, giái pháp nhằm khắc phục những hạn chế trong quá
Trang 13trình xây dựng cộng động làng xã Cuốn Văn hoá và cư dân đồng bằng sông
Hồng [77] do tập thể tác giả Vũ Tự Lập, Đàm Trung Phương, Ngô Đức Thịnh,
Tô Ngọc Thanh, Đinh Thị Hoàng Uyên năm 1991 Cuốn sách phân tích khung cảnh môi trường tự nhiên của văn hoá và cư dân đồng bằng sông Hồng, đồng thời đề xuất xây dựng nền văn hoá mới - kế thừa và giữ gìn tinh hoa văn hoá truyền thống Bên cạnh đó còn có những cuốn sách nghiên cứu về những khía
cạnh của đồng bằng này như Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc
Bộ của Trần Từ [67] đã xét làng Việt dưới góc độ cơ cấu tổ chức; Nông dân
và nông thôn Việt Nam thời cận đại do Viện sử học [71,72], Qua những
cuốn sách này chúng tôi hiểu sâu sắc diện mạo của nông thôn và làng xã Việt Nam xưa và nay
Trước công cuộc đổi mới, đô thị hoá ở Việt Nam triển khai Những tác phẩm và đề tài về đô thị hoá mới tập trung từ những năm 90 đến những năm gần đây Những công trình nghiên cứu mang tính khái quát về đô thị hoá như
sau: Đô thị Việt Nam trong thời kỳ quá độ do Nguyễn Thị Thiềng, Phạm
Thuý Hương, Patrick Gubry, Franck Castiglioni, Jean-Michel Cusset chủ biên [46] Cuốn sách được thực hiện trong khuôn khổ các hoạt đồng của hai chương trình hợp tác giữa các đơn vị hành chính của Pháp và Việt Nam Đề tài phân tích diễn biến và chủ thể của thời kỳ quá độ ở Việt Nam, đường sá và quy hoạch đô thị ở Hà Nội, di dân nội thị tại TP.HCM và Hà Nội, những thách thức của việc tái định cư khu nhà tạm ở TP.HCM, quá trình phát triển của công tác quản lý nhà nước về nước, vai trò của xã hội công dân trong quản lý môi trường đô thị Đề tài cũng đánh giá các dự án ODA qua hình thức đối tác:
từ TP.HCM đến Hà Nội Thông qua các công trình này, chúng tôi được hiểu thêm những thách thức của quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam dưới hai áp lực-kinh tế và dân số, một mặt do sự chuyển đổi từ nền kính tế kế hoạch tập
Trang 14tăng nhanh Biến đổi văn hoá đô thị Việt Nam hiện nay do Nguyễn Thanh
Tuấn [41] năm 2006 Bài viết đề cấp đến khái niệm, phân tích và đánh giá đô thị và biến đổi văn hoá đô thị, biến đổi văn hoá đô thị trong thời kỳ đổi mới, nhân tố thúc đẩy và xu hướng biến đổi văn hoá đô thị hiện nay Đề xuất quan điểm và biện pháp điều tiết quá trình tiếp tục biến đổi văn hoá đô thị hiện nay
Đô thị hoá và quản lý kinh tế đô thị ở Hà Nội do GS.TS Nguyễn Đình
Hương (chủ biên) [33] năm 2000 Đề tài phân tích một số vấn đề về đô thị hoá và quản lý kinh tế đô thị, thực trạng kinh tế và quản lý kinh tế đô thị ở Hà Nội Đề xuất một số giải pháp về đổi mới kinh tế và quản lý kinh tế đô thị ở
Hà Nội
Ngoài ra, có nhiều đề tài về đô thị hoá đã được nghiên cứu và phát biểu ở Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ nhất (năm 1998) và lần thứ ba
(năm 2008) như Phát triển bền vững hệ thống đô thị ở Việt Nam:Một số vấn
đề cơ sở lí luận và thức tiễn do Đào Hoàng Tuấn, Trần Thị Tuyết [17], Phân tích dòng di cư và tính chọn lọc của di cư và thành phố lớn ở Việt Nam trong thập kỷ 90 và thập kỷ đầu thế kỷ 21 do Đỗ Thị Minh Đức [20], Tác động của đô thị hoá đến hình thức cố kết cộng đồng nông dân hiện nay (nghiên cứu trường hợp Hải Dương) của Vũ Hào Quang [73], Xây dựng văn hoá đô thị và văn hoá quản lý ở các đô thị nước ta hiện nay của Bùi
Văn Tuấn [12], Đô thị Việt Nam: toàn cầu hoá hay phát triển bền vững của
Nguyễn Hữu Thái [37]
Trong những năm vừa qua cũng có nhiều tác phẩm và công trình nghiên cứu về đô thị hoá Hà Nội và nông thôn ngoại thành Hà Nội như sau:
Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng của
PGS.TS Tô Duy Hợp [62] chủ biên năm 2000 Cuốn sách đóng góp vào chủ
đề đánh giá sự biến đổi xã hội nông thôn trong bối cảnh mới ở Việt Nam Đề tài tập trung nhận diện thực trạng và xu hướng biến đổi các quan hệ xã hội cơ
Trang 15bản trong làng xã đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới, vạch rõ các nguyên nhân tác động đổi mới các quan hệ xã hội cơ bản, đồng thời trên cơ sở
đó phân tích các hệ quả kinh tế - xã hội của quá trình đổi mới các quan hệ xã
hội cơ bản trong làng xã đồng bằng sông Hồng Ảnh hưởng của đô thị hoá
đến nông thôn ngoại thành Hà Nội thực trạng và giải pháp do GS.TSKH
Lê Du Phong, TS Nguyễn Văn Áng, TS Hoàng Văn Hoa đồng chủ biên [27] Công trình này đã phân tích, đánh giá thực trạng ảnh hưởng tích cực và những vướng mắc của quá trình đô thị hoá ở vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội, đồng thời nêu lên những bức xúc trong quá trình giải quyết việc đền bù khi Nhà nước thu hồi đất Trên cơ sở đó tác giả kiến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết ảnh hưởng của đô thị hoá đối với nông thôn và hoàn thiện chính sách đền bù thị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội
Những tác phẩm và công trình nghiên cứu về một làng với các vấn đề
ít nhiều liên quan đến đề tại luận văn như Luận án tiến sĩ Kiến trúc Chuyển
đổi cấu trúc làng xã vùng ven đô thị lớn đồng bằng sông Hồng thành đơn
vị ở trong quá trình đô thị hoá do Phạm Hùng Cường [52], Trường Đại học
Xây dựng Hà Nội, năm 2001 Đề tài phân tích các vấn đề lý luận thực tiễn trong việc chuyển đổi cấu trúc làng xã vùng ven đô thị lớn đồng bằng sông Hồng thành đơn vị ở trong quá trình đô thị hoá, cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi cấu trúc làng xã vùng ven đô thị lớn đồng bằng sông Hồng thành đơn vị ở trong quá trình đô thị hoá Luận án đề xuất những nguyên tắc và mô hình chuyển đổi cấu trúc làng xã đô thị hoá thành đơn vị ở đô thị Luận văn
Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý đô thị với tên Quản lý quy hoạch xây dựng
làng Phú Đô – Hà Nội với sự tham gia của cộng đồng trong quá trình đô thị hoá (thuộc xã Mễ Trì, Huyện Từ Liêm) của Nguyễn Thị Minh Liên [43],
Trang 16văn này Đề tài phân tích về thực trạng quản lý phát triển các làng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hoá với sự tham gia của cộng đồng, đề xuất một số giải phảp quản lý quy hoạch xây dựng làng Phú Đô với sự tham gia của cộng
đồng trong quá trình đô thị hoá Tác Phẩm Đối mặt với tương lai, hồi phục
lại quá khứ của Kleinen John [24], sau khi tìm hiển sự biến đổi kinh tế, xã
hội và những nghi lễ tín ngưỡng ở làng Tó đã khái quát lên luận điểm và cũng
