324 Một số giải pháp để phát triển Công ty Điện lực TP.HCM đến năm 2010 và 2020
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
Chương I: Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của Công ty
Điện lực TP.Hồ Chí Minh (CTĐLHCM) 1
1.1 Giới thiệu tổng quát về Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh 1
1.2 Những đặc điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện lực 3
1.3 Đánh giá thực trạng và phân tích các tồn tại trong sản xuất kinh doanh của Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh trong thời gian qua 6
1.3.1 Một số đặc điểm mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh 6
1.3.1.1 Hệ thống các văn bản pháp lý của chính phủ chi phối hoạt động kinh doanh điện hiện nay của công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh 6
1.3.1.2 Đặc điểm về thị trường, khách hàng của Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh 8
1.3.1.3 Bối cảnh hoạt động của Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh10 1.3.2 Đánh giá thực trạng và phân tích các tồn tại trong sản xuất kinh doanh của Công ty CTĐLHCM thời gian qua 11
1.3.2.1 Về phương thức tổ chức và hiệu quả sản xuất kinh doanh của CTĐLHCM 11
1.3.2.2 Về công tác kinh doanh điện năng 14
1.3.2.3 Về kế hoạch sản xuất kinh doanh 18
1.3.2.4 Về công tác quản lý kỹ thuật và vận hành lưới điện 21
1.3.2.5 Về công tác đầu tư xây dựng 26
Trang 2Chương II: Một số giải pháp phát triển Công ty Điện lực Thành phố
Hồ Chí Minh đến năm 2010 và 2020 29
2.1 Dự báo nhu cầu phụ tải điện năng đến năm 2010 và 2020 29 2.2 Các mục tiêu phát triển công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh đến
2010 và 2020 30
2.2.1 Cơ sở để xác định mục tiêu 30
2.2.2 Các mục tiêu 30
2.3 Một số giải pháp để phát triển Công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và 2020 31
2.3.1 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh CTĐLHCM 31 2.3.2 Nhóm giải pháp cải tiến công tác kinh doanh điện năng 37 2.3.3 Nhóm giải pháp về công tác kế hoạch và kỹ thuật vận hành lưới điện 45 2.3.4 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý đầu tư xây dựng 47
2.4 Các kiến nghị 49
Kết luận 54 Phụ lục
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Điện năng là một sản phẩm đặc biệt, nó có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân Hoạt động sản xuất kinh doanh điện có 3 khâu chính là sản xuất, truyền tải và phân phối điện Các khâu đó có quan hệ chặt chẽ với nhau trong việc cung cấp điện trong một địa bàn nhất định Khâu phân phối điện năng là khâu cuối cùng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp điện năng cho sản xuất và sinh hoạt đời sống nhân dân Đồng thời, khâu phân phối điện năng là khâu trực tiếp bán sản phẩm, tạo doanh thu bù đắp lại chi phí của khâu sản xuất và truyền tải điện Vai trò của ngành điện đã được Lê-Nin đề cập trong bản đề cương báo cáo sách lược của Đảng cộng sản Nga, trình bày tại Đại hội lần thứ III của quốc tế cộng sản, ở mục "Cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội và kế hoạch điện khí hoá nước Nga" Lênin đã viết: "Một nền đại công nghiệp thích ứng với trình độ kỹ thuật hiện đại và có khả năng cải tạo được nông nghiệp, đó là việc điện khí hoá toàn nước Nga" Tư tưởng của Lênin đã chỉ rõ tầm quan trọng của ngành điện và phải là ngành phát triển trước một bước để thúc đẩy các ngành khác cùng phát triển Với vị trí đó của ngành điện, việc nghiên cứu để phát triển ngành này luôn được Đảng, Nhà nước và mọi người cùng quan tâm
Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh (CTĐLHCM) là một đơn vị trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) được thành lập từ năm 1995, với nhiệm vụ quản lý, vận hành và kinh doanh điện năng trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh Từ ngày thành lập đến nay CTĐLHCM đã có những bước phát triển đáng kể về qui mô, trình độ kỹ thuật công nghệ và trình độ quản lý, về cơ bản đã cung cấp đủ điện cho nền kinh tế và sinh hoạt của nhân dân Độ tin cậy cung cấp điện và an toàn ngày càng cao, uy tín đối với khách hàng dùng điện được cải thiện đáng kể
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 theo đường lối của Đảng với mục tiêu là công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, CTĐLHCM đang đứng trước những cơ hội phát triển đồng thời đối mặt với nhiều thách thức mới Đường lối kinh tế đổi mới của Tp.Hồ Chí Minh mở ra một thị trường tiềm năng có tốc độ phát triển nhu cầu phụ tải điện 10-15%/năm trong suốt giai đoạn
2000 – 2020 Với khả năng tài chính, trình độ kỹ thuật và uy tín trên thị trường CTĐLHCM có khả năng mua các máy móc thiết bị tiên tiến, tiếp cận với các công
Trang 4nghệ quản lý hiện đại áp dụng cho ngành điện Bên cạnh đó CTĐLHCM cũng đang gặp nhiều thách thức trước nguy cơ thiếu vốn đầu tư phát triển các công trình điện theo tổng sơ đồ phát triển điện giai đoạn V đã được chính phủ phê duyệt tháng 03/2003 Hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, cung cách phục vụ của CB-CNV ngành điện đối với khách hàng chịu ảnh hưởng nhiều phong cách kinh doanh thời bao cấp, độc quyền cũng là những thách thức đối với HMCPC
Việc hoạch định các giải pháp để phát triển CTĐLHCM trong thời kỳ từ nay đến 2010 và 2020 là một yêu cầu khách quan và cấp thiết Chính vì thế tôi
chọn đề tài: "Một số giải pháp để phát triển Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh đến
2010 và 2020" để làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ việc phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh của HMCPC, phân tích các mặt tồn tại từ đó đưa ra một số giải pháp để phát triển Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh đến năm 2010 và 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn này nghiên cứu các vấn đề liên quan đến sản xuất, kinh doanh của CTĐLHCM Các nội dung nghiên cứu, từ việc phân tích thực trạng, đánh giá các điểm mạnh và các tồn tại đều được đề cập trong phạm vi của CTĐLHCM Số liệu thu thập để phân tích được giới hạn từ khi CTĐLHCM được thành lập đến nay, tức là từ năm 1995 đến 2003
4 Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin đồng thời sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích thống kê, phân tích tình huống, tham khảo ý kiến của các chuyên gia và các nhà quản lý có kinh nghiệm để trình bày luận văn
5 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 60 trang, 12 bảng biểu, hình ảnh
Chương 1: Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của Công ty Điện lực
Tp.Hồ Chí Minh
Chương 2: Một số giải pháp phát triển Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh
Trang 5CHƯƠNG I
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA
CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP.HỒ CHÍ MINH
1.1 Giới thiệu tổng quát về công ty điện lực Tp.Hồ Chí Minh
- Công ty Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh (CTĐLHCM) là doanh nghiệp Nhà nước hạch toán kinh doanh độc lập, trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) CTĐLHCM được thành lập năm 1994, tiền thân là Sở điện lực Tp.Hồ Chí Minh
