1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

uần thể khu di tích Hành cung Tức Mặc - Thiên Trường

172 949 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 5,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó việc nghiên cứu Quần thể khu di tích hành cung Tức Mặc – Thiên Trường là việc làm cần thiết góp phần vào việc bảo vệ, phát hiện, làm sáng tỏ và phong phú thêm các giá trị văn hoá

Trang 2

chương 1: hành cung tức Mặc – thiên trường, kinh đô thứ hai của

quốc gia đại việt thời Trần

Trang 3

3

3.4 Các phương án bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích 104

Trang 4

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của luận văn

1.1 Di tích lịch sử văn hoá là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại

Di tích lịch sử văn hoá là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi vùng đất,

là sản phẩm của lịch sử và được lịch sử khẳng định Di tích lịch sử – văn hoá bao giờ cũng tồn tại trong một không gian và theo một thời gian nhất định, chứa đựng những nội dung lịch sử với các giá trị văn hoá

Cùng với phần giá trị này, ở phần nhiều các di tích, còn có các giá trị về văn hoá tinh thần, văn hoá vô hình Đó là các nghi lễ thờ cúng, lễ hội và các phong tục tập quán gắn với di tích Lễ hội là một sinh hoạt văn hoá tổng hợp, nó

ra đời là do nhu cầu tâm linh, biểu hiện ở việc tôn thờ, lễ cầu thần thánh Mỗi dịp lễ hội ở di tích là dịp tái hiện lịch sử, tái hiện các giá trị văn hoá truyền thống Mỗi dịp lễ hội ở di tích là chiếc cầu nối giữa di tích và cuộc đời [11:16;19;20]

1.2 Tức Mặc là một thôn thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định Đây là vùng đất cổ, còn lưu giữ nhiều giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Đặc biệt nơi đây còn là quê hương, đất phát tích của vương triều Trần, một triều đại đã lập nên nhiều kỳ tích trong thế kỷ XIII, đánh bại đế chế Nguyên Mông, một đế chế hùng mạnh và tàn bạo nhất thời bấy giờ Có thể nói vào thời Trần vùng đất Thiên Trường nói chung, Tức Mặc nói riêng đã trở thành kinh đô thứ hai sau kinh đô Thăng Long Thêm vào đó, trong 3 cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông, vùng đất châu thổ sông Hồng màu mỡ này là căn

cứ địa nổi tiếng đã từng cung cấp nhân tài, vật lực góp phần cho cuộc kháng chiến thắng lợi

Trang 5

5

Trải qua thời gian, những dấu tích cung điện xưa chỉ còn là phế tích Nhưng những công trình tín ngưỡng, tôn giáo và những giá trị văn hoá lưu giữ trong đó cùng các địa danh như Thiên Trường, Trùng Quang, Trùng Hoa, Phổ Minh…và các di vật khảo cổ học như đầu rồng, phượng, ngói mũi hài, chân tảng đá…đủ để các thế hệ sau hình dung được phần nào dáng vẻ của một đô thị phồn hoa xưa Hiện nay những công trình đó vẫn là trung tâm tín ngưỡng, góp phần quan trọng về sự ổn định, phát triển, bình an của cư dân nơi đây

1.3 Hiện nay việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử

– văn hoá Trần trên địa bàn tỉnh Nam Định vẫn được các cấp ngành quan tâm

sâu sắc Do đó việc nghiên cứu Quần thể khu di tích hành cung Tức Mặc –

Thiên Trường là việc làm cần thiết góp phần vào việc bảo vệ, phát hiện, làm

sáng tỏ và phong phú thêm các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, đồng thời tạo cơ sở cho công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, quy hoạch đô thị gắn với cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái…

dư chí mục lục của Nguyễn Ôn Ngọc, Nam Định tỉnh địa dư chí của Ngô Giáp

Đậu…Mặc dù chỉ nêu một số nét khái quát về lịch sử xây dựng, kiến trúc, nhân vật thờ nhưng có thể thấy hầu hết các cuốn sách này đều thừa nhận quần thể khu

di tích lịch sử – văn hoá Trần ở Tức Mặc giữ một vai trò đặc biệt quan trọng ở Nam Định Cũng chính vì thế mà chùa Phổ Minh lần đầu tiên được ghi nhận là đại danh lam trong Hồng Đức đồ bản và sau đó được Viện Viễn Đông Bác cổ xếp hạng di tích số 63

Kể từ năm 1970 cho đến nay, công việc khảo cổ tại các di tích Trần ở Nam Định đã đạt được nhiều kết quả với sự tham gia của nhiều cơ quan chuyên

Trang 6

môn như: Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Viện Khoa học kỹ thuật xây dựng, Viện khảo cổ học Việt Nam…Tuy nhiên, qua gần 20 bản báo cáo khảo cổ hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Nam Định có thể thấy từ năm 1970 cho đến nay công việc khảo cổ hầu hết chỉ là các cuộc đào thám sát hoặc khai quật với quy mô nhỏ và

có phần bị động Các nhận xét đưa ra vẫn mang tính phỏng đoán chứ chưa có tính thuyết phục cao, bởi còn thiếu nhiều tư liệu xác thực

Cuộc hội thảo khoa học: “Thời Trần và Hưng Đạo đại vương trên quê

hương Nam Định” được tiến hành vào năm 1995 đã có hơn 30 giáo sư, tiến sĩ,

các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: quân sự, sử học, khảo cổ, văn học, mỹ thuật…tham dự Xu hướng chung của các bài tham luận trong hội thảo này đều thống nhất đánh giá cao về thân thế, sự nghiệp của người anh hùng Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Định Một số tác giả đã nghiên cứu nhà Trần dưới nhiều khía cạnh khác nhau, đưa ra những nhận định chung về vị trí của thời đại nhà Trần trong tiến trình lịch sử Việt Nam, nhất là chính sách thân dân, sử dụng nhân tài, giáo dục, phát triển kinh tế…

Tập hồ sơ về di tích lịch sử văn hoá khu di tích đền Trần – chùa Tháp hiện đang lưu giữ tại Ban quản lý di tích tỉnh Nam Định mặc dù chỉ là hồ sơ pháp lý chứ chưa là hồ sơ khoa học cũng đã đóng góp nhiều nguồn tư liệu quan trọng về kiến trúc, lễ hội của từng di tích Trên cơ sở của bộ hồ sơ nói trên cùng với nguồn tư liệu dân gian, tác giả Hồ Đức Thọ đã biên soạn hai cuốn sách mang

tựa đề: “Chùa Phổ Minh với Giác hoàng Trần Nhân Tông” và “Trần miếu - Di

sản và tín ngưỡng dân gian”

Riêng đối với chùa – tháp Phổ Minh, một công trình được xây dựng từ thời Lý, Trần, trải qua nhiều lần tu sửa cho đến tận ngày nay vẫn bảo lưu được các giá trị nguyên gốc thì đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

về tôn giáo, mỹ thuật, kiến trúc, sử học…Chí ít từ năm 1927, trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (école francaice d’ Extreme Orient) đã đưa chùa vào danh sách liệt hạng Cho đến năm 1944 học giả người Pháp là L.Bezacier đã nhắc đến chùa

Trang 7

7

Annamite) Sau này ông đã nghiên cứu bổ xung trong cuốn: “Nghệ thuật Việt

Nam” (L’Art Vietnamien) Trong các công trình nghiên cứu này, ông đã đề cập

tới một số thành phần kiến trúc và nghệ thuật tiêu biểu của ngôi chùa Từ năm

1954 đến nay, với sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như: Chu Quang Trứ, Nguyễn Hồng Kiên, Nguyễn Du Chi, Hà Văn Tấn, Nguyễn Xuân Năm…nên chùa Phổ Minh càng được nhận diện đầy đủ và chi tiết hơn Trong đó đặc biệt là luận án Tiến sĩ ngành Khảo cổ về chùa Phổ Minh của Nguyễn Xuân Năm đã nghiên cứu khá đầy đủ về những vấn đề lịch sử xây dựng, các hạng mục công trình kiến trúc

Mặc dù các công trình nghiên cứu trên là những cơ sở rất quan trọng cho chúng tôi đi sâu nghiên cứu về quần thể khu di tích hành cung Tức Mặc – Thiên Trường Tuy nhiên các công trình này đều tập trung nghiên cứu những vấn đề riêng lẻ hoặc từng phần mà chưa có công trình nào tổng hợp đầy đủ về hệ thống các di tích lịch sử văn hoá, xác định rõ các đặc trưng về giá trị di tích Cũng không có công trình nào nêu được mối liên quan của di tích đối với sự hình thành và phát triển của mảnh đất con người địa phương cũng như tầm ảnh hưởng của di tích đối với phong tục tập quán và đời sống kinh tế, chính trị của người dân

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Tìm hiểu, khảo sát cụ thể về mảnh đất Tức Mặc để tìm hiểu về mối quan hệ của mảnh đất Tức Mặc xưa đối với vương triều Trần và sự nghiệp của nhà Trần nói chung Cụ thể hơn là tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh

tế – xã hội của vùng đất Tức Mặc từ khi hình thành đến khi nhà Trần xây dựng hành cung Nêu lên được quy mô, bố trí các cung Trùng Quang, Trùng Hoa và các cung điện liên quan để từ đó nghiên cứu về vai trò của vùng đất Tức Mặc nói riêng, Thiên Trường nói chung với vương triều Trần

3.2 Nghiên cứu về niên đại ra đời, số lần trùng tu, cách thức xây dựng, quy mô kiểu dáng kiến trúc cùng các hoạt động văn hoá lễ hội của từng di tích:

Trang 8

đền Thiên Trường, đền Cố Trạch, đền Trùng Hoa, chùa Phổ Minh để làm rõ các giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật, về giá trị lịch sử và văn hoá

3.3 Trên cơ sở những tư liệu lịch sử, tư liệu dân gian kết hợp với các công trình di tích hiện vẫn đang tồn tại để đưa ra những định hướng bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị của quần thể di tích Tức Mặc – Thiên Trường nói riêng và các di tích Trần trên toàn tỉnh nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tức Mặc, Thiên Trường là tên gọi của hai địa danh bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XIII và gắn với cả một thời kỳ hưng thịnh của vương triều Trần

Nói tới phủ Thiên Trường thời Trần là nói tới vùng đất rộng lớn bao gồm miền hữu ngạn sông Hồng và một phần tả ngạn huyện Thư Trì (Thái Bình), tương đương với thành phố Nam Định, các xã phía nam huyện Mỹ Lộc và huyện Nam Trực của tỉnh Nam Định ngày nay Trải qua hơn bảy thế kỷ với bao lần chia tách địa giới hành chính, tên gọi Thiên Trường hiện nay chỉ còn lưu lại trong sử sách

Nói tới Tức Mặc là nói tới một hành cung thủ phủ của phủ Thiên Trường, tuy nhiên đến nay, tên gọi và địa dư đó vẫn không có nhiều sự thay đổi Mặc dù các cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa xưa chỉ còn là phế tích nhưng những công trình tôn giáo, tín ngưỡng còn tồn tại đến ngày nay cùng những giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, văn hoá chứa đựng bên trong sẽ góp phần làm tái hiện cả một quá trình hình thành và phát triển của mảnh đất con người nơi đây

Chính vì thế, nghiên cứu quần thể di tích hành cung Tức Mặc – Thiên Trường, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu các di tích liên quan đến nhân vật, sự kiện nhà Trần trên mảnh đất Tức Mặc ngày nay Ngoài ra chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu các mảnh đất, các di tích lịch sử văn hóa liên quan để làm rõ

Trang 9

có gắng tìm hiểu, trình bày một cách cụ thể thực trạng khu di tích

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Tiến hành khảo sát, điền dã thực tế kết hợp với các nguồn tư liệu địa phương như truyền thuyết, thần phả, thần tích của các đình, đền làng Tức Mặc,

Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ… để xác định địa hình, địa vật, sự thay đổi địa giới của mảnh đất, con người Tức Mặc nói riêng, Thiên Trường nói chung

So sánh giữa thực tế hiện nay và miêu tả trong sử sách

5.2 Sử dụng các tài liệu chính sử như: Đại Việt sử ký toàn thư, An Nam

chí lược, Đại Nam nhất thống chí, Thơ văn Lý – Trần…để phục dựng lại quy

mô, diện mạo, vai trò của một hành cung xưa Bên cạnh đó, kết quả của các cuộc khai quật khảo cổ học từ những năm 1970 đến nay không chỉ góp phần làm sáng

tỏ các vấn đề trên mà còn cung cấp thông tin chính xác vị trí, kích thước, bình

đồ kiến trúc cùng cách thức xây dựng hệ thống cung điện vào thế kỷ XIII

5.3 Sử dụng các sách địa chí của địa phương như: Nam Định tân biên

chí lược của Khiếu Năng Tĩnh; Nam Định tỉnh địa dư của Nguyễn Ôn Ngọc; Nam Định tỉnh địa dư chí mục lục của Ngô Giáp Đậu cùng các tài liệu về văn

bia, câu đối, đại tự hiện đang lưu giữ tại di tích để khai thác được các nội dung như niên đại ra đời, thời điểm trùng tu, quy mô cấu trúc xây dựng, đối tượng được thờ, những người tham gia đóng góp xây dựng, quy định cách thức tế lễ và một số quy định khác liên quan đến cuộc sống văn hoá - xã hội của người dân

Trang 10

5.4 Luận văn đã tập hợp, kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước về khu vực đền Trần – chùa Phổ Minh, các công trình nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, quân sự của nhà Trần để miêu tả lịch sử, luận giải các vấn đề Các bộ hồ sơ quản lý di tích lịch sử văn hoá của Ban quản lý di tích

và danh thắng tỉnh Nam Định để đưa ra thực trạng quản lý di tích hiện nay

5.5 Từ Quyết định số 252/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử – văn hoá thời Trần tại tỉnh Nam Định đến năm 2015, luận văn đã tham khảo các báo cáo, giải trình của các cuộc hội thảo khoa học về các vấn đề trên; các quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt; tốc độ xây dựng, quy mô của các thành phần dự án để đưa ra các phương hướng bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Luận văn đã làm rõ được những điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh

tế xã hội của vùng đất Tức Mặc thuận lợi cho nhà Trần dấy nghiệp Sau này vùng đất này được nhà Trần xây dựng trở thành căn cứ chiến lược, một trung tâm chính trị lớn thứ hai sau kinh đô Thăng Long

6.2 Giới thiệu về lịch sử hình thành, quá trình tu sửa, quy mô và hiện trạng của từng di tích để từ đó nêu bật lên giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, văn hoá

6.3 Cung cấp những thông tin về xuất xứ, thân thế, công trạng của nhân vật thờ Cách thức bài trí thờ tự trong từng di tích, mối liên quan của nhân vật thờ đối với di tích và địa phương, vị trí của nhân vật thờ trong đời sống tâm linh

6.4 Làm rõ thời gian, không gian tổ chức lễ hội, ý nghĩa lễ hội và những nghi thức, trò chơi dân gian diễn ra trong lễ hội liên quan trực tiếp đến nhân vật thờ tại di tích

Trang 11

7 Kết cấu luận văn:

Luận văn dày 174 trang, trong đó phần mở đầu 8 trang, phần kết luận 4 trang, tài liệu tham khảo 6 trang, phụ lục 55 trang Riêng phần nội dung chính gồm 101 trang, được chia làm 3 chương:

Chương 1: Hành cung Tức Mặc – Thiên Trường, kinh đô thứ hai của quốc gia Đại Việt thời Trần Trong chương này, luận văn tập trung trình bày các vấn đề về sự hình thành, phát triển mảnh đất con người Tức Mặc Quy mô, diện mạo của hành cung Tức Mặc khi nhà Trần xây dựng cũng như vị trí, vai trò của hành cung Tức Mặc trong sự nghiệp của vương triều Trần

Chương 2: Khu di tích Tức Mặc – Thiên Trường: lịch sử và hiện trạng

sẽ trình bày về lịch sử xây dựng, niên đại trùng tu, hiện trạng, sơ đồ bản vẽ kỹ thuật, sơ đồ bài trí thờ tự và các lễ hội diễn ra tại khu di tích Từ các mô tả cụ thể trên kết hợp với việc nêu khái quát thân thế, mối liên quan của nhân vật thờ đối với khu di tích, lý giải ý nghĩa của việc thờ tự, ý nghĩa của các lễ hội để đưa ra những nhận xét, những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, kiến trúc nghệ thuật của khu di tích

Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích Tức Mặc – Thiên Trường sẽ đánh giá khái quát giá trị khu di tích và vai trò của khu di tích đối với

sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Từ đó đưa ra các phương án bảo tồn, tôn tạo

và phát huy giá trị các di tích Trần trên địa bàn tỉnh Nam Định nói chung, khu vực trung tâm là đền Trần – chùa Phổ Minh nói riêng; các phương án quy hoạch tổng thể cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái, quy hoạch đô thị đã được chính phủ phê duyệt

Trang 12

Phụ lục 1: Tư liệu Hán – Nôm tại di tích Tại phần này sẽ sao chép, phiên âm, dịch nghĩa toàn bộ hệ thống văn bia, câu đối, đại tự hiện lưu giữ tại di tích

Phụ lục 2: ảnh tư liệu về hành cung Tức Mặc – Thiên Trường, từng hạng mục di tích, về các cuộc khai quật khảo cổ học, lễ hội cùng các di vật tiêu biểu của di tích

Trang 13

13

Chương 1

Hành cung Tức Mặc – Thiên trường, kinh đô thứ hai của quốc gia

đại việt thời trần 1.1 Làng Tức Mặc, quê hương nhà Trần

Nằm ở phía nam của đồng bằng châu thổ sông Hồng, làng Tức Mặc thuộc phường Lộc Vượng là một trong những địa phương thuộc vùng đất cổ của tỉnh Nam Định Do điều kiện thuận lợi của nghề trồng lúa nước, nơi đây đã trở thành một trung tâm nông nghiệp từ rất sớm Cuốn Thần phả đền Khang Kiện được viết năm Hồng Phúc thứ nhất(1572) đã nói đến việc gia đình ông Phạm Khang cùng các dòng họ về đây lập nghiệp dưới thời Hùng Vương Thời kỳ Bắc thuộc, tại đây đã diễn ra các cuộc khởi nghĩa của Phạm Thục Côn, người đã cùng cha mình chiêu mộ nhân dân ủng hộ cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng Sau Mã Viện đem quân sang đánh dẹp, bà đã tuẫn tiết cùng Hai Bà Trưng [56];[6]

