Một chính sách phân phối xuất khẩu của công ty phải phản ánh toàn bộ các mục đích và mục tiêu của Công ty trong một loạt các chỉ dẫn phân phối riêng biệt. Công ty có thể xác định cần đầu tư bao nhiêu vốn và nhân công để đạt được mức bao phù mong muốn ở từng thị trường dựa trên các chỉ dẫn đó.Bên cạnh đó, chính sách phân phối xuất khẩu phải đồng thời đề ra các mục tiêu thị phần, doanh số, và lợi nhuận cận biên cho từng thị trường dựa trên cơ sở các thế vị xâm nhập thị trường, mức độ công ty mong muốn tham gia vào hệ thống phân phối, và mức quyền sở hữu các trung gian mong muốn. Các chính sách này ảnh hưởng lớn đến mức kiểm soát thị trường của công ty và chất lượng hoạt động marketing ở các vùng trọng điểm.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài 4
3 Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài 4
4 Phạm vi nghiên cứu luận văn tốt nghiệp 4
4.1.Về không gian 4
4.2 Về thời gian 4
4.3 Về mặt hàng 4
4.4 Về khách hàng 4
5 Một số khái niệm cơ bản của phân phối 5
5.1 Phân phối 5
5.2 Kênh phân phối xuất khẩu 5
5.3 Quá trình phân phối xuất khẩu 5
5.3.1 Mục tiêu và chính sách phân phối xuất khẩu 6
5.3.2 Các hạn chế hay ràng buộc đối với kênh xuất khẩu 6
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KÊNH PHÂN PHỐI TẠI CÔNG TY SANNAM 14
I Phương pháp hệ nghiên cứu vấn đề 14
1 Dữ liệu thứ cấp 14
2 Phương pháp, cách xử lý dữ liệu 14
II Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến kênh phân phối và hoạt động kinh doanh của Công ty SANNAM 14
1 Tổng quan tình hình kênh phân phối của Công ty SANNAM 14
1.1.Sơ lược về công ty SANNAM 14
Trang 21.2 Cấu trúc kênh phân phối sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Đài Loan
của Công ty SANNAM 15
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 19
2.1 Nhân tố bên trong doanh nghiệp 19
2.1.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty 19
2.1.2 Về sản phẩm 20
2.1.3 Về thị trường 20
2.2 Môi trường vi mô 21
2.3 Môi trường vĩ mô 21
II Kết quả phân tích các dữ liệu thu thập được 22
1 Các loại bảng, biểu dữ liệu thu thập và xử lý 22
1.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty SANNAM trong ba năm gần đây 22
1.2.Kết quả kinh doanh qua các kênh của công ty SANNAM 23
CHƯƠNG III MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT VỀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN KÊNH PHÂN PHỐI XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN CỦA CÔNG TY SANNAM 24
I Đánh giá chung về cấu trúc kênh phân phối của công ty SANNAM 24
1 Những ưu điểm của kênh phân phối 24
2 Hạn chế 24
3 Nguyên nhân của những thành công và hạn chế 25
3.1.Nguyên nhân khách quan 25
3.2 Nguyên nhân chủ quan 25
II Các đề xuất, kiến nghị về vấn đề phát triển kênh phân phối sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Đài Loan của công ty SANNAM 25
1 Phát triển hệ thống marketing dọc trong phân phối sản phẩm thực phẩm của công ty trên thị trường Đài Loan 25
2 Phát triển hệ thống phân phối của công ty trên thị trường Đài Loan về diện rộng 26
Trang 33 Tăng thêm số lượng trung gian thương mại trong kênh 26
4 Đề xuất các tiêu chuẩn lựa chọn trung gian thương mại phân phối sản phẩm xuất khẩu của công ty trên thị trường Đài Loan 27
Trang 42 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Trong quá trình thực tập tại Công ty, em đã phát hiện ra nhữn tồn tạitrong việc tổ chức kênh phân phối của Công ty Sannamfood trong quá trìnhtiêu thụ sản phẩm Chính vì thế em đã có hướng nghiên cứu nhằm hoàn thiện
hệ thống kênh phân phối của Công ty theo hướng tốt hơn
Đề tài thực hiện: “Hoàn thiện kênh phân phối xuất khẩu sang thị
trường Đài Loan của Công ty Cổ phần thực phẩm Sannamfood”.