CTĐLHCM có chức năng chính là sản xuất và kinh doanh điện năng trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh, phương châm của công ty là "Chất lượng ngày càng cao, dịch vụ ngày càng hoàn hảo" Ngoài ra CTĐLHCM còn có các chức năng tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát các công trình điện trên phạm vi toàn quốc, sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các loại vật tư thiết bị điện
- Từ khi thành lập, công ty chỉ có hơn 500.000 khách hàng, đến giữa năm
2004 số khách hàng của công ty tăng lên 1,21 triệu Trong những năm qua, CTĐLHCM đã không ngừng đầu tư đổi mới nhiều mặt, từ cơ sở vật chất kỹ thuật đến nâng cao trình độ của người làm công tác kinh doanh - dịch vụ khách hàng, nhằm đáp ứng được nhu cầu điện năng của Tp.Hồ Chí Minh và tích cực phục vụ khách hàng ngày hơn Chính sách đổi mới kinh tế và tính năng động của Tp.Hồ Chí Minh đã làm tốt thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu dân cư không ngừng gia tăng đã làm cho khách hàng của CTĐLHCM gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng Nếu như năm 1995 sản lượng điện thương phẩm chỉ đạt 2,815 tỉ KWH thì đến cuối năm 2003 sản lượng điện thương phẩm đã tăng lên 8,363 tỉ KWH Trung bình mỗi năm số khách hàng tăng 10% và điện thương phẩm tăng 12,5%
- Hằng năm CTĐLHCM đã đầu tư trên 500 tỉ đồng để nâng cấp và mở rộng lưới điện Tp.Hồ Chí Minh Trong những năm qua, công ty đã tập trung thực hiện việc phủ kín lưới điện đến khắp các xã vùng sâu, vùng xa của thành phố và đã hoàn thành việc điện khí hoá nông thôn ngoại thành, Tp.Hồ Chí Minh Nhờ sự đầu
tư có hiệu quả, đến cuối năm 2003 khả năng tiếp nhận của lưới điện Tp.Hồ Chí Minh đã đạt 1700 MW và sản lượng điện nhận tối đa 28,78 triệu KWH mỗi ngày
Trang 6Sản lượng điện tiêu thụ bình quân đầu người đạt 1487 KWH/năm Song song với việc mở rộng lưới điện, nâng cao khả năng truyền tải và phân phối, CTĐLHCM còn đầu tư tự động hoá mạng lưới điện phân phối để tự động cô lập vùng bị sự cố, tự động chuyển tải nguồn để hạn chế vùng mất điện và giảm thời gian mất điện Tất cả điều đó làm nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, đáp ứng được yêu cầu chất lượng điện ngày càng cao cho các dây chuyền công nghiệp hiện đại CTĐLHCM đang mở rộng công nghệ GIS để xây dựng các trạm biến thế truyền tải trong trung tâm thành phố, giải quyết được khó khăn trong việc giải toả mặt bằng, chi phí đền bù đất cao Các tuyến dây 110KV dự kiến cũng sẽ đi ngầm dưới đất để tăng tính mỹ quan đô thị và độ tin cậy cung cấp điện
- Lực lượng lao động của CTĐLHCM đến cuối năm 2003 là 6394 người, trong đó lao động trực tiếp và công nhân kỹ thuật chiếm 73,6%, các cán bộ có trình độ đại học và sau đại học chiếm 18,1%, phần còn lại là các lực lượng chuyên môn khác Nguồn nhân lực của CTĐLHCM luôn được chú trọng đào tạo phát triển để đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh và phát triển của công ty Hằng năm công ty đều thực hiện đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nghiệp vụ, đào tạo tại chức, hội thảo, hội nghị kỹ thuật, tham quan, khảo sát học tập trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài nước Đối với cán bộ quản lý được công ty phối hợp với các trường Đại học, Viện, Trung tâm nghiên cứu để tổ chức các lớp học bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ quản lý, tài chính, ngoại ngữ Nhờ đó năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý được nâng lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành Đối với công nhân kỹ thuật và nhân viên kinh doanh hằng năm đều tổ chức cho ôn tập, bồi dưỡng qui phạm quản lý kỹ thuật, qui trình kinh doanh điện năng, sau đó tổ chức thi kiểm tra đạt yêu cầu mới cho tiếp tục công tác