Thế kỷ thứ X, vùng đất Tức Mặc ngày nay nói riêng, Mỹ Lộc nói chung là địa bàn hoạt động của sứ quân Trần Lãm Nối tiếp chí hướng của Trần Lãm, Đinh Bộ Lĩnh đã khéo léo kết hợp lực lượng của vùng Hoa Lư (Ninh Bình) hiểm yếu với tiềm năng nhân lực, vật lực, giao thông của vùng đất này để quy tụ sức mạnh, tiến hành công cuộc thống nhất đất nước Điều dễ dàng nhận thấy tại quanh khu vực này có nhiều dấu ấn liên quan đến các nhân vật lịch sử nhà Đinh như Trần Lãm, Trần Dũng Lược… Như vậy trước khi nhà Trần lên ngôi, vùng đất Thiên Trường nói chung, Tức Mặc nói riêng đã có một nền kinh

tế phát triển Cuốn ngọc phả Đinh triều gia tướng hiện đang lưu giữ tại đình

thôn Đệ Tam – Mỹ Lộc cho biết: thân phụ của một gia tướng nhà Đinh tên là Trần Dũng Lược lúc sinh thời có qua vùng đất này, thấy nơi đây dân cư thuần phác, kinh tế no đủ nên định cư tại đấy Sau này tướng nhà Đinh là Nguyễn Bặc

Trang 14

lại qua nơi này chiêu tập quân sĩ, tích cóp lương thực giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân.[18];[19]

Sang thời Lý, triều đình đã coi vùng nam đồng bằng sông Hồng là một vựa lúa, lập hai hành cung để đôn đốc việc cày cấy đó là hành cung ứng Phong

và hành cung Lý Nhân Cũng chính tại nơi đây đã là nơi xây dựng các công trình văn hoá lớn của đất nước lúc bấy giờ Ngoài tháp Chương Sơn là mảnh đất thiêng thường được vua Lý ghé thăm thì chùa Phổ Minh nơi đặt vạc Phổ Minh, một công trình bằng đồng nặng ngàn quân Cùng với tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên thì vạc Phổ Minh là một trong tứ đại khí của quốc gia Đại Việt Từ đó có thể khẳng định Phổ Minh là một trong những đại danh lam của nước ta từ lúc bấy giờ cũng như khẳng định vị thế quan trọng của vùng đất Tức Mặc trong giai đoạn này Căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu cho thấy phủ Thiên Trường xưa có tên là lộ Hải Thanh thời Lý Sau đó sang thời Trần, vua Trần Thái Tông đổi tên là Thiên Thanh Năm 1262, vua Trần Thánh Tông đổi tên Thiên Thanh thành lộ Thiên Trường.[56];[47:375]

Cuốn Trần thị gia huấn cũng cho biết tổ tiên nhà Trần ở châu Mân (Trung Quốc) vượt biển đi về phương Nam để dựng cơ nghiệp Khi đến vùng Khang Kiện, thấy thế đất vòng vo kiểu thuỷ tinh phù mộc, mạch đi chữ càn liên tiếp, cho là đất phát vương, bèn lập nhà tại đó, nối đời tích cóp âm công, sinh ra người giỏi.[63]

Cũng nhờ những điều kiện về phát triển đó mà trong giai đoạn nhà Lý bước vào thời kỳ suy thoái thì dòng họ Trần ở đây bắt đầu hưng thịnh và nổi lên Năm 1209, cùng với sự kiện loạn Quách Bốc, Thái tử Sảm nhà Lý phải bỏ kinh thành chạy về Hải ấp, lánh nạn trong gia đình Trần Lý thì cũng là lúc dòng họ

Trần bắt đầu bước lên vũ đài chính trị “ Nhà Trần Lý nhờ nghề đánh cá nên

giàu, người quanh vùng theo về…Thái tử đã lấy con gái của Lý, trao tước Minh

tự, phong cho cậu người con gái ấy là Tô Trung Tự làm Điện tiền chỉ huy sứ

Trang 15

15

chính thống Trừng trị bọn Quách Bốc làm loạn, xử tội theo mức độ khác nhau

”[13:334] Buổi đầu họ Trần tăng cường lực lượng ở hai mặt, một mặt mở rộng

sự khống chế, kiểm soát ở những vùng đông dân nhiều của ở hạ lưu sông Hồng

và mặt khác tìm cách đưa người vào nắm các chức vụ chủ chốt trong triều đình Những Trần Lý, Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thủ Độ…đều là tể tướng, điện suý, ra sức củng cố quyền lực, khống chế triều đình rồi cuối cùng buộc Lý Chiêu Hoàng thoái ngôi, nhà Trần thành lập

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vùng đất Tức Mặc thuộc Thừa tuyên Thiên Trường, sau đó 3 năm đổi thành Thừa tuyên Sơn Nam Đến năm Hồng Đức thứ 21 (1490) đổi thành xứ Sơn Nam, đến thời Hồng Thuận (1509 - 1516) đổi là Trấn Dưới thời Lê Trung Hưng năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) chia làm Sơn Nam hạ, Sơn Nam thượng Tức Mặc thuộc Sơn Nam hạ Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), đổi trấn Sơn Nam hạ thành trấn Nam Định Đến năm 1832 chính thức đặt tỉnh Nam Định

Trước năm 1945, Tức Mặc là một trong 8 xã thuộc tổng Đông Mặc, huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định Tháng 3 năm 1946, nhà nước bỏ cấp tổng đồng thời lập các xã mới trên cơ sở sáp nhập một số xã cũ do đó xã Tức Mặc chuyển thành thôn, hợp với thôn Vĩnh Trường thành xã Lộc Vượng Năm 1947, xã Lộc Vượng mở rộng diện tích sáp nhập thêm các thôn Hậu Bồi, La, Đông Kính Cho đến nay, thực hiện Nghị định số 17/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ về việc chuyển xã Lộc Vượng thành phường Lộc Vượng trực thuộc thành phố Nam Định Phường Lộc Vượng hiện nay có 5 thôn làng là Tức Mặc, Đông Kính (Kênh), Vĩnh Trường, Thượng Lỗi, Bái

Trải qua thời gian, mặc dù chia ra rồi lại sáp nhập vào nhiều xã, tổng, huyện khác nhau nhưng theo người dân nơi đây, cương vực địa giới làng Tức Mặc vẫn không thay đổi Làng Tức Mặc hiện nay có vị trí địa lý là: phía đông giáp xã Lộc Hạ, phía nam giáp làng Vĩnh Trường, phía tây giáp làng Đông Kính (Kênh), phía Bắc giáp làng Hậu Bồi thuộc xã Mỹ Phúc Hiện nay cả làng Tức

Trang 16

Mặc có khoảng 500 hộ dân với dân số khoảng 1200 người Nghề nghiệp truyền thống của các cư dân nơi đây là nông nghiệp và buôn bán nhỏ Các nghề thủ công được làm với quy mô nhỏ lẻ, mang tính thời vụ

Tại làng Tức Mặc có 3 ngôi đền, 1 ngôi chùa và 1 ngôi đình Đình làng Tức Mặc nằm tại vị trí trung tâm làng, là nơi thờ vị Đương cảnh thành hoàng Phạm Thục Côn, người đã có công chiêu tập binh mã phò giúp Hai Bà Trưng khởi nghĩa Còn các di tích còn lại đều là những di tích liên quan đến các nhân vật, sự kiện lịch sử nhà Trần

1.2 Nhà Trần xây dựng hành cung trên quê hương Tức Mặc

Là mảnh đất nằm sát cạnh thành phố Nam Định, cũng dáng bình dị đơn

sơ như nhiều vùng quê khác nhưng Tức Mặc lại mang một niềm tự hào riêng mà không nơi nào có được Vùng đất này xưa kia có tên là Tráng Kiện Trước nhà Trần có tên là Khang Kiện, khi vua Trần ở vùng này đổi ra xã Tức Mặc [56] Nói đến phủ Thiên Trường thời Trần là nói đến một hệ thống các cung điện, điền trang thái ấp trải rộng toàn bộ thành phố Nam Định ngày nay và cả khu vực

Lý Nhân, Hà Nam ngày nay Còn nói tới Tức Mặc là nói tới một làng quê gốc, phát tích của vương triều Trần Là nơi trung tâm, đầu não của phủ Thiên Trường, nơi được xây dựng cung Trùng Quang để Thái Thượng hoàng nghỉ, cung Trùng Hoa để các vua Trần tự quân mỗi lần về bái yết vua cha nghỉ ngơi tại đó Đây cũng là nơi ban định triều nghi, ra những quyết sách quan trọng cho Đại Việt thế kỷ XIII-XIV, trở thành kinh đô thứ hai của nhà Trần Trải qua thời gian, tại Nam Định, vùng đất Thiên Trường nói chung, Tức Mặc nói riêng vẫn còn lưu giữ nhiều vết tích, các địa danh mang nhiều ý nghĩa lịch sử mà tên của chúng vẫn không thay đổi mặc dù trải qua bao biến động thời gian

Năm 1226, nhà Trần lên ngôi, làng Tức Mặc là quê hương gốc nên đặc biệt được quan tâm Năm 1239 nhà vua cho dựng cung điện ở đây để lấy chỗ đi lại về chơi thăm Công việc này được giao cho quan Nhập nội Thái phó Phùng

Trang 17

17

Thiên ứng chính bình, vua sai Phùng Tá Chu sửa gia từ ở đất Khang Kiện, mở rộng thêm ra, phía đông dựng cung Thiên Trường kiểu cách như Thăng Long để

ở, phủ đệ của các Vương, Hầu cũng được xây dựng tu sửa ”[63]

Ngay sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất (1258), vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho con ở tuổi 41, mở đầu cho chế độ Thái Thượng hoàng và vua Tự quân ở Việt Nam Đây là một chính sách độc đáo nhằm kết hợp kinh nghiệm trị nước của vua cha với việc đào tạo huấn luyện cho người kế nghiệp Chính vì vậy mà khi nhường ngôi nhưng quyền hành chính và những quyết định quan trọng vẫn nằm trong tay vua cha Chính sách này cũng là phòng ngừa những người trong hoàng tộc có thể tranh cướp ngôi của nhau

