386 Nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội huyện Hóc Môn
Trang 1_WX _
NGUYỄN TUYẾT NHUNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNH NỮ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
– XÃ HỘI HUYỆN HÓC MÔN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2008
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Phần mở đầu
Phần nội dung
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM
VÀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ 1
1.1 Các khái niệm cơ bản 1
1.1.1 Lao động – Lực lượng lao động 1
1.1.2 Việc làm, thất nghiệp và người có việc làm, người thất nghiệp 2
1.1.2.1 Việc làm và người có việc làm 2
1.1.2.2 Thất nghiệp và người thất nghiệp 3
1.1.3 Nguồn nhân lực xã hội 4
1.2 Vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế – xã hội 5
1.2.1 Nguồn nhân lực – mục tiêu và động lực của sự phát triển 5
1.2.2 Nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước 6
1.3 Các hình thức chủ yếu giải quyết việc làm và những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho lao động nữ 7
1.3.1 Các hình thức chủ yếu giải quyết việc làm 7
Trang 31.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho lao động nữ 8
1.3.2.1 Giáo dục – Đào tạo 8
1.3.2.2 Sức khỏe 9
1.3.2.3 Ảnh hưởng tâm lý xã hội, phong tục tập quán 10
1.3.2.4 Tự tạo việc làm của lao động nữ 10
1.3.2.5 Cơ chế, chính sách kinh tế – xã hội 11
Những thuận lợi và khó khăn đối với vấn đề việc làm của lao động nữ 11
Tóm tắt chương 1 13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI HUYỆN HÓC MÔN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 14
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn 14
2.1.1 Đặc điểm về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 14
2.1.2 Đặc điểm về văn hóa, xã hội và đơn vị hành chính 14
2.1.3 Đặc điểm về kinh tế 15
2.1.4 Đặc điểm về dân số, nguồn nhân lực và tình hình việc làm 20
2.1.5 Về công tác giáo dục – đào tạo và dạy nghề 23
2.2 Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn và những vấn đề đặt ra 25
2.2.1 Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn 25
2.2.1.1 Giải quyết việc làm cho lao động nữ theo ngành kinh tế 25 2.2.1.2 Giải quyết việc làm lao động nữ theo thành phần kinh tế 27
Trang 42.2.1.3 Giải quyết việc làm thông qua chương trình quốc gia xúc tiến
việc làm 28
a Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm 28
b Các hoạt động dịch vụ việc làm 30
c Qua xuất khẩu lao động 33
2.2.2 Những vấn đề đặt ra với công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn 34
2.2.2.1 Trình độ của lao động nữ còn thấp chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 35
2.2.2.2 Việc tổ chức thực hiện các chương trình quốc gia xúc tiến việc làm và quản lý giám sát thực hiện hiệu quả còn chưa cao, ảnh hưởng lớn tới vấn đề giải quyết việc làm và tự tạo việc làm cho lao động nữ 35
2.2.2.3 Và một số vấn đề khác 36
Tóm tắt chương 2 38
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI HUYỆN HÓC MÔN 39
3.1 Một số định hướng cơ bản 39
3.1.1 Giải quyết việc làm cho lao động nữ huyện Hóc Môn phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 39
3.1.2 Phải đảm bảo vừa phát huy được thế mạnh của lao động nữ vừa giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động 41
3.1.3 Phải trên cơ sở pháp luật về quyền của lao động nữ, đảm bảo thực hiện bình đẳng giới 42
3.1.4 Kết hợp giải quyết việc làm với giải quyết các vấn đề xã hội,
Trang 5phát huy sức mạnh của toàn xã hội tham gia tạo việc làm 43
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn 44
3.2.1 Nhóm giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, bất lợi của lao động nữ trong quá trình làm việc và tự tạo việc làm 44
3.2.1.1 Quan tâm chăm sóc sức khỏe lao động nữ 44 3.2.1.2 Đảm bảo thực hiện pháp luật về quyền của lao động nữ 45 3.2.2 Nhóm giải pháp về giáo dục – đào tạo và dạy nghề 48 3.2.2.1 Đẩy mạnh công tác giáo dục - đào tạo, tăng cường nâng chất lực lượng lao động nữ trên địa bàn huyện 48
3.2.2.2 Quan tâm đẩy mạnh công tác đào tạo nghề 49 3.2.2.3 Kiện toàn và đổi mới tổ chức hoạt động của dịch vụ giới thiệu việc làm 51
3.2.2.4 Hoàn thiện tổ chức bộ máy, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý 53
3.2.3 Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội 55
3.2.3.1 Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với sự
đa dạng các ngành nghề sử dụng nhiều lao động 55
3.2.3.2 Xã hội hóa vấn đề giải quyết việc làm 60 3.2.4 Nhóm giải pháp đẩy mạnh triển khai các Chương trình hỗ trợ việc làm 61
3.2.4.1 Sử dụng và khai thác hiệu quả các nguồn vốn tạo việc làm 61 3.2.4.2 Giải quyết việc làm cho lao động nữ thông qua các chương trình xúc tiến việc làm quốc gia 63
a Tạo việc làm cho lao động nữ qua Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm 63
Trang 6b Tạo việc làm cho lao động nữ qua chi nhánh dịch vụ giới thiệu
việc làm – Trung tâm dạy nghề huyện 64
c Tạo việc làm cho lao động nữ thông qua xuất khẩu lao động 66
3.3 Đề xuất – Kiến nghị 68
3.3.1 Đối với Trung ương 68
3.3.2 Đối với Thành phố Hồ Chí Minh 68
3.3.3 Đối với huyện Hóc Môn 69
Tóm tắt chương 3 70
Phần kết luận 71
Trang 7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐCSVN: Đảng Cộng sản Việt Nam
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
HU – HĐND – UBND: Huyện ủy – Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân UBND: Ủy ban nhân dân
LHPN: Liên hiệp Phụ nữ
TNCS: Thanh niên cộng sản
HCQG: Hành chính Quốc gia
WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc NXB: Nhà xuất bản
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐVT: Đơn vị tính
Tr.: trang
CN – TTCN: Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
CN – XDCB: Công nghiệp - Xây dựng cơ bản
TM – DV: Thương mại – Dịch vụ
DV: Dịch vụ
GTSL: Giá trị sản lượng
LLLĐ: Lực lượng lao động
LLLĐ ĐLV: Lực lượng lao động đang làm việc
VĐT NN: Vốn đầu tư nước ngoài
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1-1: Cấu trúc lực lượng lao động 2
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2-1: Tỷ trọng các ngành kinh tế huyện Hóc Môn năm 2007 16
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2-1: Giá trị sản xuất CN – TTCN phân theo thành phần kinh tế 17
Bảng 2-2: Giá trị sản xuất ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp 18
Bảng 2-3: Giá trị sản xuất TM – DV phân theo ngành hàng 19
Bảng 2-4: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ chia theo nhóm tuổi và khu vực 22
Bảng 2-5: Kết quả giáo dục – đào tạo nghề 24
Bảng 2-6: Lao động nữ đang làm việc trong các ngành kinh tế 25
Bảng 2-7: Lao động nữ đang làm việc chia theo thành phần kinh tế 27
Bảng 2-8: Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm 29
Bảng 2-9: Số lượng lao động đuợc giải quyết việc làm và dạy nghề 31
Bảng 2-10: Kết quả xuất khẩu lao động 34
