ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC LÊ MINH THẮNG ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ ĐẾN HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LÊ MINH THẮNG
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ ĐẾN HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LẠNG SƠN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
LÊ MINH THẮNG
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ ĐẾN HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Xuân Hoa
Hà Nội – Năm 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn khoa học T.S Hoàng Thị Xuân Hoa đã chỉ bảo và hướng dẫn tôi tận tình trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn sự dạy dỗ chu đáo, nhiệt tình của các thầy, cô Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của trường CĐSP Lạng Sơn, của các đồng nghiệp và các em sinh viên đã giúp tôi thực hiện đề tài này
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn sự động viên, chia sẻ của bạn bè, gia đình, người thân đã giúp tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Hà Nội, tháng 7 năm 2013
Tác giả
Lê Minh Thắng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề: “Đánh giá ảnh hưởng của các phương pháp kiểm tra đánh giá đến hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính
bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Hà Nội, ngày 03 tháng 7 năm 2013
Tác giả luận văn
Trang 5
1
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 4
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH 6
MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 9
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 10
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 10
3.1 Khách thể nghiên cứu: 10
3.2 Đối tượng nghiên cứu: 10
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 10
4.1 Câu hỏi nghiên cứu 10
4.2 Giả thuyết nghiên cứu 10
5 Phạm vi nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu: 11
7 Cấu trúc của luận văn 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 12
1.1.1 Trên thế giới 12
1.1.2 Ở Việt Nam 14
1.2 Một số quan niệm về kiểm tra đánh giá 16
1.2.1 Kiểm tra, đánh giá 16
Trang 62
1.2.2 Các phương pháp kiểm tra đánh giá 22
1.3 Hoạt động học tập của sinh viên 28
1.3.1 Hoạt động học 28
1.3.2 Tự học 30
1 4 Mối quan hệ giữa các phương pháp kiểm tra đánh giá với hoạt động tự học 34 1.4.1 Các phương pháp kiểm tra đánh giá tác động đến năng lực tự học của sinh viên 34
1.4.2 Kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao tính tích cực chủ động, sáng tạo của sinh viên 35
1.4.3 Các phương pháp kiểm tra đánh giá ảnh hưởng đến các hình thức tự học của sinh viên 37
1.5 Mô hình nghiên cứu về đánh giá ảnh hưởng của các phương pháp kiểm tra đánh giá đến hoạt động học tập của sinh viên 40
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 43
2.1 Quy trình nghiên cứu 43
2.2 Thiết kế mẫu 44
2.2.1 Chọn mẫu đối tượng khảo sát bằng bảng hỏi 44
2.2.2 Chọn mẫu đối tượng phỏng vấn sâu 45
2.3 Xây dựng bộ công cụ đo lường 46
2.3.1 Thử nghiệm bộ công cụ đo 47
2.3.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 50
2.4 Nhập và xử lý số liệu 51
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
3.1 Các phương pháp kiểm tra đánh giá được áp dụng ở trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn 52
3.1.1 Thực trạng các phương pháp kiểm tra đánh giá đã áp dụng ở trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn 52
Trang 73
3.1.2 Thực trạng nhận thức của sinh viên về ảnh hưởng của các phương
pháp kiểm tra đánh giá đến hoạt động tự học 54
3.2 Đánh giá tính chuẩn của phân phối điểm về hoạt động tự học 55
3.3 Ảnh hưởng của các phương pháp kiểm tra đánh giá đến hoạt động tự học của sinh viên 56
3.3.1 Ảnh hưởng đến ý thức tự học 56
3.3.2 Ảnh hưởng đến phương pháp tự học 60
3.3.3 Ảnh hưởng đến thời gian tự học 65
3.4 Phương pháp kiểm tra đánh giá tác động đến hoạt động tự học của sinh viên theo giới tính, sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai 68
3.4.1 Sự khác biệt của sinh viên theo giới tính 68
3.4.2 Sự khác biệt giữa sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai 70
PHẦN KẾT LUẬN 72
1 Kết luận 72
2 Khuyến nghị 73
2.1 Đối với nhà trường 73
2.2 Đối với giảng viên 74
2.3 Đối với sinh viên 74
3 Hạn chế của nghiên cứu 74
4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 84
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
GD&ĐT: Giáo dục và đào tạo
GV: GV
KTĐG: Kiểm tra đánh giá
TNKQ: Trắc nghiệm khách quan SV: SV
Trang 95
DANH MỤC CÁC BẢNG
2.2 Hệ số tin cậy Cronbach Alpha của bảng hỏi
3.9 Bảng tương quan giữa phương pháp KTĐG và phương pháp tự
3.10 Kiểm định ngang bằng phương sai về thời gian tự học 68
3.12 Bảng tương quan giữa phương pháp KTĐG và thời gian tự học
Trang 106
DANH MỤC CÁC HÌNH
2.4 Sơ đồ môt tả khoảng tin cậy của câu hỏi thử nghiệm lần 1 53 2.5 Sơ đồ môt tả khoảng tin cậy của câu hỏi thử nghiệm lần 2 54
3.1 Sơ đồ phân bố điểm tự học có gắn đường cong chuẩn 57
3.2 Biểu đồ so sánh về ý thức tự học giữa các phương pháp
Trang 117
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác kiểm tra đánh giá (KTĐG) là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo sự chuyển biến toàn diện về giáo dục và đào tạo, giữ một vị trí quan trọng đối với hoạt động dạy và học ở các trường đại học và cao đẳng Dạy
và học là hai mặt thống nhất biện chứng với nhau nên mọi yếu tố tác động, ảnh hưởng đến hoạt động dạy thì cũng tác động ảnh hưởng đến hoạt động học Nếu không có một nhãn quan tổng thể toàn diện thì có thể chỉ thấy được tác động ảnh hưởng của kiểm tra đánh giá đối với hoạt động dạy mà không thấy được sự tác động ảnh hưởng đó đến hoạt động học tập của sinh viên (SV)
Kiểm tra đánh giá giúp giảng viên (GV) biết được hiệu quả và chất lượng giảng dạy, điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học, giúp người học biết được chất lượng học tập, điều chỉnh phương pháp học, là một nhân tố quan trọng
có thể được coi như chất xúc tác, là động lực thúc đẩy, khích lệ sinh viên tích cực chủ động học tập để chiếm lĩnh tri thức rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp
Ngay từ tháng 12 năm 1996 trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai - khoá VIII đã chỉ rõ: Cần phải “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen, nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện
và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục nêu rõ: “ Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện…” [35]
Trang 128
