Như các trường đại học khác, Trường ĐHKHTN cũng chưa xây dựng được bộ bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV mà công tác quản lý này được cụ thể hóa qua chức năng, nhiệm vụ của p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HỒNG HOA
XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Đo lường và Đánh giá trong giáo dục
Khoá: IV
Trang 2Hà Nội - năm 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HỒNG HOA
XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ SINH VIÊN
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN –
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Đo lường và Đánh giá trong giáo dục
Khoá: IV
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ TUYẾT
Hà Nội - năm 2013
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I - MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 2
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3
7 Phạm vi nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 3
PHẦN II - NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 11
1.2 Một số khái niệm liên quan 15
1.2.1 Khái niệm “tiêu chí” 15
1.2.2 Khái niệm “đánh giá” 16
1.2.3 Khái niệm “quản lý” 18
1.2.4 Khái niệm “công tác sinh viên” 21
1.2.5 Khái niệm “đánh giá hoạt động quản lý công tác sinh viên” 22 1.2.6 Thực trạng chất lượng hoạt động quản lý sinh viên tại
Trang 4Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội 22
1.2.6.1 Thông tin chung về Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 22
1.2.6.2 Công tác sinh viên tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 22
1.3 Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 29
2.1 Cơ sở xây dựng bộ chỉ số 29
2.1.1 Cơ sở lý luận 29
2.1.2 Cơ sở thực tiễn 29
2.2 Quy trình xây dựng bộ chỉ số 33
2.2.1 Các bước tổ chức thu thập thông tin 34
2.2.2 Lấy số liệu 34
2.2.3 Thời điểm khảo sát 34
2.3 Mẫu nghiên cứu 34
2.3.1 Phiếu khảo sát và thang đo 34
2.3.2 Quy trình xây dựng bộ tiêu chí 35
2.4 Đề xuất phiếu khảo sát xây dựng - thử nghiệm bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động quản lý công tác sinh viên 36
2.5 Phân tích kết quả khảo sát 37
2.5.1 Các thông tin về đối tượng hồi đáp trong khảo sát 40
2.5.2 Đánh giá thang đo được kiểm định bằng độ tin cậy Cronbach’s Alpha 40
2.5.2.1 Kết quả thang đo ở thành phần về công tác giáo dục chính trị tư tưởng 41
2.5.2.2 Kết quả thang đo ở thành phần về công tác quản lý sinh viên 43
2.5.2.3 Kết quả thang đo ở thành phần về công tác hướng nghiệp và tư vấn việc làm 46
Trang 52.5.3 Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 48
2.5.3.1 Thành phần về công tác giáo dục chính trị tư tưởng 47
2.5.3.2 Thành phần về công tác quản lý sinh viên 49
2.5.3.3 Thành phần công tác hướng nghiệp và tư vấn việc làm 52
2.5.3.4 Kết quả kiểm tra theo mô hình Rasch bằng cách sử dụng phần mềm Quest cho toàn bộ phiếu hỏi sau khi đã hiệu chỉnh 53
2.6 Tiểu kết chương 2 59
CHƯƠNG 3: CÁC KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN 61
3.1 Giới thiệu bộ tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động quản lý công tác sinh viên 61
3.1.1 Nội dung đánh giá 61
3.1.2 Quy trình đánh giá 63
3.1.3 Đánh giá thử nghiệm bộ tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện hoạt động quản lý công tác sinh viên tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội 63
3.2 Đánh giá mức độ thực hiện ở các nội dung 65
3.2.1 Công tác giáo dục chính trị tư tưởng 65
3.2.2 Công tác quản lý sinh viên 67
3.2.3 Công tác hướng nghiệp và tư vấn việc làm 68
3.3 So sánh sự khác biệt về kết quả đánh giá của sinh viên khi xét đến các yếu tố 70
3.3.1 Theo giới tính 70
3.3.1.1 Công tác giáo dục chính trị tư tưởng 70
3.3.1.2 Công tác quản lý sinh viên 71
3.3.1.3 Công tác hướng nghiệp và tư vấn việc làm 72
3.3.2 Theo ngành học 74
3.3.2.1 Công tác giáo dục chính trị tư tưởng 74
Trang 63.3.2.2 Công tác quản lý sinh viên 76
3.3.2.3 Công tác hướng nghiệp và tư vấn việc làm 79
3.3.3 Theo năm sinh viên 82
3.3.3.1 Công tác giáo dục chính trị tư tưởng 82
3.3.3.2 Công tác quản lý sinh viên 84
3.3.3.3 Công tác hướng nghiệp và tư vấn làm 86
3.4 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đối với từng ngành học 89
3.4.1 Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha 89
3.4.2 Phân tích tương quan giữa các nhân tố trong từng ngành học 90
3.5 Tiểu kết chương 3 91
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
1 Kết luận 93
2 Một số ý kiến sau khi thực hiện đề tài 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 101
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Bảng 2.1 Tiến độ thực hiện nghiên cứu 33
Bảng 2.2: Quy ước thang đánh giá 35
Bảng 2.3: Bảng mã hóa thông tin 37
Bảng 2.4: Bảng mã hóa biến theo các nhóm 38
Bảng 2.5: Bảng hệ số Cronbach's Alpha của nhóm tiêu chí về công tác giáo dục chính trị tư tưởng 41
Bảng 2.6: Bảng hệ số Cronbach's Alpha của nhóm tiêu chí về công tác giáo dục chính trị tư tưởng sau khi loại biến 43
Bảng 2.7: Bảng hệ số Cronbach's Alpha của nhóm tiêu chí về công tác quản lý sinh viên 44
Bảng 2.8: Bảng hệ số Cronbach's Alpha của nhóm tiêu chí về công tác quản lý sinh viên sau khi loại biến 45
Bảng 2.9: Hệ số Cronbach's Alpha của nhóm tiêu chí về công tác hướng nghiệp và tư vấn việc làm 46
Bảng 2.10: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của thành phần về công tác giáo dục chính trị tư tưởng sau khi loại biến 48
Bảng 2.11: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của thành phần về công týac giáo dục chính trị tư tưởng sau khi loại biến 49
Bảng 2.12: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của thành phần CTQLSV 50
Bảng 2.13: Kết quả phân tích nhân tố khám phá thành phần về CTQLSV 51
Bảng 2.14: Kết quả phân tích nhân tố khám phá thành phần về công tác hướng nghiệp và tư vấn việc làm 53
Bảng 2.15: Thống kê các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động quản lý công tác SV sau khi đánh giá bằng phần mềm SPSS 54
Bảng 3.1: Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động 61
Trang 8Bảng 3.2: Quy ước thang đánh giá 64
Bảng 3.3: Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu trong quá trình điều tra chính thức 64
Bảng 3.4: Kết quả kiểm định Independent samples T -Test về mức độ thực hiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng công tác giáo dục chính tri ̣ tư tưởng khi xét đến yếu tố giới tính 70
Bảng 3.5: Kết quả kiểm định Independent samples T -Test về mức độ thực hiê ̣n hoa ̣t động công tác quản lý sinh viên khi xét đến yếu tố giới tính 71
Bảng 3.6: Kết quả kiểm định Independent samples T -Test về mức độ thực hiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng công tác hướng nghiê ̣p khi xét đến yếu tố giới tính 73
Bảng 3.7: Kết quả kiểm định ANOVA về mức độ thực hiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng về công tác giáo dục chính tri ̣ tư tưởng khi xét đến yếu tố ngành ho ̣c 74
Bảng 3.8: Kết quả kiểm định ANOVA về mức độ thực hiê ̣n h oạt động về công tác quản lý sinh viên khi xét đến yếu tố ngành ho ̣c 76
Bảng 3.9: Kết quả kiểm định ANOVA về mức độ thực hiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng về công tác hướng nghiê ̣p khi xét đến yếu tố ngành ho ̣c 79
Bảng 3.10: Kết quả kiểm định ANOVA về mức độ thực hiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng về công tác giáo dục chính tri ̣ tư tưởng khi xét đến yếu tố năm sinh viên 82
Bảng 3.11: Kết quả kiểm định ANOVA về mức độ thực hiê ̣n hoạt động 84
Bảng 3.12: Kết quả kiểm định ANOVA về mức độ thực hiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng 86
Bảng 3.13: Độ tin cậy Cronbach’s Alpha theo ngành học 89
Bảng 3.14: Giá trị trung bình của 03 thành phần ở 04 nhóm chuyên ngành 90
Bảng 3.15: Phân tích nhân tố ANOVA theo nhóm ngành 91
Hình 3.1 ĐTB nhóm các tiêu chí về công tác giáo dục chính trị tư tưởng 66
Hình 3.2 ĐTB nhóm các tiêu chí về công tác quản lý sinh viên 67