3 Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài
3.1 Làm rõ một số vấn đề lý thuyết cơ bản về phát triển kênh phân
phối của Công ty kinh doanh
3.2 Nghiên cứu thực trạng kênh phân phối của Công ty Sannamfood về
việc tổ chức hệ thống kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm thực phẩm chế biếncủa công ty sang thị trường Đài Loan
3.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển kênh phân phối, phát triển
kênh phân phối sản phẩm của Công ty nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh củaCông ty trên thị trường và ra tăng doanh số bán trong những năm tiếp theo,tiêu thụ sản phẩm của Công ty theo từng thời điểm, thời kỳ để phù hợp hơnvới môi trường, nhu cầu của khách hàng
4 Phạm vi nghiên cứu luận văn tốt nghiệp
Trang 55 Một số khái niệm cơ bản của phân phối
5.1 Phân phối
Phân phối là hoạt động có liên quan đến việc tổ chức và điều hành, vậnchuyển hàng hóa dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùngnhằm đạt được mục tiêu kinh doanh tren cơ sở tối đa hóa hiệu quả các nguồnlực Phân phối là quá trình hoạt động cùng với thời gian và không gian từ khikết thúc quá trình sản xuất đến khi khách hàng tiêu dùng cuối cùng được sởhữu và tiêu dùng hàng hóa
5.2 Kênh phân phối xuất khẩu
Là một tập hợp, một sự liên kết logic cỉa một dòng vận động kết nối vớinhau một cách hữu cơ nhằm gia tăng cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của kháchhàng, tổ chức và quản lý các hoạt động xuất khẩu sản phẩm nhằm đạt các mụctiêu của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế
5.3 Quá trình phân phối xuất khẩu
BH1: Quá trình phân phối xuất khẩu được biểu hiện trong sơ đồ sau:
Mục tiêu và chính sách kênh phân phối xuất khẩu
Các hạn chế hay ràng buộc đối với kênh xuất khẩu
Xác lập các hệ thống phân phối thế vị
Lựa chọn các thành viên kênh
Quản trị các mối quan hệ kênh
Trang 65.3.1 Mục tiêu và chính sách phân phối xuất khẩu
Một chính sách phân phối xuất khẩu của công ty phải phản ánh toàn bộcác mục đích và mục tiêu của Công ty trong một loạt các chỉ dẫn phân phốiriêng biệt Công ty có thể xác định cần đầu tư bao nhiêu vốn và nhân công đểđạt được mức bao phù mong muốn ở từng thị trường dựa trên các chỉ dẫn đó
Bên cạnh đó, chính sách phân phối xuất khẩu phải đồng thời đề ra cácmục tiêu thị phần, doanh số, và lợi nhuận cận biên cho từng thị trường dựatrên cơ sở các thế vị xâm nhập thị trường, mức độ công ty mong muốn thamgia vào hệ thống phân phối, và mức quyền sở hữu các trung gian mong muốn.Các chính sách này ảnh hưởng lớn đến mức kiểm soát thị trường của công ty
và chất lượng hoạt động marketing ở các vùng trọng điểm
5.3.2 Các hạn chế hay ràng buộc đối với kênh xuất khẩu
Lựa chọn thích hợp các hệ thống phân phối khác nhau ở các thị trườngngoài nước đòi hỏi có sự hiểu biết thấu đáo về các cách thức mà mỗi một hệthống đóng góp vào các mục đích và mục tiêu của chính sách phân phối.Cácnhà quản trị marketing phải xem xét một loạt các nhân tố và phát triển mộttập hợp các chỉ tiêu lựa chọn