là tên cuốn sách của ông Theo tác giả dân làng khi phải đối mặt với các vấn
đề của hiện tại, những sự thay đổi nhiều khi là đột ngột, những sự khủng hoảng,… đã tìm đến những giá trị truyền thống để tìm lại sự cân bằng cho
cuộc sống Cuốn sách Biến đổi văn hoá ở các làng quê hiện nay của TS
Nguyễn Thị Phương Châm [45] thực hiện ra đời năm 2008 là sự tổng kết từ một công trình nghiên cứu cấp Bộ Nêu ra những tiền đề lý thuyết và thực tiễn của biến đổi văn hoá Bài viết về sự biến đổi kinh tế, xã hội và văn hoá ở làng Đồng Ky, Trang Liệt và Đình Bảng trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá hiện nay Đề xuất những vấn đề đặt ra trong quá trình biến đổi văn hoá,
xã hội ở ba làng tỉnh Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá hiện nay
Đề tài “Đô thị hoá và sự tác động của nó với những biến đổi làng
xã Việt Nam” được thực hiện nhằm mục đích thêm nhận thức khoa học về
một làng cụ thể cho công cuộc nghiên cứu làng xã nông thôn Việt Nam nói chung, đồng thời qua trường hợp của làng Phú Đô cũng sẽ làm cho bức tranh làng xã vùng ven đô đang phát triển nhanh và bị ảnh hưởng sâu sắc thêm chi tiết và sinh động
Trang 17Chương 2
ĐÔ THỊ HÓA - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Khái niệm đô thị hóa , các nhân tố tác động đến đ ô thi ̣ hóa và các tác
đô ̣ng của đô thi ̣ hóa đến kinh tế - xã hội- văn hoá
2.1.1 Khái niệm đô thị hoá
Đô thị hoá ngày nay là kết quả tổng hợp của quá trình phát triển sự phân công, hợp tác trong nền kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đô thị hoá là một khái niệm rộng và được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau Dù vậy, những học giả xã hội học và giới khoa học nhất trí
rằng khái niệm đô thị hoá ít nhất có bốn thành phần Thành phần thứ nhất là
sự mở rộng ranh giới và không gian của đô thị Thứ hai, sự tăng lên và giảm xuống của dân số đô thị bao gồm sự di chuyển, tăng lên tự nhiên và mở rộng địa giới của đô thị Thứ ba, khái niệm mà đã được thừa nhận phổ biến là sự tăng lên dân số phi nông nghiệp Thành phần cuối cùng, phần lớn đô thị đã được xây đựng hạ tầng kỹ thuật, đường phố, nhà ở, mạng lưới dịch vụ chẳng hạn [86, tr.6-8]
Đô thị hoá cũng được khái quát thành các cách khái niệm như sau:
1 Đô thị hoá là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cớ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật
và tăng quy mô dân số [27, tr 16]
2 Đô thị hoá là quá trình trong đó số người dân sống ở khu vực đô thị tăng lên so với số người sống ở khu vực nông thôn Một khu vực nông thôn được gọi là đô thị khu vực nông thôn đó có trên 50% số dân sống
Trang 18lối sống nông thôn sang lối sống đô thị [73, tr.2]
3 Đô thị hoá cũng được hiểu là một quá trình biến đổi kinh tế -xã hội-văn hoá và không gian Chúng có mối quan hệ với nhau hết sức mật thiết, trong đó diễn ra “sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển nghề nghiệp mới, sự tăng trưởng dân cư, sự phát triển đời sống văn hoá, sự chuyển đổi lối sống và đi liền là sự mở rộng không gian thành hệ thống
đô thị song song với việc tổ chức bộ máy hành chính và quân sư” [51, tr.1]
Qua những khái niệm đó, đô thị hoá trên góc độ nghiên cứu quá trình
đô thị hoá làng xã được hiểu là, quá trình biến đổi toàn diện về kinh tế, xã hội, không gian của các điểm dân cư nông nghiệp dưới tác động của sự mở rộng
đô thị lớn Bao gồm sự chuyển đổi về nghề nghiệp, sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp Và sự chuyển đổi đời sống xã hội, văn hóa, lối sống từ nông thôn sang đô thị Sự chuyển đổi sử dụng đất, không gian, hạ tầng tương ứng với các thay đổi kinh tế xã hội Sự thay đổi bộ máy hành chính, quản lý nông thôn sang đô thị
Để đánh giá mức độ đô thị hoá hiện nay, tỷ lệ dân cư phi nông nghiệp (hoặc dân cư sống trong đô thị) trong tổng số dân cư vẫn là một tiêu chí đánh giá phổ biến
2.1.2 Tình hình đô thị hoá và các nhân tố tác động đến đô thị hoá ở Việt Nam
2.1.2.1 Tình hình đô thị hoá ở Việt Nam
Do nhiều nguyên nhân khác nhau như ảnh hưởng của chiến tranh, kinh
tế chậm phát triển, quá trình đô thị hoá ở Việt Nam diễn ra chậm trong lịch sử Trong đó, nguyên nhân kinh tế được coi là cơ bản nhất Qua mỗi giai đoạn lịch sử, nhà nước phong kiến Việt Nam có các chính sách cụ thể khác nhau nhưng đều giống nhau ở chỗ coi trọng nông nghiệp, coi thường thủ công
Trang 19nghiệp và thương nghiệp Các chính sách kinh tế của các triều đại phong kiến còn có khuynh hướng bình quân Nó được thể hiện trong các chính sách phân chia ruộng đất công và chính sách thừa kế tài sản Các chính sách kinh tế như vậy có xu hướng ổn định và phát triển nông nghiệp cũng như kinh tế tự nhiên, duy trì nền kinh tế tự cấp tự túc, đây là cơ sở của nền kinh tế phong kiến, mặt khác những chính sách này đã kiềm chế sự phát triển của kinh tế hàng hoá, những đô thị ra đời trong thời kì này hầu hết là những trung tâm hành chính Thời kì Lê Trịnh ở phía Bắc và chúa Nguyễn ở phía Nam, chính quyền trung ương tập quyền không còn kiểm soát chặt chẽ được nền kinh tế và có những chính sách nới lỏng hơn với thương nghiệp, đồng thời với việc mở rộng buôn bán của các công ty ở châu Âu đã tạo nên những bước tiến của kinh tế hàng hoá, song song với bước tiến này là sự ra đời của các đô thị lớn không phải là những trung tâm hành chính là phố Hiến ở phía Bắc và Hội An ở phía Nam Khi Nguyễn Ánh lên ngôi củng cố lại chế độ trung ương tập quyền kiểu Nho giáo, cộng với mối quan ngại mất nước từ phương Tây, thương nghiệp, nhất là ngoại thương ngày càng trở nên đình trệ Thậm chí sau này, các vua nhà Nguyễn còn thực hiện chính sách “bế quan toả cảng”, ngăn cấm mọi hành vi giao thiệp với nước ngoài Những chính sách này đưa kinh tế Việt Nam trở về với một nền kinh tế tự cấp tự túc, kinh tế hàng hoá theo đó cũng chết dần
Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và áp đặt chế độ thống trị trên phạm vi cả nước Việc đầu tiên người Pháp làm là phá bỏ chế độ bế quan toả cảng, thực hiện chính sách mở cửa cho phép tàu của Pháp, Hà Lan, Đức, Anh… được vào buôn bán ở Việt Nam Hàng hoá từ nước ngoài được nhập vào Việt Nam, nhiều nhất là hàng hoá của Pháp Để thực hiện cho mục đích khai thác kinh tế, kết cấu hạ tầng đã được xây dựng một cách hệ thống chưa từng thấy trong lịch sử Những tuyến đường sắt, đường bộ được xây dựng, hệ
