1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây

136 565 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 5,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi giới hạn nội dung nghiên cứu là so sánh mức độ phát triển của giáo dục Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới thông qua hệ thống cá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

BAO CAO TONG KET DE TAI

NGHIEN CUU SO SANH TRINH DO PHAT TRIEN

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI TRONG

KHOẢNG 10 NĂM GẦN ĐÂY

Trang 2

MỤC LỤC

1 4 Phương pháp nghiên cứu giáo dục so sánh 17

I 5 Các chỉ số giáo dục-công cụ để thực hiện giáo dục so 18

HÍ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRONG TƯƠNG LAI 33

1H.2 Xu thế giáo đục trong những năm đầu thế kỷ 21 35

PHẨNH NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN HỆ THỐNG CÁC | 39

CHÍ SỐ VÀ CÁC NƯỚC ĐỀ NGHIÊN CỨU SO SÁNH GIÁO DỤC

'PHẨNHI ¡ NGHIÊN CỨU SO SÁNH “TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, 49

VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THE GIGI DUGC LUA CHỌN

H1 Nghiên cứu tình hình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục 66

2

Trang 3

của Việt Nam và một số nước trên thế giới

¡ I2 Nghiên cứu so sánh qui mô phát triển giáo dục của Việt ¡

¡ 13 Nghiên cứu so sánh về chất lượng giáo dục 88

14 Nghiên cứu so sánh về các điều kiện đảm bảo phát triển, 91

giáo dục

I5 So sánh về công bằng trong giáo dục 102

1L6 Xã hội hoá giáo dục ở Việt Nam và một số nước 109

I7 Nghiên cứu so sánh về chỉ số phát triển con người (HDI) ; 114

: 1I.8 Nghiên cứu so sánh về một số các chỉ số giáo dục khác 117

PT TH KHUYỂN NGHỊ 129"

Trang 4

DANH MUC TU VIET TAT

Công nghiệp hoá Chủ nghĩa xã hội Giáo dục và Đào tạo Giáo dục mầm non Thu nhập quốc nội Thu nhập quốc dân Giáo dục Quốc dân Hiện đại hoá

Chỉ số phát triển con người Báo cáo phát triển con người

Học sinh Khoa học - công nghệ Kính tế - xã hội

Nghiên cứu khoa học Ngân sách Nhà nước

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng ï: Tình hình thu nhập (GDP/người) của các khu vực trên thế giới, 2000

Bảng 2: So sánh cơ cấu kinh tế và các chỉ số cơ bản của các nước ASEAN

Bảng 3: Chênh lệch giàu nghèo: Hệ số GINI của Việt Nam và một số nước trong khu vực

Bảng 4: So sánh GDP/đầu người năm 1998 của Việt Nam với một số nước

trong khu vực

Bảng 5: Ma trận các chỉ số KT-XH và GD&ĐT được thống kê hàng năm của Việt Nam và một số tổ chức quốc tế

Bảng 6: Các chỉ số Kinh tế - Xã hội được lựa chọn để nghiên cứu so sánh

Bảng 7: Các chỉ số phát triển giáo dục được lựa chọn để nghiên cứu so sánh Bảng 8: Danh sách các:hước được lựa chọn để nghiên cứu so sánh

Bảng 9: Phân loại các nước được lựa chọn theo một số các tiêu chí

Bảng 10: Tỷ lệ học sinh nhập học ở ASEAN trong độ tuổi đến trường, %

Bang 11: Tỷ lệ người lớn biết chữ của một số nước có cùng mức thu nhập với Việt Nam năm 2000

Bảng 12: Tỉ lệ người lớn biết chữ của các nước ASEAN, (%)

Bảng 13: Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi vào học mẫu giáo trong toàn quốc thời kỳ 1990-

2000

Bảng 14: Tỷ lệ nhập học các cấp bậc học phổ thông ở Việt Nam

Bảng 15: Quy mô phát triển đào tạo cao đẳng, đại học Việt Nam giai đoạn

1990-2001

Bảng 16: Tình hình học sinh, sinh viên các cấp, bậc học ở Việt Nam so với

năm học 1995-1996

Bảng 17:Tình hình lưu ban, bỏ học ở giáo dục phổ thông của Việt Nam

Bảng 18: So sánh quốc tế về chỉ yiêu cho giáo đục

Bảng 19: Sự tăng trưởng của chỉ tiêu công cho giáo dục ở Việt Nam

Bảng 20: Tình hình phân bổ chỉ tiêu công cộng cho giáo dục theo các cấp học ở các nước ASEAN trong giai đoạn 1995-1997

Bang 21: Phan bé chi tiêu công cộng cho giáo dục phân theo cấp giáo dục ở các khu vực trên thế giới

Bảng 22: Một số chỉ số về tài chính cho giáo dục đại học ở các nước

Bảng 23: Mức lương giáo viên so với thu nhập GDP bình quân đầu người

Bảng 24: Tỷ lệ học sinh/giáo viên ở Việt Nam trong giai đoạn 1990-1999

Bảng 25: Tỷ lệ lưu ban của học sinh tiểu học ở một số nước ASEAN,1999-2000 Bang 26: Ty phan chỉ phí trực tiếp của các hộ gia đình cho giáo dục ở Kênia

Trang 6

Bảng 27: Tỷ phần chi phí trực tiếp của các hộ gia đình cho giáo dục ở Việt Nam

Bảng 28: Tình hình phát triển giáo dục ngoài công lập ở Việt Nam năm học

2001-2002

Bảng 29: Tỷ lệ học sinh ngoài công lập năm học 2001-2002 (%)

Bảng 30: Chỉ số phát triển kinh tế — giáo dục của một số nước năm 1999

Bang 31: So sanh cdc số tỷ lệ và chỉ số về giáo dục của nước ta với các con số

cao nhất và thấp nhất của các nước trên thế giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ ï: Tốc độ tăng trưởng hang năm GDP /đầu người của một số nước trong giai đoạn 1993-1996

Biểu đồ 2: Tình hình thu nhập GDP/đầu người của các nước ASEAN

Biểu đồ 3: TỶ trọng các ngành trong GDP của một số nước năm 1991

Biểu đồ 4: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam

Biểu đô 5: Tỷ lệ hộ đói nghèo ở Việt Nam qua các năm

Biểu đô 6: Tỷ lê biết chữ của người lớn của Mông Cổ, Hàn Quốc, Takistan,

Philippin va Thai Lan, (%)

Biểu đô 7: Tỷ lệ biết chữ của người lớn ở Bangladesh, Ấn Độ, Nepal và Pakistan,

Biéu dé 15: Ty lệ nhập học thô bậc học mầm non của các nước ASEAN

Biểu đồ I6: So sánh tỷ lệ nhập học thô tiểu học của Việt Nam với Trung Quốc Biểu đô I7: So sánh tỷ lệ nhập học đúng tuổi tiểu học của Việt Nam với Trung

Quốc

Biểu đồ 18: Tỷ lệ nhập học trung học đúng tuổi của các nước ASEAN năm 1997

Biểu đồ 19: Tỷ lệ nhập học tỉnh bậc trung học của một số nước giai đoạn 1994-

1997

Biểu đồ 20: Tỷ lệ nhập học thô CĐ-ĐH của các nước ASEAN, 1999-2000

Biểu đồ 2]: Tỷ lệ nhập học thô.CĐ-ĐH của một số nước trên thế giới, 1999-2000

Biểu đồ 22: Tỷ lệ nhập học chung các cấp ở một số nước ASEAN

Biểu đồ 23: Tỷ lệ học sinh lưu ban ở bậc giáo dục tiểu học của Việt Nam

Biểu đồ 24: Tỷ lệ lưu ban tiểu học ở một số nước ASEAN

Biểu đồ 25: Tỷ lệ lưu ban tiểu học ở một số nước trên thế giới

Biểu đồ 26: TỶ lệ lưu ban ở bậc tiểu học của học sinh nữ, 1999-2000

Trang 8

Biểu đồ 27: Phân bổ chi tiêu công cộng cho giáo dục theo cấp học, 1994

Biểu đồ 28: Tỷ lệ HS/GV của các nước ASEAN ở bậc học mâm non năm học 1999-2000

Biểu đô 29: Tỷ lệ HS/GV ở bậc học mầm nơn của một số nước trên thế giới năm học 1999-2000

Biểu đồ 30: Tỷ lẹ HS/GV của các nước ASEAN ở bậc tiểu học năm 1999-2000 Biểu đô 31: Tỷ lẹ HS/GV ở bậc học tiểu học của một số nước trên thế giới

Biểu đồ 32: Tỷ lệ đi học chung các cấp của học sinh nữ ở một số nước trên thê

Biểu đỏ 36: Tình hình phát triển con người và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

trong giai đoạn 1992-2000

Biểu đồ 37: Chỉ só phát triển con người (HDD) của Việt Nam và theo vùng miễn, năm 1999

Biểu đồ 38: Chỉ số phát triển con người của Việt Nam và một số nước (số liệu

năm 2000)

Biểu đồ 39 : Số năm học bình quân của một số nước

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ ï: Hệ thống các loại hình giáo dục so sánh

Sơ đồ 2: Sự tương tác giữa các chỉ số giáo dục trong hệ thống giáo dục

Sơ đồ 3: Các nhân tố tác động đến hệ thống giáo dục

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý đo nghiên cứu đề tài

Xác định thực trạng và kinh nghiệm phát triển GD&ĐT của các nước trong khu vực

và trên thế giới sẽ giúp ta có thêm kinh nghiệm để phát triển hệ thống giáo dục quốc

dân

2 Mục đích nghiên cứu:

So sánh trình độ phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: trình độ phát triển giáo dục Việt Nam và một số nước

trên thế giới trong 10 năm gần đây

Khách thể nghiên cứu: so sánh trình độ phát triển giáo dục Việt Nam với một số

nước trên thế giới

4 Phạm vi nghiên cứu:

Theo “Đại từ điển tiếng Việt” (NXB Văn hoá - Thông tin, 1999), trình độ phát

triển được hiểu là mức đạt được theo chiều hướng tăng lên Do đó, trình độ phát triển

giáo dục là mức độ tăng lên của giáo dục được xác định trong một khoảng nhất định Theo quan niệm này mức độ phát triển giáo dục là một phạm trù rộng, được đánh giá thông qua hệ thống các chỉ số giáo dục Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi giới hạn nội dung nghiên cứu là so sánh mức độ phát triển của giáo dục Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới thông qua hệ thống các chỉ số giáo dục cơ bản giữa các nước

5 Nội dung nghiên cứu:

s - Một số khái niệm cơ bản liên quan đến so sánh GD&ĐT: chỉ số, so sánh,

e Nghiên cứu, phân tích và lựa chọn các chỉ số so sánh GD&ĐÐT

e Thu thập và xử lý thông tin, số liệu GD&ĐT Việt Nam và quốc tế (từ 1990 đến nay)

©_ So sánh mức độ phát triển GD&ĐÐT Việt Nam với một số nước trong khu vực

và trên thế giới thông qua hệ thống các chỉ số cơ bản GD&ĐT đã được lựa chọn

® Nhận xét đánh giá và kiến nghị

6 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:

- _ Phương pháp tổng quan tài liệu trong và ngoài nước

- Phương pháp chuyên gia

Trang 10

PHAN I

CÁC VẤN ĐỀ CHUNG

MỞ ĐẦU

Trải qua 55 năm phát triển, đặc biệt trong 15 năm đổi mới gần đây, giáo dục

Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi đưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Trong bốt

cảnh thế giới có nhiều biến đổi, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng KH-CN, đặc

biệt công nghệ thông tin va xu thế toàn cầu hoá, vai trò của giáo dục ngày càng trở nên quan trọng hơn và là động lực phát triển, nhân tố quyết định tương lai của mỗi quốc gia Với mục tiêu đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp, việc nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới là một yêu cầu cấp thiết nhằm hiểu rõ hơn về giáo dục Việt Nam, học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến, làm cơ sở để hoạch định và thực hiện chính sách phát triển giáo dục, đáp ứng nhu cầu

phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI

1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ GIÁO DỤC SO SÁNH

1.1 CÁC KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA VỀ GIÁO DỤC SO SÁNH

Giáo dục so sánh là một ngành khoa học có lịch sử đúng 175 năm từ ngày danh

từ ấy ra đời Giáo dục so sánh được quan niệm khác nhau theo từng thời gian

Năm 1954 theo giáo sư Isaac Kandel làm việc tại Khoa Sư phạm trường Đại học Tổng hợp Columbia ở Mỹ, trong cuốn sách “Thời đại mới trong giáo dục” đã viết

về khái niệm giáo dục so sánh như sau: “Giáo dục so sánh phân tích và so sánh các nguồn lực tạo nên sự khác nhau giữa hệ thống giáo dục quốc của các nước” (to analyse and compare the forces which make for differences between national systems of education).!

Năm 1960, Goerge Bereday, một nhà nghiên cứu về giáo dục so sánh của Khoa

Sư phạm trường Đại học Tổng hợp Columbia ở Mỹ, trong cuốn sách “Phương pháp so sánh trong giáo dục” đã viết: “Giáo dục so sánh nghiên cứu phân tích các hệ thống giáo dục nước ngoài” (the analytical study of foreign educational systems).”