Nhận thức đúng đắn về vị trí và tầm quan trọng của việc kiểm tra đánh giá, có giải pháp khắc phục các nhược điểm của hiện trạng đánh giá nhằm phản ánh chân thực chất lượng và hiệu quả đào tạo
Luật Giáo dục 2005 sửa đổi bổ sung Điều 40 nêu rõ: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”
Những năm gần đây, các trường đã chuyển sang đào tào theo học chế tín chỉ, cùng với việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá theo chủ trương của Bộ GD & ĐT đã trở thành một đòn bẩy mạnh mẽ làm thay đổi đáng kể chất lượng học tập của người học làm cho người học tích cực, chủ động hơn trong việc học nhằm đáp ứng được những yêu cầu của đào tạo tín chỉ
Thực tế trong quá trình dạy học ở các trường đại học cao đẳng trong đó có trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn đã cho thấy việc áp dụng các phương pháp KTĐG có nhiều đổi mới và ảnh hưởng đến quá trình học tập của sinh viên
Trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn trong những năm qua đang triển khai việc dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Nội dung, phương pháp và hình thức KTĐG có nhiều thay đổi để đáp ứng được sự phát triển của thời đại, đáp ứng được yêu cầu mục tiêu giáo dục, khắc phục được những hạn chế của phương pháp KTĐG truyền thống trước đây Công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng cũng đã được chú trọng hơn như: Thành lập Phòng khảo thí và đảm bảo chất lượng, xây dựng ngân hàng câu hỏi cho một số môn học Tuy nhiên các phương pháp KTĐG được áp dụng chưa linh hoạt điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tự học của sinh viên
Trang 139
Mang đặc thù là một trường cao đẳng sư phạm miền núi, sinh viên chủ yếu là người dân tộc thiểu số, điều kiện học tập còn thiếu, trình độ nhận thức có nhiều hạn chế, việc học tập của sinh viên còn lệ thuộc vào giảng viên, chưa chủ động trong học tập, điều đó đã ảnh hưởng đến mục tiêu giáo dục và đào tạo Muốn nâng cao được ý thức học tập cũng như tính chủ động sáng tạo trong học tập của sinh viên cần có những tác động từ nhiều phía mà hoạt động KTĐG là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt động tự học
Hoạt động học tập của sinh viên bao gồm nhiều yếu tố như: học trên lớp, tự học, thời gian học, nội dung môn học, mục tiêu học tập, phương pháp học tập Trong đó vấn đề tự học đóng vai trò quan trọng trong việc giúp sinh viên lĩnh hội kiến thức môn học cũng như phát huy năng lực của bản thân
Vậy kiểm tra đánh giá ảnh hưởng như thế nào đến các hoạt động học tập đặc biệt là hoạt động tự học của sinh viên? Nhằm làm rõ ảnh hưởng của các phương pháp kiểm tra, đánh giá đến hoạt động tự học của sinh viên và nâng cao hiệu quả việc ảnh hưởng của các phương pháp kiểm tra đánh giá đến hoạt động tự học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của
trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của các phương pháp kiểm tra đánh giá đến hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn” là vấn đề nghiên cứu
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu của đề tài nhằm làm rõ ảnh hưởng của các phương pháp kiểm tra, đánh giá đến hoạt động tự học của SV, trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc ảnh hưởng của các phương pháp KTĐG đến hoạt động tự học của SV góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
Trang 1410
- Đề tài tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của các phương pháp kiểm tra đánh giá đến ý thức, phương pháp, thời gian học tập của sinh viên
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài làm rõ 3 nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của các phương pháp KTĐG đến hoạt động tự học của sinh viên tại trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
- Khảo sát và phân tích thực trạng ảnh hưởng của các phương pháp KTĐG đến hoạt động tự học của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả ảnh hưởng của các phương pháp kiểm tra đánh giá đến hoạt động tự học của sinh viên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Cán bộ quản lý giảng viên và SV trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Ảnh hưởng của các phương pháp kiểm tra đánh giá đến hoạt động tự học của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Các phương pháp kiểm tra đánh giá ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động tự học của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn?
- Có sự khác biệt về hoạt động tự học của SV theo giới tính, giữa SV năm thứ nhất và năm thứ hai?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Các phương pháp KTĐG có ảnh hưởng và ảnh hưởng khác biệt đến hoạt động tự học của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
- Có sự khác biệt về hoạt động tự học theo giới tính, sinh viên năm thứ nhất và sinh viên năm thứ hai
Trang 1511
5 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về ảnh hưởng của các phương pháp kiểm tra, đánh giá đến
hoạt động tự học của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn Thực tế có rất nhiều phương pháp KTĐG đang được áp dụng trong giáo dục tuy nhiên trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ đi sâu phân tích những phương pháp đang được áp dụng tại trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn đó là phương pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ), tự luận viết, vấn đáp và thực hành
6 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp thu thập thông tin:
- Tổng quan tài liệu và tiến hành phỏng vấn sâu để xác định ảnh hưởng của các phương pháp KTĐG đến hoạt động tự học của sinh viên
- Tiến hành lấy số liệu điều tra thông qua bảng hỏi và xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS tìm ra mối tương quan giữa các biến và những thông
số có ý nghĩa thống kê để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu
Tiến hành chọn mẫu theo khoa và tiến hành khảo sát tại 05 khoa thuộc trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn Dung lượng mẫu dự kiến là 350 sinh viên thuộc chuyên ngành sư phạm
Mẫu phỏng vấn sâu là 20 giảng viên đang giảng dạy các chuyên ngành sư phạm tại 5 khoa nói trên
7 Cấu trúc của luận văn
Bố cục luận văn gồm các nội dung cụ thể như sau:
Phần mở đầu: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận
Chương 2: Thiết kế và tổ chức nghiên cứu
Chương 3: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Kết luận và khuyến nghị
Trang 1612
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong lịch sử giáo dục của tư tưởng nhân loại vấn đề KTĐG đã được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau và mức độ ảnh hưởng của các phương pháp