Trang 20thống đường sắt xuyên Việt và toả đi hầu khắp các trung tâm kinh tế lớn Đường bộ được xây dựng và mở rộng, trong đó có những tuyến đường quốc
lộ có vai trò lớn trong giao thông đi lại,… Một kết quả tất yếu trong cuộc khai thác thuộc địa này là mở rộng các đô thị đã có và xuất hiện một loạt các đô thị mới từ Bắc đến Nam Ở phía Bắc có Hà Nội - thủ phủ hành chính Bắc Kì đồng thời cũng là một trung tâm buôn bán lớn, Nam Định - một trung tâm kinh tế lớn với cảng đường thuỷ nội địa và công nghiệp dệt may, Hải Phòng – thành phố cảng lớn nhất phía Bắc và nhiều thị xã khác như Bắc Giang, Hải Dương… cũng rất phát triển Ở miền Trung có Thanh Hoá, Vinh, Quảng Bình, Đông Hà, Huế, Đà Nẵng… Ở miền Nam có Sài Gòn - Chợ Lớn, Mỹ Tho, Bến Tre…
Sau năm 1954, Việt Nam bị chia cắt làm hai miền Ở miền Bắc, hệ thống đô thị hầu như vẫn giữ nguyên, tuy chính sách công nghiệp hoá từ năm
1960 cũng góp một phần vào việc gia tăng cư dân đô thị nhưng số dân đô thị trong giai đoạn này không tăng nhiều từ năm 1954 đến năm 1970 dân số đô thị tăng từ khoảng 7% lên 20% Ngược lại, ở miền Nam, với việc phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa đã mở rộng quy mô đô thị và đẩy mạnh việc tập trung dân cư ở thành thị
Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình đô thị hoá diễn ra hết sức nhanh chóng nhất là trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.1: Dân số trung bình phân theo thành thị và nông thôn so với tổng dân số (đơn vị :%)
Trang 21lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lên 649 và năm
2003 là 656 đô thị Tính đến nay, cả nước có khoảng 700 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn Trong những đô thị trên, có 2 đô thị có quy mô dân số trên 3 triệu người, 15 đô thị có quy mô dân số từ 25 vạn đến 3 triệu, 74 đô thị có quy
mô dân số từ 5 vạn đến 25 vạn người và các đô thị còn lại có quy mô dân số dưới 5 vạn người Dân số đô thị hiện nay khoảng 21 triệu người chiếm 25.8% tổng dân số toàn quốc là 81 triệu người Tỷ lệ đô thị hoá trong giai đoạn phát triển bình quân hàng năm gần 2% là tỷ lệ đáng kể Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên 45 triệu dân [89]
2.1.2.2 Các nhân tố tác động đến đô thị hoá ở Việt Nam
- Công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa là cu ̣m từ được nhắc đến nhiều ở Viê ̣t Nam trong những năm gần đây Chủ trương này được manh nha từ khi Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuô ̣c Đổi mới nhưng chỉ chính thức trở thành chủ trương sách lược từ Đa ̣i hô ̣i Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) Đảng Cô ̣ng
Trang 22đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Đô thị hoá gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã trực tiếp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị nông, lâm, thuỷ sản trong tổng thu nhập quốc dân trong nước(GDP) và tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ trong GDP Đối với nông nghiệp,
cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng phát triển các cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn
Bảng 2.2: Tốc độ tăng và cơ cấu kinh tế (%)
Tổng
số
Nông, lâm, ngư nghiệp
Công nghiệp
và xây dựng
Công nghiệp
và xây dựng
Tuy nhiên, so với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tốc
độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam còn chậm Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn còn chiếm hơn 40% Tỷ trọng GDP nông
Trang 23nghiệp của Việt Nam còn cao, và nếu so với chuẩn một nước hoàn thành công nghiệp hoá, hiện đại hoá (tỷ trọng GDP nông nghiệp khoảng 4-8% tổng GDP), thì chặng đường phấn đấu vượt lên còn rất gian nan
-Luật Đất đai (2003)
Luật đất đai chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2004 thay thế Luật đất đai năm 1993 So với Luật đất đai cũ, Luật đất đai mới có nhiều thay đổi, đặc biệt là có những quy đinh tạo cơ sở pháp lý cho thị trường nhà đất hạ nhiệt và đi vào bình ổn, khắc phục tình trạng đầu cơ đất và quy hoạch treo, đặc biệt là để lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực đất đai vốn chưa được quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường Mai Ái Trực cho biết, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai mới đơn giản hơn, rõ ràng hơn, thời gian ngắn hơn trình
tự thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận cụ thể hơn gắn liền với trách nhiệm của từng cơ quan thực hiện các thủ tục Đối với các doanh nghiệp thì Luật 2003 được đánh giá là tích cực hơn cả vì Luật công nhận 8 quyền sử dụng đất của doanh nghiệp như : chuyển đổi mục đích sử dụng, sang nhượng, cho thuê và cho thuê lại, tặng-cho, bảo lãnh, cầm cố, góp vốn…Những quyền này không thể bị phủ nhận hay từ chối đáp ứng của bất kỳ cơ quan chủ quản nào, dù là Chính phủ Luật đất đai qui định việc thực hiện giao đất, cấp quyền
sử dụng đất cho người dân và doanh nghiệp theo trình tự một cửa, một dấu tránh được rất nhiều phiền phức cho doanh nghiệp và cả người dân
Ngoài tác động của chính sách kinh tế Các chính sách mới về nhà ở và luật đất đai ra đời là những nhân tố rất quan trọng làm bùng nổ quá trình đô thị hoá, đặc biệt là ở các vùng ven của thành phố
-Luật Doanh nghiệp (2005) và Luật Đầu tư (2005)
Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời đánh dấu một sự thay đổi lớn
Trang 24tưởng và mục tiêu nổi bật của luật Doanh nghiệp năm 2005 là hình thành một khung pháp lý chung, bình đẳng áp dụng thống nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp Đây là lần đầu tiên Việt Nam ban hành một văn bản pháp luật chung điều chỉnh thống nhất tất cả các loại hình doanh nghiệp Với việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005, các doanh nghiệp Việt Nam đã có điều kiện để hoạt động bình đẳng trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng đáp ứng được yêu cầu đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế
Luật đầu tư 2005 được Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI thống qua vào ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01/07/2006, áp dụng đối với nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, và nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài Luật đầu tư 2005 thay thế Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài năm 2000 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998