Năm 1969, hai tác giả Harold Noah và Mã Eckstein ở trường Đại học Tổng hợp New York trong cuốn sách “Tiến tới một khoa học giáo dục so sánh” đã viết: “Giáo dục so sánh nằm ở chỗ giao thoa giữa các môn khoa học xã hội, giáo dục và nghiên

"Isaac Kandel: The New Era in Education Harrap, London, 1954, p 8

? George Bereday: Comparative Method in Education Holt, Rinehart and Winston, New York, p 9

10

Trang 11

cứu xuyên quốc gia” (Comparative education is at the intersection of the social

sciences, education and cros-national study)

Năm 1976, Allan Robert Trethewey ở trường Đại học Victoria ở Oxtraylia, trong cuốn sách “Nhập môn giáo dục so sánh” đã viết: “Giáo dục so sánh bao giờ cũng hướng sự chú ý vào các tư tưởng, quá trình và thực tiễn trong các xã hội khác” (Comparative education has always directed attention to educational ideas, processes

and practices in other societies).*

Năm 1978, M A Xôcôlôva ở trường Đại học Sư phạm Quốc gia Matxcova trong sách giáo khoa “Giáo dục so sánh” cho sinh viên các trường đại học sư phạm Liên Xô đã viết: “Giáo dục so sánh nghiên cứu những nét chung và riêng biệt và xu thế phát triển lý luận cũng như thực tiễn dạy học và giaó dục trong thế giới hiện đại bao

gồm các cơ sở kinh tế, chính trị xã hội, triết học, và cả những đặc điểm dân tộc”.”

Năm 1981, ông Lê Thành Khôi, giáo sư trường Đại học Paris, trong cuốn sách

“Giáo dục so sánh” đã viết: “Giáo dục so sánh không chỉ còn liên quan đến việc so sánh các hệ thống giáo dục, mà còn nói đén mối quan hệ của các hệ thống đó với môi trường xung quanh trong phạm vi quốc gia và quốc tế”,5

Năm 1982, Philip Altbach ở Đại học Tổng hợp bang New York ơ Buffalo cùng các đồng nghiệp của mình trong cuốn sách “Giáo dục so sánh” đã viết như sau: “Giáo dục so sánh tiến hành so sánh hệ thống giáo dục các nước nhằm một mục đích nhiều mặt: hiểu biết quốc tế; cải tiến hoặc cải cách giáo dục ở nước mình hoặc nước ngoài và/hoặc giải thích sự khác nhau giữa các nước”.”

Năm 1990 W D Halls cùng nhiều tác giả khác đã viết một cuốn sách do

UNESCO xuất bản có tên là “Giáo dục so sánh: các vấn đề và xu thế hiện nay” đã viết như sau: “Giáo dục so sánh mô tả và phân loại các loại hình giáo dục khác nhau; xác định các mối quan hệ và sự tương tác tồn tại giữa các khía cạnh và nhân tố khác nhau của giáo dục và giữa giáo dục và xã hội; phân biệt các điều kiện cơ bản làm đối thay giáo dục và tính kế tục của giáo dục”

Khi mới phát triển giáo dục so sánh người ta quan niệm đơn vị của so sánh là hệ thống giáo dục ở cấp quốc gia, tức là so sánh hệ thống giáo dục của nước này với nước khác hoặc vài nước khác Hiện nay đơn vị so sánh đã thay đổi, có thể mở rông lớn hơn

mà cũng có thể thu hẹp nhỏ hơn và một số tác giả đã phân loại giáo dục so sánh theo phạm vị của nó

* Harold Noah, Max Eckstein: Toward a Science of Comparative Education Macmillan, Toronto, 1969, p 184

* Alan Robert Trethewey: Introducing Comparative Education Pergamon Press, Australia, 1976, p 2

* Sokolova, M A., Kuzmina E H., Rodionov, M L.: Sravnitel ‘naja pedagogika Prosvetshnije, Moskva, 1978,

sư 21

5 Le Thanh Khoi: L ‘éducation comparée Armand Colin Editeur, Paris, 1981, p 10

7 Phitip Altbach, Robert Amove, Gail Kelly: Comparative Education Macmilan Publishing Co., Inc New York,

1982

*W D Halls: Sciences de | 'éducation: L ‘éducation comparée - questions et tendances contemporaines Unesco,

Paris, 1990, p 20

Trang 12

Theo tác giả Lê Thành Khơi cĩ 3 loại từ rộng đến hẹp là so sánh siêu quốc gia (comparaison supra-nationale), so sánh quốc tế hay so sánh giữa các quốc gia (comparaison internationale) và so sánh quốc nội hay trong một quốc gia (comparaison intra-nationale) Theo Harold Noah va Max Eckstein thi lại cĩ 4 loại từ rộng đến hẹp bao gồm cả khơng gian và thời gian, đĩ là so sánh tồn cầu (global comparison); so sánh khu vực nhiều quốc gia (regional multinational comparison); so sánh vùng trong một quốc gia (regional intranational comparison) và so sánh xuyên thời gian (cross- temporal comparison)

Theo phân loại mới của giáo dục so sánh thì việc so sánh với đơn vị là tồn bộ

hệ thống giáo dục của quốc gia này so với một quốc gia khác khơng cịn là thích hợp nữa Bởi lẽ mục đích của giáo dục so sánh mà Philip Altbach đã nêu trong quan niệm

của ơng là so sánh khơng chỉ để biết, để hiểu, mà cịn để làm, để hành động, trong lĩnh

vực giáo dục cĩ nghĩa là để cải tiến và để cải cách

Nếu lấy đơn vị so sánh là tồn bộ các vấn để của hệ thống giáo dục quốc dân thì mơn giáo dục so sánh chỉ cần thiết cho đối tượng là những người làm giáo dục ở tầm vĩ

mơ trong một quốc gia Nếu lấy đơn vị so sánh là bất kỳ vấn đề gì đang gay cấn trong một phạm vi nhỏ hẹp của hệ thống giáo dục như mục tiêu, nội dung, phương pháp, dạy học và giáo dục, số lượng, chất lượng đào tạo và dạy học, thậm chí chỉ của một mơn học, thì cĩ thể thấy mơn giáo dục so sánh là cầng thiết cho tất cả mọi người làm cơng tác trong ngành giáo dục, kể cả giáo viên dạy một mơn học hoặc cán bộ quản lý giáo dục một sơ sở nhỏ

Một quan niệm mới hơn về giáo dục so sánh là lấy tình trạng cĩ vấn để trong giáo dục ở nơi mình làm xuất phát điểm Hiện nay khái niệm bao quát về giáo dục so sánh là: “Giáo dục so sánh là một mơn học nghiên cứu việc so sánh các vấn để giáo

dục xảy ra ở một nơi với vấn đề đĩ ở một (hộc vài) nơi khác để biết được tình hình

phát triển giáo đục, phân tích và giải thích nguyên nhân sự giống nhau và sự khác biệt

và tìm ra cách giải quyết vấn đề, sau đĩ cĩ thể rút ra được kinh nghiệm thực tế cũng như đĩng gĩp về lý luận cho sự phát triển giáo dục”

Như vậy giáo dục so sánh là một mơn khoa học xã hột cĩ lịch sử hình thành riêng Mục đích của mơn học này là nhằm hiểu biết tốt hơn nền giáo dục nước mình, phát triển, cải tiến hoặc cải cách giáo dục trong nước và nước ngồi, phát triển kiến thức, lý thuyết và nguyên tắc về giáo dục nĩi chung và về mối quan hệ giữa giáo dục và

xã hội, đồng thời nhằm hiểu biết và hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn để về giáo dục, cũng như các vấn đề khác cĩ liên quan mang tính quốc tế Đối tượng phục vụ của mơn học này là sinh viên các trường sư phạm, học viên các viện nghiên cứu giáo dục, giáo viên, cán bộ nghiên cứu giáo dục, cán bộ quản lý giáo dục các cấp, cán bộ hợp tác quốc tế, các nhà hoạch định chính sách giáo dục, cán bộ của các cơ quan hoạt động

giáo dục trong và ngồi nước Hệ thống các loại hình giáo dục so sánh được biểu diễn

trong Sơ đồ 1

Trang 13

Sơ đồ 1: Hệ thống các loại hình giáo dục so sánh

GIAO DUC SO SANH

|

quốc tế

Khái niệm về “giáo dục so sánh” và “so sánh giáo dục” được phân biệt rõ bởi

“giáo dục so sánh” là một môn khoa học xã hội có lịch sử hình thành riêng, còn “so sánh giáo dục” là việc thực hiện nghiên cứu so sánh về giáo dục

1.2 SU PHAT TRIEN VA CAC XU HUONG CUA GIÁO DỤC SO SANH

Theo Sôcôlova sự phát triển của giáo dục so sánh đã được chia làm ba giai đoạn chính, không kể giai đoạn khởi đầu Cách phân chia này đã dựa trên các căn cứ cơ bản

là sự hình thành và phát triển của giáo dục chịu tác động của những biến động về kinh tế-xã hội và chính trị, đòi hỏi phải có sự thay đổi trong hệ thống giáo dục Các giai

đoạn phát triển của Giáo dục so sánh có thể được tóm tắt như sau:

- Giai đoạn thứ nhất: T cách mạng tư sân phương Tay đến Cách mạng xã hội

chủ nghĩa tháng 10 ở nước Nga (cuối thế kỷ 18 đến năm 1917);

- Giai đoạn thứ hai: Từ Cách mạng tháng 10 đến khi thiết lập hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới (1917-1945);

- Giai đoạn thứ ba: Từ khi thiết lập hệ thống xã hội chủ nghĩa

Giai đoạn phát triển thứ nhất của giáo đục so sánh được đánh dấu bằng thời điểm ra đời tác phẩm của Marc Antoine Jullien năm 1817 Theo ông Giáo dục so sánh

là một trong các con đường quan trọng để cải tiến lý luận và thực tiễn giáo dục và dạy học, khởi thảo ra một lý luận giáo dục và đào tạo chung cho tất cả các nước châu Âu,

tạo điều kiện thúc đẩy quá trình phát triển văn hoá chung và tăng cường đoàn kết giữa

các dân tộc Ngoài việc thu thập tình hình, phân tích và so sánh về giáo dục, ông cho

rằng phải xuất bản tạp chí giáo dục bằng nhiều thứ tiếng và thực hiện một cách có hệ thống sự trao đổi ý kiến bằng văn bản giữa các đại biểu của các trung tâm khoa học và

văn hoá quan trọng nhất của châu Âu về các vấn đề giáo dục

Trang 14

Vào cuối thế kỷ 19, vấn đề hoàn thiện hệ thống giáo dục được quan tâm ở nhiều quốc gia, do đó việc nghiên cứu so sánh các loại hình trường là cần thiết Trong bối cảnh đó một số cơ sở lý luận và nhiệm vụ thực tiễn của Giáo dục so sánh đã được xác định: đó là thu thập, biên soạn và công bố các tài liệu về kinh nghiệm giáo dục nước ngoài, phát hiện các mắt tích cực của các hệ thống giáo dục khác nhau nhằm mục đích rút ra những kinh nghiệm bổ ích để hoàn thiện hệ thống giáo dục nước mình

Nam 1900, người ta quan niệm mỗi hệ thống giáo dục như một chỉnh thể mà mọi yếu tố có quan hệ với nhau và hệ thống đó phải được nghiên cứu trong mối quan

hệ với bối cảnh xã hội Các vấn để của nhà trường phải được xem xét trong bối cảnh thực tế của nó, nghĩa là trong mối quan hệ với các hình thức khác của nền văn hoá xã hội với sự ra đời của những cơ quan nghiên cứu quốc gia và quốc tế về giáo đục so sánh nhằm thu thập, biên soạn và phổ biến một cách hệ thống những tài liệu thông tin,

số liệu thống kê về giáo dục của nước mình và trên thế giới

Giai đoạn phát triển thứ hai của Giáo dục so sánh thời kỳ từ năm 1917 với cuộc Cách mạng tháng 10 ở Nga đến năm 1945 Giáo dục so sánh thời kỳ này phản ảnh mâu thuẫn kinh tế-xã hội và chính trị không những giữa các nước có chế độ xã hội khác

nhau, mà cả giữa các nước tư bản chủ nghĩa

Giai đoạn phát triển thứ ba của Giáo dục so sánh tính từ cuối những năm 40 của thế kỷ 20, đặc điểm của giai đoạn này là sự biến động về tình hình chính trị của thế giới, và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cánh mạng khoa học và kỹ thuật

Tit nam 1945, t6 chttc UNESCO đã đề ra các nhiệm vụ phát triển giáo dục ở quy

mô thế giới, đặc biệt là tiến hành thu thập tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu trong lĩnh vực Giáo dục so sánh, xuất bản niên giám và sổ tay về tình hình giáo dục ở các nước trên thế giới, tổ chức các hội nghị quốc tế về các vấn đề giáo dục và các vấn đề về

Giáo dục so sánh Các ấn phẩm về Giáo dục so sánh hơn nửa thế kỷ qua có thể chia

làm hai nhóm:

() Các ấn phẩm nghiên cứu về các vấn để lý luận của Giáo dục so sánh (đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu; mô tả và phân tích hệ thống giáo dục và đào tạo trong các nước hoặc phân tích so sánh các vấn đề giáo dục và dạy học riêng biệt,

(1ï) Các ấn phẩm về nghiên cứu so sánh các hệ thống giáo dục và những vấn đề giáo dục và giảng dạy riêng biệt

Như vậy, trong giai đoạn phát triển thứ ba Giáo dục so sánh tiếp tục phát triển lý

luận, hình thành nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia, xuất bản các tạp chí quốc tế và quốc gia, nghiên cứu so sánh định hướng đi sau vào việc phân tích so sánh các vấn đề

riêng biệt, phát triển những phương pháp, kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy trình để nghiên

cứu

Trang 15

Nếu xét toàn bộ quá trình phát triển của Giáo dục so sánh từ khi hình thành cho tới ngày nay có thé rút ra các xu hướng chủ yếu sau đây: (¡) Phát triển khởi đầu từ so sánh giáo dục giữa hai nước, đến về sau nhiều nước hơn; (1i) Phát triển khởi đầu với mục đích thực dụng trong thực tiễn, đến về sau mang nhiều mục đích nâng cao hơn trình độ lý luận; (1i) Phát triển khởi đầu từ việc lấy phạm vi so sánh là cả hệ thống giáo duc một nước so với nước khác, về sau đến từng vấn dé nhỏ, từng tỷ lệ và chỉ số thuộc

về giáo dục hoặc liên quan đến giáo dục, nói cách khác, khởi đầu từ phạm vi vĩ mô về sau đến phạm vi vi mô; (¡v) Phát triển khởi đầu từ việc lấy đơn vị so sánh từ vấn để giáo dục giữa các nước (international=quốc tế), về sau một mặt theo chiều hướng mở rộng đến vấn để giáo dục giữa các giữa các khu vực hoặc các châu lục trên toàn thế giới (supernational=siêu quốc gia), mặt khác theo chiều hướng thu hẹp đến vấn đề giáo dục giữa các địa phương hoặc cơ sở đào tạo khác nhau trong một nước (intranational=quốc nội); (v) Phát triển khởi đầu từ nghiên cứu so sánh thiên về định tính, về sau đến nghiên cứu so sánh thiên về định lượng bằng các chỉ số và tỷ lệ với sự

hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại

1.3 MỤC ĐÍCH CỦA GIÁO DỤC SO SÁNH

Theo quan niệm mới nhất hiện nay, Giáo dục so sánh có 4 mục đích sau đây:

- Mục đích thứ nhất của Giáo dục so sánh là Hiểu biết tốt hơn về giáo dục của

địa phương mình: Mục đích trên được thể hiện trong quan điểm của nhiều tác giả như Michael Sadler đã từng phát biểu: “Nghiên cứu giáo dục nơi khác sẽ nâng cao hiểu biết

về giáo dục ở địa phương mình” ° Isaac Kandel lại viết “Nghiên cứu hệ thống nước ngoài nghĩa là một sự tiếp cận có phê phán và một thách thức đối với triết lý giáo dục của bản thân nước mình, và vì thế đó chính là sự phân tích rõ hơn bối cảnh và cơ sở của

hệ thống quốc gia mình”!', Khi đó, người ta coi phạm vi so sánh là cả hệ thống giáo

dục của quốc gia

Khi chuyển sang thời kỳ mà phạm vi so sánh từ vĩ mô sang vỉ mô, từ quốc tế sang quốc nội, đối tượng so sánh có thể là một vấn đề nhỏ của hệ thống giáo dục xảy ra

ở một nơi, một địa phương, một cơ sở đào tạo, cho nên có thể suy ra rằng Giáo dục so sánh có một mục đích phổ biến hơn, đó là nghiên cứu giáo dục ở nơi khác để nâng cao

sự hiểu biết nơi mình, không kể các nơi đó nằm ở nhiều nước hay trong một nước, có phạm vi to hay nhỏ Như vậy Giáo dục so sánh trở nên cần thiết đối với tất cả những người làm công tác giáo dục và dạy học ở mọi vị trí, chứ không phải chỉ đành riêng cho _ những người làm chính sách giáo dục ở cấp quốc gia

- Mục đích thứ hai của Giáo dục so sánh là Phát triển, cải tiến hoặc cải cách giáo dục ở nơi mình và nơi khác, ở trong và ngoài nước: Nicolas Hans đã từng viết:

“Lĩnh vực Giáo dục so sánh có đặc tính năng động với mục đích tận dụng, nhìn vào

° Michael Sadler: Guildford lecture London, 1900

'° Isaac Kandel: Comparative Education Houghton Mifflin, Boston, 1933, p.20

15

Trang 16

tương lai với một dự định kiên quyết cải cách”!!, Với quan niệm của một thời cho rang

đối tượng nghiên cưú là hệ thống giáo dục ở phạm vi quốc gia, George Bereday đã viết:

“Giáo dục so sánh liệt kê các phương pháp xây dưng nền giáo dục vượt qua biên giới các nước và trong sự liệt kê này mỗi nước xuất hiện như một phương án trong kho tàng chung các kinh nghiệm giáo dục của nhân loại Nếu có cách sắp xếp tốt bảng liệt kê

đó, ta có thể thấy các màu sắc tương phản và giống nhau của viễn cảnh thế giới, và sẽ

làm cho mỗi nước có nhiều khả năng tiếp thu được các bài học về phát triển giáo

dục”!?, Theo Brian Holmes “Giáo đục so sánh là một món của khoa học giáo dục cho

ta sức mạnh chỉ đạo để phát triển, ta có thể đụng nó với một sự chính xác và chặt chế hơn trong công cuộc cải cách và phát triển giáo dục một cách có kế hoạch”13,

Với quan niệm đối tượng nghiên cứu có phạm vi nhỏ hơn là nhà trường, Arnold Anderson đã viết: “ Chẳng có gì tự nhiên hơn là tin rằng những sai sót của nhà trường chúng ta đã từng được tránh ở một nước nào đó”!* Với ý đó nghiên cứu Giáo dục so

sánh có thể giúp chúng ta những suy nghĩ đổi mới đề khác phục những sai sót đó, bằng cách cải tiến, cải cách để phát triển nhà trường của chúng ta Cũng với quan niệm ấy

Edmund King viết: “Gắn với mọi nghiên cứu so sánh giáo dục là cải cách Điều quan trọng nhất là cần biết rằng sự đề xuất cuối cùng của nghiên cứu so sánh là ý đồ cải

cách Cải cách không phải là đặc biệt chỉ ở ý nghĩa đổi mới một cái gì khác trước, mà đặc biệt hơn ở ý nghĩa thách thức đối với tư duy cố hữu của bản thân chúng ta, đối với những gi chúng ta coi như là đi nhiên về mặt xã hội và nghề nghiệp” '

- Mục đích thứ ba của Giáo đục so sánh Phát triển lý kiến thức, lý luận, nguyên tắcvà quy luật về giáo dục nói chung và về mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội: Giáo dục so sánh ngoài mục đích cải tạo thực tiễn vừa kể ở trên còn có mục đích nâng cao lý luận về giáo dục, cụ thể là từ kết quả so sánh có thể đóng góp vào việc để xuất những

điều khái quát hoá để trở thành những kiến thức phổ biến, những lý luận, những

nguyên tắc và những quy luật trong giáo dục Để thực hiện được mục đích thứ ba này Giáo dục so sánh phải xây dựng thành một khoa học thực sự, phải nghiên cứu có hệ

thống, có điều khiển, có thực nghiệm, và nơi nào có thể sẽ nghiên nghiên cứu định lượng để chứng minh rõ ràng các giả thuyết đã lập ra.!5

- Mục đích thứ tư của Giáo dục so sánh là hiểu biết và hợp tác quốc tế, giải quyết các vấn để giáo dục cũng như các vấn đề khác có liên quan thuộc phạm vi quốc tế: Giáo dục so sánh đóng góp vào sự phát triển một tinh thần quốc tế không dựa trên xúc cảm hoặc tình cảm, mà nảy sinh từ sự hiểu biết trân trọng các nước khác cũng như

"' Nicolas Hans: English Pioneers of Comparative Education British Journal of Comparative Educational

Studies, London, 1952, pp 56-59

2 George Bereday: Comparative Method in Education Holt, Rinehart and Winston, New York, 1964, p.5

"’ Brian Holmes: Problems in Education, A Comparative Approach Routledge and Kegan Paul, London, 1965,

p.3

'* Amold Anderson: The Methodology of Comparative Education Intemational Review of Education vii, Hamburg, 1961-1962, p.1

'S Edmund King: Other Schools and Ours Holt and Rinehart and Winston, New York, 1973, p.42

‘6 Harold Noah, Max Eckstein: Toward a Science of Comparative Education Macmillan, Toronto, 1969, p.189

Trang 17

bản thân nước mình, với ý nghĩa là mọi quốc gia thông qua hệ thống giáo dục của mình đang đóng góp, mỗi nước bằng con đường riêng của mình, vào công việc chung và sự tiến bộ của thế giới, và với ý nghĩa thực hiện những tham vọng và lý tưởng mà mỗi quốc gia nỗ lực đạt được thông qua nhà trường của mình Như vậy, về phương điện mục đích giáo dục so sánh đã trải qua ba giai đoạn chính:

- Giai doan I 1a tim hiểu các nên giáo dục quốc tế trên cơ sở mô tả các hệ thống

giáo dục, cách tổ chức trường học, chương trình học với mục đích "vay mượn" những cái người ta cho là hay nhất của nước ngoài để áp dụng tại nước mình

- Giai đoạn lÏ là giai đoạn tiếp theo giai đoạn "vay mượn”, người ta trải quá

trình chuẩn bị để tìm hiểu những yếu tố xã hội, văn hoá ảnh hưởng ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia

- Giai đoạn III là giai đoạn "Hợp tác quốc tế " nhằm tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia Trong giai đoạn này, người ta tìm hiểu các nền giáo dục nước ngoài để học tập những gì được coi là thành công ở nước ngoài

Với quan điểm và mục đích của giáo dục so sánh, ta thấy rằng nền giáo dục thê

giới là một bức tranh nhiều màu sắc, không nhất thiết phải giống nhau mà nhiều khi tương phản với nhau, từ đó ta có thể phân loại, đánh giá các nền giáo đục khác nhau một cách khách quan và cũng từ đó có thể rút ra những bài học cho chính mình Tìm

hiểu các nền giáo dục quốc tế không chỉ nhằm mục đích "hợp tác quốc tế" để giải quyết vấn để chung, mà nó còn là phương tiện đề "hiểu người" và "hiểu mình"

14 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC SO SÁNH

Về phương diện phương pháp nghiên cứu, giáo dục so sánh đã trải 2 giai đoạn là giai đoạn mô tả các hệ thống giáo dục, văn hoá, kinh tế của từng nước hoặc nhiều nước

so sánh với nhau và hiện nay đang tiến đến giai đoạn phân tích toàn bộ nền giáo dục thế giới, tìm hiểu tác động bao trùm của giáo dực trên xã hội theo quan điểm quốc tế, hâu hết cố tìm ra các quy luật, các "loại hình" giáo dục và xác định mối liên hệ phưc Stạp giữa giáo dục và quần chúng mà nó phục vụ Việc tìm hiểu giáo dục quốc tế được thực hiện qua ba phương tiện chủ yếu là: (ï) các tài liệu giáo dục nước ngoài; (11) các báo chí nước ngoài; (11) các cuộc du hành , quan sát ngắn hạn

Nghiên cứu so sánh giáo dục các quốc gia đòi hỏi phải tiến hành theo ba giai đoạn: () Nghiên cứu hệ thống giáo dục của từng quốc gia riêng rẽ hay của một vùng bao gồm một số quốc gia có điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội tương tự, (1) nghiên cứu

so sánh các nền giáo dục khác nhau quanh một số vân sđẻ giáo dục được lựa chọn có liên hệ mật thiết đến những vấn đề đang được đặt ra tại nước mình; (1i¡) Phân tích tổng

thể các nền giáo đục

Về phương diện phương pháp, lịch sử của giáo dục so sánh cho thấy một nghiên cứu thường được tiến hành theo bốn bước: (¡) mô tả các dữ kiện giáo dục; (1i) nghiên cứu các sự kiện, dữ kiện giáo dục, sư phạm và giải thích trong bối cảnh lịch sử, văn

Trang 18

hoá, xã hội, kinh tế của từng quốc gia riêng rẽ; (1i) nghiên cứu các sự kiện, dữ kiện giáo dục, sư phạm và giải thích trong bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội , kinh tế của từng quốc gia nhưng đặt một số các quốc gia cạnh nhau để nêu ra những sự giống nhau

và khác biệt, từ đó đưa ra những giả thuyết để so sánh; (ïv) so sánh một số các quốc gia quanh một số vấn đề chung, đặc biệt là những vấn đề đang được xem xét là mối quan tâm tại nước mình

Như vậy, trước khi áp dụng phương pháp tiếp cận vấn đề, tức là lựa chọn một số vấn đề và nghiên cứu vấn để ấy xuyên qua nhiều quốc gia, không được bỏ qua giai đoạn ], tức là thực hiện những cuộc nghiên cứu từng quốc gia hay từng nhóm quốc gia

có ít nhiều mối tương đồng về phương diện lịch sử, văn hoá, xã hội hay kinh tế Việc nghiên cứu giáo dục của từng nước không chỉ là sự mô tả các hệ thống giáo dục, cách

tổ chức chương trình các cấp học kèm theo các dữ kiện thống kê về học sinh, giáo viên,

trường học, quan trọng hơn là việc giải thích các sự kiện và đữ kiện giáo dục trong mối quan hệ của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, bởi vì hầu như mọi chuyển biến trong giáo dục của mỗi quốc gia đều có liên hệ đến giai đoạn lịch sử

Để thực hiện những cuộc nghiên cứu nhằm tìm hiểu từng quốc gia hay từng vùng nhỏ, kinh nghiệm của các nhà giáo dục so sánh cho thấy có bốn điều kiện căn bản đòi hỏi các nhà nghiên cứu, đó là: () Đọc tài liệu liên quan đến quốc gia hay vùng

mà mình muốn nghiên cứu; (ii) Hiểu biết ngôn ngữ của quốc gia ấy, hay thứ ngôn ngữ phổ biến nhất mà quốc gia ấy sử dụng; (ii) Cư trú tại quốc gia ấy hay thực hiện những cuộc du hành nghiên cứu có chuẩn bị chu đáo; (1v) Biết kiểm chế những thành tích, thiên vị của cá nhân hay tư tưởng văn hoá - xã hội của riêng quốc gia mình Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc khai thác thông tin qua mạng

đã giúp cho các nhà nghiên cứu tìm kiếm đựoc nhiều thông tin bổ ích, trên cơ sở các

thông tin đó, các nhà nghiên cứu đã bổ túc, kiểm tra, đánh giá lại thông qua các cuộc