- Bộ máy tổ chức của công ty gồm Giám đốc công ty, giúp việc cho giám đốc có 3 phó giám đốc, kế toán trưởng Công ty có 13 phòng chức năng, 1 trạm y tế, 15 điện lực khu vực, 3 xí nghiệp, 4 trung tâm, 1 ban quản lý dự án và nhà máy điện Các đơn vị trực thuộc công ty đều hạch toán phụ thuộc theo kế hoạch của công ty
Sơ đồ tổ chức của CTĐLHCM được trình bày trong phụ lục 1
- Quá trình sản xuất kinh doanh điện năng gồm 3 khâu chủ yếu có liên quan mật thiết với nhau Đó là khâu sản xuất điện, truyền tải điện (chuyển điện năng từ các nhà máy điện đến nơi tiêu thụ) và phân phối điện (nhận điện từ trạm truyền tải
Trang 7điện đến cung cấp cho các hộ sử dụng điện) Quá trình sản xuất kinh doanh điện năng có thể tóm tắt trong hình 1.4 sau đây:
Khâu sản xuất
điện Khâu truyền tải điện Khâu phân phối điện Hộ sử dụng điện
Các nhà máy
điện Các công ty truyền tải Các công ty điện lực Hộ tiêu dùng Hộ SXKD
Hình 1.4.1 Quá trình sản xuất kinh doanh điện năng
- Tại Việt Nam Tổng Công ty Điện lực Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý điều hành cả 3 khâu nói trên Từ trước 2000, chính phủ độc quyền và sở hữu kiểm soát cả 3 khâu, không có sự cạnh tranh và khách hàng không có sự chọn lựa người cung cấp Nhà nước can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng giá bán điện, thực hiện chính sách bù chéo giữa các mục đích và các đối tượng sử dụng điện khác nhau Từ năm 2000 trở về sau, từ khi có nghị quyết 23/NĐ/BCT của Bộ Chính trị, khâu sản xuất điện đã bắt đầu có các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đầu tư, nhưng hiện nay vẫn chiếm tỉ trọng sản lượng rất thấp (8%), các khâu truyền tải và phân phối điện vẫn do nhà nước độc quyền quản lý
- Các đơn vị trực thuộc CTĐLHCM hoạt động theo hình thức hạch toán phụ thuộc, hoạt động theo các mục tiêu và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật do công ty giao Toàn bộ doanh thu từ các đơn vị trực thuộc được nộp tập trung 100% về cho công
ty Công ty phân cấp cho các đơn vị thực hiện một số khâu cụ thể như: thực hiện chi phí sửa chữa nhỏ, đầu tư xây dựng các công trình dưới 5 tỉ; mua sắm vật tư; một số vấn đề trong khâu tổ chức nhân sự Việc phân cấp có mức độ sẽ là những nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động sản xuất kinh doanh trình bày ở phần sau
1.2 Những đặc điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện lực
(1) Sản phẩm chính của ngành điện lực có tính đặc thù:
Ngành điện lực kinh doanh sản phẩm chính chiếm hơn 95% doanh số đó là
“điện năng” Điện năng là loại sản phẩm có quá trình sản xuất và quá trình sử dụng xảy ra đồng thời và hầu như không thể dự trữ một cách trực tiếp được Sản
Trang 8phẩm điện năng có tính chất không thể thấy và không có Sản phẩm tồn kho Tuy vậy trong quá trình truyền tải và kinh doanh sản phẩm điện năng bị tổn hao Tổn thất điện năng trong quá trình quản lý kinh doanh là phần chi phí chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng chi phí
Tổn thất điện năng bao gồm hai phần đó là tổn thất kỹ thuật và tổn thất phi kỹ thuật (1) Tổn thất kỹ thuật là loại tổn thất xảy ra bởi các quá trình vật lý, tất yếu và nó phụ thuộc vào tình trạng dây dẫn và các thiết bị trên lưới điện Các loại dây dẫn có điện trở suất thấp, các loại thiết bị điện hiện đại được lắp trên lưới sẽ gây tổn thất kỹ thuật thấp (2) Tổn thất phi kỹ thuật hay còn gọi là tổn thất trong khâu kinh doanh xảy ra hoàn toàn do chủ quan của người làm công tác kinh doanh như điện kế hoạt động không chính xác, ghi chỉ số điện sai, người tiêu dùng ăn cắp điện… thông thường phần tổn thất kỹ thuật chiếm tỉ trọng cao hơn nhiều so với phần tổn thất phi kỹ thuật