Hình 3.3 ĐTB nhóm các tiêu chí về công tác hướng nghiệp và tư vấn việc làm 69
Trang 9DANH MỤC TỪ/CHỮ VIẾT TẮT
Từ/chữ viết tắt Ý nghĩa đầy đủ
Trang 10Hiện nay, nhiều trường đại học trong cả nước chưa xây dựng được những văn bản qui định về bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV Việc đánh giá chất lượng của hoạt động QLCTSV trong các trường đại học hiện nay vẫn còn chung chung, đại khái, chủ yếu dựa trên kết quả hoạt động theo từng năm học, khóa học mà chưa có những chỉ số để đánh giá cụ thể, rõ ràng Do vậy việc xây dựng – thử nghiệm một bộ chỉ số đánh giá chất lượng CTSV là một đòi hỏi bức thiết, đáp ứng việc đổi mới quản trị đại học trong cả nước
Ở Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN là trường đại học nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản và ứng dụng Người học của Trường có nhiều hệ: Hệ đại học;
hệ Sau đại học và hệ Trung học Phổ thông Chuyên Hoạt động QLCTSV của Trường được hiểu là quản lý người học (bao gồm cả học sinh, SV, học viên cao học
và nghiên cứu sinh) có những nét khác biệt so với nhiều trường đại học khác trong
cả nước Như các trường đại học khác, Trường ĐHKHTN cũng chưa xây dựng được bộ bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV mà công tác quản lý này được cụ thể hóa qua chức năng, nhiệm vụ của phòng Chính trị và CTSV
Với thực trạng và nhu cầu đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV của giáo dục đại học trong nhà trường đặt ra yêu cầu cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá cụ thể
về hoạt động QLCTSV của các trường đại học của Việt Nam nói chung và tại Trường ĐHKHTN nói riêng
Trang 11Trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong Giáo dục, không thể xây dựng bộ chỉ số chung cho tất cả các trường đại
học trong cả nước nên tác giả đã chọn đề tài “Xây dựng – Thử nghiệm bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV tại Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN”,
trong đó đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận, thiết kế bộ công cụ đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV của Trường ĐHKHTN Luận văn này tập trung nghiên cứu đề xuất bộ chỉ số để đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV (HĐ QLCTSV) của nhà trường nhằm góp phần nâng cao chất lượng HĐQLCTSV nói riêng và chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung Việc đánh giá này chưa chỉ ra được các vấn đề bất cập cần sửa chữa, bổ sung hoặc cải tiến chất lượng trong hoạt động QLSV Vì vậy, đây vẫn còn là đề tài đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục phải đầu tư nghiên cứu
và phát triển mở rộng trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng hoạt động QLCTSV trong các trường đại học của cả nước
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng công tác QLSV ở Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN
3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Trong đề tài này , chúng tôi chỉ tập trung vào việc nghiên cứu tài liệu , khảo sát ý kiến của lãnh đạo, cán bộ quản lý và chuyên viên chuyên trách thực hiện công tác quản lý và SV của Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất xây dựng chỉ số đánh giá chất lượng của công tác QLSV nhằm đánh giá mức
độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, phương thức quản lý, cơ cấu tổ chức QLSV và đội ngũ cán bộ QLCTSV của nhà trường trong mỗi năm học
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Cần có những chỉ số gì để đánh giá chất lượng hoạt động QLSV tại Trường ĐHKHTN một cách hiệu quả?
Trang 124.2 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu có một bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động QLSV của 3 lĩnh vực chính, bao gồm: Công tác giáo dục Chính trị tư tưởng; Hoạt động hỗ trợ SV; Công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm thì sẽ đánh giá chính xác và hiệu quả hoạt động QLCTSV tại Trường ĐHKHTN
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính:
- Nghiên cứu tài liệu, văn bản hướng dẫn chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, ĐHQGHN, Trường ĐHKHTN
5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng:
- Khảo sát bằng bảng hỏi đối với đối tượng nghiên cứu; tìm hiểu phản hồi của các cá nhân có liên quan;
- Tổng hợp ý kiến, cập nhật cơ sở dữ liệu để phân tích;
- Thống kê từ kết quả thu được và đánh giá về kết quả ban đầu
5.3 Các phần mềm sử dụng để phân tích và xử lý số liệu
Phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS Verson 16 và phần mềm Quest
6 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động QLSV và thử nghiệm tại Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN
6.2 Khách thể nghiên cứu
- Công tác QLSV tại Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN
7 Phạm vi nghiên cứu
- Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ tháng 12/2012 đến tháng 3/2013
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 chương, trong đó:
Trang 13Phần Mở đầu (4 trang)
Phần Nội dung (98 trang)
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Xây dựng và khảo sát bộ tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV tại Trường ĐHKHTN
Chương 3: Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV của Trường
ĐHKHTN
Kết luận và kiến nghị (3 trang)
Tài liệu tham khảo (5 trang)
Phụ lục (9 trang)
Trang 14PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới:
Hiện nay, tình hình giáo dục đại học đang đặt ra đối với CTSV rất nhiều thử thách, đó là những công nghệ mới, làm thay đổi số lượng SV, yêu cầu tính minh bạch cao hơn, kéo theo chi phí cho giáo dục đại học tăng lên, việc đánh giá của người học và đạo đức tại trường đại học cũng tăng lên Các trường đại học cũng chịu ảnh hưởng bởi các vấn đề chính trị, xã hội bao gồm cả văn hóa, đạo đức và sự công bằng Phản ứng của chúng ta với các thử thách đó sẽ hình thành nên vai trò của chúng ra trong giáo dục đại học
Các nhà giáo dục đại học cũng đã nhận ra những thử thách này và đã có hành động nhằm tập trung vào “chức năng cốt lõi của cơ sở đào tạo, đó là tập trung chính vào việc học” (Wingspread Group 1993) Tập trung vào việc học tập của SV hơn là tập trung vào việc giảng dạy là một sự thay đổi cơ bản trong quan điểm giáo dục Nếu mục đích của giáo dục là học tập, thì hiệu quả được đo lường bằng kết quả và lợi ích giáo dục cụ thể chứ không phải tính theo số lượng máy tính, giáo trình, giảng viên, hay nguồn lực tài chính của cơ sở đào tạo
Tạo môi trường và kinh nghiệm học tập luôn là nhiệm vụ hàng đầu của
CTSV The Student Learning Imperative – (tên thường gọi của Hiệp hội các trường
đại học Hoa Kỳ) - đã yêu cầu các trường đại học coi những thử thách này là một cơ hội để khẳng định về chất lượng giáo dục và phát triển SV
Với nhận định như trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề chất lượng giáo dục và chất lượng giáo dục đại học Nhiều nước trên thế giới đã cố gắng xây dựng hệ thống đánh giá và cơ chế bảo đảm chất lượng giáo dục đại học
Và theo đó đã có những bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường đại học
Trang 15Từ năm 1937, khi Hội đồng Giáo dục Hoa Kỳ xuất bản cuốn “Quan điểm về công tác QLSV” đầu tiên, thì sau đó đã có nhiều tài liệu bàn luận về CTSV Trải
qua một thời gian dài, những công trình nghiên cứu khác nhau với nhiều mục đích khác nhau đều đã được thực hiện Tất cả những nghiên cứu này đều khẳng định rằng giáo dục đại học có trách nhiệm phát triển năng lực công dân và đóng góp vào
sự tiến bộ xã hội Những kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng giáo dục đại học giúp SV phát triển đầy đủ về năng lực tiềm ẩn của họ