1.5 CÁC CHỈ SỐ GIÁO DỤC - CÔNG CỤ ĐỂ THỰC HIỆN GIÁO DUC SO

SÁNH

a Khái niệm về chỉ số giáo đục

Theo định nghĩa, các chỉ số giáo dục được xây dựng nhằm mục đích phản ánh, đo đạc các sự kiện hoặc những thay đổi của các cơ quan trong toàn bộ hệ thống giáo dục Các chỉ số này phản ánh mục tiêu đặt ra mà các hoạt động giáo dục đã tiến hành để đạt được các mục tiêu đó Chỉ số giáo dục (cducational indicator) là một công cụ để phản ánh về hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm báo cáo với Chính phủ và xã hội Chỉ số giáo dục không phải là một thành tố cơ bản của thông tin mà là thông tin được xử lý để nghiên cứu các vấn đề về giáo dục Chỉ số giáo dục là số liệu thống kê

đơn lẻ hay tập hợp thường có liên quan đến một vấn đề cơ bản của giáo dục và cho

biết sự hoạt động của nó như thế nào Hệ thống chỉ số không chỉ là một tập hợp các số

Trang 19

liệu thống kê đo lường các thành tố khác nhau của một hệ thống giáo dục, mà còn phản ánh sự phối hợp giữa các thành tố đó

Theo phân loại của Tổ chức Hợp tác kinh tế để phát triển (OECD) vẻ các chỉ số giáo dục thì chúng được chia thành 3 nhóm chính: các chỉ số đơn giản (simple indicators), các chỉ số thực hiện (performance indidcators) và các chỉ số chung (general indicator) Các chỉ số này được định nghĩa như sau: So

() — Các chỉ số đơn giản thường được sử dụng để diễn tả đưới dạng các minh họa tuyệt đối và được dùng để miêu tả thực tế không thiên vị một tình huống, một quá trình

(1) — Các chỉ số thực hiện khác với các chỉ số đơn giản là trong chúng bao hàm

một điểm lưu ý tham khảo, ví dụ một tiêu chuẩn, một đối tượng, một sự đánh giá, một

sự so sánh của trường và do vậy chúng có đặc điểm tương đối hơn là tuyệt đối Ví dụ

số học sinh tốt nghiệp là một chỉ số đơn giản còn tỉ lệ học sinh tốt nghiệp trên số học sinh nhập học và năm nào trước đó là một chỉ số thực hiện Chỉ số đơn giản có tính

trung lập hơn trong hai loại chỉ số Mặc dù vậy cũng có thể nói rằng chỉ số đơn giản có

thể trở thành chỉ số thực hiện nếu xem xét giá trị có liên quan

Hệ thống các chỉ số giáo dục có thể cung cấp thông tin về đầu vào (các nguồn tài chính, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, hoàn cảnh học sinh ); về quá trình dạy và học (cấu trúc và tổ chức trường học, chất lượng chương trình học, chất lượng giảng dạy, chất lượng đào tạo); về sản phẩm đầu ra của giáo dục (thành quả học tập của học sinh, sưk tham gia vào xã hội hay việc làm, thái độ và nguyện vọng khi làm việc) Có thể mô

tả sự tương tác giữa các chỉ số giáo dục trong hệ thống giáo dục qua sơ đồ (xem Sơ đồ 2)

Sơ đồ 2: Sự tương tác giữa các chỉ số giáo dục trong hệ thống giáo dục

Trang 20

Việc sử dụng các chỉ số giáo dụng thay đổi ở mỗi nước và tuỳ thuộc vào bối cảnh giáo dục cụ thể và mục đích nghiên cứu Chẳng hạn như khi phân tích hoạt động thì sử dụng các chỉ số giáo dục phân theo các nhóm sau: giá thành giáo dục, các hoạt

động, kết quả đầu ra và bổ sung thêm các các chỉ số minh hoạ về môi trường văn hoá-

xã hội Nếu muốn phân tích các đầu vào khác nhau thì sử dụng chỉ số giáo dục theo các nhóm: nhà trường, học sinh, giáo viên và giá thành Ngoài ra còn có cách phân nhóm các chỉ số theo chủ để như: trình độ học sinh, sự chuẩn bị cho thị trường lao động, sự chuẩn bị cho cuộc sống xã hội, bình đẳng hoặc dân chủ trong giáo dục

b Khái niệm và định nghĩa một số các chỉ số giáo dục cơ bản

Trong các tài liệu thống kê, số liệu về giáo dục hoặc liên quan đến giáo duc thường xuất hiện đưới ba dạng sau đây:

- Các con số tổng cộng (total), thí dụ như số trường, số giáo viên và số học sinh (chung là tổng số hoặc riêng cho nam hoặc nữ);

- Các số tỷ lệ (rate, ratio), thông thường có thể tính ra phần trăm, phần ngàn, phần vạn hoặc phần mười vạn, tùy theo trị số đó lớn hay nhỏ; thí dụ như tỷ lệ biết chữ,

tỷ lệ trẻ em học đến lớp 5, tỷ lệ đi học và tỷ lệ sinh viên trên dân số, tỷ lệ nữ trong tổng

số hoặc nữ so với nam của giáo viên hay học sinh, sinh viên, tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục

công cộng trên tổng sản phẩm quốc gia GNP hoặc trên tổng chị tiêu của Chính phủ hay còn gọi là ngân sách Nhà nước Cũng có một số trường hợp cụ thể, tỷ lệ không viết

đưới đạng phần trăm mà dưới dạng phân số, thí dụ như tỷ lệ giáo viên/học sinh

- Các chỉ số (index, indicator) về giáo dục, bao gồm chỉ số giáo dục được tính ra

từ một vài số tỷ lệ về giáo dục, và các chỉ số khác liên quan đến giáo dục, trong đó chứa đựng nhiều thành phần, nhưng có ít nhất một thành phần thuộc về giáo dục, thí dụ

như chỉ số phát triển con người, chỉ số phát triển về giới và chỉ số nghèo của con người

Định nghĩa số tỷ lệ về giáo dục

® Tỷ lệ biết chữ của người lớn (adult literacy rate): là số phần trăm người trong

tổng số dân từ 15 tuổi trở lên có thể hiểu (bao gồm cả đọc và viết những điều ngắn

gọn và đơn giản về cuộc sống hàng ngày của họ Tỷ lệ này có thể tính chung cho cả nam lẫn nữ, nhưng cũng có thể tính riêng cho nam hoặc nữ Tỷ lệ biết chữ của thanh niên cũng được định nghĩa tương tự, chỉ khác là số phân trăm người trong tổng số

thanh niên từ 15 đến 24 tuổi biết đọc và viết

$ Ngoài ra còn có một tỷ lệ về giáo đục cũng thường được nói đến là ty l¿ mù chữ (illiteracy rate) duoc tinh bang lay 100% trừ đi số phần trăm tỷ lệ biết chữ Các nước

phát triển thường tính rỷ l¿ người lớn mà chữ chức năng ở độ tuổi từ 16 đến 56 tuổi

® Tỷ lệ ái hoc (enrolment ratio) gồm hai loại: tỷ lệ đi hoc chung (gross) và tỷ lệ đi học riêng (net)

Trang 21

® Tỷ lệ đi học chung là số học sinh đi học ở một cấp bậc học, kể cả trong độ tuổi

và ngoài độ tuổi của cấp bậc học, tính theo phân trăm dân số trong độ tuổi của cấp bậc học đó

$ Tỷ lệ ải học riêng là số học sinh đi học trong độ tuổi ở một cấp bậc học, tính

theo phần trăm dân số trong độ tuổi của cấp bậc học đó

® Tỷ lệ ải học có thể tổng hợp cả tiểu học, trung học và đại học (combined first-,

second- and third-level enrolment ratio), có thể gọi tất là tỷ lệ đi học các cấp, tính

chung cho cả nam và nữ, cũng có thể tính riêng cho nam hoặc nữ, có thể tính nữ so với nam, cũng có thể tính riêng cho từng cấp bậc học như tiểu học, trung học, đại học

® Tỷ lệ số sinh viên nữ trên số sinh viên nam, tỷ lệ số sinh viên toán và kỹ thuật trên tổng số sinh viên, là các số tỷ lệ về giáo dục có thể tính ra phần trăm

+ Số sinh viên trên mười vạn dân, số sinh viên nữ trên mười vạn nữ, số cán bộ khoa kỹ thuật nghiên cứu và triển khai trên mười vạn dân là các số tỷ lệ thường tính ra phần mười vạn, nếu tính ra phần trăm thì trị số sẽ quá nhỏ

+ Tỷ lệ chí phí cho giáo dục công cộng là số phần trăm thường tinh theo GNP

hoặc theo tổng ngân sách Nhà nước, cũng có thể tính riêng cho cho các cấp bậc học,

thí du như cho mẫu giáo cộng tiểu học, riêng cho trung học hoặc cho đại học cộng cao

đẳng

Định nghĩa chỉ số giáo dục và các chỉ số liên quan đến giáo dục

Chi sé (index, indicator) lA céc con số không mang đơn vị, thường được tính bằng số thập phân biến đổi từ 0 đến 1, trong đó 0 là mức độ thấp nhất và 1 là mức độ cao nhất

Công thức chung để tính các chỉ số nằm trong thang số từ 0 đến 1 là:

Trị số thực tế x,- trị số nhO nhat X; min ~

Trị số lớn nhất x; „ạ„ - trị số nhỏ nhất X; mịn

Bằng công thức trên người ta có thể chuyển một trị số hoặc một tỷ lệ bất kỳ

thành một chỉ số nằm trong thang số từ 0 đến 1 Thí dụ, tuổi thọ bình quân của Việt

Nam theo số liệu của năm 1999 là 67,8, trị số tuổi thọ bình quân thấp nhất và cao nhất trên thế giới theo quy ước chung là 25 và 85, chỉ số tuổi thọ của người Việt Nam tính

ra sẽ là 0,71 !

Các chỉ số giáo dục và liên quan đến giáo dục, bao gồm: Chỉ số giáo dục, được tính ra từ một vài số tỷ lệ về giáo dục, và các chỉ số khác liên quan đến giáo dục, trong

đó chứa đựng nhiều thành phân, nhưng có ít nhất một thành phần thuộc về giáo dục

'T Human Development Report 2001 UNDP, New York, Oxford! Oxford University Press, 2001

Trang 22

+ Chi s6 gido duc (El - Education index) hoặc còn gọi là chỉ số thành tựu gido duc (education attainment index): dugc tính ra từ tỷ lệ biết chữ của người lớn và tỷ

lệ đi học chung tiểu học, trung học và đại học phối hợp Người ta lấy số tỷ lệ thứ nhất

nhân với hệ số 2 cộng với số tỷ lệ thứ hai nhân với hệ số 1 rồi chia cho 3 để được một

số tỷ lệ mới, sau đó chuyển thành chỉ số theo quy ước chung với tỷ lệ thấp nhất và cao nhất là 0% và 100% Ở Việt Nam theo số liệu của năm 1999, tỷ lệ biết chữ của người lớn là 93,1%, tỷ lệ đi học tổng hợp các cấp là 67%, số tỷ lệ mới tính ra là 84% và chỉ

số giáo dục của Việt Nam là 0,84

+ Chỉ số phát triển con người (HDI - Human development index): được

tính dưa trên ba chỉ số: một là chỉ số tuổi thọ, hai là chỉ số giáo dục và ba là chỉ số mức

sống đo bằng GDP thực tế của một nước chuyển đổi ra đôla Mỹ trên cơ sở sự tương đương sức mua (PPP$-purchasing power parity in US dollars) cia đồng tiên trong nước Sự tương đương này của đồng tiền một nước là số đơn vị tiền tệ đòi hỏi để mua

cùng một giỏ hàng hoá và dịch vụ tượng trưng (hoặc một giỏ hàng tương tự) mà một

đôla Mỹ (tiền tham khảo) có thể mua được ở Hoa Kỳ Chỉ số thành phần thứ ba thường

goi tat la chi s6 GDP (GDP index)

Để lập nên chỉ số phát triển con người, người ta xác định các trị số nhỏ nhất và lớn nhất của các yếu tố thành phần như sau: tuổi thọ là 25 và 85 tuổi, số tỷ lệ về giáo

đục 0% và 100% và GDP thực tế theo sự tương đương sức mua là 100 và 40.000 đôla

Mỹ Để tính chỉ số GDP, người ta lấy trị số GDP thực tế cao nhất không phải là 40.000

mà lấy trị số đã điều chỉnh là 6.311

Hai chỉ số thành phần đầu tiên được tính đơn giản và đã có các thí dụ minh hoạ

dễ hiểu về Việt Nam đã nêu ở trên Chỉ số thành phần thứ ba tính toán phức tạp hơn

nhiều, và phương pháp tính toán đã thay đổi nhiều lần để ngày càng trở nên chính xác

hơn Dưới đây trình bày hai phương pháp tính gần đây nhất.-

Theo số liệu của năm 1995 mà Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc công bố năm 1998, phương pháp tính toán như sau: Thu nhập bình quân trên thế giới 5.990 đôla

Mỹ theo sự tương đương sức mua vào năm 1995 được lấy làm mức ngưỡng (y'), và các thu nhập cao hơn ngưỡng này sẽ phải giảm bớt đi bằng cách tính sau đây theo công thức của Arkinson về tính hữu dụng của thu nhập:

=y`+20-y)!2 đối với y`< y< 2y!