Sau khi nhường ngôi, Thượng hoàng Trần Thái Tông lập tức bắt tay vào

việc mở rộng hành cung Tức Mặc: “Tháng hai năm Nhâm Tuất (1262), Thượng

hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc, ban tiệc lớn Các hương lão từ 60 tuổi trở lên được ban hai tư, đàn bà được hai tấm lụa đỏ Đổi hương Tức Mặc thành phủ Thiên Trường, cung gọi là Trùng Quang Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu gọi là Trùng Hoa Lại làm chùa phía tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh Từ đó về sau, các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này Do đó đặt sắc dịch hai cung để hầu hạ, lại đặt quan lưu thủ để trông coi”[14:33] Phủ Thiên Trường bấy giờ là cả một vùng rộng lớn thuộc

miền hữu ngạn hạ lưu sông Hồng và một phần tả ngạn ở huyện Thư Trì, Thái Bình [1:140], tương đương với thành phố Nam Định, các xã phía nam huyện Mỹ Lộc, huyện Nam Trực (Nam Định) và vùng đất phía nam huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình hiện nay Tức Mặc với hai cung Trùng Quang, Trùng Hoa chính là thủ phủ của đất Thiên Trường Bao quanh hai cung Trùng Quang và Trùng Hoa

là các cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, Lan Hoa, cùng các điền trang thái

âp dành cho các vương phi, công chúa và hoàng thân quốc thích: “Sau gia miếu

thì khu Lộc Quý dành cho Trung Vũ vương Trần Thủ Độ, Bảo Lộc dành cho

Trang 18

Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, khu Thiên Bồi dành cho Chiêu Minh vương

Trần Quang Khải, tất cả đều đặt thành ấp thang mộc, dân tạo lệ”[63]

Phủ Thiên Trường được coi là một phủ quan trọng sau kinh đô Thăng Long Theo quy định

nhà Trần, đứng đầu phủ Thiên Trường là chức An phủ sứ Những viên quan đảm trách chức

vụ này phải là người đã từng qua trị nhậm ở các lộ khác, đủ lệ khảo duyệt thì mới được vào

làm An phủ sứ Thiên Trường Đảm đương trọng trách ở Thiên Trường cũng là thử thách bước

đầu Như vậy những người được giao trọng trách An phủ sứ Thiên Trường phải là người có

phẩm cách tốt, từng trải và có thực tài Một trong những người tiêu biểu giữ chức vụ này là

Phí Trực Ông là người có tài xét xử, đã từng xử thành công vụ án Văn Khánh – kẻ cầm đầu

đảng nghịch, được Thượng hoàng Trần Anh Tông rất khen ngợi Vì thành tích đó, năm 1317,

Phí Trực được phong làm Thừa bộ lang trung kiêm giữ chức An phủ sứ Thiên Trường

Đứng ở vị trí thứ hai sau kinh đô Thăng Long, hành cung Thiên Trường

sớm trở thành một trung tâm văn hoá Bao quanh cung điện còn làng Liễu Nha

trước kia là vườn liễu, làng Lựu Phố trước kia là vườn lựu, làng Phương Bông là

nơi múa hát phục vụ cung đình, làng Văn Hưng là nơi bình văn thơ Cuốn Trần

Thị gia huấn cho biết: “Làm nội cung để cho các hậu ở, làm nội khố để dự trữ

tiền lương…Phía sau cung ở bờ bắc sông Vĩnh lập cung Hoa Nha và đặt văn

miếu”[63] Đặc biệt việc học hành thi cử trên đất Thiên Trường đã khởi sắc từ

Trang 19

19

của Nguyễn Ôn Ngọc viết : “Văn miếu của huyện Mỹ Lộc được xây từ thời Trần

Thái Tông tại bộ phận xã Hoa Nha nay là làng Liễu Nha, tạc tượng thánh và tượng tiên hiền để vua thân hành đến lễ”[44] Chính vì thế mà từ mảnh đất này

đã đào tạo và nuôi dưỡng nên những nhân tài kiệt xuất lúc bấy giờ như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật…cùng những vị Trạng nguyên tuổi trẻ tài cao như Nguyễn Hiền, Trần Đạo Tái…

Bên cạnh việc xây dựng các công trình đền đài, cung điện nhà Trần cũng chú ý đến việc xây dựng một hệ thống giao thông thuỷ bộ thuận lợi bao quanh khu vực Thiên Trường Tức Mặc lúc bấy giờ là một vùng gần biển, có hệ thống sông ngòi chằng chịt Ngoài hai con sông lớn là sông Hồng và sông Đáy nằm hai bên, còn có một hệ thống các sông nhỏ đan xen như sông Vĩnh, sông Châu Giang, sông Sắt Từ kinh đô Thăng Long có thể xuôi theo dòng sông Nhị (sông Hồng), rẽ vào sông Đại Hoàng, sông Vĩnh Tế là tới Tức Mặc [29:7] ở đây cũng cần phải nói rõ tầm quan trọng của con sông Vĩnh Giang (Vĩnh Tế) đối với nhà Trần bấy giờ Từ kênh Phụ Long, sông Vĩnh Giang chảy qua các cung Đệ Nhị sang cung Đệ Nhất, cung Đệ Tam, làng Văn Hưng vòng qua Liễu Nha lên cung Trùng Quang, Trùng Hoa rồi chảy tiếp qua chùa Phổ Minh, qua làng Hậu Bồi, Phú ốc để cuối cùng đổ vào kênh Tiểu Cốc, nhập vào dòng An Tiêm Dòng sông Vĩnh đã nối toàn bộ các cung điện, cùng hệ thống điền trang thái ấp của các quan lại nhà Trần với nhau, trở thành con đường du ngoạn của vương phi

công tử nhà Trần Cuốn An Nam chí lược của Lê Tắc đã tả về khung cảnh Thiên Trường như sau: “ở đây, nước triều quanh thành, hoa cỏ bên bờ tươi tốt, mùi

hương xông ngát, có những thuyền hoa trang hoàng đẹp đẽ qua lại trên sông như cảnh tiên vậy”[50:7] Không chỉ có vậy, sông Vĩnh Giang còn là con

đường thuỷ chiến lược của nhà Trần Nó không chỉ nối liền giữa Tức Mặc và sông Hồng mà còn nối liền Tức Mặc với Trường Yên, ra cửa Đại An, vào khu vực Thanh Hoá, Nghệ An Cũng chính từ vị trí quan trọng của con sông này mà sau này nhà Trần đã cho đào một con kênh mới từ Phụ Long (thành phố Nam Định), nơi bắt đầu của sông Vĩnh Giang, qua đất Vị Hoàng để dòng sông không

Trang 20

quanh co, rút ngắn đường đổ vào sông An Tiêm Sự ra đời của con sông Vị Hoàng (kênh sống Phụ Long) thời Trần là một việc mở rộng giao thông, cần thiết cho chiến lược, tạo điều kiện cho sự phát triển của quân doanh Vị Hoàng vào thế kỷ XVII-XVIII sau này

Hiện nay, nhân dân phường Lộc Vượng vẫn còn lưu truyền về một con sông nhỏ mang tên Hàm Rồng, bắt nguồn từ sông Vĩnh Giang chảy theo hình tay ngai nối liền khu vực Tức Mặc thành một vòng tròn khép kín Vết tích của dòng sông này bây giờ là các thùng ruộng trũng sâu bắt đầu từ khu vực cánh đồng Cửa Triều cách khu vực đền Trần về phía đông khoảng 50m vòng lên làng Liễu Nha (Mỹ Phúc) sang khu vực làng Đệ Tam (Mỹ Phúc) vòng về khu vực Chùa Trắng (Bảo Lộc), lại tiếp tục sang làng Hậu Bồi, chảy qua cầu Quan Âm thuộc chùa Phổ Minh rồi vòng về làng Tức Mặc Trên cương vực dòng sông này, trong quá trình làm ruộng, canh tác, nhân dân địa phương đã đào thấy nhiều mảnh sành, gạch ngói, đồng tiền mang niên đại Trần

Kết quả thám sát khảo cổ ở bãi Hạ Lan năm 1995, một khu đất cách đền Trần khoảng 500m về phía đông, trên phạm vi của bờ sông Vĩnh Giang xưa đã tìm thấy nhiều gốm sứ, tiền đồng cổ có xuất xứ từ Trung Quốc như Thiên Thánh nguyên bảo là tiền của triều vua Tống Nhân Tông (1028 - 1033); Chính Hoà thông bảo là tiền của triều vua Tống Huy Tông (1111 - 1117)…Ngoài ra dấu vết của các tầng văn hoá có thể cho nhận xét bước đầu rằng vào thế kỷ XIII – XIV, khu vực này không chỉ là nơi có chứa thóc gạo hoặc xay xát thóc gạo, mà còn là một bến đỗ trao đổi buôn bán hàng hoá giữa các địa phương và nước ngoài phục

vụ cho hành cung Thiên Trường mà đường thuỷ đóng vai trò quan trọng[24] Ngoài ra, trong lần khai quật một hồ nước nằm sát cạnh đền Cố Trạch vào năm

2005 đã tìm thấy một loạt cột lim đường kính từ 15cm đến 25cm, dài khoảng 1,5m đến 2,5m được đóng theo chiều thẳng đứng Theo ý kiến các nhà chuyên môn, có thể nơi đây xưa kia là một bến neo đậu thuyền