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam đã tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Tuy nhiên, một trong những vấn đề bức xúc nhất hiện nay là tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm còn chiếm tỷ lệ lớn, thu nhập của đại bộ phận dân cư vẫn còn ở mức thấp, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng cao Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải giải quyết tốt nhu cầu việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ
Và thêm vào đó, như chúng ta đã biết, hiện nay, một số nước phát triển trên thế giới đang chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức; trong khi đó, Việt Nam vẫn là một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, với dân số phần lớn sống bằng nghề nông Do đó, khi nền kinh tế đang dần chuyển đổi cho phù hợp hơn với xu thế chung thì bên cạnh mặt tích cực, vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, khó khăn phải giải quyết, mà trên hết là vấn đề việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ
Riêng đối với huyện Hóc Môn, là một huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, cơ bản cũng giống với tình hình chung của đất nước; dân số cũng chủ yếu sống bằng nghề nông, tốc độ đô thị hóa cũng đang diễn ra rất nhanh Do đó, vấn đề giải quyết việc làm, tạo nhiều chổ làm mới cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng là một trong những vấn đề cấp bách, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện, thành phố cũng như cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để làm được điều này, huyện không chỉ chú trọng chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang
Trang 10nền kinh tế công nghiệp mà còn phải vừa nhanh chóng đào tạo nguồn nhân lực
đi ngay vào nền kinh tế tri thức, tiếp thu công nghệ mới, vừa phải góp phần giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động giản đơn Điều này đòi hỏi vai trò, trách nhiệm rất lớn của các cấp quản lý, phải nhanh chóng nắm bắt thực trạng, xu hướng phát triển cũng như những cơ hội và những thách thức đối với vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Huyện Đảng bộ đề ra
Với những kiến thức được trang bị trong quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cùng với kinh nghiệm công tác cũng như tình hình thực tế trên địa bàn huyện, tôi quyết định chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn” để làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề việc làm và việc làm cho lao động nữ là một trong những vấn đề mang tính toàn cầu, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay Bất kỳ quốc gia nào giải quyết tốt vấn đề việc làm, đặc biệt là việc làm cho lao động nữ (vì vấn đề bình đẳng giới ngày càng nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới), thì sẽ có tác động mạnh mẽ vào sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị của quốc gia đó Do đó, vấn đề này được ưu tiên trong chính sách phát triển đất nước của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam Ở nước
ta, từ những năm đầu của thế kỷ XX trở lại đây, có nhiều tác giả đã quan tâm về vấn đề này, nhiều công trình, bài viết được đăng tải, phản ánh và công nhận, tiêu biểu như sau:
- Ảnh hưởng của nền kinh tế tri thức với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam – GS.TS Đỗ Thế Tùng – Lao động và Công đoàn, NXB Lao động, số 6-
2002
Trang 11- Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam – TS Nguyễn Hữu Dũng,
TS Trần Hữu Trung – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1997
- Việc làm, đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam - GS Lê Thi, NXB Khoa học xã hội, 1999
- Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (phân tích tình hình tại Hà Nội) – TS Trần Thị Thu, NXB Lao động, Hà Nội, 2003
- Phụ nữ, giới và phát triển – TS Trần Thị Vân Anh, TS Lê Ngọc Hùng, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2000
Ngoài ra, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cũng có đề tài, chương trình đề cập đến vấn đề lao động, việc làm nhưng đứng dưới góc độ của thành phố; riêng huyện Hóc Môn thì chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ
3 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích:
Việc nghiên cứu đề tài giúp làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ và trên cơ sở phân tích thực tiễn, quan điểm chỉ đạo của huyện, đề tài góp phần xây dựng những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội huyện Hóc Môn
3.2 Nhiệm vụ:
Làm rõ vấn đề lý luận cơ bản về lao động, việc làm, việc làm cho lao động nữ, vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho lao động nữ
Trang 12Phân tích, đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn từ năm 2003 đến năm 2007
Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn
3.3 Giới hạn:
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn từ năm 2003 đến năm 2007; từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nữ trên địa bàn huyện Hóc Môn
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu sử dụng chủ yếu trong luận văn là phương pháp thống kê, phân tích, so sánh để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm giúp huyện có hướng đi tích cực và tốt nhất trong công tác quản lý nguồn nhân lực, tạo việc làm cho lao động nữ
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, danh mục chữ viết tắt, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 03 chương, 08 tiết
Chương 1:Cơ sở lý luận về các vấn đề lao động, việc làm và việc làm cho lao
động nữ
Chương 2: Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá
trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn và những vấn đề đặt ra
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho
lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM VÀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Lao động – Lực lượng lao động Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động vào
thế giới tự nhiên nhằm cải tạo tự nhiên để thỏa mãn nhu cầu, đồng thời cải tạo cả bản thân con người Chính vì vậy, Ph.Ăngghen đã viết: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân
con người” Ph.Aêngghen, Biện chứng của tự nhiên, NXB Sự thật, Hà Nội, 1971,
tr.251 – 252
Như vậy, lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước
Lực lượng lao động là dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao
động, hiện đang có việc làm hay bị thất nghiệp Như vậy, lực lượng lao động nữ bao gồm những phụ nữ trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, hiện đang có việc làm hay bị thất nghiệp Nhìn chung, do có sự khác biệt về đặc điểm tâm sinh lý giữa lao động nam và lao động nữ nên riêng đối với lao động nữ, khi đề cập, chúng ta phải xem xét đến ba đặc thù cơ bản là: đặc thù của thiên chức làm mẹ, đặc thù về mặt sức khỏe và đặc thù về mặt xã hội; để từ đó, trong cách thức tác động có sự điều chỉnh sao cho phù hợp nhằm đem lại lợi ích cao nhất
Trang 14Và cũng từ các khái niệm trên, ta có thể biểu thị lực lượng lao động bằng sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc lực lượng lao động