2.1.3 Sự tác động của đô thị hoá đến kinh tế - xã hội – văn hoá
Đô thị hoá là một xu thế tiến bộ của xã hội loại người Qúa trình đô thị hoá có những cái mới, tiến bộ, mang tính tích cực, làm thay đổi cách nghĩ, cách làm, tư duy nhận thức của người nông dân Đồng thời, qua đó nông dân tiếp thu được tiến bộ của khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất nâng cao đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn Thậm chí trong thời gian qua ngắn ngủi, chúng tôi thấy sự thay đổi nhanh chóng, có những sự vật, phong tục là biểu tượng cho làng quê, gắn bó với con người qua thăng trầm của lịch sử nay
đã thay đổi Qúa trình đô thị hoá cũng tác động rất lớn về việc làm và đời sống xã hội ở nông thôn Cuộc sống của người dân nông thôn chủ yếu dựa vào nông nghiệp, phải “trông trời, trông đất, trông mây”, trong khi đó đất đai
Trang 25ngày càng bị thu hẹp, dân số ngày càng tăng, buộc giới trẻ mà chủ yếu là thanh niên nông thôn phải rời quê hương bản quán tìm đến các khu công nghiệp kiếm việc làm, làm cho lực lượng lao động nông nghiệp ở nông thôn ngày càng gài đi, chất lượng lao động thấp
-Sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất
Trong những năm trước đây quy mô diện tích đất thổ cư của các hộ sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng trung bình từ 250-500m2, với kết cấu nhà
ba gian, hai trái, nhà phụ gồm bếp kết hợp với chuồng trại chăn nuôi, sân phơi,… có hộ đặc biệt còn có cả ao, vừa là nơi thả cá, vừa làm nơi thoát nước mưa Do nhu cầu xây dựng nhà ở cho con cái đến tuổi trưởng thành, nhu cầu kinh tế của gia đình, kết cấu nhà ở nông thôn chuyển dần sang nhà ở thành thị Hầu hết khi lọt vào trong đô thị các làng xã phải thay đổi lại cơ cấu sử dụng đất, do đất nông nghiệp bị thu hồi, do sự tách, nhập, thay đổi ranh giới hành chính phu thuộc vào cấu trúc đơn vị ở mới mà làng xã đó chuyển thành
Sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và các thành phần cấu trúc phải nằm trong
cơ cấu quy hoạch Điều này đã không được chú ý thiết lập trong các làng xã nội đô Hầu hết ranh giới hành chính phường có làng xã đô thị hoá mới hình thành không phù hợp với ranh giới của một đơn vị ở đô thị Rất khó có thể xác định tính hợp lý về cơ cấu sử dụng đất hoặc cơ cấu quy hoạch nếu xét trên ranh giới phường
-Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nghề nghiệp
Ruộng canh tác bị thu hẹp, kinh tế thu được từ các nghề khác như bán đấ, dịch vụ còn cao hơn canh tác Từ đó xuất hiện các loại nghề mới như : làm dịch vụ(xe tải, xe ôm…), bán hàng tạp hoá, hàng cơm, hàng quả, hàng nước, bán hàng rong Những làng có nghề truyền thống đang dần được hồi sinh bởi trong giai đoạn giao thời(quá độ), việc tiếp nhận những nghề mới không thể
Trang 26mang lại ngay nguồn thu nhập lớn cho người dân thuần nông vốn “một nắng hai sương, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”
-Thu hẹp diện tích đất nông nghiệp
Việc thu hồi đất nông nghiệp đã tác động tới đời sống của gần 627,496
hộ dân với khoảng 950,000 lao động và 2,5 triệu người bị ảnh hưởng, trong
đó có nhiều hộ rơi vào tình trạng bần cùng hoá Vấn đề này đã được Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT báo động nhiều lần, nhưng không những không ngăn chặn được mà còn có chiều hướng gia tăng Tính riêng giai đoạn từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất bị thu hồi cả nước đã lên tới trên 366 nghìn ha(chiếm gần 3,9% quỹ đất nông nghiệp) Trung bình cứ 1 ha đất bị thu hồi,
có 10 người bị mất việc Khu vực đồng bằng sông Hồng có nhiều bị ảnh hưởng nhất(300.000hộ) và riêng Hà Nội có số hộ nông dân bị thu hồi lớn nhất
là 138,291 hộ [87] Khi đánh giá về tác động của việc thu hồi đất, một đại diện của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam từng nói rằng, bản thân nông dân
là những người nghèo nhất, nhưng cùng với quá trình đô thị hoá đất nước, họ
đã bị kéo vào vòng xoày của nghèo đói
-Sự thay đổi văn hoá truyền thống
Sự thay đổi của các yếu tố văn hoá thể hiện như sau : Cộng đồng cư trú bị thay đổi, xáo trộn do các tác nhân nhập cư, chuyển cư, làm thay đổi mối quan hệ láng giềng một thiết vốn được thiết lập, kế thừa qua nhiều thế hệ Tuy nhiên nếu cộng đồng dân cư không bị xáo trộn, di chuyển, mối quan hệ láng giềng truyền thống vẫn có thể được duy trì tốt trong môi trường đô thị Thư hại, thay đổi cộng đồng kinh tế truyền thống Đây là thay dổi lớn nhất trong các mối quan hệ cộng đồng Mô hình hợp tác xã nông nghiệp được thay thế bằng các dạng tổ chức mới như tổ sản xuất, tổ hợp, công ty làm thay đổi các mối quan hệ xã hội vốn gắn bó trong hoạt động kinh tế Đặc biệt các tổ chức
Trang 27phường hội vốn hình thành từ các làng nghề có thể bị mai một do các làng nghề mất đi do ảnh hưởng của kinh tế thị trường
-Về mặt văn hoá vật chất
Những thay đổi về kiến trúc, xây dựng, nhà ở, giao thông, điện, thông tin liên lạc, hệ thống thoát nước, vệ sinh, môi trường, cảnh quan đang chuyển hoá lai tạp trong giai đoàn quá độ, đã tạo ra bộ mặt kiến trúc “nông thôn hoá thành thị”, các thiết chế văn hoá, tín ngưỡng và tôn giáo cũng đang dần được hồi sinh và phát triển phong phú hơn Cuộc sống kiểu đô thị kéo theo những chi phí mới cho kiểu sống đô thị Thu nhập tăng, có điều kiện để cải thiện đời sống vật chất cho gia đình
-Về mặt văn hoá tinh thân
Dân trí được mở mang qua các phương tiện thông tin đại chúng, các sinh hoạt đoàn thể tổ chức thường xuyên và hoạt động phong phú hơn Hội làng, lễ hội được tổ chức đều đặn hơn Lối sống đô thị đậm nét dần bởi nhà ở
“kín cổng cao tường” hơn đồng thời với sự giảm sút của “tính cộng đồng” Sau thời kỳ đổi mới, với chính sách mở cửa, kinh tế xã hội đã có nhiều thay đổi, từ không gian cư trú, nghề nghiệp, học vấn, tuổi tác, giới tính đã hình thành các mức sống khác nhau, mà nó được biểu hiện bằng những vật chất cụ thể là vốn đất đai, công cụ sản xuất, nhà cửa tiện nghi, phương tiện văn hoá, thu nhập Những yếu tố văn hoá tín ngưỡng cũng chịu ảnh hưởng đô thị hoá Ngoài các hoạt động tín ngưỡng theo đạo Phật, Nho hoạt động vượt ra khỏi khuôn khổ làng xã Thờ Thành hoàng làng là một tín ngưỡng chung của người dân Hoạt động thờ cúng và lễ hội hàng năm củng cố mối quan hệ cộng đồng Tuy nhiên hoạt động này còn phù thuộc vào sự tồn tại của cộng đồng dân cư gốc và sự có mặt của ngôi Đình Với số lượng dân cư gốc còn ít, hội làng thường không được nhiều người quan tâm và khó được tổ chức