=y +20'!2+ 3 -2y')!2 đối với 2y'`< y< 3y"

Để tính trị số đã giảm bớt của thu nhập lớn nhất là 40.000 đôla Mỹ, công thức

Arkinson có dạng như sau:

W(y)=y`+20°"? + 30!) + 40 '1 + 5(y'!5) + 6(y"*) + 7(40.000 - by’)! bởi vì 40.000 đôla Mỹ nằm giữa 6y’ va Ty’

Trang 23

Theo phương pháp tính kể trên, GDP thực tế theo sự tương đương sức mua của Việt Nam năm 1995 là 1.236, chỉ số GDP là 0,18, và chỉ số phát triển con người tính ra

là 0,560 Đạt được chỉ số này nước ta đã được xếp vào bậc thứ 122 về chỉ số phát triển con người trong số 174 nước trên thế giới

Theo số liệu của năm 1997 mà Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc công bố năm 1999, công thức tính về tính hữu dụng của thu nhập do Arnand và Sen nêu ra như

và nước ta đã được xếp vào bậc thứ 101 trong số 102 nước trên thế giới

+ Chỉ số phát triển về giới (GDIl-gender-related development index): cũng dựa trên ba thành phần giống hoặc tương tự như chỉ số phát triển con người HDI là chỉ

số giáo dục, chỉ số tuổi thọ và chỉ số thu nhập Sự khác nhau là ở chỗ chỉ số phát triển

về giới điều chỉnh lại các trị số bình quân của mỗi nước về giáo dục, tuổi thọ và thu nhập tuỳ theo mức độ đạt được khác biệt giữa nữ và nam Khi tính chỉ số tuổi thọ, người ta quy ước tuổi thọ thấp nhất và cao nhất của nữ là 27,5 và 87,5 và của nam là

22,5 và 82,5 Khi xét về thu nhập, người ta tìm tiên lương bình quân của nữ và nam để

tính chỉ số

Ba chỉ số thành phần được chuyển đổi thành chỉ số phân bố bình đẳng giữa nữ

và nam theo công thức chung sau đây:

Tỷ lệ dân sốnữ Tỷ lệ dân số nam Chỉ số phân bố bình đẳng = +

Chỉ số của nữ Chỉ số của nam

Chỉ số phát triển về giới là trung bình cộng của ba chỉ số phân bố bình đẳng về giáo dục, tuổi thọ và thu nhập

Chỉ số phát triển về giới ở Việt Nam của năm 1995 là 0,559, xếp vào bậc thứ

108 và của năm 1997 là 0,664, xếp vào bậc thứ 91 trong số 174 nước trên thế giới, như Vậy qua 2 năm nước ta về mặt này có sự tiến bộ 17 bậc

+ — Chỉ số nghèo của con nguoi (HPI-human poverty index) bao gồm hai loại: chỉ số nghèo của con người ở các nước đang phát triển ký hiệu là HPI-1 và chỉ số nghèo của con người ở các nước công nghiệp ký hiệu là HPI-2

- Chỉ số nghèo của con người ở các nước đang phái triển HPI-1 tập trung thể hiện sự thấp kém về ba mặt cơ bản của đời sống con người đã được phản ánh trong trong chỉ số phát triển con người HDI, đó là giáo dục, tuổi thọ và mức sống Sự thấp

Trang 24

kém về giáo dục là tỷ lệ người mù chữ của người lớn ký hiệu là P;; sự thấp kém về tuổi thọ là tỷ lệ dân số không sống được đến tuổi 40 ký hiệu là P;; sự thấp kém về mức sống

là tỷ lệ thiếu thốn trong sự cung cấp nói chung cho sinh hoạt kinh tế ký hiệu là P; Tỷ

lệ P; gồm ba thành phần: tỷ lệ dân số không có được nước sạch, ký hiệu là P;,; tỷ lệ

đân số không có được dịch vụ y tế, ký hiệu là P;; và tỷ lệ trẻ em suy đinh dưỡng thông thường và nghiêm trọng dưới 5 tuổi, ký hiệu là P;; Tỷ lệ thiếu thốn về mức sống tinh theo công thức:

62 nước đang phát triển

- Chỉ số nghèo của con người ở các nước công nghiệp HPI-2 tập trung thể hiện

sự thấp kém về bốn mặt của đời sống con người đã được phản ánh tương tự trong chỉ số

phát triển con người HDI, đó là giáo dục, tuổi thọ, mức sống và sự tham gia trong xã

Chỉ số nghèo của con người ở các nước công nghiệp tính theo công thức:

HPI-2 = [1/4(P + P; + P;` + P„)]1

Trang 25

II TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI

TRONG 10 NĂM GẦN ĐÂY

IL1 MỐI QUAN HỆ TƯƠNG QUAN GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ

GIÁO DỤC

Sự phát triển giáo dục - đào tạo và kinh tế - xã hội có mối quan hệ tác động qua

lại Giáo dục và đào tạo luôn là công cụ, phương tiện để cải biến xã hội; con người được giáo dục - đào tạo tốt sẽ là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội; khi kinh tế

- xã hội phát triển đến một mức nào đó sẽ tạo điều kiện mới cho phát triển giáo dục - đào tạo, đồng thời cững tạo ra những yêu cầu mới cho giáo dục - đào tạo Chính vì vậy, khi nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục giữa các nước, các khu vực trên thế giới, chúng ta không thể tách rời bối cảnh kinh tế, xã hội của các nước, cũng như phong tục, tập quán và ruyền thống văn hoá của mỗi dân tộc

Điều kiện để phát triển giáo dục có thể được chia thành các điều kiện bên trong

và bên ngoài; các điều kiện vật chất và tinh thân Tuy nhiên đối với mọi quốc gia thì

đều có thể có thể chia các điều kiện đảm bảo phát triển thành các nhóm sau: môi

trường kinh tế -xã hội; chính sách và các công cụ thể chế hoá giáo dục; cơ sở vật chất -

kỹ thuật và tài chính giáo dục; nghiên cứu giáo dục, lý luận giáo dục và thông tin giáo

dục Do thời gian có hạn, trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích

một số yếu tố trong môi trường kinh tế - xã hội, cũng như chính sách có tác động trực

tiếp đến giáo dục

Bối cảnh kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục là cơ cấu kinh tế

vĩ mô, cũng như tất cả những quá trình kinh tế kèm theo như thị trường lao động, nhu cầu nhân lực, cơ cấu và động thái dân số, cơ cấu xã hội về nghề nghiệp, về lãnh thổ, về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, hệ thống truyền thông đại chúng, cũng như thiết chế xã hội-chính trị của mỗi nước đều có tác động mạnh mẽ đến quy mô, tốc độ và tính chất của sự phát triển gáo dục Ngoài ra còn có các yếu tố khác như tập quán học tập, uy tín của nghề giáo viên, các quan hệ xã hội cũng ảnh hưởng không tốt đến giáo dục và phát

triển giáo dục

Những điều kiện trên rất khác nhau ở mỗi nước và trong từng khu vực, môi

trường KT-XH ở khu vực phát triển cao, các nước công nghiệp ổn định hơn ở các nước

đang phát triển Tốc độ tăng trưởng thay đổi ít thì việc quy hoạch phát triển giáo dục sẽ

để dàng hơn và chính xác hơn Cơ cấu kinh tế ổn định và hợp lý cũng tạo điều kiện

thuận lợi cho việc bảo đảm và nâng cao chất lượng giáo dục Do khuynh hướng chung như vậy nên ở các nước đang phát triển và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước

đây (đang chuyển đổi cơ chế kinh tế về hệ giá trị xã hội) môi trường kinh tế - xã hội

nói chung tác động mạnh vào sự phát triển quy mô và mạng lưới giáo dục, cải cách cơ cấu giáo dục trên nhiều mặt (pháp lý, nhân sự, mục tiêu, nội dung, phân bố lãnh thổ, tài

chính, tổ chức ) Còn ở các nước phát triển thì tác động đó chủ yếu nhằm vào mặt chất

lượng của giáo dục và hiệu quả kinh tế - xã hội của giáo dục

Trang 26

H2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ VIỆT

NAM TRONG 10 NAM TRO LAI ĐÂY

a Tình hình phát triển kinh tế của một số nước

Trong thập niên vừa qua, tình hình thế giới có nhiều biến động và đạt được

những tiến bộ trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội Tỷ lệ dân số sống trong nghèo đói tuy giảm chậm nhưng đã có thay đổi, giảm từ 29% (năm 1990) xuống 23% (1999) Tỷ lệ nhập học tiểu học trên phạm vi toàn thế giới đã được nâng lên và tăng từ 80% (năm 1990) lên 84% (năm 1998) Tình hình thu nhập của các khu vực trên thế giới năm 2000 được minh hoa trong Bang 1

Bảng 1: Tình hình thu nhap (GDP/ngudi) cia cdc khu vực trên thế giới, 2000

Nguồn: Văn phòng Báo cáo Phát triển con người tính toán dựa trên số liệu thống kê

Các quốc gia ở khu vực Đông Á có tốc độ tăng trưởng nhanh kéo dai trong 5 nam

và chững lại từ năm 1996 (xem Biểu đồ 1 và Biểu đồ 2)

Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng hàng năm GDP/đầu người của một số nước trong

giai đoạn 1973-1996

USD 20.000

18.000 16.000 14.000 12.000 19.000

8.000

6.000 4.000

2.000

0

4® # & & Ñ Sh #Ý vết Ñ #* ‘ee of of & vê về + * Cu

Trang 27

Biểu đồ 2: Tình hình thu nhập GDP/đầu người của các nước ASEAN

‡ In-d6-né-xi-a 20,000 Lao

—+— Ma-lai-xi-a 15,000 —®— Mi-an-ma 10,000 —— Phi-li-pin

age —— Thai Lan

Vào năm 1997 đã có dấu hiệu căng thẳng của khu vực tài chính bất động sản ở Thái Lan và Nhật Bản Cuối năm 1997, khu vực này hoàn toàn chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng toàn diện khởi nguồn từ Thái Lan, sau đó lan ra Hàn Quốc, Malaixia và Inđônêxia, Philippin, Hồng Kông (Trung Quốc) và Singapore cùng chịu ảnh hưởng nhưng ở mức độ thấp hơn tăng trưởng chậm lại ở Trung Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), 2 nền kinh tế ít chịu tác động nhất từ cuộc khủng hoảng

Đầu năm 1999, mặc dù nền kinh tế Nhật Bản vẫn còn yếu, các quốc gia Đông Á khác bất đầu khôi phục Đến năm 2000, các nền kinh tế Đông Á tăng trưởng gần 6% sau khi đã đạt tốc độ tăng trưởng 1,6% (năm 1998) và 4,1% (năm 1999) Nguyên nhân đạt được kết quả trên là do các nước ChâuÁ đã thúc đẩy sự phát triển công nghệ và các ngành công nghiệp nhất định và có một bộ máy hành chính có khả năng nhận thức và thực hiện một mô hình “nhà nước mạnh” Đây là kinh nghiệm của các nước Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) (xem Phụ luc 1, Bảng 1.4)

Một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển ở Chau A 1A tang lớp trung lưu tăng lên

về số lượng và diện nghèo tuyệt đối đã giảm xuống nhanh chóng, đặc biệt là ở

Inđônêxia và Trung Quốc Các nước duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều

thập ký như Nhật Bản trong giai đoạn 1950-1973, Hàn Quốc (1980-1995), Malaixia (sau 1985) đều trải qua một thời kỳ biến đổi nhanh chóng cơ cấu công nghiệp Sự thay

đổi cơ cấu trong tổng thu nhập quốc nội (GDP) của các nền kinh tế được thể hiện trong Biểu đồ 3

27

Trang 28

Biểu đề 3: Tỷ trọng các ngành trong GDP của một số nước năm 1991

Công nghiệp

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1993, Tổng cục Thống kê

Tuy nằm trong cùng một khu vực địa lý, song các nước ASEAN đều có những

sắc thái khác nhau về thể chế chính trị, truyền thống văn hoá, xã hội, trình độ phát triển

kinh tế-xã hội Hai nước Inđônêxia và Singapore là biểu hiện của hai đối cực rõ rệt - Nếu Inđônexia giàu tài nguyên thiên nhiên và lực lượng lao động đổi dào thì Singapore đân ít và hầu như không có tài nguyên thiên nhiên Inđônexia công nghiệp hoá chậm chạp thì Singapore lại công nghiệp hoá nhanh chóng và là một nước công nghiệp - dịch

vụ phát triển Thái Lan, Malaixia, Phippin những nước có nguồn tài nguyên trung

bình, dân số đông nhưng chỉ có Thái Lan và Malaixia là đạt được những bước tiến

đáng kể trên con đường công nghiệp hoá Tất cả các nước (trừ Thái Lan) đều trải qua

thời kỳ thuộc địa lâu đài, chịu ảnh hưởng của nền văn minh phương Tây và là nơi cung

cấp nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ mạt chơ các nước công nghiệp phát triển Chỉ

trong vài thập kỷ trước đây, các nước ASEAN đều là các nước nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển song từ thập kỷ 70 đến nay, kinh tế các nước ASEAN đã có bước phát triển nhanh chóng (xem Bảng 2)

Bảng 2: So sánh cơ cấu kinh tế và các chỉ số cơ bản của các nước ASEAN

Cơ cấu ngành kinh tế (9) GDP Chỉ | GDP/Dau

T | Tên nước | Nông nghiệp | Công nghiệp Dich vụ số người

Trang 29

Sự phát triển kinh tế của các nước ASEAN không đồng đều là do nhiều nguyên

nhân khác nhau Ngoài các nguyên nhân về vị trí địa lý; vai trò và chính sách của Chính phủ; tận dụng đầu tư và chuyển giao công nghệ nước ngoài còn có một nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ lịch sử truyền thống văn hoá - giáo dục của các dân tộc, các cộng đồng dân cư ở các nước ASEAN Khu vực các nước ASEAN là mảnh đất lịch sử từ lâu đời với nền văn minh lúa nước và chịu ảnh hưởng của nhiều dòng tư tưởng và nền văn hoá lớn: Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Á Các nước ASEAN từ xa xưa là các quốc gia có nền văn hoá đa dạng nhiều sắc tộc và trình độ văn hoá cao Chính dựa

trên nền tảng bản sắc văn hoá dân tộc vững chắc, phong phú và đa dạng mà các nước

ASEAN trong thời kỳ thuộc địa đã tiếp thu nền văn minh phương Tây một cách khôn ngoan, có chọn lọc những giá trị thích hợp (ngôn ngữ, công nghệ, cách làm ăn ) trên

cơ sở giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Chính vì vậy mà các nước ASEAN thích nghi nhanh chóng với các làn sóng nền văn minh mới trong tỉnh thần thống nhất quốc gia và hoà hợp cộng đồng các dân tộc, các tôn giáo khác nhau hướng vào mục tiêu phát triển quốc gia trong từng thời kỳ

