1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tài chính tại Công ty TNHH Cellco Việt Nam

81 275 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 592,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức – quyết định và hành động là bộ ba của quản lý khoa học có hiệu quả trong toàn bộ các hoạt động kinh tế. Trong đó nhận thức giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xác định mục tiêu, sau đó là các nhiệm vụ cần đạt tới trong tương lai. Nếu nhận thức đúng, người ta sẽ có các quyết định đúng đắn và tổ chức thực hiện kịp thời các quyết định đó và do đó đương nhiên sẽ thu được kết quả như mong muốn. Ngược lại, việc nhận thức sai sẽ dẫn tới các quyết định sai lầm và nếu thực hiện các quyết định đó thì sẽ mang lại ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình hoạt động và tác động trực tiếp tới hiệu quả của hoạt động đó. Vì vậy, phân tích tình hình tài chính là đánh giá đúng đắn nhất những gì làm được và dự kiến những gì sẽ xảy ra. Trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận dụng triệt để những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu.

Trang 1

MỤC LỤC

Những đặc điểm về môi trường hoạt động: 5 Bảng cân đối kế toán: 9 2.3.1 Những kết quả đạt được 60

Trang 2

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Viết tắt Viết hoàn chỉnh

Tài sản cố địnhHàng tồn khoTrách nhiệm hữu hạnGía trị gia tăng

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

Những đặc điểm về môi trường hoạt động: 5 Bảng cân đối kế toán: 9 2.3.1 Những kết quả đạt được 60

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Nhận thức – quyết định và hành động là bộ ba của quản lý khoa học cóhiệu quả trong toàn bộ các hoạt động kinh tế Trong đó nhận thức giữ vị tríđặc biệt quan trọng trong việc xác định mục tiêu, sau đó là các nhiệm vụ cầnđạt tới trong tương lai Nếu nhận thức đúng, người ta sẽ có các quyết địnhđúng đắn và tổ chức thực hiện kịp thời các quyết định đó và do đó đươngnhiên sẽ thu được kết quả như mong muốn Ngược lại, việc nhận thức sai sẽdẫn tới các quyết định sai lầm và nếu thực hiện các quyết định đó thì sẽ manglại ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình hoạt động và tác động trực tiếp tới hiệuquả của hoạt động đó

Vì vậy, phân tích tình hình tài chính là đánh giá đúng đắn nhất những

gì làm được và dự kiến những gì sẽ xảy ra Trên cơ sở đó kiến nghị các biệnpháp để tận dụng triệt để những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu

Nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chínhdoanh nghiệp đối với sự phát triển của nền kinh tế, kết hợp với những kiếnthức tiếp thu được ở nhà trường, các tài liệu tham khảo thực tế, cùng với sựhướng dẫn nhiệt tình của cô giáo – TS Cao Thị Ý Nhi Bên cạnh đó là sự giúp

đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp các thông tin cần thiết của các

cô chú, anh chị trong phòng kể toán Công ty TNHH Cellco Việt Nam em đã

lựa chọn chuyên đề thực tập của mình với đề tài: “Phân tích tài chính tại

Công ty TNHH Cellco Việt Nam” Kết cấu của chuyên đề này gồm 3 phần

chính:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính trong doanh nghiệp.Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính tại Công ty TNHH CellcoViệt Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phân tích tài chínhtại Công ty TNHH Cellco Việt Nam

Trang 5

Do còn hạn chế về mặt trình độ, thời gian và khả năng tiếp cận của bảnthân có hạn Và cũng do còn thiếu kinh nghiệm nghiên cứu nên chuyên đề của

em vẫn còn nhiều thiếu sót Em rất mong sẽ nhận được sự đánh giá, góp ý vàsửa chữa của cô

Em xin trân trọng cảm ơn cô!

Trang 6

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI

CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát về tài chính doanh nghiệp.

1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp.

Trước khi đi vào tìm hiểu khái niệm tài chính doanh nghiệp ta đi vàotìm hiểu khái niệm doanh nghiệp

Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạtđộng kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu

Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cánhân Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanhnghiệp chứ không phải các cá nhân

Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế cótên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theoquy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh - tức

là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sảnxuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mụcđích sinh lợi

Khái niệm tài chính doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp được hiểu

là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế.Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước: Đây là mối quan hệ phátsinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhànước góp vốn vào doanh nghiệp

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ nàyđược thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ Trênthị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu

Trang 7

vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốndài hạn Ngược lại doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phầncho các nhà tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tưchứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng.

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh

tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thịtrường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động Thông qua thị trường nàydoanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hoá và dịch vụ cần thiếtcung ứng Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kếhoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường

- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phậnsản xuất – kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ

nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn Các mối quan hệ này đượcthể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổtức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí

v v

1.1.2 Đặc điểm.

Trong cơ chế thị trường, cơ chế hoạt động của mỗi doanh nghiệp luôntồn tại nhiều hoạt động khác nhau diễn ra đồng thời, một doanh nghiệp hoạtđộng tốt là một doanh nghiệp có thể phối hợp nhịp nhàng các hoạt động đóvới nhau Các hoạt động hỗ trợ cho nhau, thúc đẩy nhau giúp cho cả bộ máydoanh nghiệp được vận hành một cách tốt nhất Các hoạt động đó bao gồm:hoạt động đầu tư, hoạt động quản trị nguồn nhân lực, hoạt động marketing,hoạt động tài chính doanh nghiệp Các hoạt động này chỉ được thực hiện cóhiệu quả khi nhà quản lý doanh nghiệp nắm bắt được thực trạng tài chính củadoanh nghiệp để từ đó có thể xem xét, kiểm tra, đối chiếu, và so sánh với sốliệu quá khứ, thông qua đó đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh, nhữngrủi ro tương lai và triển vọng phát triển của doanh nghiệp, từ đó có biện pháp

Trang 8

can thiệp kịp thời để điều chỉnh các hoạt động trong doanh nghiệp Nhưng đểnắm bắt được thực trạng tài chính doanh nghiệp, không có cách nào khác làphải nghiên cứu sâu sắc các báo cáo tài chính, phải tiến hành công tác phântích tài chính thật tỉ mỉ, thật khoa học

Những đặc điểm về môi trường hoạt động:

Để đạt được mức doanh lợi mong muốn, doanh nghiệp cần phải cónhững quyết định về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình traođổi Mọi quyết định đều phải gắn kết với môi trường xung quanh Bao quanhdoanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động

Có thể kể đến một số yếu tố khách quan tác động trực tiếp tới hoạt động củadoanh nghiệp

Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ Sự phát triển của côngnghệ là một yếu tố góp phần thay đổi phương thức sản xuất, tạo ra nhiều kỹthuật mới dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tài chính doanhnghiệp

Doanh nghiệp là đối tượng quản lý của nhà nước Sự thắt chặt hay nớilỏng hoạt động của doanh nghiệp được điều chỉnh bằng luậtvà các văn bảnquy phạm pháp luật, bằng cơ chế quản lý tài chính

Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phải dự tính được khả năngxảy ra rủi ro, đặc biệt là rủi ro tài chính để có cách ứng phó kịp thời và đúngđắn Doanh nghiệp, với sức ép của thị trường cạnh tranh, phải chuyển dần từchiến lược trọng cung cổ điển sang chiến lược trọng cầu hiện đại Những đòihỏi về chất lượng, mẫu mã, giá cả hàng hóa, về chất lượng dịch vụ ngày càngcao hơn, tinh tế hơn của khách hàng buộc các doanh nghiệp phải thườngxuyên thay đổi chính sách sản phẩm, đảm bảo sản xuất - kinh doanh có hiệuquả và chất lượng cao

Doanh nghiệp thường phải đáp ứng được các đòi hỏi của các đối tác về

Trang 9

mức vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn Sự tăng, giảm vốn chủ sở hữu có tácđộng đáng kể tới hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiệnkinh tế khác nhau.