đó đến hoạt động dạy và học, đặc biệt là hoạt động của người học Việc KTĐG có ảnh hưởng tích cực tới hoạt động học tập, nó như một công cụ hữu hiệu giúp người học định hướng cho quá trình học tập của mình
Cho đến nay vấn đề tự học không còn mới mẻ, từ rất lâu trong lịch sử, tự học đã được đề cập và nghiên cứu đến cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, ở mỗi tác giả vấn đề tự học lại được đề cập đến với các phương diện, khía cạnh, mức độ và hình thức khác nhau
1.1.1 Trên thế giới
Trước thế kỷ XVI, Montaigne đã rất chú ý đến việc giáo dục tính tự lực học tập cho học sinh Ông cho rằng: “phải làm cho trẻ biết tự thưởng thức vật chất, biết lựa chọn… có khi phải biết tự tìm lấy phương hướng”
Nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc J.A.Comenxky (1592 - 1670) đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng”.[14] Đến thế kỷ XVIII – XIX, các nhà giáo dục nổi tiếng của thế giới như J.J Rutxô (1712 - 1778), J.H Petstalogi (1746 - 1827), A J Dixtecvec (1790
- 1886), K Đ Usinxky (1824 - 1890) trong các công trình nghiên cứu của mình, các ông đều nhấn mạnh rằng: Muốn phát triển trí tuệ bắt buộc người học phải phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo để tự mình giành lấy tri thức Muốn vậy phải tăng cường khuyến khích người học tự khám phá, tự tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập[14]
N.A Rubakin (1862-1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào” đã nhấn mạnh vai trò và thái độ tích cực tự học của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức Tác giả đã thấy rõ vai trò của yếu tố động cơ trong tự học của học sinh
Trang 1713
Muốn người học học tập có kết quả thì trong dạy học phải giáo dục con người
có động cơ, thái độ đúng đắn trong tự học Tác giả khẳng định: “Việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong tự học” Ông cũng đưa ra kết luận: Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời - đó chính là phương pháp tự học Tuy nhiên, chỉ có động cơ thôi vẫn chưa đủ mà người học cần phải có kỹ năng và phương pháp
tự học thì mới đạt được kết quả cao [19]
B.P Exipop thì chỉ ra rằng: Các kỹ năng cơ bản của tự học là vấn đề hết sức quan trọng đảm bảo cho người học đạt kết quả cao trong học tập.[21] A.V Petrovxky, M.Machiuskin đã chỉ rõ trách nhiệm của GV trong việc bồi dưỡng, hình thành kỹ năng tự học cho SV thông qua việc giao bài tập nhận thức cho SV trong thời gian tự học.[2;3]
Cho đến những năm gần đây, dạy học đã có bước đột phá mới: đã chuyển dần từ dạy học “lấy người dạy làm trung tâm” sang dạy học “lấy người học làm trung tâm” hay “dạy học hướng vào người học” Vì thế, đã có rất nhiều tác giả và tài liệu nước ngoài đề cập đến vấn đề này Một trong những đại biểu mở đầu cho quan điểm dạy học “lấy người học làm trung tâm”
là J Deway Ông cho rằng: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Quan điểm dạy học này đã trở nên phổ biến trong GD& ĐT ở các nước phương Tây hiện nay.[21]
Việc đánh giá kết quả học tập của người học còn góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác giảng dạy Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở mục đích xếp loại học sinh mà nên kết hợp việc đánh giá kết quả học tập với nhiều mục đích khác như: khuyến khích sự tiến bộ của người học, giúp họ điều chỉnh quá trình học tập của bản thân.[1]
A.V Petrovxky và M.Machiuskin cho rằng các kỹ năng cơ bản của tự học
là vấn đề hết sức quan trọng đảm bảo cho người học đạt kết quả cao trong học
Trang 181.1.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta cũng có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khá sâu sắc về vấn đề KTĐG và hoạt động tự học của SV Vấn đề kiểm tra đánh giá luôn được sự quan tâm của xã hội và nhà trường Tùy theo đặc điểm, giai đoạn phát triển, vấn đề này chịu sự chi phối bởi hoàn cảnh đất nước tạo nên
sự phong phú đa dạng cả trong nhận thức cũng như cách tổ chức thực hiện
Hoạt động tự học thực sự được quan tâm nghiên cứu và triển khai từ nền giáo dục cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa là tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm và phương pháp tự học Người đã động viên toàn dân: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập
là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được do đó
mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” Người còn chỉ rõ “Về việc học tập phải lấy tự học làm cốt”
Tác giả Lã Văn Mến cho rằng để thấy được hiệu quả của hoạt động
tự học thì có nhiều yếu tố ảnh hưởng trong đó có các phương pháp KTĐG, là khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Hiệu quả của phương pháp giảng dạy của GV thể hiện ở mức độ lĩnh hội tri thức, kỹ năng của SV mà cụ thể là kết quả học tập của họ, nó có tác dụng kích thích tư duy và những ảnh hưởng tích cực đến cảm xúc, tình cảm của SV Vì vậy sinh viên sẽ cảm nhận
và đánh giá được những ảnh hưởng kể trên của phương pháp giảng dạy của giảng viên với họ [15]
Trang 1915
Theo Hà Thị Đức nhận thức và thực hiện các chức năng KTĐG trong thực tiễn dạy học hiện nay thì đánh giá dựa trên đơn vị tri thức là một phương pháp đánh giá khách quan nhất Trong tương lai, đơn vị tri thức phải là chuẩn để giáo viên dựa vào đó để “cân, đong, đo, đếm” trình độ, mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng , kỹ xảo của học sinh mình [5]
Trần Thị Thìn trong công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của KTĐG đến kết quả học tập, phương pháp dạy học đến tính tích cực học tập của SV (năm 2002) đã kết luận: Việc đổi mới KTĐG kết quả học tập sẽ tác động đến tính tích cực học tập của SV Kết hợp cả đổi mới KTĐG kết quả học tập và đổi mới phương pháp, hình thức dạy học sẽ tác động mạnh hơn đến SV, làm cho
SV có biến đổi về động cơ học tập, làm cho thái độ học tập của SV tích cực hơn, nâng cao chất lượng và kết quả học tập.[24]
Thời gian gần đây vấn đề về kiểm tra đánh giá tiếp tục được thảo luận trong hội thảo “Kiểm tra đánh giá để phát huy tính tích cực của học sinh bậc Trung học” tổ chức năm 2006 Nội dung của hội thảo đã nêu ra những vấn đề chung của kiểm tra đánh giá ở bậc Trung học như những tiến bộ và bất cập trong đánh giá học sinh, những xu hướng mới của thế giới về đánh giá học sinh, đánh giá thế nào để tăng tính tích cực của học sinh.[33]
Những nghiên cứu trên đã đưa ra những đóng góp có ý nghĩa khoa học trong dạy và học nhằm đáp ứng mục tiêu đổi mới phương pháp dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có
hệ thống để đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả ảnh hưởng của các phương pháp KTĐG đến hoạt động tự học của SV Những lý luận trên là cơ