Tuy nhiên, mặc đù đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, song trên con đường phát triển để trở thành các quốc gia công nghiệp mới vào thế kỷ 21, các nước ASEAN còn có nhiều khó khăn và thách thức gay gắt như vấn dé ổn định và tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; tránh suy giảm tài nguyên và mất cân bằng sinh thái Đặc biệt là vấn đề phát triển giáo dục, nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu thị trường lao động ở trong và

ngoài nước trong quá trình phát triển

b Tình hình phái triển kinh tế của Việt Nam

Ngay từ những năm đầu của thập niên 1990, nhờ định hướng đúng đắn trong lao động, kinh tế - xã hội, thực hiện chính sách đổi mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với tiến hành công tác xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong cải cách và phát triển kinh tế, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tỉnh thần cho nhân dân Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 10 năm 1990-2000 khá cao, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7,5%, trong đó giai đoạn giữa hai cuộc điều tra mức sống dân cư (năm 1992-

1993 và năm 1997-1998) tăng trưởng bình quân 8,4%, nhưng đến năm 1999 chỉ đạt 4,8% (xem Biểu đồ 4)

Trang 30

Biểu đồ 4: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam

Nhờ thực hiện các cơ chế, chính sách phù hợp công cuộc xoá đói giảm nghèo

của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc

gia đã giảm 2/3 so với năm 1990, tính theo chuẩn quốc tế thì tỷ lệ hộ nghèo giảm một nửa Tỷ lệ hộ nghèo đói giảm từ 20,3% (1995) xuống còn 19,2% (1996); 17,7% (1997); 15,7% (1998) và 10% cuối năm 2000 Như vậy trung bình mỗi năm giảm 2% Việt nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những nước giảm tỷ lệ

nghèo đói tốt nhất Đây là thành tựu nổi bật nhất của Việt Nam trong những năm đổi

mới (xem Biểu đồ 5)

Biểu đô 5: Tỷ lệ hộ đói nghèo ở Việt Nam qua các năm

Trang 31

Mặc dù chênh lệch giàu nghèo ở Việt nam chưa phải là cao so với nhiều nước

trên thế giới và khu vực (xem Bảng 3), song trong khoảng cách giàu nghèo có chiều

hướng gia tăng, nhất là giữa khu vực thành thị và nông thôn Đây là một thách thức đối

với quá trình phát triển kinh tế bên vững của Việt Nam Số liệu thống kê năm 1994 cho thấy, thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% dân cư giàu nhất của tỉnh giàu nhất

lớn gấp 25 lần thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% dân cư nghèo nhất của

tỉnh nghoè nhất, thì đến năm 1998, con số này đã tăng lên 35 lần Chênh lệch giàu

nghèo trong từng tỉnh cũng gia tăng, điều đó có ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhu cầu

phát triển giáo dục

Bảng 3 : Chênh lệch giàu nghèo: Hệ số GINI của Việt Nam

và một số nước trong khu vực

Nguồn: WDI và ĐT MSDC-1998, tổng cục Thống kê;

Ghỉ chú: Hệ số GIN! là chỉ số đo lường mức chênh lệch về thu nhập

Năm 1998, nếu tính theo sức mua tương đương (PPP), GDP bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn Trung quốc gần 2 lần, thấp hơn Thái Lan 3,2 lần và thấp hơn Malaixia hơn 5 lần (xem Bảng 4)

Bảng 4: So sánh GDP/đầu người năm 1998 của Việt Nam

với một số nước trong khu vực

GDP/đầu | 331 1.689 727 3.105 | 2.593 | 5.456 4.251 8.137 người

Nguồn: - Báo cáo phát triển con người năm 2000, UNDP

- Báo cáo phái triển con người Việt Nam năm 2000, TT KH Xã hội và Nhân văn quốc

gia, 2000

Năm 1999, tuy Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong phát triển kinh tế, GDP/đầu

người tăng 10% so với năm 1998, nhưng so với một số nước tiên tiến trong khu vực thì Việt Nam vẫn còn thấp hơn Trung Quốc gần 2 lần, thấp hơn Thái Lan hơn 3 lần và thấp hơn Malaixia hơn 4 lần

Trang 32

Năm 2001 kinh tế Việt Nam tiếp tục có bước tiến tích cực, tốc độ tăng trưởng đạt 7% - cao hơn tốc độ tăng trưởng của năm 2000 và cao hơn các nước trong khu vực

Cơ cấu kinh tế đã có chuyển dịch theo hướng tích cực, nhất là chuyển dịch trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản; năng suất chất lượng hàng hoá bước đầu được nâng lên, công tác xoá đói giảm nghèo được quốc tế đánh giá cao Tuy nhiên Việt Nam vẫn đang là một nước có thu nhập bình quân đầu người thấp (SDP bình quân đầu người năm 2000 khoảng 400USD), ty lệ hộ nghèo còn lớn

1.3 TÌNH HÌNH DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM VÀ Quoc TE

Dân số ở các nước trong hiệp hội ASEAN rất đa dạng, có nước rất đông dân như Inđônêxia (212,2 triệu người), lại có nước rất ít dan nhu Brunây (0,32 triệu người), Việt

Nam đứng ở vị trí thứ 2 với 77,7 triệu người (năm 2000) Từ những năm 1960, các

nước có dân số lớn như Inđônêxia, Philippin, Thái Lan, Việt Nam đã thực hiện kế hoạch hoá gia đình, khuyến khích giảm mức sinh Tuy nhiên do ảnh hưởng của tư tưởng lễ giáo, sắc tộc, nên việc kiểm soát sinh đẻ gặp khó khăn, chẳng hạn như ở Philippin đã gặp phải sự chống đối lớn của đạo Cơ đốc nên tỷ lệ gia tăng dân số không

giảm rõ rệt như ở các nước khác Do đó tỷ lệ tăng dân số trung bình của các nước

ASEAN tương đối cao (1,5% năm 1999), trong đó Campuchia có tỷ lệ tăng cao nhất (223%), Việt Nam (1,3%) xếp thứ 6 trong khối ASEAN, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói và kém phát triển ở một số nước (xem Phụ lục 1, Bảng 1.5)

Cho đến nay, chính sách dân số đã thực hiện thành công ở một số nước trong khối ASEAN, tỷ lệ sinh đẻ đã giảm nhưng tỷ lệ tăng dân số vẫn cao, đân số vẫn tương đối trẻ Tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi tương đối cao (34,1%), trong đó Campuchia có tỷ lệ cao nhất (44,6), Singapore có tỷ lệ thấp nhất (22%), Việt Nam xếp thứ 5 với tỷ lệ 34,2%, đòi hỏi phải mở rộng quy mô phát triển giáo đục phổ thông, đây là đặc trưng của các nước ASEAN (xem Phụ lục 1, Bảng 1 6) |

Mac di tỷ lệ tăng dân số cao, nhưng ở Singapore, Malaixia và Brunêy tình hình

có sự khác biệt dân số ít nên đù tốc độ gia tăng dân số trung bình thì nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao đã đặt các nước này ở tình trạng khan hiếm nhân lực Chính vì vậy các nước này đã thực hiện nới lỏng sự kiểm soát sinh đẻ, thậm chí còn khuyến khích việc sinh con thứ hai và thứ ba trong các gia đình người Hoa như ở Singapore Ngoài biện pháp khuyến khích sinh để, Singapore còn thực hiện chính sách kéo dài tuổi làm việc, nhập khẩu lao động từ nước ngoài để giải quyết vấn đề khan hiếm nhân lực

Do tác động của những tiến bộ về y tế, dinh dưỡng và phúc lợi xã hội, tuổi thọ

bình quân của các nước nói chung đề tăng lên đáng kể trong giai đoạn từ 1992-1999, như ở Inđônêxia từ 62 lên 65,4, ở Malaixia từ 70 lên 72,2, ở Philippin từ 64 lên 69, ở Thái Lan từ 66 lên 69,9 và ở Việt Nam đã tăng từ 66,4 (năm 1995) lên 67,8 (năm 1999) (xem Phụ lục 1, Bảng 1.7)

Trang 33

Ngoài ra theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay ở một số nước có tình trạng dân số giảm (không phải do di dân đi ra nước ngoài quá nhiều), mà do ti suất sinh quá thấp, đây cũng là một vấn đề nan giải, vì các nước này sẽ là các đân tộc "gia", thế hệ trẻ bổ sung cho nguồn lao động giảm dần, đây cũng là một thách thức lớn đối với nhiều nước, nhất là các nước phát triển Tuy nhiên, đối với các nước ASEAN (năm 1997) thì

lại có hiện tượng tỷ lệ dân số đưới 14 tuổi so với tổng dân số rất cao, chẳng hạn như

Brunây 33%, Ind6énéxia 32%, Lao 45%, Malaixia 37%, Myanma 35%, Philippin 38%,

Thái Lan 27%, Việt Nam 36%, Singapore 22% Có thể nói khu vực này có nguồn lao động đồi đào với tổng số là 178,18 triệu (1997), trong đó phần lớn là lao động trẻ ở độ

tuổi 15-39 tuổi Tình hình lao động của một số nước được trình bây trong Phụ lục 1,

Bảng 1.8)

Số liệu thống kê cho thấy trong toàn khu vực, tỷ lệ người lớn biết chữ rất cao đã phản ánh được cố gắng to lớn của các nước trong khu vực ASEAN Tuy nhiên ở các bậc trung học, cao đẳng và đại học thì thành quả vẫn còn quá ít Ở Thái Lan trong 30 triệu người lao động không có tay nghề hoặc tay nghề thấp thì ít nhất có tới 80% mới đạt trình độ giáo dục tiểu học, ở Inđônêxia cũng có trình trạng như vậy Ngay ở hai nước phát triển là Malaixia và Singapore trình độ của dân số trong độ tuổi lao động cũng vẫn còn rất thấp so với các nước công nghiệp phát triển hoặc với một số nước công nghiệp mới Ví dụ trình độ đại học của lực lượng lao động ở Hàn Quốc là 50%, Hồng Kông là 40%, thì ở Singapore là 22%, còn Maliaxia và Việt Nam chỉ có 5%

Nhìn chung lực lượng lao động ở các nước có xu hướng tăng lên, nhưng do tình trạng thiếu công ăn, việc làm cũng là vấn đề khó giải quyết mà đội quân thất nghiệp

khổng lồ không chỉ ở các nước nghèo, chậm phát triển mà ngay cả các nước công

nghiệp, các nước giàu có (xem Phụ lục 1, Bảng 1.10) Chẳng hạn như Thuy sĩ - nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới năm 1992, cũng có tới 2,5% người thất nghiệp (riêng thanh niên từ 15 đến 24 tuổi là 3,1%); nước Mỹ, năm 1992 cũng có gần 9,2 triệu người thất nghiệp, chiếm tỷ lệ 7,3%, trong đó riêng thanh niên là 13,7%; hoặc Canađa, nước có chỉ số HDI lớn nhất, được xếp số l trên toàn thế giới vào năm 1992 cũng có tỷ lệ thất ngiệp là 11,2% (riêng thanh niên là 17,8%) (Phụ lục 1, Bảng 1.11)

II XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRONG TƯƠNG LAI

HI.1 BỐI CẢNH THẾ GIỚI MỚI

Bước vào thế kỷ 21, thế giới đã có nhiều thay đổi Có những thay đổi đã có thể

nhìn thấy, có thể chiêm nghiệm, nhưng cũng khó dự đoán những gì có thể xảy ra trong

tương lai, khi loài người đi hết chặng đường của thế kỷ 21 Trên các diễn đàn quốc tế,

trên các phương tiện thông tin, đều khẳng định bối cảnh thế giới trong giai đoạn đầu của thế kỷ 21 có mấy đặc trưng cơ bản, đó là:

Trang 34

a Xã hội loài người đang bước vào cuộc cách mạng Khoa học Kỹ thuật Công nghệ cao

Cách mạng Khoa học Kỹ thuật Công nghệ cao là cuộc cách mạng tạo ra các công nghệ mới nhằm nâng cao giá trị trị thức, giá trị trí tuệ của con người trong sản

phẩm và giảm thiểu giá trị vật chất của sản phẩm Một điển hình công nghệ cao, hiện

nay đang thâm nhập, chiếm lĩnh vào tất cả các lĩnh vực từ sản xuất kinh doanh đến dịch

vụ, điều hành và ngay cả trong sáng tạo công nghệ mới đó là công nghệ thông tin Một điều dễ nhận thấy là các nước càng giàu càng có nhiều khả năng đầu tư cho cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ cao càng nắm giữ nhiều công nghệ hiện đại, công nghệ mới, họ càng có nhiều ưu thế trong cạnh tranh trên thị trường quốc tế Kết quả là

sự cách biệt giữa nước giàu và nước nghèo càng sâu sắc Các nước nghèo, nước đang

phát triển chỉ có thể làm chủ được công nghệ cao, công nghệ mới khi chọn lựa được

hướng công nghệ đặc thù, phù hợp với điều kiện của mình, lúc dó mới có khả năng cạnh tranh Để làm được việc đó cần phải có nguồn nhân lực đồi đào, có chất lượng Yêu cầu đó đặt lên vai ngành giáo dục

b Sự chuyển đối từ nên sản xuất công nghiệp sang nền sản xuất hậu công nghiệp

Loài người đang chuyển từ nên sản xuất công nghiệp sang nên sản xuất hậu công nghiệp tức là chuyển sang "nên sản xuất trí tuệ” nền sản xuất tri thức Giáo dục