Giáo dục đại học là nền tảng cho những cam kết phát triển con người toàn diện Giá trị xuyên suốt lịch sử hoạt động CTSV bao gồm cả việc chấp nhận và trân trọng những khác biệt cá nhân, học tập suốt đời, giáo dục công dân hiệu quả, trách nhiệm SV, đánh giá tiến triển của việc học và thể hiện (của SV và chính người làm CTSV); tính đa thuyết và đa văn hóa; đạo đức và các hoạt động phản ứng linh hoạt trong CTSV; sự hỗ trợ và đáp ứng các nhu cầu của cá nhân SV cũng như các nhóm SV; sự tự do ngôn luận công dân
Hoạt động SV phải được xem xét trong những phạm vi, bối cảnh cụ thể ảnh hưởng tới nền giáo dục đại học và nhiệm vụ của nó Những điều kiện đó nhấn mạnh
sự cần thiết phải có hiểu biết về hoạt động QLCTSV thông qua các nghiên cứu và tài liệu đã có Không chỉ nghiên cứu về việc dạy và học mà còn liên quan tới hầu hết các vấn đề cấp bách nhất mà SV và gia đình họ đang phải đối mặt Phạm vi của đơn vị đào tạo ảnh hưởng tới việc các nguyên tắc trong CTSV được áp dụng như thế nào, đến mức độ nào Những phạm vi như vậy trong giáo dục đại học bao gồm:
sứ mệnh giáo dục, mục tiêu giáo dục, số lượng SV Khi nhận thức rõ mục tiêu của đơn vị đào tạo, bộ phận CTSV sẽ chịu trách nhiệm quản lý các nguồn lực sao cho hiệu quả nhằm phát triển mục tiêu, sứ mệnh của đơn vị
Vào năm 1986, trong báo cáo phê bình về giáo dục đại học, quỹ Lilly Endowment và quỹ Johnson đã xác định hướng tiếp cận hiệu quả nhất với giáo dục đại học Từ thảo luận đó, Chickering và Gamson (1987) đã triển khai 7 nguyên tắc
cơ bản của hoạt động giáo dục đại học: (1) mối liên hệ giữa SV và giảng viên, nhà trường, (2) hợp tác giữa SV với nhau, (3) học tập tích cực, (4) thông tin phản hồi
Trang 16kịp thời, (5) giao nhiệm vụ có thời hạn, (6) đặt hi vọng cao và (7) tôn trọng mọi tài năng và các phương pháp học tập Những nguyên tắc này tạo thành một quy tắc ngắn gọn về các hoạt động liên quan tới giáo dục đại học chất lượng cao mà giảng viên, người học, công chúng cũng có thể hiểu và sử dụng Tuy nhiên, CTSV thiếu một văn bản mang tính đo lường, so sánh, đánh giá về chất lượng của hoạt động này
Năm 1996, Paul Oliaro - chủ tịch Hiệp hội các trường đại học Hoa Kỳ - ACPA (the American College Personnel Association) và Suzanne Gordon – Chủ tịch Hiệp hội Quốc gia quản trị SV - NASPA (the National Association of Student
Personnel Administrators) đã phối hợp xuất bản cuốn “Principles of Good Practice for Student Affairs” – xây dựng một bộ nguyên tắc đánh giá cho hoạt động CTSV
Tài liệu này cũng tương tự như của Chickering và Gamson (1987) đã xuất bản, đều
có điểm chung trong việc học tập của SV, nhưng phạm vi và đối tượng sử dụng, áp dụng là khác nhau Những nguyên tắc này được hình thành dựa trên những nghiên cứu về SV, kinh nghiệm của những cơ sở giáo dục có hiệu quả và những cam kết về CTSV với SV và việc học tập của họ
Theo“Principles of Good Practice for Student Affairs” để đánh giá, đo lường
chất lượng CTSV của một cơ sở đào tạo phải đánh giá chất lượng thực thực hiện tốt các nội dung sau: (1) Thu hút SV vào các hoạt động học tập tích cực; (2) Giúp SV phát triển các giá trị và chuẩn mực đạo đức lành mạnh; (3) Truyền đạt được ý nghĩa đối với việc học tập; (4) Sử dụng điều tra có hệ thống để nâng cao chất lượng của
SV cũng như thành tựu của trường đại học; (5) Sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của trường học; (6) Xây dựng các mối quan hệ đối tác trong giáo dục nhằm nâng cao việc học của SV; (7) Xây dựng sự hỗ trợ toàn diện của cộng đồng
Gần đây, trong “Kế hoạch đánh giá CTSV” giai đoạn 2010-2015 của Schenectady County Community College, Mỹ đã đưa ra khá chi tiết các bước đánh giá, trong đó có cả sơ sở lý luận và thực tiễn
Trang 17Theo kế hoạch này, đánh giá là một quá trình thu thập, phân tích và sử dụng thông tin về tính hiệu quả của chương trình, phòng ban và bộ phận liên quan một cách hệ thống nhằm cải thiện việc học tập của SV (Uperaft & Schuh, 1996; Anderson, Bresciani & ZElna, 2004) Định nghĩa này bao quát toàn bộ khía cạnh và
mục đích của đánh giá cho bộ phận CTSV Tuy nhiên không dễ dàng để truyền tải
rõ ràng và đầy đủ định nghĩa của đánh giá cho tất cả thành viên của bộ phận CTSV,
kế hoạch đã cụ thể hóa bằng sự đa dạng trong phạm vi, bối cảnh, chức năng công việc và ý nghĩa của việc đánh giá Tài liệu này đã đưa ra quá trình đánh giá và đo lường theo Bresciani, Ewwell (2003); Palomba và Banta (1999); Sanderson (2007)
Theo Bresciani, quá trình đánh giá được thực hiện theo các bước: (1) Xác định rõ mục đích, nhiệm vụ và kết quả; (2) Xác định phương pháp thực hiện để đem lại kết quả; (3) Xác định phương pháp thu thập minh chứng, số liệu; (4) Phân tích, diễn giải minh chứng, số liệu; (5) Sử dụng minh chứng đánh giá kết quả; (6) Lặp lại quá trình đánh giá
Theo cách của Palomba và Banta đã đưa ra hai loại minh chứng cơ bản của việc học tập: (1) Phương pháp trực tiếp thu thập thông tin yêu cầu SV trình bày hiểu biết và kỹ năng của mình (2) Phương pháp gián tiếp yêu cầu SV hoặc cá nhân khác phản ánh tình hình học tập của SV chứ không phải để chứng minh kết quả học tập của mình
Theo Ewwell, thì kỹ thuật đánh giá xảy ra tự nhiên (phương pháp đánh giá được thực hiện thông qua bài luận; quan sát thái độ được; tiếp xúc trao đổi SV; tranh luận, thảo luận của SV) và kỹ thuật đánh giá được thiết kế nhằm cung cấp phương tiện đánh giá (như khảo sát và phỏng vấn)
Sanderson (2007) đề xuất logic việc đánh giá, đề xuất này có thể hướng dẫn việc đánh giá CTSV trong đó chú trọng các yếu tố sau:
Sứ mệnh: Là nhiệm vụ xuyên suốt cơ sở đào tạo được chính phủ, xã hội và
cộng đồng giao phó Nó chi phối nhiệm vụ của các bộ phận liên quan và SV
Mục tiêu: Bao gồm toàn bộ những nội dung mà bộ phận CTSV muốn các
thành viên tham gia đặt ra để thực hiện sứ mệnh Thông thường chỉ có từ 4-6 mục tiêu cho một bộ phận
Trang 18Chương trình và dịch vụ: Tập hợp các hoạt động liên quan và kết quả đạt
được, trong đó chú trọng tới việc tỷ lệ sử dụng có ý nghĩa các nguồn lực của cơ sở đào tạo hoặc của bộ phận CTSV (nhân sự, tài chính, thời gian,v.v ) Chương trình
và dịch vụ được thiết kế để hỗ trợ các mục tiêu của bộ phận
Sơ đồ được đưa ra như dưới đây:
SỨ MỆNH
MỤC TIÊU
CÁC CHƯƠNG TRÌNH VÀ DỊCH VỤ
ĐẦU VÀO CÁC HOẠT
DỊCH VỤ
KẾT QUẢ HỌC TẬP
ví dụ như cung cấp các hội thảo, hỏi ý kiến SV, phân phối các cẩm nang thông tin, nâng cao website, giảng dạy, cung cấp thông tin việc làm; đào tạo
kỹ năng, thực hiện khảo sát
- Các sản phẩm từ các hoạt động ví dụ: Số hội thảo, số người được hỏi ý kiến, các loại cẩm nang được tạo ra,
- Lượng kinh phí thu được,
Các lợi ích cho người tham gia Ví
dụ như tăng thêm kiến thức mới, gia tăng các kỹ năng, thay đổi cách ứng
xử, cải thiện các điều kiện của họ, thay đổi thái độ học tập, được tốt nghiệp
Trang 19Như vậy, nghiên cứu các tài liệu, công trình trên thế giới từ năm 1937 tới nay của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều cơ sở đào tạo có chất lượng cho ta cả cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đánh giá, đo lường trong giáo dục đại học nói chung
và đánh giá chất lượng của CTSV tại các cơ sở đào tạo nói riêng
Chúng ta quan niệm SV vừa là sản phẩm vừa là khách hàng đầu tiên của giáo dục đại học Là sản phẩm của giáo dục đại học, chất lượng đầu ra của giáo dục đại học được đo bằng những chỉ số về việc làm của SV sau tốt nghiệp Là khách hàng đầu tiên của giáo dục đại học, chất lượng của giáo dục đại học được đánh giá dựa trên mức độ hài lòng của SV đối với dịch vụ mà giáo dục đại học cung ứng cho họ
kể cả trong quá trình học ở đại học và cả sau khi SV đã tốt nghiệp gia nhập vào thị trường lao động
Chính phủ của các nước phát triển trên thế giới cũng quan tâm đến giáo dục đại học nhiều hơn, họ quan tâm đến số lượng chi phí lớn cho giáo dục, họ muốn có thông tin về việc chi tiêu hiệu quả: đào tạo SV tốt nghiệp với chất lượng mong muốn với chi phí hợp lý Cha mẹ học sinh, do nhu cầu học mở rộng và sự khan hiếm về chi phí cho giáo dục đại học, đang phải chi trả những khoản kinh phí lớn đầu tư cho con em học tập tại các trường đại học Họ đòi hỏi được biết những chi tiêu của mình phải hợp lý, con em của họ được tiếp thu một nền giáo dục tương ứng với mức chi trả, có được việc làm tương xứng sau khi tốt nghiệp Chính phủ và cha