Sản phẩm điện năng được giao đến nhà khách hàng không phải bằng phương tiện vận tải mà nó được giao đến nhà khách hàng bằng hệ thống lưới điện phân phối Đặc điểm này đã tạo nên nguồn gốc độc quyền của ngành điện trong thời gian qua
(2) Ngành điện là ngành có nguồn gốc độc quyền
Nguồn gốc độc quyền của ngành điện lực xuất phát từ các lý do sau đây:
- Công suất nguồn của hệ thống điện Việt Nam chiếm trên 60% là thủy điện Các nguồn năng lượng sơ cấp để xây dựng thủy điện là tài nguyên do nhà nước quản lý do đó trong thời gian qua các nhà máy thủy điện hầu hết do nhà nước đầu tư vốn và tổng công ty Điện lực Việt Nam quản lý Trong thời gian 5 năm gần đây các công ty 100% vốn nước ngoài, hoặc liên doanh đã đầu tư được 32 nhà máy điện loại nhỏ dưới phương thức BOT hoặc IPP, nhưng tổng công suất của 32 nhà máy này chỉ chiếm chưa đến 20% tổng công suất và sản lượng điện quốc gia
- Vì vấn đề an ninh hệ thống năng lượng quốc gia nên hầu hết các nước trên thế giới đều kiểm soát và quản lý hệ thống điện truyền tải (hệ thống lưới điện từ các nhà máy sản xuất điện dẫn đến các khu vực tiêu dùng)
- Trong khâu kinh doanh điện năng hiện nay tại Việt Nam khó có khả năng có đối thủ cạnh tranh để cùng bán sản phẩm điện năng cho cùng một khách hàng Với một khách hàng nhất định có nhu cầu điện năng tại một địa điểm nhất định thì chỉ có khả năng mua điện từ một công ty điện lực nhất định, vì khó có thể xây dựng
Trang 9được thêm một mạng lưới điện phân phối song song với mạng lưới điện hiện hữu để có thể diễn ra cạnh tranh trong kinh doanh
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh trong kinh doanh điện năng là xu thế của các quốc gia Tuy vậy hầu hết các nước nhà nước vẫn nắm giữ khâu truyền tải điện Các nhà kinh doanh điện năng phải thuê truyền tải điện năng từ các nhà máy về đến khu vực tiêu thụ điện Hiện nay Việt Nam chúng ta cũng đang nghiên cứu mô hình này
(3) Ngành điện chịu sự chi phối của chính phủ
Trong nền kinh tế thị trường cung và cầu sẽ xác định giá cả của sản phẩm Khác như thế hầu như ở mọi quốc gia, giá cả của sản phẩm điện năng do nhà nước chi phối Công ty điện lực thoả thuận ký một hợp đồng mua bán điện là chỉ thoả thuận sản lượng và phương thức cung cấp điện mà thôi, giá cả phải thực hiện theo biểu giá chính phủ qui định Việc chính phủ can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện nhằm hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế nói chung chứ không phải mục tiêu kinh tế của riêng ngành điện
Việc xác định vùng, địa phương để đầu tư đưa điện về cũng chịu sự quản lý của nhà nước, với mục tiêu phát triển đồng đều giữa các vùng, không theo lợi ích của cục bộ ngành điện
(4) Ngành điện hoạt động với trách nhiệm và đạo đức kinh doanh cao
Điều này thể hiện ở các điểm sau đây:
- Ngành điện rất quan tâm đến vấn đề an toàn điện trong xã hội, bên cạnh việc kinh doanh điện năng, ngành điện luôn tuyên truyền qui định sử dụng điện an toàn và hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn do điện giật ngoài nhân dân
- Không chỉ quan tâm nâng cao sản lượng điện bán được, ngành điện còn hướng dẫn khách hàng cách sử dụng điện sao cho tiết kiệm, hiệu quả cao