* Các đặc điểm của khách hàng
Việc thiết kế kênh chịu ảnh hưởng lớn bởi các đặc điểm của các kháchhàng Số lượng các khách hàng tiềm năng, sự phân phối của họ, sức mua, cácnhu cầu đặc biệt, thói quen mua sắm, sự ưa chuộng loại điểm bán, và phảnứng đối với các phương pháp bán khác nhau là rất khác biệt ở giữa các quốcgia Ví dụ thói quen mua sắm sữa chua của khách hàng ở các quốc gia khácnhau ảnh hưởng đến các quyết định phân phối của Dannon Ở Pháp và Đức,
sử dụng các cửa hàng giảm giá tự phục vụ với các khu vực thực phẩm tươirộng rãi và một dải rộng các hàng hóa,cung cấp như là một những điểm bánsản phẩm sữa Tuy nhiên, Dannon không thể lựa chọn các điểm bán loại này
để phân phối ở Việt Nam, do 83% người nội trợ mua sắm hàng ngày và mua
Trang 7hầu hết thực phẩm của họ ở các chợ ở trên đường phố hoặc trong một khu vựcmua bán ở đô thị.
Các kênh hàng tiêu dùng thường dài hơn các kênh của sản phẩm côngnghiệp, do số lượng khách hàng lớn hơn, rải rác về mặt địa lý hơn và mua với
số lượng khách hàng lớn hơn, rải rác về mặt địa lý hơn và mua với số lượngnhỏ hơn
* Đặc điểm của sản phẩm
Một số đặc điểm của sản phẩm có vai trò then chốt trong việc thiết kế
hệ thống và đề ra chiến lược phân phối Ví như, tton phân phối và tiêu thụ cácsản phẩm có khối lượng lớn như thép và bê thông, các chi phí vận chuyển vàlưu kho có vai trò rất quan trọng trong phân phối Hoặc các sản phẩm đắt tiềnthường do lực lượng bán của công ty đảm trách do chi phí của phương thứcbán hàng xa xỉ này chỉ là một phần nhỏ trong mức giá tổng cộng của sảnphẩm Bên cạnh đó, những hàng đắt tiền thường là những loại có tính phứctạp hoặc có những đặc tính phải được hướng dẫn cặn kẽ điều này chỉ có thểthực hiện hữu hiệu nhất bởi một lực lượng bán đượccông ty kiểm soát chặtchẽ Ví dụ, bán hàng trực tiếp, dịch vụ chỉ dẫn và sửa chữa và phụ tùng thaythế có ảnh hưởng lớn đến hoạt động phân phối của các sản phẩm như máyđiện toán, máy móc và máy bay Ngoài ra tuổi thọ của sản phẩm, mức độ cóthể làm giả, và các yêu cầu lưu giữ đặc biệt (như bảo quản lạnh) cũng lànhững đặc điểm quan trọng ảnh hưởng đến chính sách phân phối
* Bản chát và vị trí phân bổ của nhu cầu
Bản chất và vị trí phân bổ của nhu cầu ảnh hưởng lớn đến các quyếtđịnh phân phối
Bản chất của nhu cầu Nhận thức của khách hàng trọng điểm về mộtsản phẩm nhất định có thể bắt buộc thay đổi kênh phân phối Cùng một sảnphẩm nhưng có thể được nhận thức như một hàng xa xỉ, một hàng mua sắm,
và một mặt hàng thiết yếu ở 3 quốc gia khác nhau vào cùng một thời điểm vínhư máy tính bỏ túi Vì vậy, những sắp đặt kênh xem xét ở thị trường buiwcs
Trang 8ngoài nhận thức sản phẩm là hàng xa xỉ sẽ có thể khác biệt với những sắp đặtkênh ở thị trường nhận thức như là hàng thiết yếu Nhìn chung, thu nhập vàkinh nghiệm với sản phẩm của khách hàng, công dụng cuối cùng của sảnphẩm, vị trí trong chu kỳ sống của nó, và giai đoạn phát triển kinh tế của quốcgia có ảnh hưởng lớn đến nhận thức sản phẩm của khách hàng.