sở để tác giả kế thừa, đồng thời bổ sung, phát triển mặt lý luận và xây dựng biện pháp cụ thể đi sâu vào nghiên cứu đề tài
Trang 2016
1.2 Một số quan niệm về kiểm tra đánh giá
Bất kỳ một quá trình đào tạo, bồi dưỡng nào cũng nhằm tạo ra những biến đổi nhất định trong con người đó Muốn biết những biến đổi đó xảy ra ở mức độ nào phải đánh giá hành vi của người đó trong một tình huống nhất
định Sự đánh giá cho phép chúng ta xác định: Một là mục tiêu học tập có đạt được hay không; hai là việc giảng dạy có thành công hay không; ba là người
học có tiến bộ không Vì vậy, việc kiểm tra, đánh giá luôn luôn giữ vai trò quan trọng Trong quá trình dạy học kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu, nó tồn tại khách quan cùng các yếu tố khác của quá trình dạy học Đây là khâu cuối cùng của quá trình dạy học nhằm khẳng định chất lượng dạy học mà mục tiêu đề ra, đồng thời mở ra những định hướng mới cho quá trình dạy - học đạt hiệu quả
1.2.1 Kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra là việc thu thập những dữ liệu thông tin về một lĩnh vực nào
đó làm cơ sở cho việc đánh giá Những dữ liệu về nhận thức, kỹ năng và thái
độ trong các môn học đã được đưa ra từ mục tiêu của môn học Đây là những
cơ sở để GV đưa ra những đánh giá[10]
Trang 2117
Với cách phân định và định nghĩa trên, KTĐG có ý nghĩa rất rộng, được hiểu theo nhiều lĩnh vực khác nhau, song nó bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, kiểm tra là kiểm định kết quả của công việc dựa trên cơ sở những thông tin thu được để đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra
Thứ hai, đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán giá trị về kết quả công việc khó xác định được bằng con số cụ thể trong cuộc sống hàng ngày
Thứ ba, một cách chung nhất có thể hiểu KTĐG là quá trình hình thành những nhận định phán đoán về kết quả của công việc dựa vào những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chí, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc
Như vậy, kiểm tra bao giờ cũng hướng tới thực hiện mục đích được tính bằng lượng và hiệu quả của công việc cho nên đánh giá có tính mục đích Xét ở mức độ nào đó kiểm tra và đánh giá có điểm chung: Kiểm tra gắn liền với đánh giá, đánh giá được hiểu theo nghĩa là kiểm tra, sự tách biệt giữa kiểm tra và đánh giá trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong các lĩnh vực khoa học là rất hạn chế, nó chỉ mang tính tương đối Nói kiểm tra có nghĩa là
đã kèm trong đó sự đánh giá và ngược lại nói đánh giá là cần có sự kiểm tra
* Đo lường
Đo lường là sử dụng mọi hình thức, phương tiện để tìm hiểu về một (hay nhiều) khía cạnh nào đó của một (hay nhiều) người Có nghĩa là đo lường cũng đề cập đến các phương thức, công cụ để đưa ra những căn cứ, cơ
sở cho đánh giá [31]
Theo Griffin và Nix (1991) Đo lường là quy trình thu thập minh chứng bằng nhiều PP để phân loại người học theo một số biểu hiện nhìn thấy được
Trang 22Như vậy, khái niệm đo lường cũng gần giống với khái niệm kiểm tra Tuy nhiên, khái niệm đo lường rộng hơn khái niệm kiểm tra Kiểm tra chủ yếu
đề cập đến các hình thức kiểm tra để cung cấp các dữ liệu, thông tin còn đo lường không những đề cập đến các hình thức mà cả các phương tiện nữa [19]
* Đánh giá
Có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá (Assessment - Evaluation) trong lĩnh vực giáo dục, tùy thuộc nhiều vào cấp độ đánh giá, vào đối tượng hay mục đích cần đánh giá Theo TS Lê Văn Hảo [8] thì hai thuật ngữ Assessment và Evaluation không có sự thống nhất trong sử dụng, ngay cả giữa những người nghiên cứu về giáo dục trong cùng một quốc gia Ở nước
ta hai thuật ngữ này được sử dụng tương đương nhau: Đều đề cập đến một quá trình thu thập, xử lý thông tin đa chiều để từ đó đưa ra những nhận xét hay kết luận về người học, môn học, khóa học, hay về một lĩnh vực nào đó trong hoạt động giáo dục trên cơ sở các mục tiêu đã đề ra Với quan niệm như vậy thì kiểm tra và đo lường chỉ là một bộ phận của đánh giá, khái niệm này cũng chỉ ra cho ta thấy mối liên hệ giữa đánh giá và mục tiêu của môn học hay khóa học Mục tiêu của môn học đóng vai trò định hướng, làm căn cứ cho việc đánh giá Điều đó cũng có nghĩa là muốn đánh giá kết quả học tập của
SV thì cũng đồng thời phải thiết kế các mục tiêu của các bài học trong từng môn học nhất định, lấy đó làm căn cứ để đánh giá.[24]
Theo Griffin (2008) đánh giá là việc tạo ý nghĩa cho các nhận định đưa
ra ở trên bằng cách đưa ra các quyết định về năng lực, trình độ, nhận thức của
Trang 2319
người học trong bối cảnh giáo dục Đánh giá cũng có thể được khái quát hơn,
là quá trình có mục đích trong đó các bước chính là quan sát, ghi chép, giải thích và thông báo kết quả đánh giá về trình độ của học sinh cho các bên có liên quan.[38]
Nhà nghiên cứu giáo dục như Erwin (1999), Cizek (1997), Lambert and Lines (2000) thì đánh giá là “Quá trình xác định, lựa chọn, thiết kế, thu thập, phân tích, diễn dịch và sử dụng thông tin để tăng chất lượng học tập của người học, và để người học phát triển kiến thức và kỹ năng” [25]
TS Phạm Xuân Thanh cũng có quan điểm tương tự như vậy: ông cho cho rằng, đánh giá là một thuật ngữ chung để chỉ việc thu thập thông tin một cách có hệ thống và xử lý, phân tích dữ liệu làm cơ sở để đưa ra các quyết định nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.[23]
Theo PGS.TS.Trần Khánh Đức, đánh giá là quá trình thu thập chứng
cứ và đưa ra những nhận định, phán xét về mức độ đạt được theo các tiêu chí
đã được đưa ra trong tiêu chuẩn hay kết quả học tập.[6]
GS.TSKH Lâm Quang Thiệp cho rằng đánh giá là căn cứ vào các số
đo và các tiêu chí xác định năng lực và phẩm chất của sản phẩm đào tạo để nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết định nhằm nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo [26]
Có thể nói thuật ngữ đánh giá là thuật ngữ có tính tổng quát nhất trong các thuật ngữ về lĩnh vực đánh giá trong giáo dục Nó không chỉ dừng lại ở chỗ cho biết người học đã đạt được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ đến mức độ nào sau một quá trình học tập mà còn đưa ra những nhận định, phán xét theo một thang đo nhất định cho người học, từ đó ra quyết định có liên quan đến người học Đồng thời đánh giá có tác động đến người đánh giá và người được đánh giá: Cung cấp thông tin phản hồi để từ đó đưa đến sự điều chỉnh Mặc dù
có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá nhưng chúng ta có thể thấy điểm
Trang 2420
chung giữa những định nghĩa này đó là: Đánh giá là một quá trình chứ không phải là một cái gì đó riêng lẻ và đối tượng của hoạt động đánh giá là quá trình học tập của người học và quá trình đánh giá đều tìm các thông tin, cơ sở để đưa