đào tạo trở thành " cơ sở để sản xuất" ra loại hàng hoá mới Trong những thập niên sắp

tới thứ " hàng hoá tri thức” là thứ hàng hoá đặc biệt, đảm bảo cho nền sản xuất xã hội Hàng hoá tri thức vừa biểu hiện cụ thể ở con người có tri thức vừa biểu hiện ở cả sản

phẩm trí tuệ mà họ sản sinh ra Giá trị thứ hàng hoá này rất cao, có khi là vô giá Bối cảnh mới đó chắc chắn đòi hỏi nhiều thay đổi, nhiều cố ố gắng, nhiều chuyển đổi của nền giáo dục

c Nền kinh tế chuyển sang nên kinh tế trỉ thức

Nền kinh tế tri thức đặc trưng ở chỗ giá trị hàng hoá quyết định bởi giá trị hàm lượng cao của trí thức chứa trong hàng hoá chứ không phải bởi giá trị vật chất của hàng hoá Nền kinh tế tri thức cũng thể hiện ở chỗ công nghệ thông tin thâm nhập vào tất cả các khâu, từ sản xuất, tiêu dùng, lưu thông và cả trong quá trình hình thành công nghệ mới Có người còn hình dung cụ thể, trong nền kinh tế tri thức, hàm lượng chất xám chiếm khoảng 2/3 giá trị hàng hoá trở lên

d Xu thế toàn cầu hoá

Xu thế toàn cầu hoá được nhắc đến nhiều và có người đề cập đến nó như là một tất yếu Đến hôm nay cũng chưa có ai khẳng định tính tất yếu của toàn cầu hoá Có một điều chắc chan rằng toàn cầu hoá có tính khách quan nhưng đồng thời cũng mang

Trang 35

tính chủ quan của nó Do những thành tựu về khoa học, công nghệ, sự xuất khẩu công nghệ, sự xuất khẩu tư bản thông qua đầu tư, thị trường sản xuất, tiêu thụ hàng hoá trở nên năng động hơn trên thị trường thế giới, sự phát triển công nghệ thông tin, sự phát

triển truyền thông làm cho thế giới trở nên bé nhỏ, đòi hỏi cánh cửa mỗi nước phải

mở rộng, làm thúc đẩy tiến trình toàn cầu hoá Mặt khác toàn cầu hoá mang lợi ích to -_ lớn cho những nước giàu, lợi cho nước đã phát triển, nước nắm được nhiều công nghệ : mới Các nước này sẽ thúc đẩy toàn cầu hoá Ngược lại có nước bị thiệt lớn, đặc biệt các nước nghèo sẽ nghèo khó hơn nhiều Trong bối cảnh đó, nền giáo dục của mỗi nước cần phải chuẩn bị cho công dân của nước mình thích ứng với toàn cầu hoá để tận dung những lợi thế do nó mang lại nhưng đồng thời phải chống lại những tác dụng tiêu cực của nó có thể gây ra Toàn cầu hoá là một sự hoà nhập giữa các nước trên thế giới Phương châm của Việt Nam là " hoà nhập chứ không hoà tan", đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa không hoà tan về bản sắc văn hoá của dân tộc Toàn cầu hoá cũng đặt các dân tộc trước một cuộc cạnh tranh không cân sức Như vậy toàn cầu hoá đặt giáo dục trước một tình thế mới, phải có những chuyển biến tương hợp, nhằm góp phàn tích cực vào

sự phát triển của đất nước

HI.2 XU THẾ GIÁO DỤC TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI

Nhân loại đã bước sang năm đầu của thế kỷ XXI với sự phát triển mạnh mẽ của _ cách mạng KH-CN, thế giới đang chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và kinh tế tri thức, tạo cơ hội mới cho phát triển giáo dục và hình thành nên giáo dục hiện đại với những xu thế sau:

a Triển vọng các môn học ở thế kỷ XXI

Những thay đổi nhanh chóng về khoa học, công nghệ ngày nay khiến các nhà giáo dục phải thừa nhận thực tế là các nền văn hoá cổ kim đông tây ít nhiều đã lỗi thời Khôpmen đã dự đoán trong cuốn “Tương lai của ngành giáo dục” sáu nội dung chính của các môn học 6 thé ky XXI 1a: (i) tiếp cận và sử dung tin học; (1¡) bồi dưỡng tư duy mạch lạc; (ii) bồi dưỡng kỹ năng thông thường đạt hiệu quả; (1v) tìm hiểu con người và môi trường sống; (v) tìm hiểu con người và xã hội; (vi) phát huy năng lực cá nhân Các môn học thế kỷ XI được xây dựng quán triệt theo một số nguyên tắc sau: giúp cho học sinh thích nghỉ với xã hội; giúp cho học sinh tự lý giải; giúp cho học sinh

vị thành niên lý giải sự đầu tư của mình đối với tương lai; giúp học sinh tìm hiểu phương hướng có tính biến đổi của xã hội và xác định vai trò của mình trong quá trình biến đổi đó; giúp học sinh mang những điều học tập ở nhà trường chuyển hoá thành trách nhiệm trong tương lai Các môn học “Thế kỷ XXT” được giảng dạy không theo phương pháp giáo dục truyền thống Thầy giáo và các nhà nghiên cứu dự đoán và đánh giá thành tích và năng lực của học sinh dựa trên chất lượng tham gia học tập và công tác của học sinh chứ không phải ở trí nhớ của họ, bởi lẽ trí nhớ máy móc không phải là

hiểu biết của họ Việc cải cách giáo dục của các nước được triển khai với chủ đẻ các

môn học “Thế kỷ XXI” sẽ phá vỡ những tập tục cũ của nền giáo dục truyền thống làm

Trang 36

cho lớp học được mở rộng; các thày giáo từ chỗ hành nghề theo truyền thống trở thành người hợp tác để làm cho học sinh tiến vào xã hội tương lai, tích cực hướng vào mục tiêu lớn ngày càng lành mạnh — nỗ lực xây dựng một tương lai tươi đẹp

b Kỹ thuật giảng dạy đa phương tiện

Cùng với những thay đổi trong nội dung đào tạo là việc đổi mới phương pháp

giảng dạy với những trợ giúp của kỹ thuật đa phuong tién (Multimedia) Ky thuật giảng đạy đa phương tiện là loại kỹ thuật đang được chú ý nhất, là cơ sở quản lý và xử lý theo

kiểu tin học thế kỷ 21 Kỹ thuật đa phương tiện là xử lý tổng hợp kiểu trao đổi trên

máy vi tính cả về chữ viết, hình hoạ, hình ảnh, âm thanh thiết lập mối liên kết logic,

tập hợp thành một hệ thống Với sự phát triển của kỹ thuật đa phương tiện sẽ xuất hiện

hệ thống giảng dạy máy tính đa phương tiện Kỹ thuật này làm thay đổi lớn giáo trình

và giáo án, làm cho hình thức giảng dạy sống động, học sinh học tập với tư cách là chủ

thể Kỹ thuật đa phương tiện rất thuận lợi cho phát triển giáo dục từ xa, đặc biệt là để phát triển giáo dục ở các vùng xa xôi, hẻo lánh

c Xu hướng xuất hiện ngày càng nhiều các công ty đạt học

Năm 1969, trường ĐH Cambridge (Vương quốc Anh) với 700 năm lịch sử lần đầu tiên bước vào con đường “Công ty đại học - Liability Corporation” Dai học Cambrigde đã dành một khoảng đất của mình xây dựng vườn khoa học Cambridge, trong đó tập kết đa số công ty kỹ thuật và các ngành nghề của nó, bao gồm phần cứng

và phần mềm máy tính, các máy móc khoa học điện tử, kỹ thuật sinh học đồng thời lắp đặt các thiết bị có thể sử dụng chung Vì một loạt công ty kỹ thuật này có đủ năng lực nghiên cứu và chế tạo, thiết kế, sản xuất những sản phẩm chất lượng cao, nên đã làm cho tỷ lệ lợi tức của vườn khoa học Cambridge tăng vụt lén Cambridge da thể hiện

rõ cho chính phủ và thế giới biết: trường đại học có thể đóng góp công sức cho sự phát

triển xã hội, có thể cung cấp cho xã hội những nhân tài hàng đầu, có thể cung cấp cho

ngành giáo dục kinh nghiệm đầu tiên về cải cách phương thức giảng dạy, học đi đôi với hành, tăng cường giáo dục chiều sâu Sự liên kết giữa trường đại học với công ty có thể sáng tạo ra những sản phẩm kỹ thuật phong phú và hùng hậu, tạo ra hàng loạt nhân tài

và những kinh nghiệm giảng dạy đa dạng Ngày nay nhiều nước đang thành lập các vườn khoa học, các khu công nghiệp xung quanh trường đại học, trường đại học liên kết với các xí nghiệp ngày một nhiều và trở thành một khối Công ty đại học đang trở

thành xu thế phát triển tất yếu, tạo thời cơ phát triển cho trường đại học và xí nghiệp

d Lan sóng tư doanh hoá trường công

Trường công là cơ cấu giáo dục thể hiện sự dân chủ, là thực hiện sự bình đẳng, dân tộc và sự đồng đều về cơ hội kinh tế, luôn luôn được coi là “liều thuốc vạn năng”

va được chấp nhận, nhất là trong giai đoạn phồn vinh của những năm 60 Mở đầu những năm 90, ở một số thành phố của Mỹ xuất hiện làn sóng tư doanh hoá trường công Mô típ tư doanh hoá trường công là muôn hình, muôn vẻ song chúng có một số điểm chung là sự tuyên chiến với chế độ trường công hiện hành; cơ sở lý luận của nó

Trang 37

đều bất nguồn từ lý luận tư hữu hoá và mục đích cuối cùng của loại hình trường này là

thực hiện giảm chỉ, tăng hiệu quả, nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh có nhiều năng lực cạnh tranh, dành được sự tán đồng và ủng hộ của công chúng Tuy nhiên, đù điều hành theo phương thức công ty tư nhân thì trường học không thể dành cho thương nhân quản lý

e Phát triển xu hướng toàn dân học tập suốt đời

Quan niệm giáo dục suốt đời xuất hiện từ giữa những năm 6O hiện đã xâm nhập sâu vào lòng người Nguyên tắc giáo dục suốt đời được thế giới tiếp thu một cách phổ biến Mục tiêu giáo dục suốt đời tiến hành ở các nước đã chỉ ra xu thế chung: Việc giáo dục sau này nên tuỳ thuộc vào thời điểm, nhu cầu của mỗi cá nhân, dùng phương pháp hiệu quả nhất cung cấp cho họ những kỹ năng thiết yếu Nó vạch ra phương hướng chung của giáo dục trong tương lai, với ý nghĩa là đưa giáo dục vào cả đời người, biến việc học tập thành quá trình không ngừng nâng cao năng lực Theo thực tiễn của nhiều quốc gia Âu — Mỹ, việc giáo dục suốt đời sẽ được tiến hành rộng rãi trên phạm vi toàn cầu từ mầm non đến trung học, sau trung học, sau đại học, bổ sung kiến thức và bồi dưỡng tại chức kỹ năng, kỹ thuật cho các thạc sĩ, tiến sĩ, thực hiện giáo dục tại chức và giáo dục cho người già

Xu hướng nâng cao giáo dục và đào tạo nhân tài bậc cao

Xã hội ngày nay cần một nền giáo dục có chất lượng cao, có khả năng đào tạo những người có thực tài, có tầm mắt chiến lược toàn cầu, có ý thức vươn lên hàng đầu,

có năng lực sáng tạo cái mới và cạnh tranh quốc tế, có khả năng biến tri thức thành sản phẩm mang lợi ích kinh tế Khi trình độ giáo dục phổ cập đã được nâng cao, thì nhiệm

vụ đào tạo nhân tài bậc cao là vấn đề tối quan trọng Xu hướng chung là ưu tiên đầu tư

xây dựng một số trường đại học đạt trình độ quốc tế tiên tiến Nằm trong xu hướng

này, hầu hết các nước đưa người giỏi đi học hoặc làm việc ở nước ngoài, được xem là một biện pháp đào tạo hữu hiệu 7

g Xu hướng xã hội hoá giáo duc

Xu hướng này giữ vai trò quan trọng và được thực hiện ở hâu hết các nước phát

triển và đang phát triển Trong giáo dục có nhiều loại trường, nhiều chủ thể nên quản lý

giáo dục phải đa dạng hoá Nhà nước giữ vai trò chủ đạo nhưng không bao cấp mà chỉ

quản lý và chỉ đạo, đề ra qui định, tiêu chuẩn đào tạo rồi giám sát thực hiện Nhà nước

khuyến khích mọi thành phân trong xã hội và các cá nhân đầu tư vào giáo dục và hưởng lợi ích do dịch vụ này mang lại; khuyến khích mở các trường dân lập, bán công,

tư thục để bổ sung vào hệ thống trường công lập

Riêng ở các nước Châu Á - Thái Bình Dương trong thời gian vừa qua trong trào

lưu xã hội hoá giáo dục nổi bật 4 xu hướng sau: (¡) xu hướng mở rộng giáo đục cho

mọi lứa tuổi: xu hướng này nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của mọi tầng lớp nhân dân,

khấc phục tình trạng bất bình đẳng về giáo dục Day là biện pháp không thể thiếu của

sự vận động của chính bản thân xã hội và là sự vận động của chính bản thân ngành

Trang 38

giáo dục; (1) xu hướng coi trọng sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục: xu hướng này nhằm làm cho nhà trường và xã hội gắn chặt với nhau, tác động qua lại với nhau Đây là chiến lược nhằm huy động đông đảo nhân dân tham gia vào giáo dục; (Hi) xu hướng nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa giáo dục và lao động: ở nhiều nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, các chương trình giảng dạy ở mọi bậc học, đặc biệt trong các dự án canh tân giáo dục, người ta đã cố gắng kết hợp giáo dục với lao động sản xuất và vấn để công ăn việc làm cho học sinh tốt nghiệp phổ thông không học tiếp lên; (v) xu hướng tìm kiếm những phương thức giáo dục không chính qui trong phạm vi một hệ thống giáo dục mới Đây là mối quan tâm chung của xã hội đối với giáo dục, tức là phải tác động đến đời sống và nguyện vọng của những người không nghề nghiệp , những người ở vùng nông thôn hẻo lánh Từ đó, cần phải phối hợp giáo dục chính qui và phi chính qui và thống nhất chúng trong mối quan hệ tăng cường hỗ trợ lẫn nhau

h Xu hướng mở rộng hợp tác quốc tế trong giáo duc

Quốc tế hoá giáo dục ngày nay là xu thế toàn cầu Các nước đều nhận thức rằng không mở rộng hợp tác quốc tế thì giáo dục sẽ nhanh chóng lạc hậu Giao lưu giáo dục quốc tế điễn ra dưới nhiều hình thức: Hội thảo, trao đổi sinh viên, giáo viên và mở trường đào tạo ở nước ngoài