Muốn phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoántrước được sự thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó Trongmôi trường đó, quan hệ tài chính của doanh nghiệp được thể hiện rất phongphú và đa dạng

1.2 Cơ sở lý luận của phân tích tài chính doanh nghiệp.

1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp.

Phân tích kinh tế là tổng thể các phương pháp và công cụ cho phép tathu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm quản lýdoanh nghiệp, đánh giá tình hình tài chính về khả năng và triển vọng củadoanh nghiệp Từ đó giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định quản

lý phù hợp (kể cả các nhà quản lý doanh nghiệp cũng như các nhà sử dụngthông tin khác) Sự ra đời của phân tích kinh tế cùng với vai trò quan trọngcủa tài chính doanh nghiệp đã thúc đẩy hình thành lý luận về phân tích tàichính doanh nghiệp

Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp: Phân tích tài chính là sử

dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ để thu thập và xử

lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp,nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp,giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản

lý phù hợp

Trình tự và các bước tiến hành phân tích tình hình tài chính.

 Thu thập thông tin

Đây là bước quan trọng đầu tiên của quá trình phân tích tài chính trongcác công ty cổ phần Nếu thu thập thông tin không đúng, không đủ thì không

Trang 10

thể có kết quả phân tích tốt được.

dự báo tình hình tài chính của công ty trong tương lai

 Quyết định và dự đoán

Mục tiêu của phân tích tài chính là ra các quyết định cho các hoạt độngtài chính tiếp theo Bởi vậy, việc thu thập và xử lý thông tin kế toán là nhằmchuẩn bị những tiền đề và những điều kiện cần thiết, để phục vụ cho việc racác quyết định tài chính và dự đoán nhu cầu tài chính trong tương lai củacông ty

1.2.2 Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp.

Phân tích tài chính doanh nghiệp là sử dụng một tập hợp các khái niệm,phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và cácthông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanhnghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp đó Quy trình thực hiện phân tích tài chính ngày càng được áp dụngrộng rãi trong mọi đơn vị kinh tế được tự chủ nhất định về tài chính như cácdoanh nghiệp thuộc mọi hình thức, được áp dụng trong các tổ chức xã hội, tậpthể và các cơ quan quản lý, tổ chức công cộng Đặc biệt, sự phát triển của cácdoanh nghiệp, của các ngân hàng và của thị trường vốn đã tạo nhiều cơ hội đểphân tích tài chính chứng tỏ thực sự là có ích và vô cùng cần thiết

Trang 11

Những người phân tích tài chính ở những cương vị khác nhau nhằm cácmục tiêu khác nhau.

Đối với nhà quản trị:

Nhà quản trị phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp Đó là cơ

sở để định hướng các quyết định của ban tổng giám đốc, giám đốc tàichính,dự báo tài chính : kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt độngquản lý

Đối với nhà đầu tư:

Nhà đầu tư cần biết tình hình thu nhập của chủ sở hữu - lợi tức cổ phần

và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư Họ quan tâm tới phân tích tài chính đểnhận biết khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Đó là một trong những căn cứgiúp họ ra quyết định bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không?

Đối với người cho vay:

Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợcủa khách hàng Chẳng hạn, để quyết định cho vay, một trong những vấn đề

mà người cho vay cần xem xét là doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay haykhông? Khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào?

Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với người hưởnglương trong doanh nghiệp, đối với cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luậtsư Dù họ công tác ở các lĩnh vực khác nhau, nhưng họ đều muốn hiểu biết

về hoạt động của doanh nghiệp để thực hiện tốt hơn công việc của họ

Như vậy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính làđánh giá khả năng xảy ra rủi ro phá sản tác động tới các doanh nghiệp màbiểu hiện của nó là khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạtđộng cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp.Trên cơ sở đó, các nhàphân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả

Trang 12

hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trongtương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính

Như vậy, xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của việc phân tích tàichính doanh nghiệp cho các chủ thể cần sử dụng thông tin về doanh nghiệp,

mà việc phân tích tài chính ở mỗi doanh nghiệp là cần thiết và không thể thiếuđược ở các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay

1.2.3 Thông tin sử dụng trong phân tích.

1.2.3.1. Thông tin sử dụng trong doanh nghiệp.

Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, cóthể sử dụng các thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồnthông tin quan trọng bậc nhất Với những đặc trưng hệ thống, đồng nhấy vàphong phú, kế toán hoạt động như một nhà cung cấp quan trọng những thôngtin đáng giá cho phân tích tài chính Vả lại, các doanh nghiệp cũng có nghĩa

vụ cung cấp những thông tin kế toán cho các đối tác bên trong và bên ngoàidoanh nghiệp Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo

kế toán phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính được hình thành thông qua xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu: đó là bảng cânđối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, ngân quỹ (báo cáo lưu chuyển tiềntệ), thuyết minh báo cáo tài chính

-Bảng cân đối kế toán:

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chínhcủa một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đây là một báo cáotài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu,quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý đối với doanh nghiệp Thông thường,bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tàikhoản kế toán : một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn củadoanh nghiệp

Trang 13

Bên tài sản của bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sảnhiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanhnghiệp: đó là tài sản cố định, tài sản lưu động Bên nguồn vốn phản ánh sốvốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báocáo: đó là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ.

Các khoản mục trên bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo khả năngchuyển hóa thành tiền giảm dần từ trên xuống

Báo cáo kết quả kinh doanh:

Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phântích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh Khácvới bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyểncủa tiền trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép

dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kếtquả kinh doanh cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thựcnhập quỹ khi bán hàng hóa, dịch vụ; so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiềnthực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở doanh thu và chi phí, cóthể xác định được kết quả sản xuất - kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm Nhưvậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất – kinhdoanh, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhấtđịnh Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụngcác tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất - kinhdoanh của doanh nghiệp

Những khoản mục chủ yếu được phản ánh trên báo cáo kết quả kinhdoanh: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh; doanh thu từ hoạt độngtài chính; doanh thu từ hoạt động bất thường và chi phí tương ứng với từnghoạt động đó

Các loại thuế : VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, về bản chất, không phải là

Trang 14

doanh thu không phải là chi phí của doanh nghiệp nên không được phản ánhtrên báo cáo kết quả kinh doanh.

Ngân quỹ (báo cáo lưu chuyển tiền tệ):

Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo được chi trả hay không, cầntìm hiểu tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp Ngân quỹ thường được xácđịnh cho thời gian ngắn hạn (thường là từng tháng)

Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ (thu ngân quỹ), baogồm: dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh (từ bán hàng hóa hoặc dịchvụ); dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động đầu tư, tài chính; dòng tiền nhập quỹ từhoạt động bất thường

Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực xuất quỹ (chi ngân quỹ), baogồm: Dòng tiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh; dòng tiền xuất quỹthực hiện đầu tư tài chính; dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất thường

Trên cơ sở dòng tiền xuất quỹ và dòng tiền nhập quỹ, nhà phân tíchthực hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngânquỹ cuối kỳ Từ đó, có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu chodoanh nghiệp nhằm mục đích đảm bảo chi trả

Thuyết minh báo cáo tài chính.