ra những đánh giá dựa vào các mục tiêu đã đề ra của môn học
Theo Allan C.Ornstein và Thomas J.Lasley thì đánh giá có thể được chia làm bốn kiểu đánh giá : Đánh giá xếp loại, đánh giá sát hạch, đánh giá theo dõi, đánh giá kết quả.[1]
Đánh giá xếp loại: Là đánh giá giúp cho việc phân loại học sinh trước khóa học, tiến hành vào đầu học kỳ
Đánh giá sát hạch: Là một phương tiện tìm hiểu và theo dõi những khó khăn trong việc học tập, việc KTĐG này có thể cung cấp những thông tin có thể tạo điều kiện cho SV vượt qua những thất bại Trong nhiều trường hợp, đánh giá sát hạch và đánh giá theo dõi mang tính chồng chéo, kiểm tra theo dõi chủ yếu liên quan đến sự tiến bộ của học sinh
Đánh giá theo dõi: Dùng để theo dõi sự tiến bộ trong suốt quá trình học, giáo viên phải cho học sinh kiểm tra thường xuyên trong suốt một khóa học hay học kỳ, trong suốt quá trình đó còn phải có những cải tiến phù hợp Việc dạy học có thể được cải tiến dựa trên những phản hồi mà việc KTĐG theo dõi cung cấp Benjamin Bloom và các cộng sự của ông đã mô tả việc KTĐG theo dõi như là một công cụ dạy học chính Đánh giá theo dõi rất quan trọng đối với kết quả học tập của học sinh Các nghiên cứu cho thấy rằng những bài KTĐG theo dõi nâng cao mang lại kết quả học tập đáng kể và rất
có ý nghĩa đối với học sinh
Đánh giá kết quả: Là đánh giá cho biết kết quả của việc dạy và học vào cuối mỗi học phần hay học kỳ Nó được thiết kế để xác định xem mục đích dạy học đã được học sinh lĩnh hội ở mức độ nào và nó được sử dụng chủ yếu
để chứng nhận bằng cấp hay cho điểm học sinh Trong khi đánh giá theo dõi
Trang 2521
cung cấp những nhận xét có tính chưa quyết định về việc học tập đã diễn ra và việc học tập cần thực hiện, đánh giá kết quả lại diễn ra khi việc dạy và học đã xong và là sự đánh giá cuối cùng
* Kiểm tra, đánh giá trong giáo dục
Những năm 20 của thế kỷ XX, Rantailow, nhà giáo dục học nổi tiếng của Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa: “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện được của các mục tiêu trong những chương trình giáo dục”.[7]
Năm 1977, C.E.Becbi đưa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh, được đông đảo các nhà giáo dục thừa nhận: “Đánh giá giáo dục là sự thu thập và lý giải một cách có hệ thống các bằng chứng, như một phần của quá trình dẫn tới
sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động” Định nghĩa này phản ánh việc đánh giá cấp độ chung nhất và nhấn mạnh khía cạnh giá trị.[7]
Nhà giáo dục học người pháp, R.F.Marger đưa ra quan niệm: “Đánh giá
là việc miêu tả tình hình của học sinh và giáo viên để dự đoán công việc phải tiếp tục và giúp học sinh tiến bộ”[25]
Các nhà giáo dục Philippin cho rằng: “Đánh giá là sự phân tích tác động của chương trình vào cá nhân, vào hệ thống giáo dục và vào hệ thống phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng”[7]
Tác giả Lâm Quang Thiệp cho rằng kiểm tra là phán xét thí sinh theo các hệ thống quy tắc hoặc tiêu chuẩn nào đó.[26]
Theo Đặng Bá Lãm, trong quá trình dạy học kiểm tra là quá trình xác định mục đích nội dung lựa chọn các phương pháp, tập hợp số liệu, bằng chứng để xác định mức đạt được của người học trong quá trình rèn luyện, học tập và phát triển Kiểm tra bao gồm việc xác định điều cần kiểm tra, công cụ kiểm tra và sử dụng kết quả kiểm tra, tức là đánh giá.[12]
Trang 2622
Cũng thống nhất với quan điểm trên, Lưu Xuân Mới cho rằng, kiểm tra trong học tập nghĩa là rà soát, xem xét tình hình thực tế, đánh giá thực trạng người học biết gì, biết bao nhiêu hoặc có thể làm được việc gì theo yêu cầu học tập đặt ra, nó bao gồm phương pháp đo lường chính thức cũng như không chính thức các năng lực người học.[14]
Đánh giá là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện đo lường được qua các kỳ kiểm tra người học trong quá trình học và khi kết thúc thì đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn rõ ràng đã được xác định trước đó trong các mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm của các nhà giáo dục học trong và ngoài nước ta có thể hiểu KTĐG như sau: Kiểm tra là việc thu thập những dữ liệu, thông tin làm cơ sở cho đánh giá Quá trình kiểm tra cho phép làm rõ các đặc trưng về chất lượng và số lượng kết quả dạy học, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học
1.2.2 Các phương pháp kiểm tra đánh giá
Để tiến hành việc KTĐG kết quả học tập của sinh viên, giảng viên phải xác định đánh giá cái gì, đánh giá để làm gì và từ đó xác định đánh giá như thế nào.Việc xây dựng các mục tiêu học tập sẽ là cơ sở để giảng viên quyết định đánh giá cái gì Còn để xác định đánh giá như thế nào thì GV phải dựa vào các phương pháp đánh giá Mỗi phương pháp đánh giá đều phải đảm bảo các tiêu chuẩn cũng như độ tin cậy nhất định
Có nhiều kiểu phân loại các phương pháp đánh giá trong giáo dục, tùy theo góc độ xem xét và mục tiêu phân loại
Theo cách thực hiện việc đánh giá, có thể phân chia các phương pháp đánh giá làm ba loại lớn: Loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết
Trang 2723
Loại quan sát giúp đánh giá các thao tác, các hành vi, các phản ứng vô thức, các kỹ năng thực hành và cả một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu
Loại vấn đáp có tác dụng tốt để đánh giá khả năng ứng đáp các câu hỏi được nêu một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra, cũng thường được sử dụng khi sự tương tác giữa người hỏi và người đối thoại là quan trọng, chẳng hạn để xác định thái độ người đối thoại
Loại viết thường được sử dụng nhiều nhất, vì nó có các ưu điểm sau: Cho phép kiểm tra nhiều thí sinh cùng một lúc; Cho phép thí sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời; Có thể đánh giá một số loại tư duy ở mức độ cao; Cung cấp các bản ghi trả lời của thí sinh để nghiên cứu kỹ khi chấm; Dễ quản lý vì người chấm không tham gia trực tiếp vào bối cảnh kiểm tra Loại đánh giá viết lại được chia thành hai nhóm chính:
Nhóm các câu hỏi tự luận (TL): Các câu hỏi buộc phải trả lời theo dạng
mở, thí sinh phải tự mình trình bày ý kiến trong một bài viết để giải quyết vấn
đề mà câu hỏi nêu ra
Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ - objective test):
Đề thi thường bao gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết để thí sinh có thể trả lời từng câu một cách ngắn gọn Ở nước ta nhiều người thường gọi tắt TNKQ là “trắc nghiệm”