1.1.2 Việc làm, thất nghiệp và người có việc làm, người thất nghiệp
1.1.2.1 Việc làm và người có việc làm
Ở nước ta, quan niệm về việc làm đã được thống nhất và cụ thể hóa tại điều 13, chương II của Bộ Luật lao động, như sau: “Mọi hoạt động lao động tạo
ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm, đều được thừa nhận là việc làm” Như vậy, một việc làm phải hội tụ đủ 3 yếu tố: là hoạt động lao động của con người; hoạt động tạo ra thu nhập (kể cả những công việc được trả công hay không được trả công); không bị pháp luật ngăn cấm
Người có việc làm được chia thành hai loại: người có việc làm đầy đủ và người thiếu việc làm
Người có việc làm đầy đủ là người làm việc đầy đủ thời gian quy định,
có mức thu nhập từ mức lương tối thiểu trở lên và không có nhu cầu làm thêm
Người thiếu việc làm là những người có việc làm nhưng thời gian làm
việc thấp hơn thời gian quy định và có nhu cầu làm thêm Thiếu việc làm thể
Lực lượng lao động
Có việc làm
Thiếuviệc làm
Thất nghiệp
Thất nghiệp dài han
Thất nghiệp ngắn hanĐủ
việc làm
Trang 15hiện dưới hai dạng: có năng suất và thu nhập dưới mức thu nhập tối thiểu, có nhu cầu làm thêm; thời gian làm việc dưới mức quy định và có nhu cầu làm thêm
1.1.2.2 Thất nghiệp và người thất nghiệp Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao
động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành Sự phát triển thị trường lao động ở nhiều nước đã chỉ ra các dạng thất nghiệp khác nhau: tự nguyện, dài hạn, chu kỳ, cơ cấu, thời vụ
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động
nhưng chưa có việc làm, có nhu cầu tìm việc làm và đăng ký tìm việc làm
Có thể khái quát việc làm và thất nghiệp là hiện tượng người lao động có khả năng lao động nhưng không được sử dụng có hiệu quả Người thất nghiệp gồm những người trong khoảng thời gian xác định đang xem xét không có việc làm, nhưng đang tích cực tìm việc làm và có nhu cầu được làm việc Người thiếu việc làm gồm những người trong khoảng thời gian xác định có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định trong tuần, trong tháng hoặc trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ hoặc là những người có tổng số giờ làm việc bằng số giờ làm việc theo quy định trong tuần, tháng, năm nhưng có thu nhập quá thấp nên muốn làm thêm để có thu nhập cao hơn
Từ đó, ta có thể hiểu, việc làm của lao động nữ là những công việc mà
pháp luật cho phép, mang lại thu nhập cho lao động nữ, giúp họ có khả năng độc lập về kinh tế và phát triển các mối quan hệ xã hội Những công việc được thực hiện trong khu vực chính thức: các nhà máy, công sở, trường học, bệnh viện…; các công việc tại khu vực phi chính thức: dịch vụ chăm sóc trẻ, nội trợ, sản xuất kinh doanh nhỏ, thương nghiệp… và vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện ở Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng lần thứ VIII: “Đặc biệt coi trọng việc đào tạo nghề nghiệp, giúp đỡ chị em có việc làm, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo
Trang 16vệ sức khỏe của phụ nữ và trẻ em” ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn
quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 125
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX nhận định: Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân
1.1.3 Nguồn nhân lực xã hội Nguồn nhân lực xã hội là dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao
động
Và nếu xét ở phạm vi hẹp của một doanh nghiệp, chúng ta có khái niệm về nguồn nhân lực doanh nghiệp Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp,
do doanh nghiệp trả lương
Sử dụng nguồn nhân lực xã hội là quá trình thu hút và phát huy lực lượng lao động xã hội vào hoạt động xã hội (hoạt động lao động trong khu vực sản xuất vật chất và khu vực sản xuất phi vật chất) nhằm tạo ra của cải vật chất và văn hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội và mỗi thành viên trong xã hội Thước đo chung nhất biểu hiện trình độ sử dụng nguồn nhân lực xã hội là tỷ lệ người có việc làm, và ngược lại là tỷ lệ người thất nghiệp trong nguồn nhân lực so với lực lượng lao động xã hội Vì vậy, nói đến vấn đề sử dụng nguồn nhân lực xã hội là đề cập đến tình trạng có việc làm và thất nghiệp trong xã hội và việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực xã hội là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội
1.2 VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI
1.2.1 Nguồn nhân lực – mục tiêu và động lực của sự phát triển
Trang 17Nói đến vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển là nói đến vai trò của con người trong sự phát triển Vai trò của con người đối với sự phát triển thể
hiện ở hai mặt, thứ nhất, con người với tư cách là người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ và kho tàng văn hóa, thứ hai, với tư cách là người lao động, tạo ra tất cả các
sản phẩm đó với sức lực và óc sáng tạo vô hạn
Để tồn tại và phát triển, con người phải được đáp ứng những nhu cầu về mặt vật chất Sự tiêu dùng của con người không chỉ là sự tiêu hao kho tàng vật chất và văn hóa do con người tạo ra, mà chính là nguồn gốc của động lực phát triển xã hội Trong nền kinh tế thị trường, khối lượng và cơ cấu tiêu dùng là một yếu tố quyết định quy mô và cơ cấu sản xuất kinh doanh, dịch vụ Vì vậy, những khu vực đông dân cư, có mức nhu cầu cao và phong phú, thường là những điểm hấp dẫn cho đầu tư kinh doanh phát triển
Với tư cách là người sản xuất, con người có vai trò quyết định và là yếu tố
cơ bản nhất đối với sự phát triển sản xuất xã hội Trong bất kỳ một trình độ văn minh sản xuất nào, lao động của con người vẫn đóng vai trò quyết định Vấn đề chỉ là, cùng với sự phát triển của văn minh sản xuất sẽ dẫn đến sự thay đổi vị trí của lao động chân tay và lao động trí tuệ, trong đó lao động trí tuệ ngày càng có vai trò quyết định
Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư, vật chất và kỹ thuật còn nhiều hạn chế, với nguồn nhân lực dồi dào ngày càng được đào tạo chính quy, nước ta có lợi thế trong việc tham gia phân công lao động quốc tế, đặc biệt trên thị trường lao động quốc tế
1.2.2 Nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Về vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết Đại hội Đảng VIII đã khẳng định: “Nâng cao dân trí và
Trang 18phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng
lợi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Học viện HCQG, Giáo trình quản lý
nguồn nhân lực xã hội, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr.69
Trải qua một thời gian dài kiểm nghiệm và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, trong quá trình đổi mới với sự kết hợp giữa cải tiến công nghệ và tổ chức sản xuất, đào tạo đội ngũ nhân công, người đã tìm được mô hình mới, có thể được định nghĩa là một hệ thống sản xuất lấy con người là trung tâm Đây là mô hình thể hiện bước chuyển lên trình độ văn minh cao hơn, ở đó con người là mục tiêu chứ không phải là phương tiện của sự phát triển xã hội; trở thành triết lý cơ bản của chiến lược phát triển của mọi quốc gia