mẹ SV đang là hai nguồn cung cấp chi phí cho giáo dục đại học, và vì thế hơn lúc nào hết các nhà trường đại học phải khẳng định với nhà đầu tư rằng nguồn kinh phí
mà họ sử dụng là có hiệu quả thông qua hệ thống cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và các dịch vụ hỗ trợ của nhà trường
Với những lý do như vậy, việc để các nhà trường cam kết với xã hội, với SV
và phụ huynh học sinh, tạo môi trường và các điều kiện hỗ trợ học tập tốt nhất cho
SV thì các trường đại học cần quan tâm đến CTSV và các hoạt động hỗ trợ cho SV, đồng thời không ngừng đo lường, đánh giá chất lượng công tác này để có những cải tiến hợp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển
Trang 20Các nghiên cứu trên đều hướng đến các quy trình để thực hiện việc đánh giá, dựa trên các tiêu chí sẵn có để đạt được các mục tiêu, nhằm đáp ứng mục đích ban đầu, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động QLCTSV Các nghiên cứu cũng chứng minh rằng việc đánh giá các nhóm công tác QLSV có tầm quan trọng như nhau trong việc xác định chất lượng hoạt động QLCTSV của một cơ sở đào tạo đại học
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Đánh giá chất lượng hoạt động công tác tổ chức và QLSV hiện nay được đề cập đến không nhiều trong các công trình nghiên cứu, chủ yếu là các nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của đánh giá chất lượng giáo dục hay hoạt động quản lý đào tạo tại các cơ sở giáo dục đào tạo
Công tác quản lý ho ̣c sinh, SV (HSSV) là một mặt quan tro ̣ng trong quá trình thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣ giáo dục , đào tạo của các trường đại học Quản lý tốt HSSV sẽ tạo điều kiê ̣n thuận lợi cho quá trình trang bị kiến thức , kỹ năng chuyên môn , đồng thời tạo ra môi trường tốt cho viê ̣c rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách và tác phong, lối sống cho HSSV
Để thực hiện việc đánh giá công tác quản lý HSSV của các cơ sở giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT đã ban hành qui định kèm theo thông tư số 39/210/BGDĐT ngày 23/12/2010 về việc đánh giá công tác HSSV của các Trường đại học, cao đẳng
và trung cấp trong cả nước gồm có 10 tiêu chuẩn và 43 tiêu chí như sau:
Tiêu chuẩn 1: Hệ thống tổ chức, quản lý và công tác hành chính (5 tiêu chí) Tiêu chuẩn 2: Công tác quản lý HSSV (5 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 3: Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống và đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV (4 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 4: Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ và hoạt động phong trào HSSV (5 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 5: Tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khóa trong HSSV (4 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 6: Thực hiện chế độ chính sách đối với HSSV (3 tiêu chí)
Trang 21Tiêu chuẩn 7: Công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm và các hoạt động hỗ trợ dịch vụ đối với HSSV (4 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 8: Công tác đảm bảo an ninh, trật tự trường học, giáo dục an toàn giao thông, phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội (3 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 9: Công tác về y tế trường học (4 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 10: Nội dung khuyến khích đạt được (3 tiêu chí)
Công tác quản lý HSSV là công tác trọng tâm, chủ yếu của ĐHQGHN, thể hiện bằng các công tác chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn, phục vụ, tư vấn, giúp đỡ SV trong quá trình học tập, rèn luyện và sinh hoạt tại trường Việc đánh giá và cho điểm trong lĩnh vực công tác này trong năm học 2011-2012 được áp dụng đối với các trường thành viên tại mục 10 đạt 6 điểm tối đa, trong đó có 12 tiêu chuẩn để đánh giá: (1) Có kế hoạch, văn bản, triển khai, chỉ đạo thực hiện nội quy, quy chế
về CTSV, văn hóa, tư tưởng.v.v (0.5đ); (2) Thường xuyên xây dựng và tổ chức các phong trào, hội thi cấp trường và tham gia các giải trong và ngoài khu vực (0.5đ); (3) Thực hiện đúng và đầy đủ các chính sách theo các quy chế, quy định về CTSV, định kỳ kiểm tra và đánh giá theo quy định (0.5đ); (4) Xây dựng các quy tắc văn hóa ứng xử trong nhà trường và thực hiện tốt việc giáo dục, văn hóa, thẩm mỹ cho
SV (0.5đ); (5) Xây dựng, tổ chức tốt các phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, giáo dục pháp luật, phòng chấm tội phạm.v.v (0.5đ); (6) Tổ chức các hoạt động nắm bắt diễn biến tư tưởng chính trị và các hoạt động khác (0.5đ); (7) Phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Hỗ trợ SV trong việc thực tổ chức các hoạt động Y tế của nhà trường theo quy định (0.5đ), (8) Thực hiện tốt công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm cho SV theo quy định hiện hành (0.5đ); (9) Phối hợp với Trung tâm
Hỗ trợ SV trong việc đảm bảo cơ sở vật chất (0.5đ); (10) Có ít nhất 01 sáng tiến hoặc cải tiến trong CTSV so với năm học trước hoặc đạt thành tích xuất sắc về các hoạt động trong CTSV (0.5đ); (11) Tích cực khai thác, quản lý chặt chẽ, có hiệu quả các học bổng ngoài ngân sách nhà nước cho SV (0.5đ); (12) Có các biện pháp
để quảng bá nhằm thu hút SV nước ngoài đến học tập và nghiên cứu tại đơn vị (0.5đ)
Trang 22Tác giả Nguyễn Hữu Châu (2008) đã chỉ ra những bất cập trong cơ chế QLCTSV ở đại học, những mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn công tác QLCTSV trong các trường đại học, đồng thời xem xét mức độ đáp ứng với công việc của SV sau khi ra trường Đây được xem là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV của các trường đại học [15]
Ở cấp cơ sở, việc nghiên cứu vấn đề quản lý công tác HSSV cũng được chú
ý và đã có những kết quả được công nhận
Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thi ̣ Thu Hương với đề tài “Quản lý công tác học sinh tại trường trung cấp dạy nghề T hái Bình trong giai đoạn hiện nay” , trên
cơ sở lý luâ ̣n quản lý giáo du ̣c , quản lý nhà trường nói chung và quản lý công tác học sinh, SV nói riêng, tác giả đã nêu lên thực trạng quản lý công tác học sinh tại Trường Trung cấp nghề Thái Bình, từ đó đề xuất các biê ̣n pháp quản lý công tác ho ̣c sinh ta ̣i Trường trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay [36]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Đức với tựa đề “Đổi mới công tác quản lý SV ở Trường Đại học Kinh tế , Đại học Quốc gia Hà Nội trong chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang tín chỉ” tác giả đã tiến hành nghiên cứu công tác quản lý
SV ở trường Đại học Kinh tế , từ đó đề xuất mô ̣t số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng công tác SV đáp ứng yêu cầu chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ [27]
Đề tài “Đánh giá thực trạng và các giải pháp tăng cường công tác QLSV ngoại trú” của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Hải, Trịnh Phước Nguyên, Huỳnh
Thanh Tiến Đề tài đã đề cập đến thực trạng tệ nạn xã hội đang len lỏi vào cuộc sống của SV, nhất là đối với SV của Trường Đại học An Giang do nằm trên địa bàn
có nhiều tệ nạn xã hội Do vậy, việc QLSV ngoại trú đang là vấn đề cấp thiết cho các cấp quản lý Nghiên cứu về tình hình ngoại trú của SV trên địa bàn Thành phố Long Xuyên là vấn đề cần thiết và cấp bách Nghiên cứu này sử dụng 3 phương pháp: thu thập số liệu thứ cấp, phỏng vấn và phân tích bằng phần mềm SPSS Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình an ninh, việc quản lý tại các nhà trọ, môi trường sống và học tập của SV còn hạn chế, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng
Trang 23cường công tác QLSV ngoại trú đối với lãnh đạo nhà trường, chính quyền địa phương, các chủ nhà trọ và bản thân SV [32]
Đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho SV Trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị Kinh doanh” của Lê Văn Hùng đã đưa ra cơ sở lý
luận của vấn đề quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho SV tại các trường cao đẳng, đại học, đồng thời nêu rõ thực trạng và công tác quản lý hoạt động giáo dục
kỹ năng sống cho SV tại Trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị Kinh doanh Trên
cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho SV Trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị Kinh doanh trong giai đoạn hiện nay [35]
Đề tài “Biện pháp QLSV tại Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN nhằm giúp SV có
cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp” của tác giả Phan Thị Minh Chung
đã nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề QLSV, tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác QLSV, đồng thời đề xuất một số biện pháp QLSV nhằm giúp họ có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp [19]
Đề tài “Những biện pháp QLSV ngoại trú của Trường Đại học Hồng Đức trên địa bàn thành phố Thanh Hóa” của tác giả Hà Ngọc Hòa Trên cơ sở nghiên
cứu lý luận và thực trạng QLSV ngoại trú của Trường Đại học Hồng Đức, tác giả đề xuất một số nhóm biện pháp QLSV ngoại trú nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác QLSV nói riêng và chất lượng giáo dục toàn diện nói chung của Trường [33]
Đề tài “Biện pháp QLSV của Phòng tổ chức – CTSV ở Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Hoàn Tác giả đã
đề xuất một số biện pháp QLSV nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLSV góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo của Trường [34]
Ngoài ra còn có các đề tài của tác giả Nguyễn Văn Tuấn về “Quản lý công tác học sinh tại trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay”; tác giả Nguyễn Trọng Tài nghiên cứu “Các biện pháp QLCTSV nước ngoài tại trường Đại học Thủy lợi” [45]; tác giả Lê Mạnh Thắng về “Các giải pháp
Trang 24quản lý công tác học sinh SV tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I”; tác giả Nguyễn Xuân Sơn về “Biện pháp tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho SV Viện Đại học Mở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” [44]
Có thể khẳng định rằng, các nghiên cứu được đề cập ở trên đã quan tâm nghiên cứu các vấn đề về công tác quản lý HSSV trong các cơ sở giáo dục đại học
và đồng thời cũng đã đề xuất được những giải pháp hữu ích để góp phần nâng cao chất lượng CTSV trong thời gian qua Tuy nhiên, để đánh giá về hiệu quả hoạt động CTSV trong các nhà trường đại học thì hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam trong thời gian vừa qua
Tóm lại, những nghiên cứu trong và ngoài nước nói trên đã đưa ra những đóng góp có ý nghĩa khoa học có liên quan đến đề tài về việc đánh giá hoạt động QLCTSV tại Trường ĐH KHTN Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về xây dựng bộ chỉ số đánh giá hoạt động QLCTSV Vì vậy, đây
sẽ là vấn đề mà luận văn tập trung nghiên cứu
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN:
1.2.1 Khái niệm “tiêu chí”
Theo tác giả Trần Thị Bích Liễu (2007), “Tiêu chí (Criterion) là những chỉ dẫn, các nguyên tắc, các tính chất hay đơn vị đo để đánh giá chất lượng thực hiện của học sinh/sinh viên Các tiêu chí là cái mà chúng ta dùng để đo giá trị của các câu trả lời, các sản phẩm hay hoạt động của học sinh/sinh viên Chúng có thể là tổng quát, toàn thể hay đặc trưng” [19] Định nghĩa này đưa ra khái niệm tiêu chí như là những chỉ dẫn, nguyên tắc nhằm để lượng giá, đo các câu trả lời đối với các vấn đề liên quan đến việc đánh giá một hoạt động cụ thể Mặc dù chưa đưa ra được chính xác cách đo đó, nhưng định nghĩa của tác giả Trần Thị Bích Liễu đã định hướng cho chúng tôi trong quá trình xây dựng và tìm hiểu các nội dung liên quan đến tiêu chí đánh giá chất lượng của hoạt động QLCTSV tại Trường ĐH KHTN Theo tác giả Phạm Xuân Thanh, Nguyễn Kim Dung (2003), “tiêu chí” là sự
cụ thể hóa của các chuẩn mực, chỉ ra những căn cứ để đánh giá chất lượng [23]
Trang 25Khái niệm này cho thấy cần xây dựng các chuẩn mực, đồng thời để đánh giá chất lượng cần dựa trên căn cứ cụ thể chứ không phải chung chung
Từ định nghĩa trên có thể thấy, khái niệm “tiêu chí” (Criterial) gần với khái niệm tiêu chuẩn, chuẩn mực (Standard) Trong đánh giá, khái niệm “standard” được hiểu là nguyên tắc đã được thống nhất giữa những người trong cùng một lĩnh vực đánh giá để đo lường giá trị hoặc chất lượng [23] Khái niệm “tiêu chí” được chúng tôi sử dụng trong luận văn này là những căn cứ được sử dụng để đo giá trị của các hoạt động QLCTSV qua các chỉ số cụ thể Thông qua các hoạt động của quá trình này, chỉ ra những căn cứ để đánh giá chất lượng của các hoạt động QLCTSV
1.2.2 Khái niệm “đánh giá”
“Đánh giá” là khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong giáo dục đại học Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (2007), “đánh giá” là hoạt động của con người nhằm phán xét về một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người theo những quan niệm và chuẩn mực nhất định mà người đánh giá cần tuân theo [22] Trong hội thảo – tập huấn về kiểm định chất lượng giáo dục đại học tổ chức tại Quảng Ninh (2012), GS Anthony de Sam Lazaro cũng đưa ra định nghĩa “đánh giá” (Assessment): là một hay nhiều quá trình xác định, thu thập và chuẩn bị số liệu
để đánh giá mức độ đạt được của các chuẩn đầu ra và các mục tiêu giáo dục của CTĐT [31] Ở nhiều tài liệu, “assessment” và “evaluation” được sử dụng như 2 từ đồng nghĩa, được hiểu là đánh giá và có thể thay thế cho nhau Trong một số tài liệu khác, “assessment” được dùng với nghĩa “đánh giá kết quả học tập của người học”, còn việc đánh giá chất lượng đào tạo, giáo dục của nhà trường, người ta sử dụng
“evaluation” và đều đánh giá dựa trên cơ sở các mục tiêu đã đề ra
Các khái niệm này cho thấy đánh giá nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục
tiêu và việc thực hiện Quan điểm này cũng trùng hợp với R.Tiler (1984): “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục” [37]
Trang 26Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn bởi để nâng cao chất lượng thì các trường luôn hướng đến những hoạt động nhằm thỏa mãn các mục tiêu đã được đưa
ra từ trước theo yêu cầu của nhà trường, ngành và toàn xã hội
Theo tác giả Phạm Xuân Thanh (2007), đánh giá là một quá trình bao gồm:
- Chuẩn bị một kế hoạch;
- Thu thập, phân tích thông tin và thu được kết quả;
- Chuyển giao các kết quả thu được đến những người liên quan để họ hiểu về đối tượng đánh giá hoặc giúp những người có thẩm quyền đưa ra các nhận định hay các quyết định liên quan đến đối tượng đánh giá [40]
Như vậy có thể thấy, khái niệm đánh giá được hiểu rất đa dạng, phong phú nhưng tựu chung lại ở một điểm: đánh giá là hoạt động có mục đích nhằm xem xét các hoạt động cụ thể theo ý muốn chủ quan của người tham gia đánh giá trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu với các yêu cầu cụ thể của từng hoạt động, của đối tượng được đánh giá
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm đánh giá theo định nghĩa của hai tác giả Owen & Rogers (1999): đánh giá là việc thu thập thông tin một cách hệ thống và đưa ra những nhận định dựa trên cơ sở các thông tin thu được Đánh giá được hiểu là việc điều tra, xem xét, xác định chất lượng của đối tượng được đánh giá trên cơ sở thu thập thông tin một cách có hệ thống, nhằm hỗ trợ cho việc ra quyết định và rút ra bài học kinh nghiệm
Quy trình đánh giá có thể bao gồm các bước sau (Owen & Rogers, 1999) [40]:
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá (xem xét sự vật, hiện tượng dưới những góc
độ nào để có được đầy đủ thông tin về đối tượng đánh giá);
- Xây dựng các chuẩn mực (mong muốn, yêu cầu đối tượng đánh giá phải đạt
được cái gì, ở mức độ nào);