Trang 21

21

Nhà Trần mất ngôi vào năm 1400 Trải qua thời gian cùng những biến động lịch sử, những cung điện, công trình kiến trúc xưa kia đã hoàn toàn bị chôn vùi Những gì còn tồn tại cho đến ngày nay chỉ là những địa danh còn mang nhiều ý nghĩa lịch sử như Kho Nhi, Nội Cung, Cửa Triều…cùng các lớp di vật phong phú còn nằm trong long đất[7];[8];[9];[25];[26];[28];[60] Các cuộc khai quật khảo cổ học cho thấy khu vực đền Trần – chùa Tháp, nơi mà trước đây tồn tại hai cung điện Trùng Quang và Trùng Hoa là khu đất cao nhất Cách khu vực trên chừng 200m về phía nam là vùng trũng, thuyền bè có thể đi lại dễ dàng Tại đền Thiên Trường đã tìm thấy một đường cống thoát nước ngầm, các ống cống được nối với nhau thành nhiều đoạn ống, mỗi đoạn ống dài 34cm, đường kính

30 cm, có tạo gờ để ghép nối Trong đợt đào thám sát năm 1976 ở độ sâu 0,30m

đã gặp một lớp nền móng trong đó có cả gạch bó kè cùng nhiều di vật như ngói, gạch, đầu rồng, đầu phượng…mang phong cách nghệ thuật thời Trần Đáng chú

ý là những viên gạch lát nền có kích thước vuông (33cm x 33cm x 5cm) với những hoa văn nổi, tinh tế chứa đựng những tư tưởng văn hoá truyền thống Đó

là loại gạch được nung ở nhiệt độ cao, màu sẫm Xung quanh bốn góc là hoạ tiết cánh sen kép, biểu tượng của Phật giáo, đến lượt thứ hai là hoạ tiết hoa chanh, vòng tiếp theo là hình tròn, ở giữa có hình vuông giống hình một đồng tiền cổ

Rõ ràng thời Trần vẫn quan niệm trời tròn đất vuông Điều đáng chú ý là xung quanh các hình vuông đó, bao quanh bốn cạnh có bốn chữ thọ giống nhau, điều

đó có thể suy luận mong muốn cho cơ nghiệp nhà Trần trường thọ ngang với trời đất Ngay trong chính cung của đền Thiên Trường, bức đại tự ghi rõ :

“Thiên địa trường tồn”, thể hiện ước vọng của các thần dân và vương triều Trần mong cơ nghiệp trường tồn Đặc biệt đợt thám sát năm 2000 đã phát hiện khá nhiều vật liệu xây dựng chưa nung hoặc đang nung dở dang, nhiều nhất là ngói màn, ngói mũi hài Điều đó chứng tỏ để phục vụ cho tốc độ và quy mô xây dựng tại đây, người ta đã tổ chức sản xuất và nung các vật liệu này ngay tại chỗ Không chỉ có gạch ngói, trong lần khai quật đó còn phát hiện nhiều đồ gia dụng

như bát, đĩa, thạp Có những đáy bát còn ghi chữ: “Thiên Trường phủ chế”

Trang 22

(Làm tại phủ Thiên Trường) Ngoài ra trên một số viên gạch có đóng dấu: “Vĩnh

Ninh Trường”, đây là tên gọi của một đội quân lính ở Thanh Hoá Theo Phó

Giáo sư Đỗ Văn Ninh, những đội quân nhà Trần vừa đánh giặc, vừa sản xuất, do

đó việc xây dựng cung điện Thiên Trường đòi hỏi điều động nhiều lực lượng quân lính, dân binh xây dựng[42]

Các kết quả khảo cổ học cùng những tư liệu đã trích dẫn có thể khẳng định rằng Thiên Trường thời Trần không chỉ là đất phát tích, quê hương và đất thang mộc của nhà Trần, mà trong lịch sử đã từng được coi như kinh đô thứ hai của triều đại nhà Trần, nơi đầu não chính trị của Đại Việt, một trung tâm văn hoá lớn của cả nước Mảnh đất địa linh nhân kiệt đã sản sinh ra dòng họ Trần và nhà Trần, ngược lại chính các vua Trần và Thượng hoàng nhà Trần đã làm cho mảnh đất quê hương mình xứng đáng với tầm vóc của một đế kinh nổi tiếng

trong lịch sử Bài thơ Hỗ giá Thiên Trường thi sự [59:88]đã mô tả quang cảnh

của vùng đất này như sau:

Đông Kinh hình thắng cũng thiện phù

Cơ nghiệp hoằng khai vạn thế mô

Thuý lãng ngọc hồng sơn thuỷ quốc

Bính môn kinh khuyết đế vương lô

Hải thành thổ cống bao cam quất

Thiên Thuộc quân trang vệ trục lô

Đại giá niên biên tuần cố trạch

Nhạc kỳ xuyên hậu tác tiền khu

(Hình thắng Đông Kinh hệ ấn vàng

Muôn năm cơ nghiệp mở huy hoàng

Sông xanh cầu ngọc miền sơn thuỷ

Trang 23

23

Cam quýt ngon tươi dâng thổ sản

Thiên Thuộc thuyền cờ rực quân trang

Mỗi năm thánh giá về quê cũ

Thần núi sông đi trước dẫn đường)

1.3 Hành cung Tức Mặc – Thiên Trường trong sự nghiệp của vương triều Trần

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Kỷ Hợi, Thiên ứng Chính Bình năm thứ

8 (1239) Mùa xuân tháng giêng, lại cho Phùng Tá Chu chức Nhập nội Thái phó Sai về hương Tức Mặc xây dựng nhà cửa, cung điện”.[14:17]

Công trình nhà cửa, cung điện mà Phùng Tá Chu đã dành trọn phần cuối cuộc đời để xây dựng không chỉ đơn thuần là nơi vua và hoàng tộc nghỉ chân mỗi khi qua lại quê hương mà lịch sử đã chứng minh nó là căn cứ chiến lược về nhiều mặt, nhất là khi có chiến tranh xảy ra Căn cứ đó gồm có hai cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa là nơi ban định triều nghi ở trung tâm, bao quanh là bốn hành cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ Các cung này đều án ngữ các con sông Hoàng Giang, Vĩnh Giang, Nhị Hà, Vị Hoàng như một vành đai bảo vệ phía ngoài cho hai cung điện Không chỉ có vậy, một loạt điền trang thái ấp của thân vương quý tộc Trần được đóng ở những vị trí xung yếu, sẵn sàng tiếp ứng khu vực hai cung điện khi có cần

Thời nhà Trần, mối đoàn kết trong nội tộc đặc biệt được coi trọng Vua

Trần Thánh Tông từng nói : “Thiên hạ này là thiên hạ của tổ tông, người giữ cơ

nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì

ta với các khanh là anh em ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui Các khanh nên truyền những lời này cho con cháu để chúng đừng bao giờ quên, thì lúc đó

là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc”[14:37] Chính vì vậy mà thời Trần,

ngoài quân đội thường trực đặt dưới quyền cai quản trực tiếp của triều đình, các

Trang 24

vương hầu quý tộc đều có lực lượng vũ trang riêng cả Lúc thường thì đấy là lực lượng bảo vệ phủ đệ, phát triển sản xuất, là nơi tích trữ lương thực, dự trữ sức người nhưng khi có chiến tranh, số thân binh có thể tăng lên và trở thành một bộ phận quan trọng trong toàn bộ lực lượng vũ trang tham gia cuộc kháng chiến Trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông các đội quân này đều lập

được những chiến công xuất sắc Sử gia Ngô Sĩ Liên cho biết thêm: “Theo quy

chế nhà Trần, các vương hầu ở phủ đệ của mình, khi chầu hầu thì đến kinh đô, xong việc thì lại về phủ đệ Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chẩn ở Chí Linh đều thế cả… Vả lại, như năm Đinh Tỵ đời Nguyên Phong(1257), giặc Nguyên sang cướp, các vương hầu cũng đem gia đồng và hương binh thổ hào làm quân cần vương”[14:32] Điều dễ dàng nhận thấy là các

thái ấp của các thân vương quý tộc đều được bố trí phía nam Thăng Long Trong

số các thái ấp phía nam Thăng Long thì thái ấp trên trục đường nước Thăng Long – Thiên Trường là đậm đặc nhất Điều này thể hiện nhà Trần rất chú trọng bảo vệ con đường Bắc – Nam nối hai trung tâm chính trị lớn nhất nước bấy giờ: Thăng Long – Thiên Trường[4:124] Ngoài ra, quanh khu vực Thiên Trường những người sở hữu hệ thống điền trang thái ấp đều là những người trong tôn thất mà không có người ngoại tộc như: thái ấp A Sào, Bảo Lộc thuộc quyền sở hữu của hai cha con Trần Liễu, Trần Hưng Đạo; thái ấp Lựu Phố, Lộc Quý thuộc quyền của Trần Thủ Độ; thái ấp Cao Đài, Hậu Bồi thuộc Trần Quang Khải…Điều đó không chỉ làm tăng thêm tính cộng đồng trách nhiệm, tạo nên sức mạnh đoàn kết nội tộc mà còn biến Thiên Trường trở thành một lãnh địa tuyệt đối an toàn, tin cậy mỗi khi nước nhà có biến