Trang 28-Về mặt không gian công cộng
Việc thu hồi đất nông nghiệp vừa là nhấn tố đô thị hoá cưỡng bức vừa làm thay đổi trực tiếp đến cấu trúc không gian làng xã Đất nông nghiệp là diện tích đất còn lại duy nhất hiện nay có thể bổ sung cho các chức năng khác cón thiếu cùa làng xã đô thị hoá Vì vậy cần cân nhắc giữa việc chuyển đổi đất cho các dự án và việc dành đất cho phát triển các công trình công cộng cho làng xã, hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi nghiề nghiệp của người dân Diện tích cây xanh hộ gia đình, mặt nước có xu hướng thu hẹp do mật độ xây dựng tăng Đồng thời do thu hồi đất nông nghiệp, ao hồ, môi trường có nguy
cơ bị ảnh hưởng, đòi hỏi phải nhanh chóng thiết lập khu vực cây xanh công cộng thay thế Hiện nay diện tích cây xanh ở các làng xã nội đô rất thấp
2.2 Đô thị hoá ở ngoại thành Hà Nội
2.2.1 Tình hình đô thị hoá ở ngoại thành Hà Nội
Qúa trình hình thành và phát triển lịch sử Hà Nội gắn liền với lịch sử hình thành, những biến đổi về mặt hành chính và sự phát triển kinh tế - xã hội thủ đô Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đặt tên là Thăng Long Ông nhận thấy, địa thế của đất Đại La lúc đó phù hợp cho sự phát triển
về nhiều mặt Hà Nội được hình thành từ đó Thời kỳ này, trung tâm của Hà Nội là khu Hoàng Thành, diện tích Thăng Long còn nhỏ, nhưng so với các nơi khác dân cư ở đây khá đông đúc Trải qua các triều đại, Hà Nội được đặt bằng nhiều tên gọi khác nhau: Đông Đô, Thăng Long và chính thức là Hà Nội từ năm 1831 [91], với qui mô ngày càng phát triển Đô thị tiêu biểu nhất ở Việt Nam là Thăng Long-Hà Nội, chỉ tính từ khi trở thành quốc đô đến thể kỷ 19, qua gần 1000 năm tồn tại và phát triển thường xuyên liên tục, nhưng chỉ nhìn vào tấm bản đồ đô thị cuối thế kỳ 19, cũng thấy vô số những ruộng lúa ngay giữa khu vực trung tâm” Mặc dù chưa có số liệu chính xác nhưng các tài liệu
Trang 29lịch sử ước đoán ở nội thành dân số lúc này khoảng vài vạn người
Trong thời kỳ Pháp thuộc, Hà Nội là một trung tâm hành chính ở phía Bắc, phục vụ cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp Thời kỳ này, thành phố có những thay đổi rõ rệt về qui mô Hệ thống giao thông phát triển, đặc biệt hệ thống giao thông đường sắt được xây dựng nối liền từ Bắc đến Nam và sang tận Vân Nam Trung Quốc Nhiều công trình quan trọng được xây dựng hiện vẫn còn tồn tại đến ngày nay, nhà bưu điện, kho bạc, bệnh viện, chợ Đồng Xuân chẳng hạn Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như nhà máy điện, cầu bắc qua sông Hồng, công trình cấp thoát nước trong thành phố được xây dựng Hà Nội có những thay đổi rõ ràng về mặt kiến trúc đô thị phục vụ cho chương trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Từ năm 1955 đến năm 1979: Sau ngày giải phóng thủ đô, sự phát triển của thành phố chuyển sang một bước ngoặt mới Qua hai lần mở rộng, diện tích khu vực nội thành Hà Nội tăng cấp 3,2 lần(năm 1950: 12km2 và năm 1970: 38km2) và ngoại thành tăng gấp 15 lần(năm 1955: 140km2 và năm 1979: 2088km2) Nhiều trung tâm công nghiệp được xây dựng trong thành phố phục vụ cho mục tiêu công nghiệp hoá và phát triển thủ đô: khu công nghiệp Thượng Đình, Vĩnh Tuy- Thanh Trì, Cầu Đuống
Từ năm 1979 đến năm 1986: Sau chiến tranh, Hà Nội tập trung chủ yếu vào khôi phục và phát triển kinh tế Phạm vi đô thị được mở rộng nhờ phát triển các khu cư trú mới ở ven nội thành Tốc độ tăng dân số bắt đầu chậm lại so với giai đoạn trước Tỷ lệ gia tăng tự nhiên được kiểm soát bằng chính sách kế hoạch hoá gia đình Sự gia tăng cơ giới bị hạn chế bằng các chính sách nhập cư: chỉ tiêu hoá số người nhập cư vào thành phố; kiểm soát chặt chẽ thường xuyên sự đăng ký hộ khẩu; gắn liền các quyền lợi về kinh tế, học hành, tiêu dùng sinh hoạt với việc đăng ký nhân khẩu Mặc dù vậy, thời
Trang 30hoá ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng chỉ thực sự diễn ra mạnh trong thời kỳ kết thúc chiến tranh và có sự đột biến trong giai đoạn đổi mới kinh tế, xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp
Từ năm 1986 cho tới 1991 : Qúa trình đô thị hoá của Hà Nội diễn ra trong khung cảnh đầy biến động ở trong nước cũng như trên thế giới Những biến đổi về kinh tế xã hội của Việt Nam ảnh hưỏng tới tình hình gia tăng dân
số của Hà Nội Tháng 7 năm 1991, sau kỳ họp quốc hội khoá VII ranh giới của Hà Nội được điều chỉnh nhỏ hơn trước Huyện Mê Linh trước kia chuyển
về Vĩnh Phúc, thị xã Sơn Tây và 5 huyện khác chuyển về Hà Tây Những thay đổi về hành chính ảnh hưởng rõ rệt qui mô dân số thành phố
Từ năm 1992 cho đến 1998: Ranh giới giữa Hà Nội và các tỉnh khác không có sự thay đổi, nhưng không gian nội thành ngày càng mở rộng và ngoại thành bị thu hẹp lại Hà Nội trước kia chỉ gồm 4 quận nội thành, cho đến năm 1997 gồm 7 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành Dân số nội thành tăng từ 1082,4 nghìn người(1995) tới 1342,7 nghìn người(1998) và ngoại thành giảm từ 1253 nghìn người(1995) đến 1211,6 nghìn người(1998) [65, tr.53] Hầu hết các phường trung tâm của khu nội thành, gia tăng tự nhiên
ở mức độ thấp, trung bình khoảng 1,35%
Cho nên đối với Hà Nội, giai đoạn từ 1986 đến 1995 là giai đoạn bắt đầu xóa bỏ cơ chế bao cấp, dần chuyển sang nền kinh tế thị trường Trong quá trình xây dựng đô thị, tác động rõ rệt nhất là chính sách “nhà nước và nhân dân cùng là” đã đẩy mạnh tốc độ xây dựng nhà ở do người dân tự xây dựng
Từ năm 1995 đến 1998, tốc độ tăng GDP của thành phố hàng năm bình quân đạt 17.8% Dân số Hà Nội năm 2001 là 2,84 triệu người, trong đó nội thành là 1,52 triệu Trong năm 1997, Hà Nội đã hình thành các quận mới
là Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy Tiếp theo năm 2003, thêm các quận Hoàng Mai và Long Biên tổng diện tích 927,39 km2, trong đó nội thành chiếm
Trang 3182,78km2