Như vậy, tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã không làm giảm đi vai trò của yếu tố con người, ngược lại nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và kỹ năng ngày càng trở thành lợi thế quan trọng nhất cho mỗi quốc gia
Xem xét yếu tố con người với tư cách là nguồn lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội, UNESCO nêu “Con người đứng ở trung tâm của sự phát
triển, là tác nhân và là mục đích của sự phát triển” Học viện HCQG, Giáo trình
quản lý nguồn nhân lực xã hội, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr.72
Ở nước ta, nhận thức vai trò động lực của nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta đã chỉ đạo “Lấy việc phát huy yếu tố con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”
ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 85 Nguồn lực con người được coi là nội lực cơ bản nhất
cần được khai thác và phát huy để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của trí tuệ và tri thức, các sáng tạo khoa học công nghệ sẽ tác động mạnh mẽ đến toàn nhân loại Trong khi đó, Việt Nam vẫn
Trang 19là nước nông nghiệp lạc hậu, đất hẹp, người đông, tài nguyên ít Con đường để Việt Nam có thể đi lên cạnh tranh và hòa nhập là nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời người lao động phải phát huy phẩm chất, bản chất quý báu, tốt đẹp của dân tộc Khâu đột phá quan trọng nhất là phải cải tiến hệ thống giáo dục – đào tạo để nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.3 CÁC HÌNH THỨC CHỦ YẾU GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẠO VIỆC LÀM LAO ĐỘNG NỮ
1.3.1 Các hình thức chủ yếu giải quyết việc làm
Xác định được các hình thức chủ yếu và cơ chế, chính sách thích hợp là nội dung cơ bản của chiến lược giải quyết việc làm
Có một số hình thức chủ yếu sau:
Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trong nông thôn, từng bước khắc phục tình trạng thiếu việc làm và chính sách việc làm kém hiệu quả ở nông thôn
Tác động vào sự phát triển kinh tế hộ gia đình, sản xuất hàng hóa ở nông thôn nhằm tạo ra nhiều chổ làm việc thông qua chính sách đầu tư qua tín dụng và dịch vụ sản xuất đa dạng và nhiều kênh
Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp di dân xây dựng vùng kinh tế - xã hội mới để gắn lao động với đất đai và tài nguyên khác
Phát triển các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ; phát triển đồng bộ sản xuất kinh doanh dịch vụ; phát triển khu vực kinh tế "phi kết cấu” (Kinh tế đại chúng) Các khu vực này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm cho người lao động Với hình thức này, nhân dân tự tạo việc làm là chính Nhà nước có chính sách trợ giúp, tạo môi trường pháp lý cho việc phát triển ngày càng tốt hơn
Trang 20Phát triển các hình thức gia công và sản xuất hàng tiêu dùng xuất khẩu để tạo việc làm
Khôi phục, duy trì và phát triển nghề cổ truyền để tạo việc làm, sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu; khuyến khích tự do di chuyển và hành nghề hữu ích
Tiếp tục tổ chức hình thức thanh niên xung phong làm xây dựng để tạo việc làm và giáo dục, đào tạo thanh niên Hướng chính là thu hút thanh niên tham gia các công trình trọng điểm, khai hoang, lấn biển, làm đường giao thông theo các dự án của Nhà nước
Khuyến khích các lực lượng vũ trang tham gia phát triển kinh tế, tạo việc làm Hướng chính là thu hút lực lượng này vào dự án của Nhà nước về xây dựng kết cấu hạ tầng, khai hoang lấn biển, trồng rừng và những công trình quy mô lớn
Phát triển các hội, hiệp hội làm kinh tế Hình thức này tạo được nhiều việc làm trong các gia đình, sử dụng được lao động nông nhàn, trẻ em, người
già, người tàn tật với vốn, công nghệ đơn giản, phổ thông
1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho lao động nữ
1.3.2.1 Giáo dục - Đào tạo
Giáo dục - Đào tạo đóng một vai trò quan trọng đối với vị trí và triển vọng tương lai của việc làm cho lao động nói chung và lao động nữ nói riêng Để giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng của lao động trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Phải coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất
lượng và phát huy hiệu quả” ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần
thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 107 Riêng đối với lao động
Trang 21nữ, Đảng và Nhà nước ta còn nhấn mạnh cần phải nâng cao kiến thức văn hóa, nghề nghiệp cho phụ nữ, bồi dưỡng lực lượng cán bộ nữ
Vấn đề đào tạo chuyên môn và tay nghề cho lao động nữ phụ thuộc vào sự quan tâm của các nhà quản lý cũng như nhu cầu học tập của bản thân lao động nữ
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, với trên 70% lực lượng lao động của cả nước ở nông thôn Trong quá trình hòa nhập với xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới, Việt Nam phải đồng thời thực hiện quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức Vì vậy, một thực tế mà chúng ta cần phải giải quyết là sự thừa quá nhiều lao động giản đơn mà lại thiếu lao động có tay nghề, có trí tuệ
Như vậy, trước ngưỡng cửa của nền kinh tế tri thức, những thách thức mới đối với lao động Việt Nam nói chung và lao động nữ nói riêng, đòi hỏi sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong chính sách về giáo dục và đào tạo cũng như sự nỗ lực phấn đấu của bản thân người lao động nữ trong việc học tập nâng cao trình độ, tay nghề
1.3.2.2 Sức khỏe
Sức khỏe là yếu tố rất quan trọng đối với phụ nữ, không chỉ tạo khả năng làm việc, tăng thu nhập mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống Như vậy, vấn đề nâng cao tình trạng sức khỏe cho người phụ nữ như là một phương tiện đối với việc phát triển kinh tế và con người; không còn giới hạn ở quyền lợi và trách nhiệm của mỗi cá nhân phụ nữ mà đó còn là nghĩa vụ và lợi ích của cộng đồng và toàn xã hội Sức khỏe vừa là mục đích vừa là điều kiện của sự phát triển nên yêu cầu bảo vệ và nâng cao sức khỏe lao động nữ là một đòi hỏi chính đáng mà xã hội phải bảo đảm
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của lao động nữ, từ chất lượng chăm sóc, chế độ dinh dưỡng trong gia đình, kể cả vấn đề sức khỏe sinh sản, đến
Trang 22những điều kiện làm việc và môi trường sinh sống; nếu được cải thiện tốt sẽ có tác động tích cực đến quá trình lao động, cống hiến của lao động nữ
1.3.2.3 Ảnh hưởng tâm lý xã hội, phong tục tập quán
Vấn đề tâm lý, tập quán đã ảnh hưởng tới cơ cấu lao động ngành nghề trong xã hội Thực tế phân bổ lao động theo ngành nghề kinh tế cho thấy có sự tích tụ của nữ vào một số hoạt động này, sự tích tụ của nam giới vào một số hoạt động kia, hay nói cách khác là có sự phân biệt nam nữ trong phân bố lao động theo khu vực và ngành nghề Điều này đã gây nên sự lãng phí cho việc sử dụng nguồn nhân lực của nền kinh tế quốc dân Một trong những nguyên nhân quan trọng của hiện tượng này là quan niệm rập khuôn về vai trò, vị trí của người phụ nữ