Vị trí phân bổ của nhu cầu Các kế hoạch phân phối cần phải tính đếnđặc điểm địa lý và mức phát triển cơ sở hạ tầng của giao thông của một quốcgia Philipin và Nhật Bản là hai quốc gia quần đảo, do diều kiện địa lý tựnhiên như vậy dẫn đến hệ thống kênh nhiều cấp bao gồm các nhà bán buôn,địa phương, đại lý, và các công ty thương mại quốc gia là đặc điểm nổi bật ởhai quốc gia này
* Đặc điểm cạnh tranh
Khi thiết kế kênh các công ty cũng cần xem xét các kênh phân phối cácsản phẩm cạnh tranh và các sản phẩm thay thế Người tiêu dùng thường quenvới việc mua một số hàng hóa nhất định từ một số nguồn nhất định Nhữngsuy nghĩ này là một phần do các đối thủ cạnh tranh đã làm cho người tiêudùng quen với một sắp đặt kênh phân phối nhất định Ngoài ra, các đối thủcạnh tranh địa phương và toàn cầu có thể có những thỏa thuận với các nhàbán buôn lớn ở nước ngoài loại trừ công ty ra khỏi các kênh then chốt Đểvượt qua trở ngại của công ty thường thiết lập các kênh phân phối mới mà họ
có quyền kiểm soát cao
* Các đặc điểm của môi trường
Các nhân tố môi trường có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thiết kếmột chiến lược phân phối nhập khẩu như cấu trúc bán buôn và bán lẻ củaquốc gia đó, mối quan hệ của họ, và các quy tắc và luật lệ điều chỉnh các sắpđặt kênh và hành vi thương mại Các nhân tố môi trường thường có tác độnglớn hơn các nhân tố lịch sử, xã hội, kinh tế và cạnh tranh
Người ta đã tìm ra mối quan hệ giữa cấu trúc kênh và sự phát triển kinh
tế trong một cuộc nghiên cứu như sau:
Trang 9- Số lượng và loại nhà bán buôn gia tăng.
- Ảnh hưởng của các nhà nhập khẩu độc lập như đại lý nhập khẩu vàcác nhà phân phối nhập khẩu suy giảm, đặc biệt khi hoạtđộng sản xuất địaphương gia tăng
- Các chức năng và dịch vụ kênh trở nên tách rời nhau hơn và các trunggian kênh chuyên môn hóa cao hơn
- Dịch vụ tài chính do các nhà bán buôn cung cấp giảm xuống khichênh lệch giá bán và giá mua của họ tang lên
Tuy nhiên, sắp đặt kênh có thể chịu tác động bởi quyền lực và côngnghệ nhiều hơn là bởi giai đoạn phát triển kinh tế của quốc gia
* Đặc điểm của các trung gian
Cấu trúc hoạt động bán buôn
Quy mô, dịch vụ, và mức giá đòi hỏi của hệ thống bán buôn khác nhaugiữa các quốc gia khác nhau do sự khác biệt của các nhân tố như văn hóa, xãhội, kinh tế và luật pháp của các quốc gia
Thứ nhất, quy mô của các nhà bán buôn biến thiên đáng kể giữa các
quốc gia và một phần nó là hàm của các nhân tố xã hội – văn hóa, kinh tế, vàchính trị Ở các nước công nghiệp phát triển như Bỉ và Thụy Điển, trung bìnhmột nhà bán buôn phục vụ dưới 10 nhà bán lẻ hoặc ít hơn 1000 người tiêudùng Ở các quốc gia mới công nghiệp hóa như Braxin và Hàn Quốc, trungbình một nhà bán buôn phục vụ từ 20 – 60 nhà bán lẻ và 1000 đến 3000 ngườitiêu dùng
Thứ hai, vị trí và địa vị xã hội của nhà bán buôn khác biệt giữa các
quốc gia Ở các nước đang phát triển, các nhà bán buôn thường nắm giữ mộtdải rộng các loại hàng hóa của địa phương và nhập khẩu Ở các quốc gia nàycác nhà bán buôn thường được coi như làm gia tăng các chi phí không cầnthiết và thường không được đề cao, do trọng tâm thường được đặt vào sảnxuất chứ không phải là phân phối Ngược lại, ở các quốc gia đã phát triển, cácnhà bán buôn thường được chuyên môn hóa hơn về loại hàng hóa và loại nhà
Trang 10bán lẻ mà họ phục vụ Hơn nữa, họ thường được coi là những kết nốimarketing trọng yếu.