- Đo lường các thuộc tính của đối tượng đánh giá theo các tiêu chí và đối chiếu
với các chuẩn mực;
Trang 27- Tổng hợp và tích hợp các bằng chứng thu được để đưa ra những nhận định
chuẩn xác [40]
Chúng tôi cho rằng quy trình đánh giá mà hai tác giả đưa ra là phù hợp và có thể đưa vào áp dụng để đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV Tuy nhiên, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đề xuất vấn đề đầu tiên trong qui trình đánh giá,
đó là đề xuất các tiêu chí đánh giá từ đó xây dựng những chỉ số đánh giá hoạt động QLSV trong nhà trường
Khái niệm đánh giá có thể nhìn tổng quát qua mô hình sau (xem mô hình trang sau):
Hình 1.2: Mô hình quá trình đánh giá
1.2.3 Khái niệm “chất lƣợng”
“Chất lượng” là một khái niệm phức tạp mà không phải trong bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống kinh tế - xã hội cũng có thể dễ dàng lượng hóa Chất lượng có nội hàm rộng và được tiếp cận từ những góc độ khác nhau Sự khác biệt này xuất phát
từ hai góc nhìn về chất lượng
“Chất lượng” được hiểu theo nghĩa tương đối và nghĩa tuyệt đối Với quan niệm tuyệt đối thì “chất lượng” được dùng để chỉ những sản phẩm, dịch vụ hàm chứa trong nó những thuộc tính không thể vượt qua Nó được dùng với nghĩa chất
Trang 28lượng cao hoặc chất lượng hàng đầu Đây chính là khía cạnh thứ nhất và thứ hai trong quan niệm của Harvey và Green, chất lượng là sự vượt trội, sự hoàn hảo Với quan niệm tương đối thì “chất lượng” được dùng để chỉ một số thuộc tính, đặc trưng bản chất của sự vật, hiện tượng, sản phẩm, dịch vụ Theo quan niệm này, một sản phẩm, một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được mục tiêu mong đợi của các đối tượng có liên quan, đó có thể là nhà sản xuất, người tiếp nhận hoặc cộng đồng xã hội Từ cách tiếp cận đó, chất lượng theo nghĩa tương đối sẽ có hai khía cạnh đặc trưng:
Thứ nhất, chất lượng có thể hiểu là đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn của người sản xuất đề ra) Ở khía cạnh này, chúng ta có thể hiểu đó là chất lượng
bên trong
Thứ hai, chất lượng được xem là mức độ đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi,
mong đợi của người tiếp nhận, người sử dụng Ở khía cạnh này, chất lượng được xem là chất lượng bên ngoài
Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng thường được hiểu theo nghĩa đa dạng hơn Bởi lẽ, giáo dục là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều quá trình nhỏ và đối tượng tham gia cũng khác nhau
Có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng, thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 29Hình 1.3: Các quan điểm khác nhau về chất lượng
Khi thảo luận về chất lượng trong giáo dục đại học, người ta thường trích
dẫn Green [Green D "What is quality in higher education? Concepts, Policy and
Practice (1994) in Green (ed) What is quality in higher education? London;
SRHE/Open University Press (1994)] khi ông phân biệt:
Chất lượng là sự tuyệt hảo;
Chất lượng là ngưỡng;
Chất lượng là giá trị gia tăng;
Chất lượng là giá trị đồng tiền;
Chất lượng là sự thỏa mãn khách hàng;
Chất lượng là sự phù hợp với mục đích
Với quan niệm “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích” thì vấn đề cơ bản là
trường đại học có khả năng đạt mục đích mà họ đặt ra hay không? Ở đây người ta
quan tâm tới chất lượng của các quá trình Quan niệm chất lượng này hướng tới sự
CHẤT LƢỢNG
của khách hàng
Sự phù hợp
Trang 30cải tiến, tuy nhiên nó có đảm bảo đạt tới ngưỡng chất lượng hay không thì bản thân mục đích đặt ra cũng là một vấn đề Một trường đại học có thể đặt ra các mục đích thấp để dễ đạt được Điều đó có nghĩa là cần thảo luận chất lượng không chỉ là sự phù hợp với mục đích mà còn là sự phù hợp của mục đích
Theo các tác giả của "Chất lượng giáo dục - những vấn đề lý luận và thực tiễn" (2008), có nhiều cách hiểu về "chất lượng":
Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó (là cái tốt nhất) Điều này chỉ có thể hiểu được, cảm nhận được nếu so sánh với những sự vật có cùng những đặc tính với sự vật đang được xem xét Đây là cách tiếp cận tiên nghiệm về chất lượng
Chất lượng được xem xét trên cơ sở những thuộc tính đo được Điều đó có nghĩa là chất lượng có thể được đo lường khách quan và chính xác Một sự vật có thuộc tính nào đó "cao hơn" cũng có nghĩa là nó "tốt hơn" và do đó cũng "đắt hơn" Cách tiếp cận này gọi là cách tiếp cận dựa trên sản phẩm khi xem xét chất lượng
Chất lượng được xem như sự phù hợp với nhu cầu Các sản phẩm và dịch vụ được "sản xuất" một cách chính xác với những "đặc tính kỹ thuật" đã định; mọi sự lệch lạc đều dẫn đến giảm chất lượng Đây là cách tiếp cận chất lượng dựa trên sản xuất
Chất lượng là sự phù hợp với mục đích (mục tiêu), là "đáp ứng được nhu cầu khách hàng" Chất lượng được xem xét đơn giản chỉ trong con mắt của người chiêm ngưỡng sự vật hoặc sử dụng chúng
Trong các định nghĩa trên, "chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu" có ý nghĩa hơn cả đối với việc xác định chất lượng giáo dục và cả việc đánh giá nó Mục tiêu ở đây được hiểu một cách rộng rãi, bao gồm sứ mạng, mục đích; còn sự phù hợp với mục tiêu có thể là đáp ứng mong muốn của những người quan tâm, là đạt hay vượt qua các tiêu chuẩn đặt ra Đây là định nghĩa thích hợp và thông dụng nhất khi xem xét các vấn đề của giáo dục
Như đã thấy ở trên , quan niệm "chất lượng là sự phù hợp với mục đích " trùng hợp với quan điểm của các tác giả "Chất lượng giáo dục " (Nguyễn Hữu Châu chủ biên, 2008) Vấn đề là mục đích (mục tiêu) phải được xác định đúng đắn, chính xác
Trang 31Qua các nghiên cứu về khái niệm chất lượng, chúng tôi cho rằng một định nghĩa về chất lượng tỏ ra có ý nghĩa đối với việc xác định chất lượng hoạt động
quản lý đào tạo và cả việc đánh giá nó, đó là: Chất lượng nên được xem là sự phù hợp với mục tiêu Sự phù hợp với mục tiêu có thể bao gồm việc đáp ứng đòi hỏi của
những người quan tâm như các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu giáo dục đại học và toàn thể xã hội Mỗi một trường đại học cần xác định nội dung của sự phù hợp với mục tiêu trên cơ sở bối cảnh cụ thể của nhà trường tại thời điểm xác định mục tiêu đào tạo của mình Sau đó sẽ đặt ra vấn đề làm sao để đạt được các mục tiêu và làm thế nào để thỏa mãn các mục tiêu theo khía cạnh tốt nhất, phù hợp nhất
1.2.4 Khái niệm “quản lý”
Khi nói đến quản lý, ta liên hệ ngay về một tổ chức Tổ chức, theo Từ điển
Từ và Ngữ Việt Nam, là “đoàn thể do nhiều bộ phận họp thành, với mục đích, tôn chỉ, cương lĩnh hoạt động” [18].Từ điển tiếng Việt thông dụng định nghĩa tổ chức là
“tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung” [29] Ở đây chúng ta sử dụng định nghĩa “Tổ chức là một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó, một con người riêng lẻ không thể nào đạt đến” [6 ] Hoạt động quản lý đã xuất hiện và tồn tại ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm
để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ
Sử gia Daniel A.Wren cũng đã nhận định rằng: “Quản lý cũng xưa cũ như chính
con người vậy” [6], nhưng ông cũng chỉ ra rằng chỉ mới gần đây, người ta mới chú
ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần dần hình thành nên các “lý thuyết” quản lý Hiện nay, quản lý là một khoa học được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu khoa học quản lý, vì
vậy cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý được đưa ra
Theo C Marx, “quản lý là lao động điều khiển lao động” Ông cũng khẳng định: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt
Trang 32động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc
thì phải có nhạc trưởng” [14]
Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915), nhà thực hành quản lý khoa học về lao động, đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt
nhất và rẻ nhất” [14]