Tóm lại, người lao động nữ muốn có việc làm ổn định, phù hợp và có điều kiện phát huy tốt khả năng của mình thì cần có cách nhìn nhận đúng đắn của xã hội về việc làm của lao động nữ và bản thân lao động nữ cũng cần biết vượt lên những yếu tố tâm lý, tập quán lỗi thời của cuộc sống
1.3.2.4 Tự tạo việc làm của lao động nữ
Trong điều kiện xã hội có nhiều người thất nghiệp và thiếu việc làm thì vấn đề tự tạo việc làm là một vấn đề quan trọng Thông qua các nguồn vốn của Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, người lao động nói chung mà đặc biệt là lao động nữ nói riêng đã biết chủ động sử dụng nguồn vốn vay để tự tạo việc làm
Tự tạo việc làm của lao động nữ góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động Trong quá trình tự tạo việc làm, ở một số ngành nghề, phụ nữ vừa là người chủ đồng thời là người lao động Người lao động nữ vừa cần có kiến thức, kỹ năng lao động, sự hiểu biết, vừa cần có kinh nghiệm quản lý và điều hành doanh nghiệp nhỏ do mình tạo dựng để nắm bắt tốt các thông tin trên thị trường, chủ động tạo việc làm
Trang 231.3.2.5 Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội
Cơ chế chính sách của Nhà nước, của chính quyền địa phương và các quy định của chủ doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến tạo việc làm cho lao động nói chung và lao động nữ nói riêng Những chính sách của Nhà nước là hành lang pháp lý cho quá trình phát triển sản xuất, mở rộng hoặc thu hẹp việc làm ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, ngành này hay ngành khác, tạo môi trường để người chủ sử dụng lao động và lao động nữ cùng tôn trọng và thực hiện Chính sách và cơ chế của nhà nước đã trực tiếp hay gián tiếp khuyến khích các chủ sử dụng lao động thu hút hoặc sa thải lao động nữ
Vấn đề đặt ra là các nhà hoạch định chính sách lồng ghép vấn đề giới trong chính sách kinh tế - xã hội, việc làm, đào tạo và phát triển; người sử dụng lao động cần thay đổi cách nghĩ, có nhận thức đúng đắn, thực hiện nghiêm túc các chính sách, tạo cơ hội bình đẳng giới cho lao động nữ
* Thuận lợi và khó khăn đối với vấn đề việc làm của lao động nữ
Thuận lợi: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay, việc đổi mới cơ chế kinh tế đã đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho người dân nói chung và lao động nữ nói riêng trong vấn đề tìm việc làm, tăng thu nhập Ngoài việc tham gia lao động trong các đơn vị kinh tế, người dân, nếu có vốn, tư liệu sản xuất và có khả năng kinh doanh đều được khuyến khích tự tạo việc làm trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm Đồng thời, những đặc điểm riêng có của người phụ nữ Việt Nam cũng góp phần tạo những thuận lợi nhất định đối với công tác giải quyết việc làm trên địa bàn huyện, cụ thể như: cần cù, chịu thương chịu khó, siêng năng, nhẫn nại, kiên trì, có tinh thần cầu tiến…
Khó khăn: Một thực tế khách quan là trình độ, tay nghề, tính cơ động, sức
khỏe của lao động nữ so với nam giới cũng còn một khoảng cách, việc đào tạo
Trang 24lại và chuyển đổi nghề thường khó khăn, chi phí xã hội lao động nữ lại lớn (bao gồm bảo hiểm xã hội, phúc lợi xã hội) Xu hướng chung là phụ nữ ở thành phố, nhất là bộ phận nữ thanh niên có trình độ thường nhạy bén với cái mới là những người nắm bắt cơ hội việc làm thuận lợi hơn những người có tuổi, sức khỏe yếu, thiếu năng động và trình độ văn hóa Những phụ nữ nông thôn, đặc biệt là phụ nữ vùng xa xôi, hẻo lánh, đông con, không có sức khỏe ổn định, thiếu tư liệu sản xuất có thể là nhóm phụ nữ có nguy cơ không đủ việc làm, do đó khả năng dẫn đến sự nghèo đói là điều khó tránh khỏi Bên cạnh đó, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại ở một số ngành, lĩnh vực, cơ quan, đơn vị… Từ đó, có sự ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ trên địa bàn huyện
Trang 25TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Có thể nói, vấn đề giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nói chung và lao động nữ nói riêng là một trong những vấn đề mang tính đặc thù, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – chính trị của mỗi quốc gia Bởi vì nó tác động đến những con người cụ thể với hoàn cảnh, nguyện vọng, sở thích, cảm xúc và văn hóa riêng biệt Và tác động này cũng có thể được hiểu như là một trong những hoạt động của công tác quản trị nguồn nhân lực Con người là một nguồn lực quan trọng nhất của bất kỳ tổ chức nào Do đó, việc làm rõ những khái niệm về vấn đề lao động, việc làm, thất nghiệp, những nhân tố ảnh hưởng, cách thức giải quyết và đặc biệt là đối với lao động nữ sẽ giúp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nói chung và lao động nữ nói riêng
Tóm lại, đối với Việt Nam hiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam đã là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới thì vấn đề tạo việc làm cho lao động nói chung và lao động nữ nói riêng là vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách đặt
ra cần giải quyết, cần đổi mới cơ bản cả về tư duy, cơ chế và tìm hướng đi phù hợp
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI HUYỆN
HÓC MÔN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN HÓC MÔN
2.1.1 Đặc điểm về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Hóc Môn là một huyện ngoại thành, nằm ở phía Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm Thành phố khoảng 20km; phía Bắc giáp huyện Củ Chi, phía Nam giáp huyện Bình Chánh, phía Đông giáp Quận 12 và huyện Thuận An (tỉnh Bình Dương), phía Tây giáp huyện Đức Hòa (tỉnh Long An); diện tích tự nhiên là 109,261km2; địa hình tương đối bằng phẳng, không bị chia cắt
Giao thông có cả đường bộ, đường thủy, thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa giữa huyện với các quận, huyện trong thành phố và các tỉnh lân cận Đường bộ có Quốc lộ 22 (đường Xuyên Á) đoạn chạy qua huyện dài khoảng 5km, Quốc lộ 1A dài 3km; Tỉnh lộ có Tỉnh lộ 9, 14, 15, 16 và các Hương lộ 12, 60, 65, 70, 80; đường liên xã cũng khá phát triển Đường thủy có sông Sài Gòn đoạn chạy qua địa bàn huyện dài 17km, cùng hệ thống sông rạch chằng chịt như: rạch Bến Cát, rạch Bà Hồng, rạch Tra, rạch Hóc Môn, kênh Cầu Sáng, kênh Thầy Cai, kênh An Hạ…
2.1.2 Đặc điểm về văn hóa, xã hội và đơn vị hành chính
Từ thế kỷ XIX đến trước ngày giải phóng 30/4/1975, Hóc Môn là một quận của tỉnh Gia Định Sau ngày giải phóng, Hóc Môn là một huyện của thành phố Sài Gòn – Gia Định Tháng 7/1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đổi tên thành phố Sài Gòn – Gia Định thành Thành phố Hồ Chí
Trang 27Minh; từ đó đến nay, Hóc Môn là một huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, có 11 xã và 01 thị trấn