Dân số đô thị Hà Nội từ năm 1990 đến năm 2000 đã tăng 1.4 lần, tỷ lệ dân số ở đô thị tăng từ 38.3% lên 57.7% Dân số ở khu vực nông thôn tăng không đáng kể Trung tâm thành phố được khẳng định là khu vực Ba Đình, Hoàn Kiếm, từng bước phát triển lên khu vực Hồ Tây Ngày 29/5/08 Quốc hội Việt Nam đã thông qua kế hoạch mở rộng Hà Nội với đa số phiếu (92%), Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô có hiệu lực từ ngày 1/8/08 Theo đó, Hà Nội sẽ rộng gấp 3,6 lần diện tích, với tổng diện tích hơn ba nghìn km2 Toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và bốn xã của huyện Lương Sơn (Hòa Bình) đã được sáp nhập vào Hà Nội Theo Quy hoạch định hướng phát triển tới năm 2020, Hà Nội được mở rộng về phía Tây Nam, Tây Bắc và phía Bắc Quy mô dân số đựoc dự kiến 4.5 - 5 triệu người
Cũng như nhiều đô thị khác, có thể phân Hà Nội thành hai khu vực là nội thành và ngoại thành Trước tháng 8/ 2008 - thời điểm Hà Nội bắt đầu mở rộng, nội thành Hà Nội gồm có 9 quận (Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai và Long Biên), ngoại thành gồm có 5 huyện là Gia Lâm, Từ Liêm, Đông Anh, Thanh Trì và Sóc Sơn Sau khi mở rộng, Hà Nội gồm có 10 quận và 18 huyện ngoại thành
Trong suốt giai đoạn phát triển thời phong kiến, các làng xã vùng ven
Hà Nội gắn bó mật thiết với kinh thành Các phường, làng nghề vùng ven cung cấp sản phẩm cho dân cư trong thành Làng nghề, phố nghề truyền thống
là một trong những nét văn hóa đặc sắc của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng Rất nhiều làng nghề thủ công ở Hà Nội có lịch sử phát triển hàng trăm, hàng nghìn năm như tơ lụa Vạn Phúc, mây tre đan Phú Vinh (huyện Thanh Oai) hơn 700 năm, gốm sứ Bát Tràng (huyện Gia Lâm) có lịch sử gần
500 năm,… trong đó lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người dân
Trang 32Làng nghề khu vực Hà Nội đa dạng và phong phú, nhất khi địa giới hành chính của thành phố Hà Nội được mở rộng, số lượng làng nghề truyền thống của thủ đô tăng một cách nhanh chóng Hà Nội là nơi có mật độ các làng nghề, phố nghề đông nhất cả nước với 1.264 trên 2.790 làng nghề chia thành 53 nhóm nghề với khoảng 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau, trong
đó có nhiều sản phẩm truyền thống Các làng nghề truyền thống ở Hà Nội đã thu hút hàng trăm lao động chính, ngoài ra còn tạo việc làm cho hàng ngàn lao động phụ lúc nông nhàn Từ khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhiều nghề thủ công và làng nghề truyền thống Hà Nội đứng trước cơ hội mở rộng, phát triển quy mô sản xuất chiếm lĩnh thị trường trong nước và lan rộng ra nhiều thị trường thế giới Những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng truyền thống lên tới hàng triệu USD/năm, vai trò của làng nghề truyền thống ngày càng được khẳng định góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế thủ đô và trong nước ngày càng phát triển [23, tr.4] Nhiều làng nghề, phố nghề Hà Nội đang ngày một thay đổi trước tác động của đô thị hóa, trong khi các sản phẩm truyền thống của làng nghề đang thay đổi theo hướng tích cực về mẫu mã và chất lượng cho phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước thì văn hóa làng nghề ngày càng mai một trước áp lực hội nhập Để có được sản phẩm có tính thương mại cao mà vẫn không làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống là một việc làm phụ thuộc và tay nghề của người lao động cũng như những yếu tố về cơ sở vật chất, nguồn vốn đầu tư v.v… Theo số liệu tổng điều tra Nông thôn Nông nghiệp và Thuỷ sản năm 2006 và Tổng điều tra Cơ sở Kinh tế hành chính sự nghiệp năm 2007 toàn Thành phố có 26 nghề và làng nghề truyền thống, số hộ tham gia hoạt động nghề truyền thống xuyên là 5833 hộ, số người tham gia hoạt động nghề truyền thống xuyên là 20964 người
Trang 33Bên cạnh những thuận lợi, làng nghề, phố nghề truyền thống Hà Nội đang phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn như: nghề truyền thống dần bị mai một do gặp phải nhiều khó khăn, thử thách; sự phát triển nghề lại đi liền với vấn nạn ô nhiễm môi trường, trong đó đặc biệt là ô nhiễm không khí, nguồn nước và rác thải v.v… Đặc biệt, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, các làng nghề đang lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn, thiếu vốn, thiếu nguyên liệu sản xuất, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp Theo thống kê mới nhất, 60% số doanh nghiệp làng nghề đang hoạt động cầm cự, 20% số doanh nghiệp "thoi thóp", nhiều cơ sở sản xuất đang đứng bên bờ phá sản Nhiều làng nghề Hà Nội cũng không nằm ngoài thực trạng đó Những khó khăn đó đã đặt ra yêu cầu phải tìm được nguyên nhân và đưa ra các giải pháp thích hợp để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân mà vẫn đảm bảo được sự bền vững của làng nghề, đồng thời đòi hỏi những biện pháp giải cứu cho làng nghề trước hết là để tháo gỡ khó khăn về kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động nhất là khi nhiều người mất việc ở thành phố, khu công nghiệp trở về làng chưa có công ăn việc làm
2.2.2 Các nhân tố đô thị hoá tác động đến ngoại thành Hà Nội
Một trong những đặc trưng của Hà Nội trong quá trình đô thị hoá là sự
mở rộng có sự tồn tại đan xen của các làng xã đô thị hoá Những quận nằm ngoại thành Hà Nội bị điều chỉnh ranh giới thành các quận mới của Hà Nội, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy chẳng hạn Đây là một hiện tượng rất đặc biệt, các làng xã đô thị hoá nằm rải rác, xen kẽ trong đô thị không những ảnh hưởng đến hình thái phát triển, mở rộng đô thị mà còn chứa đựng tất cả các vấn đề tiêu biểu nhất trong quá trình đô thị hoá của thành phố Hà Nội hiện nay Có chỗ làng đã bị đô thị ôm trọn, có chỗ là vùng giáp ranh, đô thị tiếp giáp một phía và có chỗ vẫn còn có đồng ruộng bao quanh Trong quá trình
Trang 34vực đất nông nghiệp được thu hồi thì các làng xã vẫn tồn tại và chuyển đổi thành các điểm dân cư đô thị theo những quy luật của quá trình đô thị hoá, nó tồn tại như một thành phần đi liền với sự phát triển đô thị [52, tr.80-82]
-Sự chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất đô thị
Việc thu hồi đất nông nghiệp là yếu tố cưỡng bức người dân chuyển đổi nghề nghiệp Đây là yếu tố tác động rất lớn đến đời sống của người dân vùng ven Đến năm 2000, khu vực ngoại thành Hà Nội gồm 5 huyện với 118