Thuyết minh các báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thôngtin về tình hình sản xuất, kinh doanh chưa có trong hệ thống các báo cáo tàichính, đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tàichính chưa được trình bày, giải thích một cách rõ ràng và cụ thể

Tóm lại các báo cáo tài chính doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết

với nhau, mỗi sự thay đổi một chỉ tiêu trong báo cáo này hoặc trực tiếp haygián tiếp ảnh hưởng tới báo cáo kia, trình tự đọc hiểu và kiểm tra các báo cáotài chính phải được bắt đầu từ báo cáo kết quả kinh doanh và BCLCTT kếthợp với BCĐKT kỳ trước để đọc và kiểm tra BCĐKT kỳ này

Trang 15

1.2.3.2 Thông tin ngoài doanh nghiệp.

Trong những thông tin bên ngoài, cần lưu ý thu thập những thông tinchung (thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh,chính sách thuế, lãi suất), thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quanđến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành,tình trạng công nghệ, thị phần ) và các thông tin về pháp lý, kinh tế đối vớidoanh nghiệp (các thông tin mà các doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơquan quản lý như: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quảkinh doanh của doanh nghiệp )

Có thể kể tới một số yếu tố khách quan tác động tới doanh nghiệp nhưsau:

 Doanh nghiệp luôn là đối tượng quản lý của các cơ quan Nhà nước,mọi hoạt động của doanh nghiệp đều bị điều tiết và chi phối bởi cơ chế quản

lý tài chính, hệ thống luật, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đếnngành nghề hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ cần một sự thay đổinhỏ về chính sách, chuẩn mực cũng có thể dẫn đến quyết định tài chính làđúng đắn hay sai lầm

 Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ Sự phát triển củacông nghệ góp phần làm thay đổi phương thức sản xuất, góp phần làm thayđổi trong quản lý doanh nghiệp dẫn tới các quyết định tài chính cũng thay đổitheo

 Doanh nghiệp phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức vốn

sở hữu trong cơ cấu vốn, sự tăng giảm vốn chủ sở hữu có tác động đáng kể tớihoạt động doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau

 Doanh nghiệp với sức ép của thị trường cạnh tranh, những đòi hỏi vềchất lượng, mẫu mã, chủng loại, giá cả hàng hóa, chất lượng dịch vụ ngàycàng cao hơn, kinh tế hơn của khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp cần có những

Trang 16

thông tin nắm bắt thị trường của khách hàng để thay đổi chính sách sản phẩm,đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

1.2.4 Phương pháp phân tích.

Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụbiện pháp nhằm tiếp cận nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệbên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉtiêu tổng hợp và chi tiết, các chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá tìnhhình tài chính doanh nghiệp

Về mặt lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính của doanhnghiệp như phương pháp chi tiết, phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ,phương pháp liên hệ, phương pháp tương quan và hồi quy bội… nhưng ở đâychỉ giới thiệu những phương pháp cơ bản, thường được vận dụng trong phântích tình hình tài chính doanh nghiệp

Nội dung so sánh bao gồm:

+ So sánh gữa số thực hiện kỳ này và số thực hiện kỳ trước đó thấy xuhướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăng trưởng hay thụtlùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 17

+ So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấycủa doanh nghiệp.

+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình củangành, của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp mình tốt hay xấ, được hay chưa được

+ So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so vớitổng thể so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy sự biến đổi cả về sốlượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toánliên tiếp

Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:

- Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”

- Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (Hoặc các trị số của chỉ tiêu sosánh) phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau Muốn vậy, chúngphải thống nhất với nhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thờigian tính toán

số lượng, có thể là nhân tố tích cực, cũng có thể là nhân tố tiêu cực

Việc nhận thức được mức độ và tính chất ảnh hưởng của các nhân tốđến chỉ tiêu phân tích là vấn đề bản chất của phân tích Đó cũng chính là mụctiêu của phân tích

Trang 18

Để xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả củacác hoạt động tài chính, phương pháp loại trừ có thể được thực hiện bằng 2cách:

Cách 1: dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp của từng nhân tố và được gọi là

“phương pháp số chênh lệch”

Cách 2: thay thế sự ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố và được gọi là

“phương pháp thay thế liên hoàn”

Phương pháp số chênh lệch và phương pháp thay thế liên hoàn được sửdụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích.Khi các chỉ tiêu nhân tố quan hệ với chỉ tiêu phân tích phải được biểu hiệndưới dạng tích số hoặc thương số, hoặc kết hợp cả hai, nội dung và trình tựcủa từng phương pháp được thể hiện như sau:

Phương pháp số chênh lệch.

Như trên đã trình bày, phương pháp số chênh lệch là phương pháp dựavào sự ảnh hưởng trực tiếp của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích Bởi vậy,trước hết phải biết được số lượng các chỉ tiêu nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệgiữa các chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêu phân tích Từ đó xác định được côngthức lượng hóa sự ảnh hưởng của nhân tố đó Tiếp đó, phải sắp xếp và trình tựxác định sự ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích cần tuân theoquy luật lượng biến đổi dẫn đến chất biến Nghĩa là nhân tố số lượng xếptrước, nhân tố chất lượng xếp sau Trong trường hợp, có nhiều nhân tố sốlượng và nhiều nhân tố chất lượng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứyếu xếp sau Trình tự xác định sự ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố đến chỉtiêu phân tích cũng được thực hiện theo quy tắc trên

Phương pháp thay thế liên hoàn.

Phương pháp thay thế liên hoàn là tiến hành lần lượt thay thế từng nhân

tố theo một trình tự nhất định Nhân tố nào được thay thế nó sẽ được xác định

Trang 19

mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích Còn các chỉ tiêuchưa được thay thế phải giữ nguyên vẹn theo kế hoạch, hoặc kỳ kinh doanhtrước (gọi tắt là kỳ gốc), cần nhấn mạnh rằng đối với chỉ tiêu phân tích có baonhiêu nhân tố ảnh hưởng thì có bấy nhiêu nhân tố phải thay thế và cuối cùngtổng hợp sự ảnh hưởng của tất cả các nhân tố bằng một phép cộng đại số tổnghợp đó cũng chính bằng đối tượng cụ thể của phân tích mà đã được xác định

ở trên

1.2.4.3 Phương pháp liên hệ cân đối.

Cơ sở của phương pháp này là sự cân bằng giữa hai mặt của các yếu tố

và quá trình kinh doanh Dựa trên nguyên lý của sự cân bằng về số lượng giữahai mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh, người ta có thể xây dựngphương pháp phân tích mà trong đó, các chỉ tiêu nhân tố có quan hệ với chỉtiêu phân tích được biểu hiện dưới dạng là tổng số hoặc là hiệu số Như vậy,khác với phương pháp số chênh lệch và phương pháp thay thế liên hoàn,phương pháp liên hệ cân đối được vận dụng để xác định mối quan hệ giữa cácchỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêu phân tích được biểu hiện dưới dạng tổng số hoặchiệu số Bởi vậy, để xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của nhân tốđến chỉ tiêu phân tích chỉ cần xác định mức chênh lệch của từng nhân tố giữahai kỳ (thực tế so với kế hoạch hoặc thực tế so với các kỳ kinh doanh trước)giữa các nhân tố mang tính độc lập

Trên cơ sở xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân

tố đến chỉ tiêu phản ánh cần chỉ ra những nguyên nhân và kiến nghị nhữnggiải pháp nhằm đưa ra các quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo của doanhnghiệp đạt được kết quả cao hơn

1.2.4.4 Phương pháp DUPONT.

Trong phân tích tài chính, người ta thường vận dụng mô hình Dupont

để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích

Trang 20

mối liên kết giữa các chỉ tiêu mà người ta có thể phát hiện ra những nhân tố

đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự logic chặt chẽ

Phương pháp phân tích DuPont cho thấy mối quan hệ tương hỗ giữacác tỷ số tài chính Công ty DuPont là công ty đầu tiên ở Hoa kỳ sử dụng cácmối quan hệ tương hỗ này để phân tích các tỷ số tài chính, vì vậy phươngpháp này được gọi là hệ thống DuPont

Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhân biết được các nguyênnhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp Bảnchất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợicủa doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập trên vốn chủ sởhữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả vớinhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ sốtổng hợp

ROA =

Lợi nhuận

Doanh thuthuần = Lợi nhuận thuầnDoanh thu

Phương trình trên cho thấy tỷ số lợi nhuận trên tài sản phụ thuộc vàohai yếu tố:

1- Thu nhập của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu là bao nhiêu2- Một đồng tài sản thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu

Sự phân tích này cho phép xác định chính xác nguồn gốc làm giảm lợinhuận của doanh nghiệp, hoặc là do doanh thu bán hàng không đủ lớn để tạo

ra lợi nhuận, hoặc do lợi nhuận thuần trên mỗi đồng doanh thu quá thấp?