Thành phần dân tộc của huyện khá thuần nhất, trên 90% là người dân tộc Kinh Ngoài ra còn có một số ít người dân tộc Hoa, người Việt gốc Hoa, người Khơme Các dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện từ lâu đời đã có truyền thống đoàn kết, thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau
Hóc Môn có lịch sử phát triển trải qua hàng trăm năm, có truyền thống quật cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc, là huyện “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”; đó là niềm tự hào của các tầng lớp nhân dân, là sức mạnh tinh thần to lớn để các thế hệ nối tiếp nhau phát huy trong quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước
2.1.3 Đặc điểm về kinh tế
Tháng 4/1997, sau khi chia tách huyện, nền kinh tế gần như thuần nông, diện tích đất sản xuất nông nghiệp xấp xỉ 8.000 ha, chiếm 80% diện tích toàn huyện, công nghiệp tuy nhỏ bé nhưng tiềm năng phát triển lớn
Tuy nhiên, sau hơn 10 năm hoạt động, cơ cấu các ngành kinh tế của huyện có sự thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp, thương mại – dịch vụ và giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp Đây cũng chính là xu thế chung của Thành phố cũng như cả nước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 28Biểu đồ 2-1: Tỷ trọng các ngành kinh tế huyện năm 2007
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: từ năm 2001 – 2005, huyện tiếp
tục đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và tập trung thế mạnh vào các ngành có lợi thế như chế biến lương thực thực phẩm, may mặc nội địa, chế biến gỗ, nhựa, cao su nên sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp có tốc độ phát triển ở mức cao, giai đoạn 2001 – 2005, tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 33,10%, giá trị sản lượng (tính theo giá cố định 1994) từ 192.900 triệu đồng của năm 2000 đã tăng lên 740.000 triệu đồng (không tính giá trị sản lượng của những doanh nghiệp có trụ sở ngoài huyện) gấp 3,85 lần so với năm 2000 và chiếm 57,9% tổng giá trị sản lượng kinh tế Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của huyện gồm 12 nhóm ngành, trong đó có 04 nhóm ngành có giá trị lớn, chiếm tỷ trọng từ 10% trở lên và có tốc độ phát triển bình quân hàng năm trên 20% là ngành chế biến lương thực thực phẩm, chế biến gỗ – giấy bao bì, may – da giày, nhựa – cao su Nhiều sản phẩm công nghiệp đạt chất lượng cao và có uy tín trên thị trường: băng gạc y tế Bảo Thạch, bóng
Trang 29đèn điện tử Sao Sài Gòn, nhóm hàng thủ công mỹ nghệ Hiệp Lực, sản phẩm dược và thược dược của công ty Đông Nam Dược Bảo Long…
Và hiện tại, năm 2007, giá trị sản xuất CN – TTCN trên địa bàn huyện là 1.273.700 triệu đồng (tính theo giá cố định 1994), đạt 100% kế hoạch, tăng 24%
so với năm 2006, trong đó, các ngành chế biến lương thực thực phẩm, nhựa và cao su, plastic, dệt, may tiếp tục chiếm tỷ trọng cao
Và nếu xét về mức độ đóng góp của các thành phần kinh tế trong tổng giá trị sản lượng ngành CN – TTCN thì thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 100% tổng giá trị sản lượng (số liệu bảng 2-1)
Bảng 2 -1: Giá trị sản xuất CN – TTCN phân theo thành phần kinh tế
STT Thành phần kinh tế Giá trị
(triệu đồng)
Tỷ trọng (%)
Tốc độ phát triển (%)
02 Công ty cổ phần có
vốn ngoài nhà nước
227.914 17.98 33.04
04 Sản xuất nhỏ cá thể 110.115 8.65 12.72
Nguồn: Phòng Kinh tế huyện
Nông nghiệp: Tiếp tục chịu ảnh hưởng quá trình đô thị hóa và thực hiện
chuyển đổi đất kém hiệu quả sang trồng và nuôi con khác có hiệu quả hơn, diện tích đất canh tác tiếp tục giảm, ngành trồng trọt bị giảm sút, tình hình chăn nuôi cũng gặp không ít khó khăn do nguy cơ dịch cúm gia cầm H5N1 tái bùng phát, cùng với đó là dịch lở mồm long móng ở heo và dịch heo tai xanh Tuy nhiên, nhờ kiểm soát tốt nên huyện Hóc Môn không để bùng phát dịch, sản xuất nông nghiệp tiếp tục ổn định và phát triển Tổng giá trị sản lượng nông nghiệp năm
Trang 302001 đạt 159.613 triệu đồng, đến năm 2005 đạt 198.275 triệu đồng, tăng trưởng bình quân hàng năm 6,7%, tăng gấp 1,36 lần so với năm 2000 Cơ cấu nông nghiệp đã chuyển dịch đúng hướng, chăn nuôi phát triển thành ngành chính và chiếm tỷ trọng 61,51% Kết quả thực hiện các chương trình phát triển đàn bò sữa, đề án phát triển cây ăn trái, lúa giống, rau an toàn đã chứng tỏ nông nghiệp huyện có điều kiện và cơ sở đi vào cây, con giống với sự kết hợp của bốn nhà (nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nước)
Năm 2007, giá trị tổng sản lượng nông – lâm – ngư nghiệp (giá cố định 1994) đạt 230.854 triệu đồng, tăng 7,27% so với năm 2006
Bảng 2-2: Giá trị sản xuất các ngành nông – lâm – ngư nghiệp
Ngành Thực hiện 2007
(triệu đồng)
Tỷ trọng (%)
Tốc độ phát triển
(%)
Nguồn: Phòng Kinh tế huyện
Thương mại – dịch vụ: sự phát triển của công nghiệp và chuyển dịch cơ
cấu của nông nghiệp đã thúc đẩy thương mại – dịch vụ phát triển, nhiều dịch vụ
đi kèm với sự phát triển của công nghiệp, nông nghiệp và đáp ứng nhu cầu của người dân, mang lại hiệu quả kinh tế cao như nhà trọ, điện thoại, ăn uống, thú y góp phần vào tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành giai đoạn 2001 –
2005 là 21,85%, gấp 08 lần so với năm 2000 Hoạt động của công ty cổ phần thương mại Hóc Môn, chợ rau đầu mối Tân Xuân đã có vai trò tích cực trong phát triển thương mại – dịch vụ của huyện Đặc biệt, Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh Hóc Môn đã phát vay trong 5 năm (2001 – 2005) với
Trang 31980.000 triệu đồng, tăng gấp 4,47 lần so với năm 2001; riêng đối với con bò sữa, ngân hàng đã phát vay với lãi suất ưu đãi theo quyết định 419 của Thành phố là 6,67 tỷ đồng Toàn huyện hiện có 16 Hợp tác xã (với 1.025 xã viên) và 32 tổ hợp tác (tăng 14% so với năm 2006)
Năm 2007, tổng mức hàng hóa bán ra và doanh thu dịch vụ là 9.202.780 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch, tăng 21,44% so với năm 2006
Bảng 2-3: Giá trị sản xuất thương mại – dịch vụ phân theo ngành hàng Ngành hàng Thực hiện 2007
(triệu đồng)
Tỷ trọng (%)
Tốc độ phát triển
(%)
Nguồn: Phòng Kinh tế huyện
Nhận xét chung về tốc độ phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Hóc Môn: Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt tỷ lệ cao
(22,5%) nhưng có bộ phận, có mặt phát triển chưa vững chắc; việc tận dụng thế mạnh huyện chưa triệt để, công nghiệp huyện với quy mô vừa và nhỏ là phù hợp nhưng cạnh tranh trên thương trường gặp rất nhiều khó khăn về thương hiệu, đổi mới thiết bị và công nghệ; công tác thông tin tiếp thị, mời gọi đầu tư chưa được quan tâm đúng mức Buổi đầu phát triển chưa có sự chọn lọc trong mời gọi đầu
tư nên việc tiếp nhận nhiều doanh nghiệp may mặc dẫn đến số lượng lao động nhập cư tăng nhanh; đặc điểm công nghiệp xen cài dân cư phù hợp cho những sản phẩm công nghiệp có hàm lượng chất xám cao, không hoặc ít ô nhiễm môi trường nhưng doanh nghiệp loại này còn ít; những sản phẩm tiểu thủ công nghiệp truyền thống như giỏ trạc (xã Xuân Thới Sơn), mỹ nghệ ngà sừng (xã