Thứ ba, dịch vụ, chi phí và hiệu quả của nhà bán buôn cũng có ảnh
hưởng việc lựa chọn các nhà trung gian, đánh giá các nhà bán buôn tiềm năng
ở thị trường nước ngoài phải dựa trên sự phân tích dịch vụ họ cung cấp hoặc
là chức năng mà họ thực hiện Cần phải xác định các trung gian thực nắm giữhàng hóa về mặt vật lý ở mức độ nào Điều này đặc biệt quan trọng đối vớinhững công ty có ít hoặc không có kinh nghiệm nhập khẩu Bên cạnh đó,cáctrung gian có thể hỗ trợ công ty xúc tiến và bán hàng hóa, cũng như cung cấpcác dịch vụ khách hàng ở địa phương Họ có thể hỗ trợ trong xây dựng và duytrì thiện chí của chính phủ và các thành viên của cộng đồng ở địa phương.Cuối cùng các trung gian thường cung cấp dịch vụ tài chính và chịu rủi rotrong quá trình phân phối Ví dụ, ở một số quốc gia như Ấn Độ, các nhà bánbuôn cung cấp một loạt các dịch vụ từ cung caaos tàu chính đến dự trữ hànghóa Nhưng ở một số quốc gia phát triển do có xu thế dịch chuyển tới các hệthống sản xuất – thị trường nhất thể hóa, các nhà bán buôn cung cấp ngàycàng nhiều các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của những người tiêu dùng và ngườicung cấp
Giữa các chi phí của kênh và tính hữu hiệu của kênh thường không cómối quan hệ chặt chẽ Các chi phí của kênh thay đổi đáng kể giữa các quốcgia khác nhau và là hàm của cạnh tranh kênh Mặt khác, chiều dài của kênh bịtác động mạnh mẽ bởi cấu trúc bán lẻ, mối quan hệ kênh, địa lý, và các đặcđiểm kinh tế và xã hội – văn hóa của khách hàng cuối cùng của từng quốc gia
Cấu trúc hoạt động bán lẻ
Hoạt động bán lẻ còn đa dạng hơn cả hoạt động bán buôn, do sự khácnhau về các nhân tố văn hóa, kinh tế và luật pháp
Thứ nhất, số lượng các nhà bán lẻ là khác nhau giữa các quốc gia.