Theo mục tiêu của việc đánh giá có thể phân chia các phương pháp đánh giá làm hai nhóm: Đánh giá trong tiến trình (formative) và đánh giá tổng kết (summative) Đánh giá trong tiến trình được sử dụng trong quá trình dạy và học để nhận được các phản hồi từ học viên, xem xét mức độ thành công của việc dạy và học, chỉ ra trở ngại và tìm cách khắc phục Đánh giá tổng kết nhằm tổng kết những gì học viên đạt được, xếp loại học viên, lựa chọn học viên thích hợp để tiếp tục đào tạo hoặc sử dụng trong tương lai, chứng tỏ hiệu quả của
Trang 2824
khóa học và của việc dạy của GV, đề ra mục tiêu tương lai cho học viên Hai nhóm đánh giá nêu trên được tiến hành theo những cách hoàn toàn khác nhau Trong giảng dạy ở nhà trường, các đánh giá trong tiến trình thường gắn chặt với GV, còn các đánh giá kết thúc thường bám sát vào mục tiêu dạy học đã được đề ra, và có thể tách khỏi GV
Theo phương hướng sử dụng kết quả đánh giá, có thể phân chia ra đánh giá theo chuẩn (norm-referrenced) và đánh giá theo tiêu chí (criterion-referrenced)
Đánh giá theo chuẩn: Là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các cá nhân khác trong một nhóm mà trên đó việc đánh giá được thực hiện
Đánh giá theo tiêu chí: Là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các tiêu chí xác định cho trước
* Các hình thức KTĐG
Việc kiểm tra và đánh giá của giáo viên phải kích thích được SV về quá trình học tập của mình Có như vậy chúng ta mới có thể thực sự biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Nhình chung, việc KTĐG phải dựa vào chất lượng và hiệu quả đạt được so với mục tiêu đề ra Vì vậy, cần phải đánh giá cả về tri thức, kỹ năng, phương pháp học tập, nghiên cứu, và thái độ, cả về lý thuyết và thực hành nghề nghiệp, phải kết hợp đánh giá định lượng và định tính, kết hợp đánh giá thành tích học tập của từng SV cũng như của cả lớp để có kế hoạch kịp thời điều chỉnh quá trình dạy và học, phải đánh giá một cách kịp thời, khách quan, chính xác nhằm khích lệ SV Muốn thế cần sử dụng nhiều hình thức kiểm tra, đánh giá, cần công bố kế hoạch KTĐG từ đầu năm hoặc môn học để cho SV có thể chủ động thiết kế quá trình học tập của bản thân
Hình thức kiểm tra, đánh giá bao gồm: Bài tập môn học, các bài thi viết (bài luận, lựa chọn câu trả lời đúng …), các bài thi nghe và nói, các bài
Trang 29Bài tập môn học: Có thể là bài viết về một vấn đề giả định hoặc một vấn đề
trong thực tế Đây là hình thức thường được sử dụng trong đánh giá quá trình
Bài thi viết: Có thể được sử dụng cả trong đánh giá quá trìnhvà đánh giá tổng
kết Bài thi viết có thể gồm các câu hỏi lựa chọn trả lời hoặc là những câu hỏi mà
SV phải tự đưa ra phương án trả lời hoặc kết hợp cả hai loại câu hỏi với nhau
Báo cáo chuyên đề: Thường được sử dụng kèm trong thảo luận nhóm Các
nhóm làm việc và báo cáo kết quả trước cả lớp Trên cơ sở đó, GV đánh giá
SV theo những tiêu chí Bài viết của SV trong báo cáo chuyên đề phục vụ một cách hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng của SV về tổ chức ý, nghiên cứu đề tài, phát triển ý mới
* Quy trình đánh giá
Kiểm tra - đánh giá trong giảng dạy đại học rất phong phú Tuy nhiên
nó đòi hỏi phải tuân thủ những nguyên tác cơ bản sau:[13]
- Phải xác định rõ mục tiêu đánh giá Hoạt động đánh giá như là một quá trình tiến hành có hệ thống vì vậy để xác định phạm vi và các mục tiêu đề
Trang 30Phân tích mục tiêu, nội dung kiểm tra
Người chuẩn bị nội dung kiểm tra phải trả lời câu hỏi: Kiểm tra là để đạt được điều gì, ví dụ như để vượt qua một ngưỡng tối thiểu hay để học tiếp lên, khảo sát những trình độ khác nhau của tất cả các SV trong một lớp Lúc
đó phải xây dựng nhiều loại câu hỏi, theo dõi từng cách trả lời cho từng câu hỏi Tổng số điểm lúc này là thứ yếu, vấn đề chính là phát hiện những khó khăn mà SV đã gặp và giúp cho họ khắc phục Nội dung kiểm tra, xác định nội dung kiểm tra gồm mấy chủ đề và các yêu cầu cần đạt của từng chủ đề là
gì, tầm quan trọng của từng chủ đề và các trọng số tương ứng Muốn đánh giá kết quả học tập cần phải xác định được nội dung đánh giá Đây chính là đánh giá mục tiêu nhận thức của người học ở sáu mức độ xếp thứ tự là: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Tùy theo mức độ yêu cầu của từng khối lớp hay mục tiêu của khóa học mà chúng ta đánh giá theo các cấp độ khác nhau.[32]
Về kỹ năng, kỹ xảo, việc đánh giá thực hiện thông qua thao tác thực hành, vận dụng kiến thức đã học Đó là công việc SV phải thực hiện trên lớp, trong phòng thí nghiệm, trong các xưởng thực tập Việc kiểm tra - đánh giá được tiến hành dựa vào quan sát và một phần vào kết quả công việc hoàn thành Vì vậy mục tiêu về kỹ năng cũng được phân loại theo cấp độ từ thấp đến cao.[13]
Chọn các hình thức kiểm tra phù hợp
Mỗi một hình thức kiểm tra đều có mặt mạnh và mặt yếu của nó, nên phải chọn các hình thức kiểm tra sao cho phù hợp với các mục tiêu kiểm tra
Trang 3127
và thông thường không nên đánh giá một cách đơn giản, đơn thuần dựa trên một hình thức kiểm tra
Các câu hỏi đã được lựa chọn phải được đem ra phân tích xem chúng
đã đáp ứng như thế nào với các mục tiêu đã đề ra cho kiểm tra - đánh giá Việc phân tích câu hỏi trong một bộ đề cũng nhằm đánh giá về mức độ và độ tin cậy của từng câu hỏi Độ giá trị của câu hỏi là mức độ chính xác của các câu hỏi đó về mặt đánh giá đúng với phạm vi mà nó cần đánh giá Nói một cách khác là nó chứa đầy đủ nội dung, kỹ năng, năng lực, thái độ cần thiết phải kiểm tra hay không Độ tin cậy của câu hỏi sẽ thể hiện ở chỗ nó cho kết quả đánh giá một cách ổn định thông qua việc kiểm tra ở các thời điểm và với những người chấm khác nhau hay không Sau khi xem xét từng câu hỏi, chúng ta tiến hành phân tích đánh giá toàn bộ đề đã được soạn Chỉnh sửa hoàn thiện, đưa vào sử dụng và tiến hành phân tích kết quả thi.[24]
Với các kết quả đã chấm, các số liệu đã được tập hợp và thông thường người ta sử dụng các phương pháp thống kê để xử lý các số liệu này Các số liệu thống kê còn cho ta biết mức độ khó và độ phân biệt của từng câu hỏi và
sử dụng lại chúng khi đã lưu giữ trong ngân hàng câu hỏi
Các phân tích, đánh giá trên cho thấy chất lượng thực chất của bộ đề và
độ tin cậy của các thang điểm chấm Đồng thời chúng ta cũng phải so sánh kết quả này với các đợt kiểm tra tương đương ở các lớp, các nhóm SV khác nhau
Việc công bố kết quả chỉ là thủ tục nhưng vẫn cần thiết vì nó giúp GV nhắc nhở SV những điều cần thiết, xem xét những phản ứng tích cực, tiêu cực của SV Làm sao tránh được tâm lý thất bại trong SV và giúp họ chuẩn bị tích cực hơn cho quá trình học tập sắp tới
Thông thường công việc kiểm tra kết thúc sau khi công bố kết quả nhưng nếu phát hiện thấy độ tin cậy của kỳ kiểm tra này còn chưa đủ để đánh giá thì cần thiết phải có các hoạt động bổ trợ cho kỳ kiểm tra nói trên bằng