Trang 32Trung Chánh) không có thị trường ổn định, khó phục hồi; giá cả và thị trường sản phẩm nông nghiệp huyện không thể chủ động; việc triển khai các dự án còn chậm nên người dân chưa yên tâm đầu tư sản xuất và việc tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật của nông dân chưa cao; thương mại – dịch vụ chưa sâu rộng, chất lượng dịch vụ chưa cao
2.1.4 Đặc điểm về dân số, nguồn nhân lực và tình hình việc làm
Dân số huyện Hóc Môn năm 1975 là 194.000 người; năm 1997 sau khi tách huyện là 182.335 người và đến năm 2007 là 268.270 người (trong đó nữ chiếm 52,16%, 139.929 người) Tốc độ tăng dân số của huyện bình quân từ 2,49% - 3,3%; trong đó, tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,30% năm 2003 còn 1,1% năm 2007; tương ứng, tốc độ tăng dân số cơ học tăng từ 1,19% lên 2,2% Như vậy, tốc độ tăng dân số cơ học ở huyện Hóc Môn rất cao, nguồn nhân lực của huyện theo đó liên tục tăng qua các năm Tỷ lệ tăng cơ học này là do huyện Hóc Môn là nơi tiếp nhận quá trình giản dân của Thành phố Hồ Chí Minh và sự thu hút nhân lực của các ngành CN – TTCN của huyện ngày càng nhiều; quá trình di dân từ các quận huyện nội thành và từ các tỉnh về cư trú hình thành các khu dân cư mới như ở Bà Điểm, Xuân Thới Thượng, Tân Xuân, Thới Tam Thôn… Mật độ dân số trên địa bàn huyện là 2.455 người/km2
Lực lượng lao động trên địa bàn huyện năm 2007 là 174.751 người, tỷ lệ 65,14% dân số; trong đó, lực lượng lao động nữ là 94.453 người, tỷ lệ 54,05% và tỷ lệ lao động nữ được tạo việc làm mới chiếm 59,07% so với tổng số Lao động nữ trên địa bàn huyện Hóc Môn nhìn chung còn hạn chế về trình độ học vấn, tay nghề, chủ yếu làm những công việc mang tính thủ công là chính Ngoài
ra, lao động nữ còn chịu áp lực đặc thù của thiên chức làm mẹ, làm vợ và các yếu tố tâm lý xã hội Bên cạnh tham gia lao động tìm kiếm thu nhập, lao động
Trang 33nữ phải đảm bảo chu toàn chăm sóc tốt cho gia đình về đời sống vật chất, tinh thần
Lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tính đến năm
2007 là 117.240 người, chiếm tỷ lệ 67,09% trong tổng số lực lượng lao động; trong đó, lực lượng lao động nữ là 65.162 người, chiếm tỷ lệ 55,58% lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế
Về tình hình việc làm – thất nghiệp: Quán triệt đường lối, chính sách
của Đảng về vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, lao động nữ nói riêng, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã tham mưu HU – HĐND - UBND huyện ban hành nhiều văn bản nhằm giải quyết tốt nhất vấn đề việc làm cho người lao động, cụ thể: Đề án 01 – ĐA/HU về nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo; Đề án 02 – ĐA/HU về xóa đói giảm nghèo; Đề án số 04-ĐA/HU về giải quyết việc làm; Chương trình 05 – CTr/HU về phát triển công nghiệp; Chương trình 06 – CTr/HU về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Chương trình 11 – CTr/HU về đầu tư cho xã – thị trấn phát triển kinh tế – xã hội; Chương trình 725/CTr-UBND về giải quyết việc làm trên địa bàn huyện Hóc Môn, giai đoạn 2006 -
2010 Từ đó, góp phần tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động giữa các ngành, thúc đẩy phát triển sản xuất, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn
Ngoài ra, huyện Hóc Môn đã triển khai thực hiện Chương trình Quốc gia về việc làm đồng thời cùng với nhiều chương trình, dự án đầu tư khác của các Hội đoàn thể như: hỗ trợ vốn phát triển chăn nuôi của Hội Nông dân, trợ vốn phát triển tiểu thủ công nghiệp của Hội Phụ nữ đã góp phần tích cực giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nói chung và lực lượng lao động nữ nói riêng Và theo báo cáo của Hội LHPN huyện, từ năm 2004 đến năm 2007 đã giải quyết
Trang 34việc làm 11.891 lao động nữ, đạt tỷ lệ 59,07% trong tổng số lao động được giải quyết Riêng năm 2005, huyện phối hợp cùng Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố tổ chức Ngày hội việc làm tại Trung tâm dạy nghề huyện Hóc Môn (từ ngày 08 đến ngày 09/10/2005), thu hút 14.937 người tham gia, đã giải quyết được 11.178 lao động, trong đó có 5.897 lao động nữ, tỷ lệ 52,76%
Công tác xuất khẩu lao động cũng có chuyển biến tích cực, thị trường xuất khẩu lao động được mở rộng; bình quân mỗi năm giải quyết được 122 lao động nữ đi xuất khẩu lao động
Tuy nhiên, tình hình thất nghiệp của lao động nói chung và lao động nữ nói riêng vẫn còn là gánh nặng đối với quá trình CNH, HĐH của huyện Hóc Môn
Bảng 2-4: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ chia theo nhóm tuổi và khu vực
Nguồn: Phòng thống kê, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện
Bảng 2-4 cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động nữ tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 15 – 24, với tỷ lệ 62,43% là phù hợp vì trong độ tuổi này phần lớn còn tham gia học tập và thất nghiệp thấp nhất ở độ tuổi từ 55 – 59, tỷ lệ 0,73%, thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa
Trang 35Đặc biệt, nhờ sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền từ huyện đến xã – thị trấn về giải quyết việc làm, tạo nhiều chổ làm mới cho lực lượng lao động, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động nói chung đã có sự chuyển biến tích
cực, từ 6,31% năm 1999, đến năm 2007 chỉ còn 2,85%; thất nghiệp chủ yếu xảy ra
nhiều ở khu vực nông thôn do quá trình đô thị hóa, làm giảm diện tích đất canh tác
2.1.5 Về công tác giáo dục – đào tạo và dạy nghề
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục - đào tạo đối với chất lượng nhân lực của huyện nên chính quyền địa phương đã chú trọng công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo tập trung, rà soát đánh giá lại chất lượng đội ngũ nhân lực trong các doanh nghiệp, các lĩnh vực ngành, nghề, cán bộ, công chức, viên chức hiện có; phân tích chất lượng cán bộ, cơ cấu, nhu cầu đào tạo của các trường dạy nghề, của từng cấp, từng ngành, các xã - thị trấn; phân loại các loại hình đào tạo, các cấp đào tạo, nâng cao dân trí, xóa mù chữ Đào tạo có đào tạo chính quy, không chính quy, đào tạo có bằng và đào tạo không có bằng với phương châm đào tạo là để biết, để hành động, để làm việc, để thích ứng với sự phát triển không ngừng của khoa học và đòi hỏi đổi mới về chiều sâu của các doanh nghiệp Trên cơ sở đó bổ sung từng bước, hoàn thiện quy hoạch nhân lực; gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng theo một quy trình khá chặt chẽ, khoa học Đến nay, toàn huyện đã chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên: ngành mầm non đạt 100%, bậc tiểu học đạt 99%, bậc trung học cơ sở đạt 98%, là huyện đầu tiên của Thành phố được kiểm tra đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở và chống mù chữ
Chất lượng đào tạo các cấp học, bậc học ngày càng ổn định và phát triển
Về dạy nghề và mạng lưới trường đào tạo chuyên nghiệp, dạy nghề:
năm 1997, sau khi tách huyện tất cả các trường dạy nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục kỹ thuật hướng nghiệp đều được chuyển giao cho Quận