- Không chỉ quan tâm đến việc tối đa hoá lợi nhuận, ngành điện phải tìm đủ mọi cách để có đủ nguồn cung cấp cho mức nhu cầu của xã hội, đặc biệt là trong những thời kỳ nguồn điện khan hiếm Trong những tình huống cụ thể, công ty điện lực phải mua điện của các khách hàng có máy phát điện với giá cao để bán lại cho khách hàng theo giá qui định của chính phủ với giá thấp hơn Nếu chỉ chạy theo lợi nhuận hoặc lợi ích cục bộ thì cách giải quyết trên không phải là tối ưu
Trang 10- Khía cạnh đạo đức kinh doanh của ngành điện lực còn thể hiện trong qui trình kinh doanh điện năng: Một số khách hàng vi phạm hợp đồng mua bán điện ăn cắp điện, sau xử lý xong ngành điện không thể ngưng bán điện vô thời hạn
Những đặc điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện đã quyết định những chính sách kinh doanh của nội bộ ngành đồng thời là cơ sở để chính phủ có những qui định và tác động chi phối hoạt động của ngành điện để ngành điện là động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác trong xã hội
1.3 Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh tại công ty Điện lực thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua
1.3.1 Một số đặc điểm trong sản xuất kinh doanh của công ty Điện lực thành phố Hồ Chí Minh
13.1.1 Hệ thống các văn bản pháp lý chi phối hoạt động kinh doanh điện hiện nay của công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh
Văn bản pháp lý cho các hoạt động điện lực hiện nay là Nghị định 45/2001/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 02/08/2001 Nghị định này qui định về hoạt động điện lực và sử dụng điện trên lãnh thổ Việt Nam cho mọi tổ chức cá nhân trong và ngoài nước Đi kèm theo Nghị định này là 10 văn bản hướng dẫn, làm rõ nội dung của Nghị định 45 Các nội dung chính của nghị định này gồm:
- Qui định về việc lập và phê duyệt qui hoạch phát triển điện lực
- Qui định về điều kiện cho các đơn vị được phép đấu nối vào lưới điện quốc gia
- Qui định về điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các đơn vị hoạt động sản xuất và truyền tải điện
- Quy định về điều kiện ký hợp đồng dân sự, áp dụng cho việc mua bán điện với mục đích dân sự, hợp đồng kinh tế áp dụng cho việc mua bán điện với mục đích sản xuất kinh doanh Quyền và nghĩa vụ của các bên mua và bán điện
- Qui định về quyền và nghĩa vụ của cơ quan điều hành hệ thống điện quốc gia
- Qui định về tiêu chuẩn, chất lượng điện năng
- Qui định về việc cấp điện cho khu công nghiệp và cho khu vực nông thôn miền núi
- Qui định về việc đo đếm điện, về giá điện và thanh toán tiền điện
- Qui định về quản lý nhà nước về hoạt động điện lực và sử dụng điện
Trang 11Theo qui định tại Nghị định 45, chính phủ là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động điện lực Bộ công nghiệp là cơ quan giúp chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước bao gồm một số chức năng chính như sau:
- Ban hành các văn bản qui phạm pháp luật liên quan đến hoạt động điện lực
- Trình thủ tướng chính phủ quyết định ban hành biểu giá bán lẻ điện
- Cấp giấy phép hoạt động điện lực
- Thẩm định phê duyệt các dự án đầu tư các công trình điện
- Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động điện lực
Nghị định 45 không qui định rõ cơ quan nào thực hiện chức năng điều tiết điện lực Một số chức năng điều tiết hiện nay được đưa vào như là một phần chức năng quản lý nhà nước của Bộ công nghiệp và Chính phủ Bộ công nghiệp vừa đóng vai trò cơ quan quản lý nhà nước vừa là cơ quan điều tiết các hoạt động điện lực
Bộ công nghiệp không có quyền điều chỉnh giá bán điện mà chỉ là cấp thẩm định và trình chính phủ phê duyệt Nghị định 45 không nêu tên các nguyên tắc chung cho việc định giá điện Riêng giá bán điện của các nhà máy điện BOT hoặc IPP cho EVN thì do hai bên thoả thuận Chỉ trong trường hợp đặc biệt, khi hai bên không thoả thuận được thì phải kiến nghị lên chính phủ giải quyết