Trang 39

PHAN I

NGHIEN CUU PHAN TICH VÀ LỰA CHỌN HỆ THỐNG CÁC CHỈ SỐ

VÀ CÁC NƯỚC ĐỂ NGHIÊN CỨU SO SÁNH TRÌNH ĐỘ

PHAT TRIEN GIAO DUC

Giáo dục gắn bó chặt chế với sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội, sự phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục được đánh giá thông qua hệ thống các chỉ số có liên quan và được thống kê hàng năm Các chỉ số giáo dục là công cụ thiết yếu trong việc lập kế hoạch và đánh giá các hoạt động giáo dục, giám sát hệ thống giáo dục của các quốc gia Tuy nhiên, theo khuyến cáo của Tổ chức UNESCO, hiện nay chế độ thống

kê giáo dục ở nhiều nước có phạm vi hẹp, Chính phủ các nước này chỉ chú trọng đến việc thống kê số lượng đầu vào để giám sát hệ thống giáo đục của họ như: số lượng học sinh, giáo viên trong các trường công, chi phí tài chính từ ngân sách Nhà nước , chi

có một nửa số nước trong cộng đồng Châu Âu (OECD) báo cáo về các chỉ phí giáo dục

ở hệ thống giáo dục tư thục, hầu hết các nước chỉ báo cáo chi phí đào tạo (unit cost) đối với hệ thống các trường công, né tránh đến vấn đề này ở hệ thống giáo dục tư thục

Có thể nói rằng hệ thống các chỉ số giáo dục được thống kê hàng năm của các

nước nói chung có nhiều điểm khác nhau và không đầy đủ Do vậy, để có thể thực hiện

nghiên cứu so sánh trình độ giáo dục của Việt Nam với các nước thông qua hệ thống các chỉ số giáo dục, chúng tôi đã tiến hành phân tích lựa chọn hệ thống các chỉ số giáo duc tương đồng giữa Việt Nam và các nước trên cơ sở liệt kê các chỉ số giáo đục theo các lĩnh vực được thống kê hàng năm ở Việt Nam và do các tổ chức quốc tế xuất bản

I THỐNG KÊ HỆ THỐNG CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ -XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC

ĐANG ĐƯỢC SỬ DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY -

Hệ thống các chỉ số giáo dục đang được sử dụng ở Việt Nam hiện nay bao gồm:

- Các chỉ tiêu, chỉ số thống kê về kinh tế - xã hội và giáo dục được cung cấp trong Niên giám thống kê hàng năm của Tổng cục Thống kê (Xem Phụ lục 3, Bảng 3.1)

- Các chỉ tiêu, chỉ số thống kê được cung cấp trong Thực trạng Lao động - Việc làm ở Việt Nam hàng năm dọ Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội xuất bản (Xem Phụ lục 3, Bảng 3.2)

- Các chỉ tiêu, chỉ số thống kê được cung cấp trong Số liệu thống kê Giáo dục đầu năm học của Trung tâm Thông tin Quản lý Giáo dục, Bộ GD&ĐÐT (Xem Phụ lục

3, Bảng 3.3)

- Các chỉ tiêu, chỉ số thống kê được cung cấp trong các tài liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) (Xem Phụ lục 3, Bảng 3.4)

Trang 40

- Các chỉ tiêu, chỉ số thống kê được cung cấp trong Thống kê Giáo dục hàng

năm của tổ chức UNESCO (Xem Phụ lục 3, Bảng 3.5)

- Các chỉ tiêu, chỉ số thống kê được cung cấp trong Báo cáo Phát triển con người

hàng năm của tổ chức UNDP (Xem Phụ lục 3, Bảng 3.6)

Trên cơ sở thống kê hệ thống các chỉ số về kinh tế- xã hội và giáo dục, chúng tôi xây dựng ma trận các chỉ số để lựa chọn hệ thống chỉ số đang được sử dụng ở Việt Nam và quốc tế (xem Bảng 5)

Bảng 5: Ma trận các chỉ số KT-XH và GD&ĐT được thống kê hàng năm

của Việt Nam và một số tổ chức quốc tế

1 Các chỉ số Kinh tế - Xã hội (có ảnh hưởng đến sự phái triển GD&DT):

Theo thống kẻ của các tổ chức

Việt Nam Lua

™ Các chỉ số Đacó | Tính | UNDP | UNESCO | WB | ‘be

sẵn toán

1.) Dân số-Lao động-Việc làm

Dan sé: ° + ° ° °

- Dân số (Nam/nữ) e ° e e e

hàng năm

và theo khu vực thành thị, nông

Ngày đăng: 16/03/2015, 09:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Mingat, Alain va Jee-Peng Tan 1985, “Lại bàn về bình đẳng trong giáo dục: so sánh giữa các nước trên thế giới”. Tạp chí Nhân lực 20: 298-308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại bàn về bình đẳng trong giáo dục: so sánh giữa các nước trên thế giới
4, Tilak, Jandhyala B.G. 1989. “Gido duc va quan hệ của nó với tăng trưởng kinh tế, tình trạng nghèo đói và phân bố thu nhập”. Tài liệuthảo luận 46 của Ngân hàng Thế giới. Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gido duc va quan hệ của nó với tăng trưởng kinh tế, tình trạng nghèo đói và phân bố thu nhập
9. Thomas, Christopher và Christopher Shaw 1992. Các vấn để trong việc phát triển trường nhiều cấp. Tài liệu kỹ thuật 172 Ngân hàng Thế giới Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề trong việc phát triển trường nhiều cấp
Tác giả: Christopher Thomas, Christopher Shaw
Nhà XB: Ngân hàng Thế giới
Năm: 1992
10.Tsang, Mun. 1993. “ Khảo sát việc tài trợ cho giáo dục cơ sở có chất lượng”. Tài liệu chuẩn bị cho cuộc hợp lần thứ 2 của Diễn đàn tư vấn Quốc tế về Giáo dục dành cho mọi người, New Delhi. Ngân hàng Thế giới, Vụ Giáo dục và Chính sách xã hội, Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát việc tài trợ cho giáo dục cơ sở có chất lượng
11.Ngân hàng Thế giới 1993 “ Inđonexia: Chi tiêu nhà nước, Giá cả và người nghèo” Báo cáo của phái đoàn thường trú tại Inđonexia 11293-ID. Khu vực Đông Á và Thái Bình dương, Vu Đất nước III, Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđonexia: Chi tiêu nhà nước, Giá cả và người nghèo
12. 1993 “Vênêzuêla 2000: Giáo dục đối với sự tăng trưởng và công bằng xã hội”. Báo cáo 11130-VE, Khu vực Mỹ La Tỉnh và Caribê, Vụ Đất nước I, Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vênêzuêla 2000: Giáo dục đối với sự tăng trưởng và công bằng xã hội
14. Ngân hàng Thế giới 1994. “ Tổng kết các chị phí nhà nước của Kenia”. Dự thảo. Khu vực Châu Phi, Vụ đất nước II, Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết các chị phí nhà nước của Kenia
15. Ngân hàng Thế giới 1997. “Những Ưu tiên và Chiến lược cho giáo dục”. Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Ưu tiên và Chiến lược cho giáo dục
18. Nguyễn Tiến Đạt. Ý nghĩa của các số tỷ lệ và chỉ số về giáo dục trong việc so sánh giáo dục., Tạp chí Phát triển giáo dục, Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục, BộGiáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa của các số tỷ lệ và chỉ số về giáo dục trong việc so sánh giáo dục
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Nhà XB: Tạp chí Phát triển giáo dục
Năm: 1999
27.Đỗ Thị Bích Loan. Tài chính cho giáo dục ở một số nước trên thế giới. Thông tin “Giáo dục quốc tế” số 1/2002, Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục quốc tế
1. Hách Khắc Minh, Uông Vĩnh Thuyên: Trung quốc cao đẳng giáo dục kết cấu nghiên cứu. Nhân dân giáo dục xuất bản xã. Bắc Kinh, 1988 Khác
2. Leo-Rhynie, E. 1981. Báo cáo về hệ thống học theo ca trong các trường ở Jamaica. Trường đại học Tây ấn, trường giáo dục Mona, Jamaica Khác
5. 1990. Báo cáo phát triển thế giới: Tình trạng nghèo đói. New York: Nhà xuất bản trường Đại học Oxford Khác
6. Bray 1990. “Hiệu quả kinh tế của việc học nhiều ca: dẫn chứng và thiếu sót của quá trình nghiên cứu “Tạp chí phát triển giáo dục quốc tế 10 (2/3): 181-87 Khác
13.Ngan hàng Thế giới 1994. Giáo dục đai học: Các bài học kinh nghiệm. Washington, D.C Khác
16. Một số điểu đáng quan tâm trong giáo dục Trung Quốc hiện nay. Tạp chí PTGD số 5/1998 Khác
17.Nguyễn Hữu Châu. Về định hướng chiến lược giáo dục đầu thế kỷ 2] của một số nước trên thế giới, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội ,1999 Khác
19. Nguyễn Tiến Đạt. So sánh những thành tựu giáo dục - đào tạo Việt Nam với trình độ thế giới . Tạp chí Phát triển giáo dục, Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 1999 Khác
20. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2000), Nền kinh tế tri thức: Nhận thức và hành động, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
24. Đỗ Thị Bích Loan. Nghiên cứu so sánh giáo dục - đào tạo Việt Nam với các nước trong hiệp hội ASEAN., Tạp chí Phát triển giáo dục, Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1:  Tình  hình  thu  nhap  (GDP/ngudi)  cia  cdc  khu  vực  trên  thế  giới,  2000 - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 1: Tình hình thu nhap (GDP/ngudi) cia cdc khu vực trên thế giới, 2000 (Trang 26)
Bảng  2:  So  sánh  cơ  cấu  kinh  tế  và  các  chỉ  số  cơ  bản  của  các  nước  ASEAN - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 2: So sánh cơ cấu kinh tế và các chỉ số cơ bản của các nước ASEAN (Trang 28)
Bảng  3  :  Chênh  lệch  giàu  nghèo:  Hệ  số  GINI  của  Việt  Nam - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 3 : Chênh lệch giàu nghèo: Hệ số GINI của Việt Nam (Trang 31)
Bảng  5:  Ma  trận  các  chỉ  số  KT-XH  và  GD&amp;ĐT  được  thống  kê  hàng  năm - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 5: Ma trận các chỉ số KT-XH và GD&amp;ĐT được thống kê hàng năm (Trang 40)
Bảng  6:  Các  chỉ  số  Kinh  tế  -  Xã  hội  được  hựa  chọn  để  nghiên  cứu  so  sánh - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 6: Các chỉ số Kinh tế - Xã hội được hựa chọn để nghiên cứu so sánh (Trang 43)
Bảng  7:  Các  chỉ  số  phát  triển  giáo  dục  được  lựa  chọn  để  nghiên  cứu  so  sánh - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 7: Các chỉ số phát triển giáo dục được lựa chọn để nghiên cứu so sánh (Trang 44)
Bảng  9:  Phân  loại  các  nước  được  lựa  chọn  theo  một  số  các  tiêu  chí - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 9: Phân loại các nước được lựa chọn theo một số các tiêu chí (Trang 47)
Bảng  14:  Tỷ  lệ  nhập  học  các  cấp  bậc  học  phổ  thông  ở  Việt  Nam - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 14: Tỷ lệ nhập học các cấp bậc học phổ thông ở Việt Nam (Trang 83)
Bảng  17:  Tình  hình  lưu  ban,  bổ  học  ở  giáo  dục  phổ  thông  của  Việt  Nam - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 17: Tình hình lưu ban, bổ học ở giáo dục phổ thông của Việt Nam (Trang 89)
Bảng  18:  So  sánh  quốc  tế  về  chỉ  tiêu  cho  giáo  dục - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 18: So sánh quốc tế về chỉ tiêu cho giáo dục (Trang 93)
Bảng  20:  Tình  hình  phân  bổ  chỉ  tiêu  công  cộng  cho  giáo  dục  ®'  theo  các  cấp  học - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 20: Tình hình phân bổ chỉ tiêu công cộng cho giáo dục ®' theo các cấp học (Trang 95)
Bảng  21:  Phân  bổ  chỉ  tiêu  công  cộng  cho  giáo  dục  phân  theo  cấp  giáo  dục - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 21: Phân bổ chỉ tiêu công cộng cho giáo dục phân theo cấp giáo dục (Trang 96)
Bảng  24:  Tỷ  lệ  học  sinh/giáo  viên  ở  Việt  Nam  trong  giai  đoạn  1990-1999 - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 24: Tỷ lệ học sinh/giáo viên ở Việt Nam trong giai đoạn 1990-1999 (Trang 101)
Bảng  25:  Tỷ  lệ  lưu  ban  của  học  sinh  tiểu  học  ở  một  số  nước  ASEAN,1999-2000 - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 25: Tỷ lệ lưu ban của học sinh tiểu học ở một số nước ASEAN,1999-2000 (Trang 105)
Bảng  30:  Chỉ  số  phát  triển  kinh  tế  -  giáo  dục  của  một  số  nước  năm  1999 - Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu so sánh trình độ phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới trong khoảng 10 năm gần đây
ng 30: Chỉ số phát triển kinh tế - giáo dục của một số nước năm 1999 (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w