Đầu năm 1258, đại quân Mông Cổ vượt qua biên giới, tấn công vào nước ta Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất này, hành cung Tức Mặc trở thành một hậu cứ lợi hại của quân đội nhà Trần Để giúp cho quan quân triều đình yên tâm đánh giặc, Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung là phu nhân Thống quốc Thái

sư Trần Thủ Độ đã đưa Thái tử cùng vợ con của quan tướng, hoàng thân quốc

Trang 25

Rõ ràng bộ máy đầu não kháng chiến của quân Trần đóng tại Thiên Trường, quân đội chủ lực cũng đóng tại đây Chỉ tiếc rằng đến nay vị trí cụ thể của quân doanh đó vẫn chưa thể xác định

Bên cạnh việc bố trí các phòng tuyến, giao thông thuận lợi, nhà Trần còn tạo lập hai kho lương quan trọng đảm bảo gìn giữ cung cấp đủ lương thực cho quân lính khi cần Kho lương A Sào (Thái Bình) không chỉ toạ lạc tại một vùng

có đất đai phì nhiêu mà còn là nơi tiếp giáp của hai con sông quan trọng là sông Luộc và sông Hoá Từ đây có thể ngược sông Luộc lên cửa Hải Thị gặp sông Hồng từ kinh đô Thăng Long chảy qua phủ Thiên Trường rồi ra cửa biển Giao Hải Vùng A Sào ở vào vị trí xung yếu như vậy nên được nhà Trần hết sức quan tâm Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3 (1288), kho lương A Sào đã đóng một vai trò quan trọng đối với chiến trường phía bắc như

Trang 26

Lạng Giang, Chương Dương, Tây Kết, Bạch Đằng[37] Ngoài ra kho lương thứ hai là Trần Thương (Hà Nam) nằm bên sông Hồng cũng đóng một vai trò quan trọng đối với con đường Thăng Long – Thiên Trường Trong hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1258), lần thứ 2 (1285), hoàng thân, tôn thất nhà Trần đều đã từng rút lui từ Thăng Long theo đường sông Hồng vào sông Đại Hoàng rồi về căn cứ địa Thiên Trường Trong những lần rút lui, tiến công này hàng loạt trận đánh trên sông Thiên Mạc (Lý Nhân – Hà Nam) cùng các trận khác như trận đánh đồn A Lỗ, trận Đại Mang…đều có sự phục vụ, cung cấp lương thực kịp thời của kho lương Trần Thương Mặc dù sử sách không đề cập tới sự đóng góp của kho lương này, nhưng tên gọi Trần Thương nghĩa là kho lương nhà Trần cùng dấu ấn vật chất xung quanh khu vực ngôi đền Trần Thương hiện nay đã làm sáng tỏ truyền thuyết nhân dân là đúng, khẳng định vai trò của một kho lương chiến lược ở đây trong quá trình canh tác, xây dựng nhân dân đã bắt gặp nhiều nồi đồng, mảnh gốm sứ của bát đĩa với màu men, phong cách trang trí của nghệ thuật gốm sứ Trần Điều đặc biệt hơn nữa, trong quá trình tôn tạo, đào móng ngôi đền Trần Thương đã tìm thấy nhiều vỏ thóc xen lẫn các bát đĩa lại càng khẳng định dấu ấn của một kho lương[37]

Đối với lực lượng bảo vệ hành cung Thiên Trường, ngoài binh lính trong các điền trang thái ấp bao quanh thì những binh sĩ quê ở phủ Thiên Trường

là lực lượng chính bảo vệ hành cung cùng các phủ đệ của vương hầu quý tộc

đóng trên địa bàn Bính Ngọ Thiên ứng Chính Bình thứ 5 (1246), chọn người

khoẻ mạnh sung làm quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thân Đinh tráng lộ Thiên Trường, Long Hưng sung vào các quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh, Củng Thần[14:20]

Cũng chính vì vậy mà những người dân ở vùng quê hương nhà Trần không được đi thi văn vì sợ khí lực kém đi Năm 1281, nhà Trần lập nhà học ở phủ Thiên Trường nhưng lại cấm người hương Thiên Thuộc không được vào

Trang 27

27

Trần Minh Tông ngự đến nhà Thái học, có người tên là Mặc trong quân Thiên Thuộc ở Hoàng Giang đã dự thi và trúng khoa thi Thái học sinh, vua xuống chiếu bắt trở lại quân ngũ, làm quân tại quân Thiên Đinh Người này sau thi đánh gậy lại đỗ bậc cao[14:108]

Ngọc phả chùa Cả thuộc thôn Đệ Nhất, một trong những hành cung thời Trần viết về sự kiện hai anh em Phạm Ngộ, Phạm Mại đã chỉ huy cánh quân

phía đông lập ba đồn binh phòng thủ cung Trùng Quang[16] Bia đá Thiên

Trường phủ Đệ Nhị bia ký [18] tại chùa thôn Đệ Nhị, xã Mỹ Trung còn cho biết

khu vực này là nơi đội quân Thiên Thuộc, Tứ Thủ trấn giữ, sẵn sàng bỏ mình vì nước Truyền thuyết và ngọc phả đình Tây thôn Đệ Tam cũng cho biết trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, ngôi chùa Đệ Tam là một trong những trạm chăm sóc những binh lính nhà Trần bị thương trong chiến đấu Xa hơn chút nữa, dưới sự chỉ huy của các vị tướng: Trần Phạm, Bùi Khiết, Bùi Tuyết và Trương Long, nhân dân xã Xối Đông (nay là xã Trung Đông- huyện Trực Ninh) cùng với binh lính lập nên ba đồn binh (Đồn Thượng, đồn Trung, đồn Hạ) phối hợp với gia binh thái ấp Vân Đồn (Nghĩa An – Nam Trực) của Trần Khánh Dư tổ chức nhiều trận đánh lớn, góp phần quan trọng cùng quân dân Đại Việt chiến thắng quân xâm lược Nguyên- Mông lần thứ hai [17], bảo vệ mặt biển phía nam của Thiên Trường Chính vì cách thức bố trí về lương thực, quân

sĩ, thái ấp như vậy mà trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông, mặc

dù kinh thành Thăng Long đều bị giặc chiếm đóng song trong cả ba lần đó Tức Mặc cùng với Trường Yên – Ninh Bình và kinh thành Thăng Long đã tạo thành thế chân vạc, ỷ dốc góp phần làm nên những chiến thắng oanh liệt Tây Kết, Chương Dương, Hàm Tử…

Năm Giáp Thân (1344), triều Trần có sự thay đổi một số chức quan trong triều thì đồng thời cũng đặt ra chức Thái phủ và Thiếu phủ ở Thiên Trường Như vậy, về mặt tổ chức hành chính, nhà Trần đã đặt Thiên Trường là một phủ rất trọng yếu Điều khác với triều Lý là nhà Trần không chỉ coi Thiên

Trang 28

Trường là quê hương, là nơi có miếu mạo dòng họ nhà vua mà còn là nơi làm việc và nghỉ ngơi của Thái thượng hoàng nhà Trần Duy trì nhất quán sự bàn giao thế hệ cầm quyền bằng chế độ Thái thượng hoàng Nhà sử học Ngô Sĩ Liên

nhận xét: “Gia pháp nhà Trần, con đã lớn thì cho nối ngôi chính, cha lui ở cung

Thánh từ, xưng là Thượng hoàng cùng trông coi chính sự Thực ra chỉ truyền ngôi để yên việc sau, phòng khi mất mà thôi, chứ mọi việc đều do Thượng hoàng quyết định cả Vua nối ngôi không khác gì Hoàng thái tử”.[14:30]

ở Thăng Long thì Thượng hoàng ở cung Thánh từ, nếu về Thiên Trường

thì Thượng hoàng ngự ở cung Trùng Quang Phan Huy Chú viết: “Các vua Trần

sau khi nhường ngôi cho con đều về ở Thiên Trường”[5:81] Mặc dù đã lui về

Thiên Trường nhưng Thượng hoàng vẫn quan tâm đến chính sự và vẫn có quyền hành, kể cả quyền phế truất vua nọ, lập vua kia Thượng hoàng ở Thiên Trường, vua và các quan phải đến chầu theo định kỳ Cũng có khi Thượng hoàng đột xuất lên kinh đô để kiểm tra công việc chính sự của vua

Đại Việt sử ký toàn thư có chép lại câu truyện: “ Kỷ Hợi, Hưng Long

năm thứ 7 (1299), Thượng hoàng (Trần Nhân Tông) từ phủ Thiên Trường về kinh sư, các quan trong triều không ai biết cả, vua (Trần Anh Tông) uống rượu xương bồ say khướt Thượng hoàng thong thả đi thăm xem xét khắp các cung điện, từ giờ Thìn đến giờ Tỵ Cung nhân dâng bữa, Thượng hoàng ngoảnh nhìn không thấy vua lấy làm lạ hỏi là Quan gia đâu? Cung nhân vào trong nội đánh thức, nhưng ngài không tỉnh Thượng hoàng giận lắm, lập tức trở về Thiên Trường, xuống chiếu cho các quan ngay ngày mai đều phải tới phủ Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị xử tội”[14:76]

Khi tỉnh rượu biết chuyện, Trần Anh Tông phải nhờ Đoàn Nhữ Hài viết

hộ bài biểu nhận tội rồi lấy thuyền nhẹ lập tức về Thiên Trường Thượng hoàng

sai nhận biểu để xem, thấy lời lẽ khẩn thiết cho gọi vua vào bảo: “Trẫm còn có

con khác, cũng có thể nối ngôi được Trẫm đang sống mà ngươi còn như thế,

Trang 29

29

Từ những tư liệu trích dẫn có thể khẳng định thời Trần, vùng đất Tức Mặc đóng một vai trò quan trọng Vùng đất này không chỉ là đất phát tích, quê hương và đất thang mộc nhà Trần, là nơi các Thái thượng hoàng nghỉ ngơi mà còn là được các vua Trần xây dựng thành một căn cứ địa quan trọng, vững chắc,

an toàn cho hoàng tộc Qua đó ta cũng thấy nhà Trần đã tạo lập được mối liên hệ phù hợp, mang tính chiến lược giữa hai vùng đất Thăng Long – Thiên Trường Trong đó Thăng Long là kinh đô của đất nước nhưng Thiên Trường mới là đầu não chính trị của Đại Việt bấy giờ Tư tưởng đó đã được Trần Nguyên Đán thể

hiện trong bài thơ : Hoạ bài thơ của Thái thượng hoàng đề ở cung Trùng

Quang phủ Thiên Trường[59:149]