Henry Fayol (1841- 1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình “hoạt động quản lý” và phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”, mà sau này được kết hợp lại thành bốn chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản
lý được định nghĩa là “tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [14, tr.326]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, thuật ngữ “quản lý” tiếng Việt gốc Hán lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: (1) quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”, (2) quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ thống vào thế “phát triển” Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản”, tức chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ bị trì trệ Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức không bền vững Tóm lại, để hệ thống ở thế cân bằng, tức là hệ thống vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) và các nhân tố bên ngoài (ngoại lực) thì trong “quản” phải có “lý” và
ngược lại trong “lý” phải có “quản” [2]
Từ quan niệm của các học giả nêu trên, và để phù hợp với mục tiêu nghiên
cứu đề tài, luận văn này thống nhất sử dụng khái niệm của Griffin (1998): “Quản lý
là một tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lên kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) để sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài
Trang 33chính, vật chất và thông tin) nhằm đạt được những mục tiêu đề ra của tổ chức một cách có hiệu quả” [1]
Tiếp cận quản lý với tư cách là một hoạt động, chúng ta thấy quản lý có 4 chức năng cơ bản là: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo - chỉ đạo, kiểm tra
- Chức năng lập kế hoạch: Để thực hiện chức năng này, cần làm các công việc
như: nhận dạng và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách thức, biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích của quá trình Mỗi kế hoạch thường chứa đựng các nội dung: (a) xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức; (b) xác định và đảm bảo về các điều kiện, nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu; (c) quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đã đề ra
- Chức năng tổ chức: Đó là quá trình tạo lập các thành phần, cấu trúc, các
quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý và việc sử dụng các nguồn lực của tổ chức Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng, ban cùng các công việc của chúng để thực hiện nhiệm vụ của tổ chức
- Chức năng lãnh đạo – chỉ đạo: Chức năng này bao hàm việc định hướng và
lôi cuốn mọi thành viên của tổ chức thông qua việc liên kết, liên hệ với người khác
và khuyến khích, động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Tuy nhiên, lãnh đạo không phải bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia
- Chức năng kiểm tra: Thông qua chức năng này, một cá nhân, một nhóm
hay một tổ chức có thể theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn cần thiết Đó là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra
có tính chu kỳ từ người quản lý đặt ra những tiêu chuẩn thành đạt của hoạt động, tiếp đó đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn đã đặt ra, sau đó tiến
Trang 34hành những điều chỉnh cần thiết, và cuối cùng có thể hiệu chỉnh, sửa lại những tiêu chuẩn nếu cần thiết
Các chức năng quản lý này không tách rời nhau mà đan xen vào nhau, kết hợp với nhau để thực hiện mục tiêu chung của một quá trình quản lý nhất định
Sơ đồ 1.4: Mối quan hệ giữa các chức năng của quản lý
Tóm lại, trong nghiên cứu của mình, các tác giả đều đã chỉ ra các chức năng
cơ bản của quản lý, bao gồm: dự đoán, kế hoạch hóa, tổ chức, phối hợp, điều chỉnh, động viên, kiểm tra, đánh giá Các chức năng của quản lý nằm trong tổng thể thống nhất, có liên quan chặt chẽ đến nhau, chức năng này là khách thể của một chức năng khác và ngược lại, vì thế nó có mối quan hệ mật thiết và không thể tách rời
1.2.5 Khái niệm “công tác sinh viên”:
Theo tài liệu dịch của Tất Tiểu Bình (2007) CTSV là một bộ phận tổ thành hữu cơ trong tổng thể hệ thống công việc của nhà trường, nó quyết định sự "sống còn" của nhà trường và đồng thời là động lực phát triển của nhà trường Hay CTSV
là những hoạt động hướng vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo chung của nhà trường nhằm thực hiện được sứ mạng của mỗi trường đại học
Lập kế hoạch
Lãnh đạo
- chỉ đạo Kiểm tra
Tổ chức
Trang 351.2.6 Khái niệm “đánh giá hoạt động quản lý công tác sinh viên”:
Vấn đề đánh giá chất lượng hoạt động QLSV được hiểu như là quá trình thu thập thông tin một cách hệ thống nhằm đưa đến sự xem xét về hiện trạng của hoạt động QLSV trong trường đại học
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, đánh giá hoạt động QLSV được hiểu là quá trình thu thập, phân tích và sử dụng thông tin về hiệu quả hoạt động QLSV của bộ phận Chính trị và CTSV trong nhà trường Việc đánh giá này nhằm xác định mức
độ thực hiện các mục tiêu của CTSV, trong đó tập trung đánh giá chất lượng của hoạt động QLSV thông qua phản hồi từ đối tượng chịu sự quản lý – SV của hoạt động này
Trong đề tài này, đánh giá hoạt động QLSV được thể hiện qua ba khía cạnh
về đánh giá mức độ hài lòng của SV về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; công tác hỗ trợ SV; công tác tư vấn hướng nghiệp và việc làm sau tốt nghiệp
1.2.7 Thực trạng chất lượng hoạt động quản lý sinh viên tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
1.2.7.1 Thông tin chung về Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Trường ĐHKHTN thuộc ĐHQGHN được thành lập theo Nghị định số 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ Trường ĐHKHTN là trường đại học hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo cán bộ khoa học cơ bản cho đất nước Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học, trường đã có những đóng góp tích cực, tiên phong trong việc nâng cao chất lượng đào tạo hướng tới chuẩn mực quốc tế Là một trường đại học thành viên của ĐHQGHN, Trường ĐHKHTN luôn luôn là đơn vị trụ cột, có nhiều đóng góp quan trọng trong quá trình xây dựng ĐHQGHN trở thành một trung tâm đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao
1.2.7.2 Công tác sinh viên tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Phải khẳng định lại rằng Trường ĐHKHTN chưa xây dựng được bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV Công tác quản lý này được cụ thể hóa qua chức năng, nhiệm vụ của phòng Chính trị và CTSV
Trang 36Chức năng: Phòng CT&CTSV là đơn vị có chức năng tham mưu, giúp việc
cho Hiệu trưởng về công tác chính trị tư tưởng, công tác tuyên huấn và công tác quảng bá hình ảnh của trường, công tác HSSV trong Nhà trường (người học nói chung)
Thực trạng công tác QLSV đƣợc đánh giá qua các nội dung sau đây:
Hiện tại, ở Trường ĐHKHTN chưa xây dựng được bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới và hội nhập, nhằm thu hút ngày càng nhiều SV giỏi, Đảng ủy, BGH nhà trường đã quan tâm nhiều hơn đến CTSV Theo kết quả đánh giá hàng năm, CTQLSV ở Trường ĐHKHTN đã có những đổi mới và góp phần quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh của nhà trường với cộng đồng và toàn xã hội
Trong suốt thời gian qua, CTQLSV của nhà trường được đánh giá qua các nội dung sau đây:
a) Công tác giáo dục chính trị tư tưởng
Đây là một trong những chức năng giáo dục “đức - trí - thể - mỹ” của CTQLSV Trong đó việc bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho
SV được đặt lên hàng đầu
Trong thời gian vừa qua, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho HSSV đã được Nhà trường đặc biệt coi trọng Đại đa số SV có nhận thức chính trị tốt, hăng say học tập và rèn luyện phẩm chất chính trị, có đạo đức và lối sống lành mạnh, vượt qua những khó khăn trước mắt để vươn lên trong học tập, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, các hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội SV
b) Công tác hỗ trợ việc học tập, nghiên cứu khoa học của SV