Bộ công nghiệp được giao nhiệm vụ lập qui hoạch tổng thể phát triển lưới điện quốc gia và cấp giấy phép hoạt động điện lực, cấp phép đầu tư theo phân cấp của chính phủ, chịu trách nhiệm thanh tra giải quyết các tranh chấp, khiếu nại tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động điện lực, qua đó đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia mua và bán điện
Nghị định 45 xác định việc cấp điện cho vùng nông thôn là nội dung thuộc chính sách xã hội của Đảng và nhà nước, nhằm làm cho các vùng trong lãnh thổ phát triển đồng đều
Nghị định 45 qui định quan hệ giữa các đơn vị điện lực là quan hệ mua bán, thể hiện cụ thể trong hợp đồng mua bán điện theo nguyên tắc bình đẳng, sòng
Trang 12phẳng, rõ ràng và cùng có lợi, đồng thời nó cũng qui định điều kiện đấu nối vào lưới điện quốc gia
1.3.1.2 Đặc điểm về thị trường, khách hàng của công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh
Công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh có chức năng kinh doanh điện năng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Như vậy HCM PC là người bán điện cho tất cả các khách hàng mua điện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trong những năm qua, nhờ chủ trương cải cách và đổi mới về quản lý kinh tế, các ngành kinh tế đều phát triển với tốc độ khá cao Chính vì thế, nhu cầu về điện năng liên tục tăng với tốc độ cao Năm 1995 khi mới thành lập CTĐLHCM, tổng sản lượng điện thương phẩm là 2.815 triệu KWH năm 2002 sản lượng điện đã tăng 2,8 lần đạt 7489 triệu KWH Trong ba năm 2000, 2001, 2002, sản lượng điện tiếp tục tăng với tốc độ trung bình là 14% /năm Riêng năm 2003 sản lượng điện thương phẩm tiếp tục tăng với tốc độ 14,5% sản lượng đạt 8480 triệu KWH
Hình 1.3.1 Sản lượng điện thương phẩm của công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1995 - 2003
Trang 13Tốc độ phát triển khách hàng bình quân tăng liên tục 10% đến 12% trong suốt giai đoạn từ 1995 đến 2003 Tổng số khách hàng mua điện của công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã tăng từ 500.000 năm 1995 đến trên 1,96 triệu năm
2003 Phân loại theo mục đích sử dụng điện, khách hàng mua điện của CTĐLHCM chia ra làm 05 loại chính là nông lâm nghiệp; công nghiệp; thương nghiệp, dịch vụ; sinh hoạt tiêu dùng và các hoạt động khác Trong đó tỉ trọng điện cho công nghiệp có giá trị cao nhất là 46,88%
Sinh hoạt 39,89%
N/Nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy Sản 0,16%
Dịch vụ, T/Nghiệp, K/Sạn
9,69% Khác
3,39%
Công nghiệp, xây dựng 46,88%
Hình 1.3.2 Tỉ trọng điện thương phẩm tương ứng với các thành phần phụ tải
Hộ công nghiệp trong giai đoạn 1995 - 2003 đạt tỉ lệ trung bình từ 41%, năm
2003 đã tăng lên 46,88%, điều này chứng tỏ các chính sách thúc đẩy công nghiệp phát triển của Đảng và Chính phủ đã phát huy tác dụng tốt Ba loại hộ tiêu thụ nông nghiệp, thương nghiệp dịch vụ và hoạt động khác chiếm tỉ lệ thấp trong tổng sản lượng điện thương phẩm của CTĐLHCM Tuy nhiên từ năm 1998 trở lại đây, một số khu công nghiệp đã tự đầu tư xây dựng nhà máy phát điện để cung cấp điện cho các doanh nghiệp trong hàng rào Ví dụ như các khu công nghiệp: Vedan, Tân Thuận làm ảnh hưởng đến tốc độ gia tăng phụ tải công nghiệp CTĐLHCM Nếu CTĐLHCM không chú trọng đến chất lượng điện năng, cung cách phục vụ, sự kịp thời đáp ứng nhu cầu phụ tải, thì trong những năm tới xu thế này sẽ phát triển và ảnh hưởng lớn đến doanh thu và lợi nhuận của CTĐLHCM Đây là một đặc điểm cần được quan tâm trong quá trình xây dựng định hướng phát triển của CTĐLHCM