Hán Gia Phong, Bái trúc vi cung

Hạc phát tích dao Thái Thượng ông

Kỹ hứng còn cao khôn hậu ngoại

ưu du sơn sắc thuỷ thanh trung

Trường không thu hạc Hoàng Giang nguyệt

Phương thảo xuân hồi Lựu Phố phong

Thanh hạ mỗi tồn tông xã niệm

Liệu tri mộng mị đảo Thăng Long

(Như cung nhà Hán ở đất Phong, đất Bái làm bằng tre

Tóc đã bạc Thượng hoàng thong thả dạo chơi

Gửi hứng thú tận ngoài cõi trời cao đất rộng

Thung dung trong khoảng nước biếc non xanh

Mênh mông trời thu, bóng trăng Hoàng Giang

Hương cỏ xuân về, thoảng gió Lựu Phố

Trong nhàn nhã, Thượng hoàng vẫn nghĩ đến việc nước

Trang 30

Trong giấc mộng vẫn thấy mình đến Thăng Long)

1.4 Tiểu kết

Tức Mặc là một vùng đất có lịch sử và truyền thống văn hoá đặc sắc Vốn là một vùng đồng bằng trù phú, thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp nên ngay từ thời Hùng Vương vùng đất này đã có người đến định canh định cư, sinh sống Thời gian tiếp theo, Tức Mặc bắt đầu trở thành vùng đất căn bản có vị trí đặc biệt quan trọng Từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chống nhà Hán xâm lược cho đến công cuộc dẹp tan 12 sứ quân thống nhất đất nước của Đinh

Bộ Lĩnh đều có sự đóng góp đáng kể của nhân lực, vật lực nơi đây Cũng chính

vì thế mà sự xuất hiện của vạc Phổ Minh, một trong tứ đại khí dưới thời Lý đã khẳng định sự quan tâm cũng như vai trò kinh tế – chính trị của vùng đất này lúc bấy giờ

Cùng với những điều kiện thuận lợi về giao thông đường thuỷ, về sản xuất nông nghiệp, Tức Mặc đã dần dần nổi lên của thế lực họ Trần, một dòng họ

đã có cống hiến lớn lao đối với lịch sử dân tộc Với tư cách là đất dấy nghiệp của triều Trần, từ năm 1239, Tức Mặc được xây dựng thành một hành cung và sau đó trở thành nơi ở của các Thái thượng hoàng, tuy về danh nghĩa là nhường ngôi lui về nghỉ, nhưng thực chất là làm việc như một triều đình có quyền lực cao hơn cả vua Trong suốt thời gian trị vì của nhà Trần, vùng đất Tức Mặc – Thiên Trường có vị trí như một kinh đô thứ hai, một hậu cứ vững chắc của nước Đại Việt Từ vùng đất này, nhiều truyền thống văn hoá, văn vật của Nam Định bắt đầu khởi nguồn, nhiều nhân tài đất nước xuất hiện Cho đến ngày nay, Tức Mặc luôn tự hào có những cống hiến sâu sắc, nơi nuôi dưỡng tâm hồn, bồi đắp tài năng và hun đúc ý chí cho nhiều anh hùng cái thế mà tiêu biểu nhất là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn

Trang 31

31

Chương 2 Khu Di tích Tức Mặc – thiên trường:

lịch sử và hiện trạng

Hiện nay, tổng thể khu di tích Tức Mặc – Thiên Trường được chia làm hai khu: Khu chùa Phổ Minh nằm phía Tây, khu đền Trần nằm phía đông, bao quanh cả hai là các cánh đồng lúa Hai khu nằm cách nhau khoảng 200m Khu đền Trần được xây dựng trên một khu đất rộng 40.615m2, gồm có 3 hạng mục công trình là đền Thiên Trường nằm ở giữa và cũng là công trình được xây dựng đầu tiên, hai bên đền Thiên Trường là đền Cố Trạch và đền Trùng Hoa lần lượt

là các công trình được xây dựng về sau Ngoài ra các công trình phụ trợ như nhà giải vũ, hồ nước cùng các cây xanh được bố trí theo lối trục đối xứng truyền thống Tất cả được bao quanh bởi hệ thống tường bao tạo thành một không gian khép kín Dưới đây là sơ đồ mặt bằng tổng thể đền Trần:

Trang 33

33

2.1.1 Lịch sử xây dựng

Căn cứ vào truyền thuyết nhân dân địa phương thì trải qua bao biến thiên của lịch sử như Hồ Quý Ly cướp ngôi, nhà Minh sang xâm lược nên hành cung Thiên Trường đã hoàn toàn bị san phẳng Sau này nhân dân đã xây dựng ngôi đền Trần trên phạm vi của phủ Thiên Trường xưa Thực tế vị trí địa lý nằm sát cạnh các địa danh cổ, trên một khu đất cao nhất so với xung quanh đã khẳng định truyền thuyết đó là đúng Khảo sát quanh khu vực đền Trần cho thấy ngôi đền nằm tại vị trí phía nam ngôi đền là cánh đồng Cửa Triều, phía bắc là một cánh đồng trũng nằm giáp sông Vĩnh Giang, phía đông là một vùng trũng thuộc đầu nguồn sông Hàm Rồng giao với sông Vĩnh Giang, phía tây cũng là một cánh đồng giáp chùa Phổ Minh Các báo cáo khai quật khảo cổ học cũng cho thấy tại khu vực đền Trần, số lượng di vật mang phong cách Trần đậm đặc nhất, càng ra

xa số lượng càng ít đi

Mặc dù khảo cổ học ở Tức Mặc trong những năm gần đây đã thu được nhiều kết quả nhưng thực tế vẫn chưa biết được bình đồ kiến trúc, quy mô kiểu cách cũng như vị trí cụ thể của cung điện Thiên Trường xưa

Theo nhiều nguồn tư liệu, có thể biết được rằng, trước khi có cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa thì khu vực phủ Thiên Trường đã là một tiên miếu của

các vua Trần Đại Việt sử ký toàn thư chép : “Năm Kiến Trung thứ 7 (1231),

vua (Trần Thái Tông) ngự đến hành cung Tức Mặc, dâng lễ ở tiên miếu, thiết yến và ban lụa cho bô lão trong hương theo thứ tự khác nhau”[14:13] Sách

Hoàng Việt dư địa chí cho biết thêm : “Đền các vua Trần ở làng Tức Mặc,

huyện Mỹ Lộc nguyên là từ đường gia tộc của Trần Thái Tông xây dựng Sau cải theo quy chế đế miếu, lịch đại sửa sang, giao xã sở tại phụng sự”[22]

Truyền thuyết nhân dân địa phương cho biết đầu thế kỷ XV, sau khi Lê Lợi tổ chức kháng chiến chống giặc Minh thắng lợi, con cháu họ Trần bắt đâu hồi hương ổn định cuộc sống Sau này bốn phái tộc họ Trần là Trần Huy, Trần Xuân, Trần Đăng, Trần Thế làm ăn ngày một khá giả bèn nghĩ đến công lao tiên

Trang 34

tổ và các bậc đế vương nhà Trần nên đã quyết định xây dựng nhà từ đường họ Trần đại tôn ngay trên phạm vi thuộc khu đất cung điện cũ của Thái thượng

hoàng nhà Trần Cuốn Trần thị đại tông từ đường cho biết công trình đầu tiên

được dựng là vào năm Lê Chính Hoà thứ 15 (1694)[16] Công trình này có 3 gian bằng gỗ lim, lợp tranh Câu đối tại đền Thiên Trường cũng đã khẳng định điều đó:

Chính Hoà miếu chế hương sùng tạo Minh Mệnh tuần hành quốc tế hưng

(Niên hiệu Chính Hoà, ngôi miếu được tạo lập trên mảnh đất quê hương

Dưới thời Minh Mệnh việc quốc lễ được phục hồi như xưa.) Đến niên hiệu Long Đức thứ 2 (1733), làm thên 5 gian tiền tế bằng gỗ lim, lợp mái tranh Năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), triều đình ban sắc cho nhân dân sở tại phụng thờ, tế lễ như cũ[47:410] Năm Tự Đức thứ 5 (1852), các quan chức hàng tỉnh, huyện đã chỉ đạo tu sửa, thay mái tranh bằng mái ngói, mở rộng

thêm diện tích thờ tự Bia đá Trần miếu bia ký do Tam giáp Tiến sĩ Dương đình Ngô Thế Vinh soạn thảo năm Tự Đức thứ 6 (1853) có viết : “Tức Mặc vốn là

quê hương của vua ngày trước, có miếu thờ nhà Trần ở đó Đã bao đời nay thờ

tự long trọng, triều ta luôn chú ý tới Qua coi điển cũ sùng kính rất là trang nghiêm, mỗi khi tế lễ quan lại địa phương phụng chiếu kính cẩn trang nghiêm Mùa xuân năm Tự Đức thứ 5 (1852), quan Hành tỉnh là Phan Huy Vịnh tới miếu thấy quy cách nhỏ hẹp không xứng đáng với đức sáng rực rỡ của ngài từ trước bèn cùng quan Bố chính Nguyễn Văn Điển dâng sớ xin tu sửa” [16]