Nhìn chung SV của Trường ĐHKHTN hăng say học tập, có thái độ học tập tốt, có tinh thần thi đua trong học tập, có động cơ học tập đúng đắn
SV và cán bộ thực hiện kỷ cương, nghiêm túc trong thi cử Các trường hợp
vi phạm quy chế thi và kiểm tra đều được xử lỷ nghiêm minh, đúng quy định và công khai, góp phần hạn chế việc vi phạm và tạo cho SV có ý thức cao trong mùa thi Kết quả tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc trong các năm học gần đây đạt khá cao
Trang 37Công tác hỗ trợ SV nghiên cứu khoa học được các khoa quan tâm, khuyến khích SV tham gia Hàng năm, các khoa tổ chức tập huấn phương pháp nghiên cứu khoa học cho SV và tổ chức Hội nghị Khoa học SV các cấp SV được tạo điều kiện tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học cùng các thầy và được hỗ trợ về kinh phí, phương tiện để thực hiện Số lượng các báo cáo khoa học tại các Hội nghị Khoa học hàng năm đều tăng lên, số báo cáo được giải cũng ngày một nhiều
c) Công tác quản lý học sinh, sinh viên
CTQL HSSV thực tế rất khó khăn Quản lý về số lượng và chất lượng SV Trước đây, CTQLSV chỉ được hiểu là quản lý về số lượng thông qua hồ sơ SV thậm chí qua danh sách SV
Tuy nhiên, hiện nay công tác quản lý một SV từ khi nhập học đến khi tốt nghiệp đòi hỏi cao hơn về chất lượng Bộ phận quản lý vừa mang trách nhiệm quản
lý vừa mang tráh nhiệm “phục vụ” mà SV là “đối tượng được phục vụ” và là đối tượng “chịu sự quản lý”
Với tư cách là đối tượng phục vụ, những người làm công tác quản lý phải nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của SV để nâng cao chất lượng phục vụ đáp ứng đòi hỏi chính đáng của SV về vật chất và tinh thần
Với tư cách là người chịu sự quản lý, SV chịu sự quản lý về hành chính của Nhà trường thông qua Phòng CT & CTSV bằng các công cụ quản lý nhà nước như văn bản pháp luật, nội quy, quy chế
d) Công tác tư vấn, hướng nghiệp cho SV
Công tác này thực tế là một trong những nhiệm vụ thực hiện việc đào tạo theo 2 hướng của Trường cũng như của ĐHQGHN Theo đó, một hướng đào tạo hàn lâm, tinh hoa phục vụ công tác phát triển khoa học cơ bản của đất nước và một hướng đào tạo theo nhu cầu sử dụng nguồn lao động chất lượng cao của xã hội
Việc tư vấn, hướng nghiệp cho SV được thực hiện thông qua việc xây dựng chuẩn đầu ra, kết nối các nhà tuyển dụng, hiệu chỉnh chương trình đào tạo, v.v
Trước tình trạng khó khăn về việc làm hiện nay, nhiều SV vẫn chưa kiếm được việc làm phù hợp với ngành nghề được đào tạo Nhà trường cũng đã quan tâm
Trang 38tổ chức các cuộc tiếp xúc giữa các cơ quan tuyển dụng với SV Một số cơ quan trực tiếp đến xin SV tốt nghiệp về làm việc và cũng được nhà trường giới thiệu đầy đủ, tuy nhiên số này còn rất ít
Các đơn vị đào tạo và phục vụ đào tạo đã quan tâm, tư vấn góp phần đào tạo toàn diện và nâng cao khả năng có việc làm của SV tốt nghiệp, cung cấp và hỗ trợ những cơ hội, điều kiện phát triển kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm, tư vấn việc làm, tổ chức các hoạt động tình nguyện
Nhìn chung, CTSV ở Trường ĐHKHTN đã có những cố gắng và đạt được những thành công nhất định Song trên thực tế, vì chưa có một bộ chỉ số đánh giá cụ thể cho nên công tác này được đánh giá theo việc thực hiện kế hoạch năm học của Trường Đôi khi, công tác này được đánh giá bằng sự khảo sát trong SV, cán bộ với những tiêu chí thay đổi hàng năm hoặc theo học kỳ
1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Như vậy, việc đánh giá, đo lường một cách cụ thể hiệu quả CTQL còn nhiều bất cập Đặc biệt bất cập dành cho những người trực tiếp làm công tác quản lý khi chưa có một cơ sở lý luận và nền tảng cơ bản để thực hiện việc đánh giá Như vậy không thể đánh giá đúng thực tế để có những cải tiến hợp lý nhằm nâng cao chất lượng quản lý và đổi mới quản trị giáo dục đại học Chính vì vậy, nó trở thành là yêu cầu bức thiết cho việc xây dựng một bộ chỉ số (dù sơ khai nhất) để thực hiện việc đánh giá và qua hoạt động thực tiễn quản lý để cải tiến dần bộ chỉ số để nó ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 39CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC TỰ NHIÊN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2.1 CƠ SỞ XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ
Để tiến hành xây dựng bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV, chúng tôi dựa vào các cơ sở về lý luận và thực tiễn sau đây:
2.1.1 Cơ sở lý luận:
- Lý luận về vai trò của quản lý
- Lý luận về đánh giá chất lượng
- Lý luận về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của CTSV
Từ nghiên cứu đã đưa ra tại chương 1, xuất phát từ thực trạng hoạt động QLCTSV của nhà trường dựa trên nhóm chức năng cơ bản của quản lý mà tác giả cho là quan trọng nhất trong hoạt động QLSV (công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác QLSV, công tác hướng nghiệp và tư vấn việc làm) để làm căn cứ xây dựng
bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV của Trường ĐH KHTN
2.1.2 Cơ sở thực tiễn:
- Quy chế công tác HSSV trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp sửa đổi năm 2006, ban hành kèm theo Quyết định số 1584/GDĐT ngày 27/7/1993 của Bộ GD&ĐT, bổ sung sửa đổi theo theo Quyết định số 39/2000/QĐ- BGDĐT ngày 30/8/2000
- Quyết định số 43-2007-BGDĐT về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”;
- Quy định CTSV ở ĐHQGHN, ban hành kèm theo Quyết định số CTHSSV ngày 18/9/2009 của Giám đốc ĐHQGHN;
2875/QĐ Các yêu cầu của Bộ GD&ĐT trong việc nâng cao chất lượng giáo dục: đánh giá giảng viên, lấy ý kiến phản hồi của SV, nhà tuyển dụng … và các hướng nghiên cứu về lĩnh vực đánh giá giáo dục đại học trong và ngoài nước;
Trang 40- Căn cứ chức năng hoạt động quản lý công tác HSSV tại Trường ĐH KHTN, bao gồm: các yếu tố về mặt chính trị tư tưởng, hoạt động hỗ trợ SV và công tác hướng nghiệp cho SV
Qua kết quả lấy ý kiến chuyên gia, bao gồm chuyên gia trong công tác quản
lý HSSV, BGH nhà trường, lãnh đạo phòng ban/Khoa, cán bộ quản lý phụ trách quản lý HSSV về thực trạng công tác quản lý HSSV tại Trường ĐH KHTN Mục đích: đề xuất các chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động QLSV tại Trường ĐH KHTN, cụ thể như sau:
Khi được hỏi: Cần có những tiêu chí gì phù hợp để đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV của Trường?
Ông Lãnh đạo Đảng ủy – Ban Giám hiệu (54 tuổi): “Điều quan trọng nhất là
về chính trị tư tưởng Một SV có lập trường chính trị tư tưởng vững vàng thì sẽ xây dựng động cơ học tập đúng đắn và có được sự kiên định mục tiêu học tập Kết quả
là chất lượng học tập cao hơn và sản phẩm đầu ra của Trường có chất lượng hơn Vì vậy, bộ tiêu chí nên tập trung đánh giá việc xây dựng và tổ chức các hoạt động liên quan đến chính trị hàng năm cho SV Bên cạnh đó, SV là đối tượng Nhà trường phục vụ, vì vậy bộ tiêu chí cần đánh giá được việc thực hiện công tác quản lý, hỗ trợ, đón tiếp SV thường ngày cũng như các tiêu chí về chế độ chính sách, cấp học bổng trong và ngoài ngân sách nhà nước; việc liên kết với các cơ quan tuyển dụng
để hỗ trợ việc làm cho SV ra trường có việc làm phù hợp với ngành học và có kiến thức sâu rộng về mọi mặt để đáp ứng được nhu cầu xã hội ”
Bà Lãnh đạo Phòng Chính trị và CTSV (38 tuổi):: “Cần xây dựng bộ tiêu chí
trên các đầu mảng hoạt động lớn mà Phòng hiện đang thực hiện đồng thời những mảng nào còn thiếu sót bổ sung thêm để hoàn thiện bộ tiêu chí Phòng mong muốn có bộ tiêu chí rõ ràng đánh giá khách quan nhất về hoạt động QLCTSV để có những cải tiến phù hợp với lý luận và thực tiễn ”
Ông Lãnh đạo Phòng Đào tạo (52 tuổi): “Về mặt đào tạo, khung chương
trình đã có mảng Đào tạo của Trường đánh giá, vì vậy, bộ tiêu chí cần tập trung vào đánh giá việc hỗ trợ và QLSV để thúc đẩy việc học của SV tại Trường như: giáo dục chính trị tư tưởng, QLSV nội/ngoại trú, cung cấp học bổng, việc làm và những
hỗ trợ về vật chất, tinh thần khác cho SV”