Trang 3228
cách tổ chức kiểm tra bổ sung hoặc kiểm tra thêm nhằm có được các số liệu đánh giá cần thiết Trong trường hợp xấu nhất thì phải kiểm tra lại sau khi đã sửa chữa đầy đủ những thiếu sót đã được phát hiện.[15]
1.3 Hoạt động học tập của sinh viên
1.3.1 Hoạt động học
1.3.1.1 Khái niệm về hoạt động học
Khi nói đến hoạt động học cần làm rõ khái niệm học và khái niệm hoạt động học Trong cuộc sống đời thường con người luôn luôn có quá trình tiếp thu, tích luỹ những kinh nghiệm sống, trên cơ sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học, làm cơ sở tiếp thu những khái niệm khoa học ở trong nhà trường Đó chính là việc học, là cách học theo phương pháp của cuộc sống thường ngày, giống như con người khi sinh ra đến khi chết học ăn học nói học gói học mở, đi một ngày đàng học một sàng khôn…Trên thực tế, chỉ có phương thức đặc thù (phương thức nhà trường) mới có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó là hoạt động học, qua đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn; và trong tâm lý học sư phạm, hoạt động học là khái niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn ra theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Khái niệm “Hoạt động học” dùng để chỉ hoạt động học diễn ra theo phương thức đặc thù - phương thức nhà trường: có tổ chức, điều khiển, nội dung, trình tự… Qua hoạt động học, người học tiếp thu được những tri thức khoa học, những năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn
Như vậy, hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác để lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định nhằm phát triển nhân cách của chính mình
Trang 3329
1.3.1.2 Bản chất của hoạt động học
Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường đi mà để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước, giờ người học chỉ việc tái tạo lại Và để tái tạo lại, người học không có cách nào khác là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, …), càng phát huy cao bao nhiêu thì việc tái tạo lại càng diễn ra tốt bấy nhiêu Do đó hoạt động học làm thay đổi chính người học Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong quá trình học Mặc dù hoạt động học có thể cũng có thể làm thay đổi khách thể Nhưng như thế không phải là mục đích tự thân của hoạt động học mà chính là phương tiện để đạt được mục đích làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động
Hoạt động học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học Nghĩa là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà học phải tiến đến những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao, đã được khái quát hóa, hệ thống hóa
Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động học Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh Do đó nó giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học trong lứa tuổi này
Trang 3430
1.3.2 Tự học
Tự học ở là một hình thức tổ chức dạy và học ở bậc đại học Đó là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức
và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình và giáo trình đã được quy định Tự học có quan
hệ chặt chẽ với quá trình dạy học, nhưng nó có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân
Hoạt động tự học giúp cho SV tự nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo về nghề nghiệp trong tương lai Trong quá trình tự học, mỗi SV tự vận động, từng bước biến vốn kinh nghiệm của loài người đã tích lũy trong quá trình lịch sử thành vốn tri thức riêng của bản thân Ở đây, SV đã thể hiện ở trình độ cao vai trò chủ thể nhận thức của mình Kết hợp và thống nhất một cách hài hòa vai trò chủ thể nhận thức với vai trò đối tượng điều khiển trong dạy học
Tự học không những giúp SV không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi con ngồi trên ghế nhà trường mà trong tương lai là những cán
bộ khoa học, kỹ thuật cần phải có năng lực, hứng thú, thói quen có phương pháp tự học thường xuyên, để không ngừng làm phong phú thêm, hoàn thiện hơn vốn hiểu biết của mình Mặc khác, tự học còn giúp SV hình thành niềm tin khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập, say mê nghiên cứu khoa học
Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về tự học:
Nhà tâm lý học N.A Rubakin coi: Tự tìm lấy kiến thức - có nghĩa là tự học
Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng , kỹ xảo của chủ thể.[18]
Trang 3531
Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc hoàn thành các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy” Theo tác giả Lê Khánh Bằng: thì tự học (self learning) là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định [4]
Theo GS Đặng Vũ Hoạt và PGS Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy và học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp,
theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được qui định”.[11]
Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội” [31]
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học - là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và
có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi
cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành
sở hữu của mình”.[30]
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, đi đến định nghĩa về tự học như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định
Trang 3632
Trong thực tế, người ta có thể có nhiều cách học khác nhau: Học một cách ngẫu nhiên Qua kiểu học này, nó đưa lại cho người học những tri thức tiền khoa học, những năng lực thực tiễn trực tiếp, do kinh nghiệm hàng ngày mang lại Cách học thứ hai là học có chủ định, là việc học diễn ra theo phương thức đặc thù ở nhà trường, qua đó hình thành ở người học những tri thức khoa học, những năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn nghĩa là nhằm lĩnh hội các tri thức mới, kĩ năng, kĩ xảo mới trong nhà trường
Như vậy, hoạt động học là hoạt động của người học nhằm tổ chức các điều kiện bên trong và bên ngoài đảm bảo cho việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo có hiệu quả
Học là quá trình người học tự giác, tích cực, độc lập tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện, và dù trong tình huống nào thì trong bản thân
sự học cũng hàm chứa sự tự học
Nhìn chung, các tác giả đều quan niệm rằng tự học là học với sự độc lập
và tích cực, tự giác ở mức độ cao, tự học là quá trình mà trong đó, chủ thể người học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ hoặc chân tay nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân Tự học có thể diễn ra ở trên lớp hoặc ngoài giờ lên lớp, chẳng hạn như giải bài tập trên lớp, nảy sinh những thắc mắc khi nghe giáo viên giảng bài, tự sắp xếp những lời giảng của giáo viên để ghi vào vở, tự phân tích, nhận xét câu trả lời của bạn trong quá trình thảo luận…