Trên cơ sở đó nhà quản trị cần có biện pháp điều chỉnh phù hợp: hoặcđẩy mạnh tiêu thụ, hoặc tiết kiệm chi phí

Ưu điểm của phương pháp này là tìm ra được nguyên nhân của vấn đề

từ đó có thể đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề đó Nhưng hạn chế của

Trang 21

phương pháp này là nó khá phức tạp và nhiều khi nguyên nhân chưa hẳn làđúng Có thể có trường hợp một số nhân tố tác động tới nhiều chỉ tiêu đượcgọi là nguyên nhân gây ra sự thay đổi của chỉ tiêu cần phân tích tuy nhiênnhững tác động này là ngược nhau vì vậy rất khó có thể nói chính xác rằngnhân tố đó có tác động như thế nào đến kết quả phân tích cuối cùng.

Tóm lại trên đây đã trình bày các phương pháp phân tích chủ yếu có

thể vận dụng rộng rãi và phổ biến trong phân tích hoạt động tài chính doanhnghiệp Giữa các phương pháp trên có mối liên hệ mật thiết hữu cơ, bổ sungcho nhau, nhằm đáp ứng tính đa dạng và phức tạp của nội dung phân tích.Còn việc vận dụng phương pháp nào trong phân tích báo cáo tài chính chophù hợp là tuỳ thuộc vào mối liên hệ giữa các chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêuphân tích

1.2.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp.

Xuất phát từ sự cần thiết và tầm quan trọng của phân tích tài chínhdoanh nghiệp cũng như bản chất và nội dung các quan hệ tài chính doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường, nội dung phân tích tài chính doanh nghiệpbao gồm:

1.2.5.1 Phân tích cơ cấu vốn và tài sản.

Mục đích của việc phân tích BCĐKT là nhằm so sánh các thông tin về

cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn để từ đó thấy được cấu trúc tài chính củadoanh nghiệp đã phù hợp chưa?

Thông qua việc phân tích để có các biện pháp huy động vốn, đầu tư cáctài sản góp phần ổn định tình hình tài chính thúc đẩy hoạt động kinh doanhphát triển

Cách thức phân tích:

- Thông thường mỗi một doanh nghiệp cần xây dựng một cơ cấu tàichính phù hợp với đặc điểm kinh doanh và điều kiện trang bị vật chất và tình

Trang 22

hình thực tế của doanh nghiệp.

- Khi phân tích cơ cấu tài sản, nguồn vốn ta xác định tỷ trọng của mỗi

bộ phận so với tổng số từ đó ta so sánh cơ cấu của kỳ phân tích với cơ cấu kếhoạch của các doanh nghiệp điển hình để thấy được cơ cấu đã phù hợp haychưa?

- Thông qua việc phân tích để xác định những nguyên nhân ảnh hưởng

từ đó đưa ra các biện pháp huy động nguồn vốn đầu tư tài sản để đảm bảo cơcấu tài chính phù hợp góp phần cho doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quảcao

Phân tích diễn biến quy mô tài sản của công ty

Ta phải so sánh tổng cộng về tài sản giữa cuối kỳ với đầu kỳ hoặc vớinhiều năm trước kể cả số tuyệt đối và tương đối nhằm xác định sự biến động

về quy mô tài sản của công ty qua các kỳ kinh doanh.

Số tuyệt đối = tổng số tài sản hiện có tại thời điểm cuối kỳ - tổng số tàisản hiện có tại thời điểm đầu năm

Số tương đối = Tồng tài sản hiện có tại thời điểm cuối kỳ x 100

Tổng số tài sản hiện có tại thời điểm đầu nămTrong đó, cần xem xet sự biến động về quy mô các chỉ tiêu chi tiết,như: Chỉ tiêu vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu,hàng tồn kho, tài sản cố định, đầu tư tài chính dài hạn…

Phân tích sự biến động về quy mô tài sản của công ty là nhằm mụcđích đánh giá kết quả và trạng thái tài sản chính của công ty, cũng như dự tínhđược những rủi ro và những tiềm năng vè tài chính trong tương lai của côngty

Phân tích diễn biến quy mô nguồn vốn của công ty

Cũng giống như phân tích diễn biến quy mô tài sản của công ty, khiphân tích diễn biến quy mô vốn của công ty ta so sánh số tương đối và tuyệtđối của cuối kỳ với đầu kỳ hay với các năm trước đó Qua đó ta thấy được

Trang 23

tình hình biến động nguồn vốn của công ty, cũng như đưa ra những quyếtđịnh cần thiết về huy động các nguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanhcủa công ty, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính của công ty.

Từ các chỉ tiêu phản ánh quy mô về tài sản và nguồn vốn của công tycho thấy: Số tổng cộng trên bảng cân đối kế toán phản ánh quy mô về tài sản

mà doanh nghiệp hiện có tại một thời điểm, đồng thời phản ánh khả năng huyđộng vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của công ty Chính trên ý nghĩa

đó mà người ta cho rằng: Nhìn vào BCĐKT của công ty, chúng ta có thể đánhgiá được công ty đang giàu lên hay nghèo đi, đang trên đà phát triển haychuẩn bị phá sản

Trong đó, cần xem xét các chỉ tiêu như: Tổng số TSCĐ và đầu tư tàichính dài hạn ngày càng tăng lên Điều đó chứng tỏ rằng, cơ sở vật chất củacông ty ngày càng tăng cường, quy mô năng lực sản xuất ngày càng được mởrộng Nếu vốn sở hữu của công ty ngày càng tăng lên chứng tỏ rủi ro về tàichính của công ty ngày càng giảm

trong doanh nghiệp.

Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá

sự thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên BCĐKT về nguồn vốn vàcách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp vào công việc cụ thể Sự thay đổicủa các tài khoản trên BCĐKT từ kỳ trước tới kỳ này cho ta biết nguồn vốn

và sử dụng vốn

Để tiến hành Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, trước tiênngười ta trình bày BCĐKT dưới dạng bảng cân đối báo cáo (trình bày mộtphía) từ tài sản đến nguồn vốn, sau đó so sánh số liệu cuối kỳ với đầu kỳtrong từng chỉ tiêu của bảng cân đối để xác định tình hình tăng giảm nguồnvốn trong doanh nghiệp theo nguyên tắc

Trang 24

- Nếu tăng phần tài sản và giảm phần nguồn vốn thì được xếp vào cột

sử dụng vốn

- Nếu giảm phần tài sản và tăng phần nguồn vốn thì được xếp vào cộtnguồn vốn

- Nguồn vốn và sử dụng vốn phải cân đối với nhau

Nội dung phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn cho ta biếttrong một kỳ kinh doanh nguồn vốn tăng (giảm) bao nhiêu? Tình hình sửdụng vốn như thế nào? Những chỉ tiêu nào là chủ yếu ảnh hưởng tới sự tăng

(giảm) nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp? Từ đó có giải pháp

khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanhnghiệp

1.2.5.3 Phân tích các nhóm chỉ số.

Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán.

Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứngcác khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉtiêu chủ yếu sau:

 Tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn.

Tỷ số này được xác định bằng công thức:

Khả năng thanh toán

Tài sản lưu độngCác khoản nợ ngắn hạnNhững khoản nợ ngắn hạn là những khoản nợ phải trả trong mộtkhoảng thời gian ngắn (thường là 1 năm) Nó cho biết mức độ các khoản nợcủa các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển đổithành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó

Khi giá trị của tỷ số này giảm, chứng tỏ khả năng trả nợ của doanhnghiệp đã giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính tiềmtàng Khi tỷ số này cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao

Trang 25

Tuy nhiên khi tỷ số này qua cao thì nó có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quánhiều vào tài sản lưu động hay đơn giản là việc quản trị tài sản lưu động củadoanh nghiệp không hiệu quả bởi có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi hay có quánhiều nợ phải đòi…Do đó có thể làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Mặtkhác, trong nhiều trường hợp tỷ số này phản ánh không chính xác khả năngthanh khoản Bởi nếu hàng tồn kho là những loại hàng hoá khó bán thì doanhnghiệp rất khó biến chúng thành tiền để trả nợ.

 Tỷ số khả năng thanh toán nhanh

Tỷ số này cho biết khả năng thanh khoản thực sự của doanh nghiệp vàđược tính toán dựa trên các tài sản lưu động có thể chuyển đổi nhanh thànhtiền để đáp ứng những yêu cẩu thanh toán cần thiết

Tỷ số thanh toán nhanh được tính theo công thức:

Khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động - hàng tồn khoCác khoản nợ ngắn hạn

Các tài sản lưu động bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các loạichứng khoán có khả năng chuyển đổi thành tiền nhanh và các khoản phải thu

Do các loại hàng hoá tồn kho có tính thanh khoản thấp bởi việc biến chúngthành tiền có thể mất khá nhiều thời gian nên không được tính vào tỷ số này

 Tỷ số khả năng thanh toán tức thời.

Tỷ số này được xác định bằng công thức:

Khả năng thanh toán

TiềnCác khoản nợ ngắn hạnVốn bằng tiền ở đây bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiềnđang chuyển

Tỷ số này càng gần 1 thì khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạncủa công ty càng cao Nhưng nếu tỉ lệ này quá lớn thì cũng cần xem xét lại.Bởi vốn của công ty không được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanhnên không sinh ra hiệu quả

Trang 26

Nhóm khả năng cân đối vốn (cơ cấu tài chính).

Khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp thường được đánh giá thôngqua việc phân tích nhóm các tỷ số về cơ cấu tài chính Nhóm tỷ số này phảnánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vaycủa doanh nghiệp Chúng được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ

sở hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp,các chủ nợ thường nhìn vào số vốn chủ sở hữu để đánh giá mức độ tin tưởngvào sự đảm bảo an toàn cho các món nợ của doanh nghiệp Các tỷ số cơ bảnthường được sử dụng trong phân tích bao gồm:

 Hệ số nợ.

Tỷ số này được tính theo công thức:

Tỷ số nợ = Tổng số nợ

Tổng tài sản cóTổng số nợ bao gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thờiđiểm lập báo cáo tài chính Các khoản nợ ngắn hạn bao gồm các khoản phảitrả, các hoá đơn mua hàng phải thanh toán, các khoản nợ lương, nợ thuế, nợtiền điện, nước, bảo hiểm…Các khoản nợ dài hạn là những khoản nợ có thờihạn dài hơn 1 năm như nợ vày dài hạn, trái phiếu, kỳ phiếu, giá trị tài sản thuêmua…

Tổng tài sản có bao gồm tài sản lưu động và TSCĐ hay là tổng giá trịtoàn bộ kinh phí đầu tư cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong phầnbên trái của bảng CĐKT

Hệ số nợ cho biết trong một đồng tài sản của doanh nghiệp thì có baonhiêu đồng được tài trợ bằng nợ, qua đó xác định nghĩa vụ của doanh nghiệpđối với các khoản nợ

Trong thực tế, các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm tới tỷ số Nợ dài hạn

Trang 27

trên vốn chủ sở hữu hoặc Nợ dài hạn/ Tổng nguồn vốn Vì Nợ dài hạn tồn tạitrong doanh nghiệp qua nhiều kỳ kinh doanh, nó luôn chiếm một tỷ trọng trongtổng nguồn vốn Vì vậy, khi xem xét cơ cấu vốn của doanh nghiệp cần chú ý tớicác khoản nợ dài hạn để đánh giá cơ cấu của doanh nghiệp là hợp lý hay chưa?

 Hệ số tự chủ tài chính (hệ số cơ cấu vốn chủ sở hữu).

Chỉ tiêu này cho biết khả năng tài trợ cho nguồn vốn kinh doanh củadoanh nghiệp

Độ lớn của quy mô tồn kho tuỳ thuộc vào sự kết hợp của khá nhiều yếu

tố như: Ngành kinh doanh, thời điểm nghiên cứu, mùa vụ…Chẳng hạn, một

số công ty trong ngành thương mại có lượng hàng hoá dự trữ tồn kho vào thờiđiểm trứơc tết Nguyên đán rất cao so với các doanh nghiệp thuộc ngành sảnxuất Hoặc một xí nghiệp chế biến hạt điều sẽ có lượng nguyên liệu, thànhphẩm dự trữ cao khi mùa vụ thu hoạch hạt điều dang rộ…

Tỷ số này được tính theo công thức:

Tỷ số vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần

Hàng tồn kho

Doanh thu thuần là doanh số của toàn bộ hàng hoá tiêu thụ trong kỳ,

không phân biệt đã thu tiền hay chưa, trừ đi phần hoa hồng chiết khấu, giảm

Trang 28

giá hay hàng hoá bị trả lại.

Hàng tồn kho bao gồm toàn bộ các loại nguyên vật liệu, sản phẩm dở

 Kỳ thu tiền bình quân

Kỳ thu tiền bình quân là số ngày bình quân mà 1VNĐ hàng hoá bán rađược thu hồi Kỳ thu tiền bình quân được tính bằng công thức sau:

Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu

Doanh thu bình quân 1 ngày

Các khoản phải thu là những hoá đơn bán hàng chưa thu tiền có thể là

hàng bán trả chậm, hàng bán chịu hay bán mà chưa thu tiền, các khoản tạmứng chưa thanh toán, các khoản trả trước cho người bán…

Số ngày trong kỳ thu tiền bình quân thấp, chứng tỏ doanh nghiệp không

bị đọng vốn trong khâu thanh toán, không gặp phải những khoản nợ "khóđòi" Ngược lại nếu tỷ số này cao, doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tíchchính sách bán hàng để tìm ra nguyên nhân tồn đọng nợ Trong nhiều trườnghợp, do công ty muốn chiếm lĩnh thị phần thông qua bán hàng trả chậm, haytài trợ cho các chi nhánh đại lý nên dẫn tới có số ngày thu tiền bình quân cao

Khi phân tích tình hình công nợ của doanh nghiệp theo tiêu thức nàycũng cần quan tâm đến tính mùa vụ của loại sản phẩm, dịch vụ mà doanhnghiệp kinh doanh Do đó, cần so sánh tỷ số này với các giá trị của các doanh