Nghiên cứu khi so sánh tỷ lệ giữa số lượng của hàng bán lẻ và dân số với
Trang 11trình độ phát triển kinh tế của quốc gia chỉ ra rằng chúng không có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau
Thứ hai, thực tế dự trữ của hoạt động bán lẻ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi
giai đoạn phát triển kinh tế của quốc gia Chiều sâu và độ rộng của hàng dựtrữ của các nhà bán lẻ ở các quốc gia phát triển thường nhỏ hơn so với cácquốc gia đã phát triển Ví dụ, các nhà sản xuất quần áo của Colombia thường
sở hữu các cửa hàng bán quần áo như là một đầu tư về nhà đất va thường kinhdoanh một tuyến hẹp cá quần áo mà họ sản xuất Điều này là kết quả của mộtthực tế là hầu hết các cửa hàng bán lẻ không có đủ vốn để lưu giữ một lượnglớn dự trữ, và hàng hóa được bán theo hình thức gửi bán
Thứ ba, quy mô, địa điểm và hoạt động bán lẻ cũng thay đổi giữa các
quốc gia Hoạt động bán lẻ ở các khu vực trung tâm ở các quốc gia phát triểnthường giống với hoạt động của các cửa hàng bán lẻ ở các thành phố lớn củacác quốc gia đã phát triển Các nhà bán lẻ lớn thường dự trữ hàng hóa, hỗ trợtài chính, quản lý mua bán tín dụng, trưng bày và xúc tiến hàng hóa và cungcấp thông tin thị trường cho các nhà phân phối của họ Ngược lại, các nhà bán
lẻ nhỏ ở khu vực thành thị kinh doanh các tuyến hàng hóa hẹp, và thườnghoạt động không có hiệu quả, phụ thuộc nhiều vào các nhà phân phối về tíndụng, xúc tiến và các sản phẩm trưng bày, và các dạng hỗ trợ khác Nhữngngười chủ của các cửa hàng mang tính chất gia đình, đặc biệt ở nông thôn, rấtmiễn cưỡng chấp nhận các ý tưởng mới và đổi mới trong bán lẻ
Thứ tư, thuật ngữ được sử dụng ở các địa phương khác nhau có thể dẫn
tói hiểu nhầm Mặc dù các cửa hàng tổng hợp và cá siêu thị có ở rất nhiềuquốc gia phát triển, nhưng sẽ là sai lầm khi thừa nhận các nhóm khách hàngnày ở các nước phát triển Ở nhiều quốc gia đang phát triển, nó chủ yếu phục
vụ nhu cầu của các gia đình có thu nhập cao và trung bình, cung cấp tín dụng,giao hàng và chỉ dự trữ một lượng ít hàng hóa
Trang 12* Mối quan hệ kênh
Sự phân bổ thực hiện chức năng, trọng tâm của quyền lực kênh, và cácmối quan hệ chịu ảnh hưởng của đặc điểm xã hội – văn hóa giữa các thànhviên của kênh đều được biểu hiện trong các sắp đặt kênh
Thứ nhất, tác động của phân bổ chức năng giữa các thành viên đối với
việc thiết lập chính sách phân phối Câu hỏi then chốt cần phải giải đáp làtheo truyền thống ai là người thực hiện các chức năng của kênh
Mặc dù, hoạt động tiêu thụ là phổ biến đối với các nhà bán buôn,những nỗ lực đầu tư vào hoạt động này không giống nhau giữa các quốc gia
Ví dụ, ở Nhật Bản, các nhà bán buôn thường phải cung cấp cho các nhà bán lẻlực lượng nhân sự bán hàng và phải cung cấp đặc quyền tự do hoàn lại đối vớicác nhà bán lẻ nhỏ Và nhìn chung ở hầu hết các quốc gia, các nhà bán buônthường cung cấp tín dụng Ở một số quốc gia do lạm phát cao, khan hiếm tiềnmặt, và các rủi ro thương mại khác, các mức dự trữ thường thấp
Thứ hai, quyền lực kênh và phân giải xung đột chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố Cấu trúc quyền lực của kênh chịu tác động lớn nhất bởi ba đặcđiểm của trung gian là quy mô tương đối, sức mạnh tài chính và ảnh hưởngchính trị Ở Malaysia, một số nhà phân phối ủy thác châu Âu kiểm soát hầuhết hoạt động nhập khẩu Còn ở Nhật Bản, các công ty thương mại thống trịkênh do có sức mạnh về tàu chính và cạnh tranh chủ yếu Ngược lại, các nhàbán buôn Ai Cập, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ thường có quy mô nhỏ và phục vụ ở cáckhu vực nhỏ do ảnh hưởng của các luật lệ của chính phủ và cơ sở hạ tầng vậntải nghèo nàn
Thứ ba, Cần phải xem xét ảnh hưởng của xã hội văn hóa đối với cấu
trúc phân phối của quốc gia Ví như, ở Nhật Bản, mối quan tâm về phúc lợi xãhội dẫn đến sự thiếu hiệu quả của hệ thống phân phối do phải duy trì các côngviệc Hơn nữa, mối quan hệ cá nhân thân thiện thường kết nối cả thành viênkênh của người Nhật quan trọng về mặt quan hệ lâu dài hơn là doanh số bán
Trang 13hoặc lợi nhuận của một hàng hóa nhất định Điều này cũng có thể thấy được ởcác quốc gia Nam Mỹ.