xã và 8 thị trấn, tổng diện tích đất đai là 83.667 ha, chiếm 90,85% tổng diện tích đất tự nhiên toàn thành phố, năm 1995 diện tích của khu vực này là 86.839 ha, chiếm 94,58% Trong đó, huyện Từ Liêm đất nông nghiệp giảm đáng kể, năm 1995 giảm 617ha so với năm 1990, năm 2000 giảm 1.666 ha so với năm 1995 Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều xã của Từ Liêm đã chuyển sang các phường để thành lập các quận mới, trong đó 8 xã chuyển về quần Cầu Giấy và 4 xã về quận Tây Hồ [27, tr.77-79]
-Quy hoạch định hướng phát triển của đô thị
Quy hoạch của đô thị đã xác định các khu vực phát triển khác nhau với những đặc điểm riêng biệt Các làng xã đô thị hoá trở thành đơn vị ở đô thị, thuộc về các khu vực phát triển đó cũng phải tuân theo các quy định về chức năng, tính chất, mật độ…Các làng xã đô thị hoá tuần tự, các làng giáp ranh đô thị hoá trước, các làng xã hơn đô thị hoá sau Làng xã đô thị hoá tuỳ theo tác động trực tiếp của các dự án, không phụ thuộc khoảng cách tới trung tâm đô thị Như vậy, mức độ thời điểm đô thị hoá làng xã phu thuộc nhiều từ phía đô thị Có thể các làng nghề lại đô thị hoá sau các làng nông nghiệp hoặc làng xã
xa trung tâm nhưng gần các khu dự án lại đô thị hoá trước các làng xã khác gần trung tâm thành phố
-Sự hình thành các khu công nghiệp mới
Các dự án mới xây dựng ở vùng ven thúc đẩy quá trình chuyển đổi
Trang 35nghề nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp mà một hiện tượng đang xảy ra trong quá trình đô thị hoá Từ năm 1995 trở lại đây, với việc tập trung đầu tư của Trung ương, sức thu hút mạnh nguồn vốn đầu từ nước ngoài nên
đã hình thành nhiều khu công nghiệp tập trung ở Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn Công nghiệp và xây dựng do Trung ương và thành phố quản lý đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp và xây dựng nói riêng Sự hình thành các khu công nghiệp tập trung ngoại thành Hà Nội sẽ vừa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, vừa không cản trở quá trình đô thị hoá [27, tr.81] Các khu công nghiệp tập trung lại là nhân tố quan trọng làm hạt nhân kích thích quá trình đô thị hoá Do đó, việc dành một phần diện tích đáng kể ở các huyện ngoại thành Hà Nội để hình thành các khu công nghiệp tập trung là cần thiết và có thể thực hiện được
-Qúa trình nhập cư ngoại tỉnh
Sức hút của thành phố lớn thành phố thủ đô và việc kiểm soát bằng biện pháp hành chính không còn mấy tác động là nguyên nhân làm tăng số dân nhập cư ngoại tỉnh Trong những năm gần đây, những nhà nghiên cứu đã
có loạt bài nghiên cứu về đô thị hoá ở Việt Nam và về di cư vào đô thị trong những năm cuối của thế kỷ 20 Trong thời gian 1994-1999, trong tổng số hơn 4,5 triệu người từ 5 tuổi trở lên di chuyển, thì 50,2% đến các đô thị, 49,8% về nông thôn Trong tổng số 50,2% đến các đô thị, thì 24,6% từ nông thôn, 23,9% từ thành thị và 1,7% là không xác định Trong khi di cư vào thành thị chiếm ưu thế, thì di cư từ thành thị về nông thôn chỉ chiếm 10,9% tổng số người chuyển cư [60]
Năm 2006, số người di chuyển vào khu vực thành thị(49%) ít hơn về nông thôn(51%) Nhưng nếu lưu ý rằng vào năm đó gần 73% dân số sống ở nông thôn, thành thị chỉ 27%, thì có thể thấy cường độ di chuyển vào đô thị
Trang 36quy mô đã lớn hơn và tỉ lệ đã cao hơn luồng di cư nông thôn – thành thị Năm
2007, 49,9% tổng số người di cư đã đổ vào các đô thị, trong đó di cư nông thôn - thành thị chiếm 22,0%, di cư thành thị - thành thị chiếm 27,9% Các luồng di cư tập trung vào một số đô thị, mà trước hết là TP Hồ Chí Minh và
Hà Nội[61]
Theo kết quả nghiên cứu, 74,58% người di cư tới Hà Nội cư trú trong các quận nội thành Số còn lại tập trung vào 3 huyện đang đô thị hoá mạnh là Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì Tuy nhiên, trong từng quận cũng chỉ tập trong vào một số địa bàn nhất định Đối với loại hình di dân tạm thời, do đặc điểm cũng như nhu cầu của các loại hình nghề nghiệp nên 92,9% số người trong nhóm sống ở khu vực nội thành Những người di cư lâu dài có sự phân bố địa bàn cư trú tương đối rộng, rải khắp trong các quận huyện của thành phố Nguyên nhân do những quận huyện này có nhiều phường giáp khu trung tâm, đang trong quá trình đô thị hoá mạnh, nhà cửa tương đối hợp lý với túi tiền của những người mới tới nhập cư vào thành phố Nhiều người trong số hộ sau khi có việc làm việc ổn định đã đón gia đình, vợ con từ quê lên sinh sống, xin
cư trú lâu dài với lý do hợp lý hoá gia đình [75, tr.57-59]
-Quá trình tự chuyển đổi nghề nghiệp trong các làng xã đô thị hoá, từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp
Đây là một vấn đề luôn đặt ra đối với các làng xã đô thị hoá Cơ cấu kinh tế làng bị phá vỡ đồng thời với việc thay đổi nghề nghiệp Trong đó, thủ công nghiệp và dịch vụ là những nghề thu hút đông đảo lao động
2.2.3 Sự tác động của đô thị hoá đến cuộc sống người dân ven đô
Đô thị hoá nhanh gây ra áp lực tâm lý lớn đối với người nông dân ven
đô, bởi nhiều diện tích đất nông nghiệp của họ phải chuyển thành đất đô thị, đất công nghiệp, đất giao thông,… ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế các gia đình nông dân Mặc dù sản lượng lương thực ở khu vực này so với các
Trang 37khu vực khác trong nước là không cao, nhưng với họ, với con cháu họ thì cơ hội tìm kiếm việc làm để có thu nhập đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình là chưa thể đến ngay được do họ không được đào tạo và thiếu tay nghề Hơn nữa, không phải bất cứ ai trong vùng cũng có thể được tiếp nhận vào làm việc tại các khu công nghiệp Do vậy lực lượng lao động dư thừa trong mỗi gia đình sẽ tăng lên và chưa thể có ngay lối thoát, vấn đề nghèo đói và thất nghiệp được đặt ra Đây là sự trăn trở lớn nhất, băn khoăn nhất và lo ngại nhất của người dân ven đô, đặc biệt là những người trong độ tuổi lao động Trong khi đó, những người di dân lại có kinh nghiệm, có bằng cấp cần thiết và họ có thể sẵn sàng làm việc được ngay trong môi trường công nghiệp Dĩ nhiên, những người di dân ở thành phố kiếm được việc làm trong các lĩnh vực phi nông nghiệp trên mảnh đất họ mới đến định cư Thêm vào đó là những người địa phương chịu thiệt thòi khi đất nông nghiệp của họ bị biến thành đất công nghiệp và đất đô thị, đất giao thông,… và bị rơi vào tình trạng lúng túng trong định hướng nghề nghiệp trong một thời gian
2.2.3.1 Những mặt tích cực của đô thị hoá với người dân ven đô
Qúa trình đô thị hoá có tác động tích cực đến việc đẩy mạnh công tác
xã hội hoá giáo dục trên địa bàn các đô thị lớn Trong những năm qua, ở các