Trang 29

nghiệp cùng ngành Điều cần lưu ý khi phân tích chỉ tiêu này, kết quả phântích có thể được đánh giá là rất tốt, nhưng do kỹ thuật tính toán có thể che dấunhững khuyết điểm trong việc quản trị các khoản phải thu Nên cần phải tiếnhành phân tích định kỳ các khoản phải thu để sớm phát hiện những khoản nơ

"khó đòi" để có biện pháp xử lý kịp thời

 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định

Tỷ số này đo lường mức doanh thu thuần trên tài sản cố định của doanhnghiệp Công thức tính tỷ số này như sau:

Hiệu quả sử dụng

Doanh thu thuầnGiá trị TSCĐGiá trị TSCĐ là giá trị thuần của cá loại TSCĐ tính theo giá trị ghi trên

sổ sách kế toán, tức là nguyên giá của TSCĐ khấu trừ phần hao mòn TSCĐcộng dồn đến thời điểm tính

Tỷ số này cao phản ánh tình hình hoạt động tốt của công ty đã tạo ramức doanh thu thuần cao so với TSCĐ Mặt khác, tỷ số này còn phản ánh khảnăng sử dụng hữu hiệu tài sản các loại

 Tỷ số hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản

Tỷ số này cho thấy hiệu quả sử dụng toàn bộ các loại tài sản của doanhnghiệp, hoặc thể hiện một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp đã đem lại baonhiêu đồng doanh thu Công thức tính tỷ số này:

Hiệu quả sử dụngtoàn bộ TSCĐ =

Doanh thu thuầnTổng tài sản cóTổng tài sản có là tổng toàn bộ giá trị tài sản của doanh nghiệp baogồm cả TSCĐ và TSLĐ tại thời điểm tính toán Bởi vì TSCĐ chiếm một phầnrất quan trọng trong tổng tài sản của doanh nghiệp, do đó tổng giá trị tài sảncủa doanh nghiệp được tính toán dựa trên giá trị theo sổ sách kế toán

Nhóm tỷ số về khả năng sinh lời.

Lợi nhuận là mục tiêu cảu doanh nghiệp và đồng thời cũng là hệ quả

Trang 30

của các quyết định quản trị, thể hiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Các tỷ số về lợi nhuậ đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận ròng đối vớidoanh thu thuần, tổng tài sản có và vốn riêng doanh nghiệp.

Người ta sử dụng các số liệu này để ra quyết định đầu tư, cho vay haycho doanh nghiệp thuê tài sản…

Hệ số đo lường khả năng sinh lời chỉ ra các hiệu ứng kết hợp của thanhkhoản, quản lý tài sản và quản lý nợ đối với các kết quả hoạt động Nó đượcthể hiện qua các tỷ số chính:

 Hệ số doanh lợi doanh thu được xác định bằng cách lấy thu nhập

sau thuế chia cho doanh thu

Tỷ số này phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần thì có bao nhiêu phầntrăm lợi nhuận Có thể sử dụng nó để so sánh với tỷ số của các năm trước hay

so sánh với các doanh nghiệp khác

Sự biến động của các tỷ số này phản ánh sự biến động về hiệu quả hayảnh hưởng của các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm Côngthức tính:

Hệ số doanh lợi doanh thu = LNST

Doanh thu

 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản – ROA được xác định bằng cách

lấy thu nhập ròng chia cho tổng tài sản, nó đo lường sức mạnh tạo thu nhậpcủa tài sản sau thuế và lãi vay

Chỉ tiêu này cho biết sau một kỳ kinh doanh doanh nghiệp đầu tư mộtđồng tài sản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế

nhập của các khoản đầu tư của cổ đông Nó được xác định bằng cách lấy thunhập ròng chia cho vốn chủ sở hữu thường

ROA =

LNST Tổng tài sản

Trang 31

ROE = LNST

VCSH

Tỷ số này đo lường mức lợi nhuận trên mức đầu tư của các chủ sở hữu.Các nhà đầu tư rất quan tâm đến tỷ số này của doanh nghiệp Bởi đây là khảnăng thu nhập mà họ có thể nhận đựơc nếu họ quyết định đặt vốn vào công ty

Tùy theo mục tiêu phân tích tài chính mà nhà phân tích chú trọng nhiềuhơn tới nhóm tỷ số này hay nhóm tỷ số khác Ví dụ, các chủ nợ ngắn hạn đặcbiệt quan tâm đến khả năng thanh toán của người vay Trong khi đó, các nhàđầu tư dài hạn lại quan tâm đến khả năng hoạt động và hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Họ cũng cần nghiên cứu về khả năng thanh toán đểđánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán hiện tại và xem xét lợi nhuậncủa doanh nghiệp để dự tính khả năng trả nợ cuối cùng của doanh nghiệp.Bên cạnh đó, họ cũng chú trọng tới tỷ số về cơ cấu vốn vì sự thay đổi của tỷ

số này sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của họ

Mỗi nhóm tỷ số trên bao gồm nhiều tỷ số và trong từng trường hợp các tỷ

số được lựa chọn sẽ phụ thuộc vào bản chất, quy mô của hoạt động phân tích

1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng tới phân tích tài chính.

Trang 32

Do vậy làm thế nào để có một hệ thống thông tin đầy đủ và chính xácphục vụ tốt cho công tác phân tích tài chính thì đó là yêu cầu các nhà quản lýphải hết sức quan tâm.

- Nhân sự thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp

Người thực hiện phân tích tài chính là nhân tố quan trọng ảnh hưởngtới chất lượng phân tích tài chính Trước hết mục đích của nhà phân tích tàichính khi tiến hành phân tích sẽ định hướng cho cả quá trình phân tích, quyếtđịnh quy mô phạm vi các kỹ thuật tài liệu sử dụng cũng như chi phí cho việcphân tích Khả năng của nhà phân tích sẽ lựa chọn thông tin và tiến hành thuthập nguồn thông tin có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phân tích tài chính

vì phân tích tài chính muốn hiệu quả phải dựa trên những thông tin đầy đủchính xác kịp thời và chi phí cho việc thu thập là nhỏ nhất Việc lựa chọncông cụ phân tích cũng phụ thuộc vào người phân tích Kết quả phân tích tàichính luôn mang dấu ấn cá nhân do vậy nhà phân tích có những đánh giá nhậnxét riêng của mình về tình hình tài chính doanh nghiệp là điều không thể tránhkhỏi

Nhà phân tích phải trung thực ý thức được tầm quan trọng và nhiệm vụcủa mình thì việc phân tích tài chính mới có hiệu quả cao

- Tổ chức hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp

Để thực hiện công việc phân tích tài chính cần phải bao gồm các côngviệc từ khâu chuẩn bị kế hoạch, thực hiện, kiểm tra giám sát và đánh giá kếtquả Các công việc này muốn thực hiện tốt cần phải có sự phối hợp chặt chẽgiữa các phòng ban trong một doanh nghiệp Mỗi phòng ban với chức năngnhiệm vụ của mình dưới sự phân công của trưởng phòng mỗi người đều cóphần việc của mình để hướng tới mục tiêu chung là tổ chức tốt công tác phântích tài chính Nguồn thông tin được thu thập từ các phòng ban là kết quả nội

bộ quan trọng trên cơ sở được xử lý, chọn lọc bởi các nhà quản lý cấp cao

Trang 33

được cung cấp cho quá trình phân tích tài chính và ảnh hưởng không nhỏ đếnchất lượng phân tích tài chính.