* Các nhân tố luật pháp
Các hoạt động và thực tế của kênh cũng khác biệt giữa các quốc gia do
có sự không giống nhau về các mức thuế luân chuyển và giao dịch, tỷ lệ khấuhao, các điều luật về mức lượng tối thiểu và phúc lợi phụ, các luật lệ về xúctiến và quảng cáo, giờ kinhdoanh, và các tiêu chuẩn bảo vệ sức khỏe Ở một
số quốc gia, duy trì mức giá bán lại được pháp luật công nhận; nhưng ở một
số quốc gia khác, các nhà sản xuất không được đặt ra giá bán lại Bên cạnh
đó, dàn xếp kênh chịu ảnh hưởng trực tiếp luật quy định trách nhiệm pháp lý,luật pháp về thỏa thuận đặc quyền (fanchise), luật pháp tác động đến quyềncủa các trung gian và nhà buôn, các điều khoản về chấm dứt hợp đồng, hạnchế về lãnh thổ, hình thành cartel, và các dàn xếp tiêu thụ tương hỗ Ví dụ vềđặc quyền buôn bán ở Ấn Độ thường là bị cấm, nhưng ở Châu Âu nó lại đượcphép – các công ty có thể cấm các nhà buôn không được kinh doanh các sảnphẩm của đối thủ cạnh tranh va mua sản phẩm của công ty từ một nhà cungcấp khác.Ngược lại, các công ty Hàn Quốc không thể thực hiện các hoạt độngtrên sau khi các điều luật hội chợ thương mại được công bố vào 1981
Trang 14CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
KÊNH PHÂN PHỐI TẠI CÔNG TY SANNAM
I Phương pháp hệ nghiên cứu vấn đề
1 Dữ liệu thứ cấp
Trong quá trình nghiên cứu vấn đề kênh phân phối tại công tySANNAM và để làm rõ thực trạng phát triển kênh phân phối của công ty thìnguồn dữ liệu cần tìm kiếm liên quan đến tình hình kinh doanh cũng như hiệuquả của các kênh phân phối của công ty trong thời gian gần đây qua các báocáo của công ty bao gồm:
Các báo cáo kinh doanh trong các năm 2006, 2007, 2008
Báo cáo kinh doanh của các loại kênh, thị trường trong 3 năm 2006,
2007, 2008
Website của công ty: www.Sannamfood.com
2 Phương pháp, cách xử lý dữ liệu
Tập hợp số liệu các bảng biểu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, tính tỷ
lệ phần trăm giữa các năm, các kênh phân phối khác nhau để thuận tiện choviệc so sánh để đưa ra kết luận
II Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến kênh phân phối và hoạt động kinh doanh của Công ty SANNAM.
1 Tổng quan tình hình kênh phân phối của Công ty SANNAM
1.1.Sơ lược về công ty SANNAM
Năm 2000, Bộ phận chế biến hoa quả & thực phẩm xuất khẩu
Năm 2003, thành lập công ty CP thực phẩm SANNAM
Năm 2003, 2004 và 2006: Nhận giải thưởng Sao Vàng Đất Việt
Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2006 (SVĐV 2006) được trao choThương hiệu SANNAMFOOD nằm trong nhóm ngành hàng thực phẩm đã