Giữa học và tự học có mối quan hệ với nhau, học chỉ có hiệu quả khi có sự
tự học, tự học là kết quả cuối cùng của học
Tự học có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên và ngay cả khi không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Tự học được thực hiện
Trang 3733
qua nhiều bước khác nhau: tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh thông tin khác nhau, xử lý thông tin dựa vào vốn kinh nghiệm hiểu biết của mình, tự kiểm tra, tự đánh giá những thông tin đã thu được, vận dụng thông tin để giải quyết vấn đề do nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn đặt ra…
Tự học có thể hiểu là quá trình người học tự tìm ra ý nghĩa của việc học, làm chủ các hành động học tập của mình, tạo ra các cầu nối nhận thức trong tình huống học
Bản chất của tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập (nhận thức, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, các hoạt động giao tiếp, các hoạt động thực hành, các hoạt động kiểm tra, đánh giá ) để thực hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập đề ra Hay nói một cách khác là tự học là học với sự tự giác cao và tích cực ở mức độ cao
Tự học chỉ thực sự có hiệu quả khi người học phải thực sự có nhu cầu muốn học Tự học chỉ diễn ra khi người học tiến hành giải quyết vấn đề, giải quyết tình huống, giải quyết các nhiệm vụ học tập Được thực hiện thông qua làm việc, nghĩa là người học phải có được những cơ hội để thể nghiệm những
gì mà họ đã tiếp thu được trước đó
Tự học của sinh viên là một mặt hoạt động trong quá trình dạy học nó không thể tách rời với hoạt động dạy của giảng viên, vì vậy tự học chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi nó được diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy của thầy Nghĩa là, tự học có hiệu quả cao khi có sự hướng dẫn tổ chức của thầy
Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động tự học của sinh viên đòi hỏi người thầy giáo ngoài chức năng tổ chức, hướng dẫn, truyền đạt cần phải dạy cách thao tác với đối tượng, cách chiếm lĩnh đối tượng cho sinh viên, hay nói cách khác là hướng dẫn phương pháp học, cách học cho SV
Trang 3834
1 4 Mối quan hệ giữa các phương pháp kiểm tra đánh giá với hoạt động tự học
1.4.1 Các phương pháp kiểm tra đánh giá tác động đến năng lực tự học của sinh viên
Trong quá trình hình thành và nâng cao năng lực tự học cho sinh viên, vai trò của người thầy là rất quan trọng Mỗi giảng viên cần giáo dục cho SV xác định động cơ học tập một cách đúng đắn GV phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học, xem tự học như là một tiêu chí hàng đầu trong quá trình đào tạo để hình thành phương pháp tự học, tạo nền tảng cho năng lực tự
học trong sinh viên
Tự học có hiệu quả cao khi có động cơ, mục đích, các phương pháp KTĐG tác động không nhỏ đến hoạt động tự học của SV
Các phương pháp kiểm tra tạo điều kiện cho người học tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau Do vậy tạo điều kiện phát triển năng lực tư duy, năng động, sáng tạo, năng lực hành động, khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống xảy ra trong thực tế cuộc sống; tạo cho người học tham gia tích cực vào quá trình tự KTĐG
Việc kiểm tra, đánh giá có hệ thống và thường xuyên sẽ cung cấp thông tin
kịp thời cho SV, giúp cho SV tự điều chỉnh hoạt động học của mình ở các mặt:
- Về kiến thức
KTĐG sẽ giúp cho SV nhận thức đúng mức độ kiến thức đã đạt được
so với yêu cầu của chương trình môn học Những bài kiểm tra còn giúp SV hiểu sâu và củng cố tri thức, qua đó họ tự đánh giá được mình đã tiếp thu những điều đã học ở mức độ nào, còn những lỗ hổng nào cần phải bổ sung, điều chỉnh để đạt được kết quả cao hơn ở những bài học tiếp theo
- Về giáo dục:
Kiểm tra đánh giá ở các môn học nếu được tổ chức tốt sẽ có tác dụng giáo dục rất lớn đối với sinh viên Nếu tổ chức KTĐG nghiêm túc, đúng quy trình sẽ
Trang 3935
góp phần hình thành ở SV tính tự tin, khả năng nhận xét, đánh giá tình hình thực
tiễn đang diễn ra
- Về kỹ năng:
Thông qua KTĐG sinh viên có điều kiện để rèn luyện các thao tác tư duy, trí tuệ như: ghi nhớ, tái hiện kiến thức, rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp KTĐG tốt sẽ tạo điều kiện cho sinh viên phát triển năng lực tư duy khoa học, năng lực tư duy sáng tạo, linh họat vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống và để tiếp thu những kiến thức mới
Như vậy, qua việc kiểm tra các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp của SV sẽ không ngừng được hoàn thiện
1.4.2 Kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao tính tích cực chủ động, sáng tạo của sinh viên
Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Và một trong những nhiệm
vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học Bởi từ
đó nền giáo dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực
Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập
Trang 4036
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể
cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết
quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao
KTĐG trong và sau mỗi học phần cũng như sau toàn khóa học là việc làm không thể thiếu trong quá trình dạy - học Mỗi phương pháp dạy học có cách thức KTĐG phù hợp với bản chất của nó, có tác dụng định hướng sự hình thành phương pháp học của người học phù hợp với nó, làm cho người học thích ứng dần dần với phương pháp dạy của thầy
Muốn hoạt động học tập có hiệu quả nhất thiết SV phải chủ động tự giác học tập bất cứ lúc nào có thể bằng chính nội lực của bản thân Vì nội lực mới chính là nhân tố quyết định cho sự phát triển
Tự học có hiệu quả cao khi tạo được môi trường học tập cho người học, khi người học không ngừng rèn luyện cho mình một hệ thống kĩ năng tự học Muốn tự học có kết quả cao đòi hỏi chủ thể tự học phải có động cơ và thái độ học tập đúng đắn, phải có nhu cầu và hứng thú học tập, phải có sự say mê khoa học, phải nhận thức rõ được mục đích của hoạt động học tập và ý thức một cách đầy đủ về việc học của mình Để hoàn thành nội dung học tập đòi hỏi chủ thể tự học phải có ý chí vượt khó để vượt qua vật cản hay chướng ngại vật trong quá trình tự học nhằm đạt được các mục tiêu học tập đã đề ra
Bên cạnh đó, hoạt động tự học của SV được thực hiện bởi hệ thống kĩ năng, kĩ xảo nhất định vì vậy muốn hoạt động tự học đạt hiệu quả cao đòi hỏi