- Lựa chọn phương pháp phân tích

Trên cơ sở nguồn thông tin có được các cán bộ phân tích sẽ phải làmgì? làm như thế nào? áp dụng phương pháp phân tích tài chính nào để đánhgiá thực trạng tài chính của doanh nghiệp là một điều rất quan trọng

Trong điều kiện hiện nay, phải kết hợp các phương pháp phân tích tàichính tùy theo từng mục tiêu cụ thể của nhà quản lý quan tâm thì việc phântích mới mang lại hiệu quả như ý muốn của doanh nghiệp

1.2.6.2 Nhân tố khách quan.

Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành.

Việc phân tích tài chính của doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa hơn khi có sựtồn tại của các chỉ tiêu trung bình ngành đây là cơ sở tham chiếu quan trọngtrong khi tiến hành phân tích Người ta có thể nói các tỷ lệ tài chính củadoanh nghiệp là cao hay thấp, tốt hay xấu khi đem so sánh với tỷ lệ trung bìnhngành Nhà quản lý doanh nghiệp đánh giá được thực trạng tài chính củamình mà từ đó có những giải pháp khắc phục

Những hạn chế của hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành dẫn đến khókhăn cho hoạt động phân tích tài chính Thiếu hệ thống chỉ tiêu trung bìnhngành, nhà phân tích khó có thể khẳng định một cách chính xác một chỉ tiêutài chính là tốt hay xấu, do đó việc đưa ra nhận định về tình hình tài chính bịhạn chế, thiếu chính xác

Hệ thống pháp lý.

Hệ thống pháp lý có tác động đến nhiều khía cạnh trong hoạt độngphân tích tài chính doanh nghiệp Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều gắnkết với môi trường xung quanh, đặc biệt gắn kết chặt chẽ với môi trường pháp

lý Doanh nghiệp được hình thành và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật,

Trang 34

tuân thủ các quy định và chính sách của Nhà nước Thông qua hệ thống pháp

lý, Nhà nước có thể điều chỉnh các hành vi của doanh nghiệp Vì vậy, hệthống pháp lý cũng có ảnh hưởng ít nhiều tới hoạt động tài chính của doanhnghiệp, theo đó là hoạt động phân tích tài chính cũng bị ảnh hưởng

Hệ thống pháp lý vừa khuyến khích vừa hạn chế tình hình kinh doanhcủa doanh nghiệp, hệ thống pháp lý ổn định cho phép các nhà phân tích lựachọn được phương pháp phân tích phù hợp, tạo điều kiện thống nhất các chỉtiêu trong toàn ngành, giúp các nhà phân tích dễ dàng tìm kiếm thông tin.Ngược lại, hệ thống pháp lý thiếu chặt chẽ, không thống nhất sẽ có tác độngtiêu cực đến hoạt động phân tích, khiến cho việc phân tích tài chính kém hiệuquả

Yếu tố công nghệ.

Công nghệ hiện đại giúp cho doanh nghiệp có thể lưu trữ một lượngthông tin bên trong từng giai đoạn và thông tin được sử dụng, khai thác mộtcách triệt để Với công nghệ phân tích tài chính hoàn chỉnh, việc tính toánbằng các chỉ tiêu tài chính, so sánh sự biến động giữa các thời điểm cả về sốtuyệt đối và số tương đối được thực hiện nhanh chóng và chính xác

Trang 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI

CÔNG TY TNHH CELLCO VIỆT NAM

2.1 Khái quát chung về Công ty TNHH Cellco Việt Nam.

2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển

Tên Công ty: Công ty TNHH CELLCO Việt Nam

Địa chỉ trụ sở chính: Tầng 3, số 10 Nguyễn Cao, Phường Bạch Đằng,Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội

Điện thoại: 0439723570

Fax: 0439727429

Xưởng sản xuất: Mai Lâm – Đông Anh – Hà Nội

Diện tích khu xưởng sản xuất rộng 400 m vuông

Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Bà Dương Thị Thu Hiền –Giám đốc

Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số: 0104000480

Giám đốc Dương Thị Thu Hiền tốt nghiệp đại học ngoại ngữ Hà Nội và

Trang 36

Đại học Ngoại Thương Hà Nội đã làm việc cho công ty vận chuyển Quốc tếROHLIG từ năm 1996 đến nay có 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xuấtnhập khẩu và vận chuyển hàng hoá và thương mại quốc tế.

Thạc sỹ Hoàng Hà chuyên ngành máy và thiết bị vi sinh đã từng làmviệc phụ trách sản xuất nhiều năm cho các Công ty: Công ty Đức thịnhchuyên sản xuất và xuất khẩu vỉ nướng inox sang thị trường Nhật Bản, Công

ty Hà Yến chuyên sản xuất thiết bị công nghiệp cho ngành xây dựng kháchsạn, thuỷ sản Công ty Sunhouse Hàn Quốc chuyên về sản xuất đồ inox giadụng và công nghiệp, Công ty Shatorius / YUIN chuyên về sản xuất vàthương mại thiết bị sinh học, y tế, dược phẩm, thực phẩm

Đến năm 2007, sau khi đúc kết rất nhiều kinh nghiệm và kiến thức từcác Công ty, Bà Dương Thị Thu Hiền và ông Hoàng Hà quyết định thành lậpCông ty riêng là: Công ty TNHH CELLCO Việt Nam để phát triển hơn nữavào lĩnh vực sản xuất và cung cấp các dịch vụ liên quan đến ngành dược, y tế,thực phẩm, đây là lĩnh vực vẫn còn ít sự cạnh tranh và trước đây hầu hết thiết

bị trong nghành này đều nhập khẩu từ nước ngoài với giá thành rất cao

Hiện nay các máy móc thiết bị và giải pháp trong lĩnh vực y tế màCELLCO đang cung cấp co khách hang vẫn còn đang rất hiếm tại Việt Nam,chủ yếu vẫn phải nhập khẩu Do vậy thị trường tiềm năng của CELLCO rấtlớn, bên cạnh đó với mô hình quản lý vừa phải và doanh thu ổn định củaCông ty CELLCO chúng tôi luôn đảm bảo được năng lực tài chính và duy trìhoạt động của Công ty một cách hiệu quả nhất

2.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh của công ty Mục tiêu.

 Đảm bảo cho các bộ phận, cá nhân trong Công ty thực hiện đúngchức năng nhiệm vụ, đạt hiệu quả trong công việc, các bộ phận thực hiệnđúng nhiệm vụ tránh chồng chéo, đổ lỗi

Trang 37

 Đảm bảo tuyển dụng và xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ côngnhân viên theo yêu cầu, chiến lược của công ty.

Nhiệm vụ.

Tinh thần và đạo đức kinh doanh

- Minh bạch và nghiêm túc trong kinh doanh

- Chấp hành nội quy công ty và luật pháp Việt Nam

- Hỗ trợ, hợp tác và chia sẽ thông tin trong kinh doanh

- Sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn

- Học hỏi và tạo ra những giá trị mới trong kinh doanh

- Cung cấp các thông tin đầy đủ và chính xác

Phong cách quản lý

- Đặt niềm tin và đối xử công bằng

- nghiêm túc và minh bạch trong công việc

- Làm tròn trách nhiệm kịp thời và chính xác

- Giao quyền cho nhân viên và kiểm soát theo nguyên tắc

- Tạo điều kiện và cơ hội phát triển cho cán bộ, nhân viên

Thực hành tốt sản xuất

- An toàn là trên hết

- Đảm bảo vệ sinh trong sản xuất và môi trường làm việc

- Đảm bảo chất lượng trong sản xuất

- Gia tăng hiệu quả hoạt động

- Giữ gìn tài sản của công ty

Ngành nghề kinh doanh:

- Sản xuất, gia công cơ khí

- Chế tạo, lắp ráp dây chuyền, máy móc, thiết bị phục vụ cho nghiêncứu, và sản xuất trong lĩnh vực sinh học, y tế, dược phẩm, thực phẩm, hoáchất

- Làm thủ tục kê khai thuế Hải quan và vận tải trong nước và quốc tế

Trang 38

- Thiết bị trong ngành dược phẩm, y tế: Phũng sạch và cỏc mỏy múcthiết bị phục vụ cho phũng sạch (comple), bàn tủ inox tiệt trựng, nồi hấp, nồinấu dược phẩm, thanh chứa nước RO chuyờn dụng, cung cấp cỏc thiết bị vàlắp rỏp hệ thống xử lý nước thải, hệ thống mỏy lạnh, mỏy nộn cụng nghiệpphục vụ riờng cho ngành dược phẩm và y tế.