Trang 3612 Năm 2005, khi Trung tâm dạy nghề xây dựng xong, bắt đầu đưa vào hoạt động đã mở ra vừa dạy nghề, vừa giới thiệu việc làm Bước đầu cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy còn thiếu, chỉ có một số ít máy vi tính và máy may công nghiệp nhưng cũng góp phần vào công tác đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn
Và hiện tại, sau gần 02 năm đi vào hoạt động, Trung tâm dạy nghề huyện đã góp phần vào công tác đào tạo – giáo dục và dạy nghề cho người dân với kết quả cụ thể như sau:
Bảng 2-5: Kết quả giáo dục - đào tạo nghề
ĐVT: Người
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số học sinh đào tạo 3.113 4.797 3.770 Số học sinh tốt nghiệp 2589 4095 3053
Nguồn: Trung tâm dạy nghề huyện
Về thực trạng cơ sở giáo dục:
Toàn huyện hiện có 58 trường công lập, trong đó có 5 trường trung học phổ thông, 12 trường trung học cơ sở, 25 trường tiểu học, 16 trường mầm non công lập Nhìn chung mạng lưới trường phổ thông phát triển khá đều trên địa bàn huyện (xem thêm ở phụ lục 13) Tuy nhiên, hệ thống trường lớp trên địa bàn huyện hiện vẫn đang trong tình trạng thiếu thốn trầm trọng nhưng tiến độ xây dựng trường thì rất chậm Nguyên nhân chủ yếu là do tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng chậm, thay đổi ở khâu thiết kế và một phần cũng do năng lực còn hạn chế của cán bộ chịu trách nhiệm theo dõi
Trang 372.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI HUYỆN HÓC MÔN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.2.1 Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hóc Môn
2.2.1.1 Giải quyết việc làm cho lao động nữ theo ngành kinh tế
Bảng 2-6: Lao động nữ đang làm việc trong các ngành kinh tế
ĐVT: người, %
Nông – lâm - ngư nghiệp CN - XDCB Dịch vụ
Năm Tổng số
LLLĐ
ĐLV
Nữ Tổng số
nữ
Tỷ trọng
Tổng số nữ
Tỷ trọng
Tổng số nữ
Tỷ trọng
Nguồn: Phòng thống kê, Phòng Kinh tế huyện
Số liệu bảng 2-6 cho thấy, lao động nữ có xu hướng giảm dần trong lĩnh vực nông nghiệp, năm 2003 chiếm 25,73% trong tổng số lao động nữ đang làm việc trong các ngành kinh tế thì đến năm 2007, con số này chỉ còn là 16,95% Ngược lại, lao động nữ có xu hướng tăng nhanh trong lĩnh vữc CN – TTCN và
DV, mà đặc biệt là khu vực CN – TTCN, từ 42,45% năm 2003 thì hiện tại, năm
Trang 382007 là 53,38% Điều này thể hiện đường lối phát triển kinh tế – xã hội mà Nghị quyết Huyện Đảng bộ nhiệm kỳ IX (2006 – 2010) đề ra đã đi đúng hướng và việc hướng lao động nữ tham gia ngày càng nhiều vào khu vực CN – TTCN và
DV sẽ góp phần nâng cao trình độ dân trí, chuyên môn kỹ thuật cho lao động nữ nói riêng và lực lượng lao động nói chung (vì họ phải tự tìm tòi, học hỏi nâng cao trình độ kiến thức để đáp ứng yêu cầu công việc)
Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp, đồng thời cũng tạo nhiều việc làm cho lực lượng lao động nói chung và lao động nữ nói riêng Đồng thời sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp đã góp phần giảm tỷ lệ lao động nữ trong nông nghiệp hàng năm (năm 2003 là 11.717 người, năm 2007 là 11.045 người)
Ngành CN – XDCB trên địa bàn huyện đang từng bước phát triển dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú; sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề truyền thống cũng góp phần không nhỏ vào tốc độ tăng trưởng chung của ngành Số lao động nữ đang làm việc trong ngành CN – XDCB có xu hướng tăng nhanh trong thời gian qua, do sự dịch chuyển của lao động nữ trong lĩnh vực nông nghiệp (năm 2003 là 19.332 người, năm 2007 là 34.783 người) Như vậy, từ năm 2003 đến năm 2007 đã có thêm 15.451 chỗ làm việc mới cho lao động nữ (theo bảng 2-6) Đây là con số không nhỏ, thể hiện sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trong công tác giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nói chung và lao động nữ nói riêng
Ngành thương mại, du lịch và dịch vụ phát triển là điều kiện tốt nhất để khai thác nguồn tiềm năng lao động nữ của huyện, tạo thêm việc làm cho lao động nữ Tuy nhiên, sự phát triển của ngành thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện thời gian qua còn khá khiêm tốn, cơ bản đã đáp ứng nhu cầu hàng hóa cho đời sống và sản xuất, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất, xây dựng
Trang 39đời sống Năm 2003, số lao động nữ làm việc trong ngành dịch vụ là 14.491 người thì năm 2007 là 19.334 người, tăng 4.843 người (theo bảng 2-6)
Như vậy, cơ cấu kinh tế huyện Hóc Môn đang từng bước thay đổi, sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp Theo đó, cơ cấu việc làm và cơ cấu lao động cũng có sự thay đổi Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ tăng lên; lao động nữ có xu hướng giảm dần trong khu vực nông nghiệp, tăng nhanh trong khu vực công nghiệp và dịch vụ
2.2.1.2 Giải quyết việc làm lao động nữ theo thành phần kinh tế
Sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng
Bảng 2-7: Lao động nữ đang làm việc chia theo thành phần kinh tế
Nguồn: Phòng Kinh tế huyện
Bảng 2-7 cho thấy, số lao động nữ làm việc trong thành phần kinh tế cá thể chiếm đa số so với các thành phần kinh tế khác, từ 34.465 lao động năm
Trang 402003 (tỷ lệ 75,68%) thì năm 2007 là 50.292 lao động (tỷ lệ 77,18%) Như vậy, từ năm 2003 đến năm 2007, khu vực kinh tế cá thể đã góp phần tạo thêm 15.827 chỗ làm việc mới cho lao động nữ Trong khi đó, khu vực kinh tế nhà nước chỉ góp phần giải quyết cho 3.278 trường hợp; tương ứng, khu vực kinh tế tập thể là
162 trường hợp, tư nhân là 240 trường hợp và 115 trường hợp ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Như vậy, tốc độ tạo việc làm mới của thành phần kinh tế cá thể cao hơn nhiều so với các thành phần khác, đóng vai trò rất quan trọng trong thu hút lao động, giải quyết việc làm Các thành phần kinh tế khác tuy tham gia còn khá khiêm tốn nhưng trong tương lai cũng sẽ đóng góp không nhỏ cho công tác giải quyết việc làm của huyện, đặc biệt là thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Điều này thể hiện vai trò tác động tích cực của các chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng
2.2.1.3 Giải quyết việc làm thông qua chương trình Quốc gia xúc tiến việc làm
Chương trình Quốc gia xúc tiến việc làm rất đa dạng, phong phú, tùy thuộc vào từng nhóm đối tượng, từng vùng và đặc điểm của từng địa phương Với đối tượng nghiên cứu là lao động nữ nên chỉ đề cập đến các chương trình xúc tiến việc làm có nội dung giải quyết việc làm cho lao động nữ như: giải quyết việc làm cho lao động nữ qua quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, hệ thống dịch vụ việc làm và xuất khẩu lao động
a Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm
Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về chủ trương, phương hướng, biện pháp giải quyết việc làm đã thực sự đi vào đời sống, góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề việc làm cho người lao