đô thị lớn, ngân sách dành cho sự nghiệp giáo dục tăng đáng kể Nguồn ngân sách này đầu tư cho việc sửa chữa và nâng cấp các trường học có từ trước, đồng thời xây mới thêm nhiều trường học khác để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của người dân Đây là yếu tố tích cực, là điều đáng mừng đối với người dân, vì giáo dục không chỉ có liên quan đến nhu cầu nhận thức, nhu cầu thăng tiến và sự nghiệp của mỗi con người, mà nó còn có liên quan chặt chẽ đến việc làm trước mắt của họ và con cháu họ trong thời kỳ chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp Thiếu học vấn sẽ là ngăn trở cơ bản trong sự
Trang 38việc làm trong các nhà máy, các khu công nghiệp v.v…tối thiếu là tốt nghiệp trung học cơ sở Năm 2000, số học sinh ở các trường phổ thông trung học ở ngoại thành Hà Nội tăng gấp đôi so với năm 1990 [27, tr.131]
Nhờ đô thị hoá, mang lưới y tế cơ sở được củng cố, hoàn thiện và dịch
vụ y tế được phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc khám
và chữa bệnh, làm cho người dân an tâm hơn trong cuộc sống sinh hoạt và làm ăn, góp phần duy trì và thúc đẩy sự phát triển kinh tế đô thị Mạng lưới y
tế cơ sở chính là hạt nhân có tác động tích dực đến nhận thức của người dân
về phong trào phòng chóng dịch bệnh, phong trào vệ sinh làm sạch đưòng làng, ngõ xóm, cải thiện môi trường sống và đồng ruộng Về phương diện tâm
lý mà nói, đây là một trong những khía cạnh đáp ứng nhu cầu an toàn của con người
Đô thị hoá cũng là động lực thúc đẩy các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao, góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống tinh thần và văn hoá của nhân dân, phát huy nét đẹp về thuần phong mỹ tục của các vùng nông thôn ven đô Các loại hình câu lạc bộ thể dục thể thao được hình thành
và phát triển không chỉ đáp ứng nhu cầu nâng cao sức khoẻ của người dân,
mà còn giúp họ có điều kiện vui chơi, giải trí và giao lưu với bạn bè, hình thành các thói quen trong sinh hoạt nhóm
Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, các sinh hoạt văn hoá cổ truyền của người dân vùng ven đô cũng đã dần dần được khôi phục và phát triển Nhiều công trình kiến trúc như đình, chùa, miếu
và các khu di tích, các đài tưởng niệm,…Điều đó đáp ứng được một phần nhu cầu ngày càng đời sống tăng về đời sống tâm linh, thưởng thức văn hoá nghệ thuật và giao lưu của nhân dân mà nhiều lễ hội văn hoá truyền thống ở các đô thị đã và đang được mở rộng cả về qui mô và số lượng
Đô thị hoá có ảnh hưởng tích cực tới nhận thức của người dân về kế
Trang 39hoạch hoá gia đình nữa [27, tr.133] Đô thị hoá cũng tác động mạnh tới yếu tố văn hoá mới như là sách, báo, tạp chí, văn hoá phẩm, thư viện,… Điều đó giúp cho người dân có cơ hội nắm bắt được nhiều thông tin hơn, giúp họ nâng cao nhận thức và hiểu biết của mình không những về chính trị, văn hoá, xã hội, mà cả cách làm ăn, phát triển kinh tế hộ gia đình
2.2.3.2 Những mặt tiêu cực của đô thị hoá với người dân ven đô
Đô thị hoá cũng đang tạo ra những thách thức và băn khoăn, lo lắng đối với người dân ven đô Đô thị hoá sẽ nhanh chóng làm biến đổi tập quán của người dân thông qua các hoạt động xã hội, quan hệ, sinh hoạt, làm việc hàng ngày Lối sống truyền thống trong gia đình, trong họ, trong thôn xóm và làng xã cũng sẽ có xu hướng mất dần đi trong hoàn cảnh sinh hoạt ở thành phố Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đến sự gắn kết bền chặt vốn có trong làng, trong họ ở địa phương Nó làm thay đổi các mối quan hệ xưa nay của họ Dù rằng việc thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống, phương thức kiếm sống và các mối quan hệ là kết quả tất yếu của quá trình đô thị hoá Đô thị hoá cũng gây ra
sự lo lắng vì nó tạo dựng công ăn việc làm mới cho bản thân và gia đình không thành công làm cho thu nhập gia đình không ổn định như trước, mức sống bị giảm sút Điều đó tạo ra tâm lý thiếu tự tin ảnh hưởng đến việc lập nghiệp và làm ăn Đô thị hoá nhanh chóng như hiện nay cũng làm ô nhiễm môi trường nước mặt, ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn do công nghiệp
và giao thông ngày càng phát triển làm ảnh hưởng chu cầu an toàn của họ Đô thị hoá cũng làm cho các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc, trộm cắp, cướp giật… phát triển làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương, làm mất đi cuộc sống an bình vốn có của người dân địa phương và
có thể có tác động xấu đến các thế hệ con cháu của họ
Trang 40Chương 3 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG PHÚ ĐÔ
3.1 Vài nét về vị trí địa lý
Làng Phú đô là một trong 3 làng thuộc xã Mễ Trì thuộc huyện Từ Liêm nằm phía Tây của Thủ đô Hà Nội vớ i tổng diện tích tự nhiên là 258.5 ha, trong đó đất nông nghiệp là 164,6 ha Trước năm 1954 thôn Phú Đô thuộc tổng Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông
Làng ở cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km về phía Tây Nam Phía Bắc giáp xã Mỹ Đình Phía Nam giáp đường cao tốc Láng - Hoà Lạc Phía Đông giáp thôn Mễ Trì Thượng (thuộc xã Mễ Trì – Hà Nội) Phía Tây Nam giáp sông Nhuệ Tương truyền rằng, bên Mễ Trì và Phú Đô hay xảy ra các vụ lộn xộn, ẩu đả, đánh nhau bởi vì Phú Đô thường bắt những người khoẻ mạnh của Mễ Trì sang khênh kiệu 2 bà Hoàng của Phú Đô
Cũng như nhiều làng xã ở ĐBSH , làng Phú Đô được tách biệt với các làng xung quanh bằng một hệ thống phòng thủ “tự nhiên” , đó là đồng ruô ̣ng Tuy giáp với hai làng Mỹ Đình và Mễ Trì Thượng nhưng từ Phú Đô đến hai làng này cũng không thuận tiện là mấy Trước khi hê ̣ thống đường xá được mở rô ̣ng như ngày nay , từ Phú Đô đến các thi ̣ trấn xung quanh không thuâ ̣n tiê ̣n Từ làng đến thi ̣ trấn huyê ̣n li ̣ Cầu Diễn về đường chim bay chưa đầy 3km nhưng viê ̣c đi la ̣i rất khó khăn Muốn đến thi ̣ trấn huyê ̣n người dân phải đi tắt qua hai cánh đồng của Phú Đô và Mỹ Đình , ven theo hê ̣ thống kênh mương với chiều dài khoảng 5km Tương tự, tuy cách Cầu Giấy chưa đầy 5 km đường chim bay nhưng đường xá đi la ̣i rất khó khăn Những ngày thường thì
có thể đi được nhưng vào những ngày mưa gió đường lụt lội hầu như những con đường tắt này không thể sử dụng được Hầu hết người dân sử du ̣ng con đường liên huyê ̣n Trung Hòa – Đa ̣i Mỗ để đi Đây là con đường huyết ma ̣ch