- Thương mại và cỏc mặt hàng thiết bị phục vụ ngành dược phẩm.Nhõn lực của Cụng ty:

Tổng số nhõn lực của Cụng ty là 38 người với trỡnh độ học vấn nhưsau:

- 02 người trỡnh độ Thạc sỹ ( Chuyờn ngành mỏy và thiết bị cụng nghệsinh học): Chiếm 5,263%

- 12 người trỡnh độ Đại học ( Chuyờn ngành kế toỏn, ngoại thương, kỹthuật) : Chiếm 31,579%

- 14 người trỡnh độ Bằng nghề ( Chuyờn ngành hàn TIG, Tiện, Phay,

Cơ khớ) : Chiếm 36,842%

- 10 người trỡnh độ 12/12: Chiếm26,316%

Nhỡn vào tỷ lệ nhõn lực của Cụng ty ta thấy đa phần chiếm trỡnh độ caochủ yếu là Đại học Năm 2011, Cụng ty đó cú những biện phỏp nhất định triểnkhai cỏc chớnh sỏch thu hỳt lao động và gỡn giữ ổn định lực lượng lao độngđặc biệt là lao động tay nghề cao để chủ động được tiến độ cụng việc, giảmbớt hiện tượng bỏ việc thụi việc hàng loạt, thu hỳt thờm được lao động cú taynghề vào làm việc Thu nhập bỡnh quõn toàn Cụng ty đạt 3.536.000đồng/người/thỏng Tuy nhiờn, Cụng ty vẫn ở trong tỡnh trạng thiếu lao động kĩthuật và cụng nhõn lành nghề

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Cụng ty TNHH CELLCO Việt Nam.

+) Mụ hỡnh tổ chức bộ mỏy

Khi chuyển sang cơ chế mới Công ty đã đổi mới hệ thống quản lýnhằm hoạt động có hiệu quả hơn, xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lýkhoa học nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý là một vấn đề hết sức cầnthiết ở Công ty các phòng ban có mối quan hệ mật thiết với nhau Cụng tyTNHH Cellco cú bộ mỏy quản lý tương đối gọn nhẹ và năng động Cụng ty cú

Trang 39

04 phòng ban chức năng và đơn vị sản xuất.

Để thực hiện tốt các ngành nghề kinh doanh của Công ty, Cơ cấu tổchức bộ máy quản lý của Công ty TNHH Cellco Việt Nam được tổ chức vàsắp xếp theo sơ đồ sau:

Phòng

kế toán

Phòng nghiên cứu

và phát triển thịtrường

Xưởng sảnxuất

Công ty có một giám đốc và 02 Phó giám đốc, toàn bộ hoạt động sảnxuất của Công ty chịu sự chỉ đạo thống nhất của Giám đốc là đại diện phápnhân của Công ty, chịu toàn bộ trách nhiệm về quá trình sản xuất và làmnghĩa vụ với nhà nước

Ban giám đốc bao gồm:

 Giám đốc: Là người đứng đầu bộ máy, giữ vai trò chỉ đạo chung

Trang 40

theo chế độ luật định, đồng thời là người chịu trách nhiệm về kết quả sản xuấtkinh doanh của toàn Công ty Quyết định các vấn đề liên quan đến công việckinh doanh hàng ngày của công ty

Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty;

 Tổ chức điều hành, quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh củaCông ty theo Điều lệ Công ty và tuân thủ pháp luật;

Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, kiến nghị hoặc ban hành quy chếquản lý nội bộ công ty;

Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công

ty

Ký kết hợp đồng nhân danh công ty

Kiến nghị phương án sử dụng lợi nhuận hoặc xử lý lỗ trong kinhdoanh;

Tuyển dụng lao động

 Các phó giám đốc: Công ty có 02 phó giám đốc, mỗi người chịu

trách nhiệm về một lĩnh vực trước giám đốc

- Giúp việc cho giám đốc theo lĩnh vực công tác được phân công

- Chịu trách nhiệm hoàn thành công việc được phân công trước giámđốc

- Được giám đốc ủy quyền quyết định công việc cụ thể theo giấy ủyquyền

Các phòng ban chức năng:

+) Phòng kế toán: Là một phòng chức năng trong công ty giúp việc choGiám đốc Công ty trong lĩnh vục tài chính kế toán, tín dụng và hạch toán kinhdoanh trong toàn Công ty Thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Thu thập, phân loại và xử lý tổng hợp số liệu, thông tin về hoạt độngsản xuất kinh doanh của Công ty

- Phản ánh, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh trong

Ngày đăng: 16/03/2015, 09:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng cân đối kế toán - Phân tích tài chính tại Công ty TNHH Cellco Việt Nam
Bảng c ân đối kế toán (Trang 2)
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức - Phân tích tài chính tại Công ty TNHH Cellco Việt Nam
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tổ chức (Trang 39)
Bảng 2.1. BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN. - Phân tích tài chính tại Công ty TNHH Cellco Việt Nam
Bảng 2.1. BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN (Trang 42)
Bảng 2.2. BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NGUỒN VỐN. - Phân tích tài chính tại Công ty TNHH Cellco Việt Nam
Bảng 2.2. BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NGUỒN VỐN (Trang 47)
Bảng 2.4. BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG KHOẢN PHẢI THU, PHẢI TRẢ. - Phân tích tài chính tại Công ty TNHH Cellco Việt Nam
Bảng 2.4. BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG KHOẢN PHẢI THU, PHẢI TRẢ (Trang 51)
Bảng 2.6. CÁC CHỈ SỐ THANH KHOẢN. - Phân tích tài chính tại Công ty TNHH Cellco Việt Nam
Bảng 2.6. CÁC CHỈ SỐ THANH KHOẢN (Trang 54)
Bảng 2.7. BẢNG KÊ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI  SẢN - Phân tích tài chính tại Công ty TNHH Cellco Việt Nam
Bảng 2.7. BẢNG KÊ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN (Trang 56)
Bảng kê phân tích chỉ tiêu luân chuyển hàng tồn kho đã cho thấy vòng quay hàng tồn kho của công ty tăng lên ở năm 2010 và giảm xuống vào năm 2011 - Phân tích tài chính tại Công ty TNHH Cellco Việt Nam
Bảng k ê phân tích chỉ tiêu luân chuyển hàng tồn kho đã cho thấy vòng quay hàng tồn kho của công ty tăng lên ở năm 2010 và giảm xuống vào năm 2011 (Trang 58)
Bảng 2.10. BẢNG CÁC TÝ SỐ PHẢN ÁNH KHẢ NĂNG SINH LỜI - Phân tích tài chính tại Công ty TNHH Cellco Việt Nam
Bảng 2.10. BẢNG CÁC TÝ SỐ PHẢN ÁNH KHẢ NĂNG SINH LỜI (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w