Năm Tự Đức thứ 21 (1868), tiền đường lại được tu sửa Tới năm ất Mùi niên hiệu Thành Thái thứ 7 (1895), hội từ thiện lại tu sửa chính tẩm ngôi đền Năm Thành Thái thứ 15 (1903) đắp hai voi chầu trước cửa đền Năm Duy Tân thứ 2 (1907) ngôi đền lại được tiếp tục tu sửa đồng thời sửa sang hồ nước trước

Trang 35

35

Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương đã quan tâm rất nhiều đến việc tu bổ khu di tích Vì vậy công trình đã được bảo tồn, tôn tạo một cách quy mô đồng bộ hơn

Kỹ thuật tu bổ đã có sự hướng dẫn của cơ quan chuyên môn, đảm bảo đúng nguyên tắc phục hồi di tích cổ truyền thống, bước đầu có hiệu quả tốt Khu di tích đền Trần hiện nay rất khang trang, qua tu sửa, tôn tạo các hạng mục công trình đã trở nên bền vững, hài hoà trong một tổng thể kiến trúc cổ truyền thống

2.1.2 Khảo tả công trình kiến trúc

Trang 37

37

Trang 38

Đền Thiên Trường nằm tại vị trí trung tâm của đền Trần Toàn bộ đền Thiên Trường có tất cả 9 toà và 31 gian lớn nhỏ khác nhau hình thành nên bình

đồ kiến trúc theo lối tay ngai Trong bình đồ kiến trúc đó, ngôi đền được xây theo hình nội công ngoại quốc nằm chính giữa, trước sân là hai dãy giải vũ 10 gian, giáp đốc là hai dãy ống muống Tất cả các công trình đều được thiết kế hợp

lý cả về kích thước, kiểu dáng, hoà nhập với một tổng thể kiến trúc cổ truyền Bao quanh đền Thiên Trường là hệ thống tường bao xây gạch cao 1,5m cùng hệ thống cột trụ cao to tạo nên sự bề thế, hoành tráng

Tiền đường cao 4,5m, có mặt tiền rộng 12m, sâu 6,6m được xây cao hơn mặt sân 0,7m, có tạo tam cấp bằng đá xanh liền khối để lên xuống Ngoài ra, tại đây còn tạo bốn con rồng trong tư thế vươn mình ra phía trước mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (TK XIX)

Bộ mái tiền đường lợp ngói nam Đại bờ đắp hình tượng lưỡng long chầu nguyệt, kìm nóc tạo dáng đôi ly chầu, bờ bảng đắp hoạ tiết triện tàu lá dắt

Tiền đường được chia thành 5 gian Gian giữa có kích thước lớn nhất, rộng 2,65m Các gian còn lại đều rộng 2,3m, co tạo hệ thống cửa ra vào bằng gỗ lim theo kiểu thượng song hạ bàn Riêng gian giữa là gian trung tâm nên được gia công, trang trí một cách công phu nhất Từ bạo cửa, khung cửa được tạo dáng uốn vành mai, soi chạm lớp lớp hoa lá sinh động Phần trên khung cửa chạm hình tượng lưỡng long chầu nguyệt Mặt nguyệt ở giữa được tạo thành một bông hoa mai cách điệu, giữa bông hoa được khắc chữ phúc bằng chữ Hán theo lối chữ thảo Bên trong bộ khung, bạo cửa là hai cánh cửa có kích thước cao 1,5m, rộng 0,58m Tại đôi cánh cửa này được chạm khắc hoạ tiết lưỡng long Đôi rồng được chạm kênh bong nổi khối với thân hình mập mạp, thân có vẩy, miệng ngậm ngọc đang chầu vào giữa Qua các nét hoạ tiết hoa văn trang trí có thể biết đây là tác phẩm có niên đại từ thế kỷ XVII còn sót lại qua các lần

tu sửa

Trang 39

39

Tiền đường được xây cao hơn mặt sân 1m, có tạo 3 cấp lên xuống Các cấp đều được làm bằng đá xanh liền khối hình chữ nhật Toàn bộ tiền đường được chia thành 5 gian với 6 bộ vì bằng gỗ lim, hồi xây bít đốc Các bộ vì ở đây được làm theo kết cấu thượng vì kèo, hạ bẩy kẻ Gánh đỡ mỗi bộ vì là 4 cây cột lim tròn, tạo dáng búp đòng 02 cột cái có đường kính 0,35m; 02 cột quân đường kính 0,30m Tất cả các cây cột đều được đặt trên hệ thống chân tảng bằng đá xanh, chạm khắc hoạ tiết cánh hoa sen kép 16 cánh mang phong cách nghệ thuật thời Trần Hai vì giáp đốc được làm cách tường hồi 0,5m Cách xây dựng này làm cho tường hồi chỉ mang chức năng bao che mà không phải chịu lực gánh đỡ các cấu kiện gỗ Tại các đầu xà, bẩy, kẻ ngoài việc cắt mộng một cách bén khít, còn được uốn lượn mềm mại, soi đường chỉ kép, chạm khắc hoa lá cách điệu cùng các hoa văn như triện tàu, chữ thọ…theo đúng phong cách kiến trúc cổ truyền dân tộc Từ những lớp hoa văn có thể thấy tại tiền đường có sự giao thoa, tiếp diễn những phong cách kiến trúc trải dài từ thời Lê Trung Hưng (TK XVII - XVIII) đến thời Nguyễn sau này (TK XIX)

Toà siêu hương được làm nối tiếp với tiền đường Siêu hương được làm theo hình vuông có kích thước rộng 36m2, cao 5,47m Bốn mặt thông phong không tạo cửa Siêu hương được làm theo kiểu bốn mái, lợp ngói nam Đầu đao cùng bờ nóc đắp hoạ tiết vân mây, rồng chầu Hệ thống vì bằng gỗ lim được làm theo kết cấu chồng rường kẻ góc Các cấu kiên như xà dọc, tàu mái, hoành, rui đều được gia công, liên kết chặt chẽ với nhau Gánh đỡ toàn bộ siêu hương là 4 cây cột lim có đường kính 0,45m cũng được đặt trên chân tảng đá chạm khắc cánh sen kép mang phong cách nghệ thuật thời Trần Phần chạm khắc tại các cấu kiện gỗ tại siêu hương được gia công đơn giản, thoáng đạt mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (TK XIX) Nền siêu hương được lát bằng gạch đỏ được phục chế theo hoạ tiết hoa văn cánh sen, đồng tiền, chữ thọ mang phong cách nghệ thuật thời Trần Hai bên siêu hương là hai dãy giải vũ rộng khoảng 20m2

, được làm theo kết cấu thượng vì kèo, quá giang, trốn cột, hạ bẩy kẻ, hồi xây bít đốc

Trang 40

Chính tẩm là toà trong cùng, cao to nhất, được thiết kế với lối cổ diêm với kích thước cao 7,26m; sâu 13,20m; rộng 12m Chính tẩm được chia làm 3 gian 2 chái Hai chái giáp đốc rộng khoảng 5m2

được bố trí là nơi nghỉ ngơi của người gác đền Ba gian chính diện được bố trí 18 cánh cửa gỗ kích thước cao 3,10m; rộng 0,50m Cánh cửa làm theo lối thượng chạm nền gấm thông phong,

hạ bức bàn Trên nền gấm còn chạm các bài thơ chữ Hán cách điệu, phong cách

đa dạng như : chữ lệ, chữ triện, chữ thảo… Nội dung các câu thơ ca ngợi công đức các vua Trần và cảnh đẹp đền Phần bức bàn phía dưới cũng được chạm các hoạ tiết tứ quý, nét chạm thanh mảnh, sắc nét

Khác với các hạng mục công trình khác tại đền Thiên Trường, chính tẩm

là công trình được xây cách tân, mang đậm phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX

Bộ vì nóc được làm theo kết cấu vì kèo quá giang bằng gỗ lim Toàn bộ các cấu kiện gỗ tại đây không được chạm khắc mà bào trơn, đóng bén Kết cấu này vừa đơn giản vừa đảm bảo độ chắc chắn, lại tiện cho diện tích thờ tự được rộng rãi

Bộ vì nách phía trước được làm theo kết cấu kẻ trường Bốn cây kẻ có

độ dài 4,6m được uốn cong mềm mại Gánh đỡ bộ vì nách phía trước cùng một phần bộ vì nóc là 4 cây cột cái có đường kính 0,40m, cao 5,5m và 4 cây cột hiên thân vuông, cạnh 0,25m được soi chỉ, nhấn câu đối chữ Hán

Bộ vì nách phía sau không được làm bằng gỗ mà được xây cuốn vòm với vật liệu hoàn toàn bằng vôi vữa Gánh đỡ bộ mái của vì nách là hệ thống tường được đổ trụ vuông chịu lực

Như vậy tổng thể kiến trúc đền Thiên Trường mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn Tuy nhiên phong cách đó chỉ được thể hiện trên các cấu kiện gỗ của các bộ vì mái còn hệ thống chân tảng hoa sen kép mang phong cách kiến trúc Trần được bố trí để gánh đỡ các cột lim theo bình đồ nội công ngoại quốc có thể cho ta thấy công trình này có thể được xây dựng từ thời Trần và được trùng tu vào các thời tiếp theo

Ngày đăng: 16/03/2015, 17:35

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w