Từ các phân tích trên, chúng ta có thể rút ra các đặc điểm của thị trường và khách hàng mua điện của CTĐLHCM như sau:
Trang 14- Hai loại hộ tiêu thụ điện chiếm tỉ lệ cao, tốc độ tăng trưởng nhanh tại thời điểm hiện tại và tương lai trong cơ cấu các khách hàng của CTĐLHCM là hộ tiêu dùng sinh hoạt và hộ công nghiệp Các đối thủ cạnh tranh đã xuất hiện trên thị trường và tập trung vào nhóm khách hàng có giá bán cao mang lại doanh thu và lợi nhuận cao Đó là các khách hàng công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Xét về vị trí địa lý thì ngoài các trung tâm phụ tải truyền thống, đã và đang hình thành thêm các trung tâm phụ tải mới ở các khu công nghiệp định vị tại các vùng ven như Quận 7, BìnhChánh, Hóc Môn, Củ Chi
1.3.2 Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh tại công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua
1.3.2.1 Về kế hoạch sản xuất kinh doanh :
Bối cảnh: Trong thời gian tới CTĐLHCM có nhiều thuận lợi, đồng thời đan
xen nhiều thách thức trong phát triển, cụ thể là:
(1) Những điều kiện thuận lợi: - Khoa học công nghệ thế giới có những bước nhảy vọt, nhiều thiết bị sản xuất, truyền tải và phân phối điện có công nghệ ngày càng cao ra đời Công nghệ thông tin phát triển mạnh làm cho việc điều hành hệ thống càng trở nên hiện đại hơn Nhiều mô hình quản lý ngành điện, việc đa dạng hoá đầu tư phát triển các công trình điện đã được nghiên cứu áp dụng trên thế giới, tạo tiền đề và kinh nghiệm trong việc cải tiến mô hình quản lý, nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh điện năng
- Nền kinh tế nước ta vẫn giữ mức tăng trưởng nhanh, sự phát triển của các ngành kinh tế tạo nhu cầu và thị trường lớn hơn cho ngành công nghiệp Điện cả qui mô và phạm vi thị trường
- Công cuộc đổi mới gắn liền với những cơ chế quản lý mới của nền kinh tế, mà trong đó các doanh nghiệp được trao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh Đồng thời thông qua cơ chế tài chính và những lần tăng giá điện trước đây đã tạo được nguồn nội lực của ngành điện nói chung và của công ty điện lực Tp.Hồ Chí Minh nói riêng, làm cho khả năng đầu tư được đảm bảo
(2) Những khó khăn thách thức:
- Sự thiếu đồng bộ trong khuôn khổ pháp lý: Luật điện lực làm cơ sở pháp lý nhất quán, tạo điều kiện cho các hoạt động của ngành và cho sự giám sát khách
Trang 15quan của Chính phủ đối với ngành Điện lực chậm được ban hành; nhiều văn bản pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đa dạng hoá, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư và quản lý ngành điện còn chậm được ban hành và sửa đổi cho phù hợp
- Xu hướng hình thành thị trường điện, tạo ra sự cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất và phân phối điện góp phần nâng cao hiệu quả chung, nhưng cũng đòi hỏi Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh phải có định hướng giải pháp mới để có thể giữ vững và phát triển thị trường, đáp ứng được nhu cầu điện năng cho xã hội
- Về nguy cơ tụt hậu: Tuy đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể sau hơn một thập kỷ đổi mới, nhưng ngành công nghiệp điện vẫn ở mức phát triển thấp Sự lạc hậu thể hiện rõ qua số lượng chất lượng, công nghệ mới thiếu đồng bộ và kể cả về
cơ chế quản lý
- Về vốn đầu tư phát triển và giá điện: Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ tải và khắc phục tình trạng lạc hậu hiện nay, mỗi năm CTĐLHCM cần nguồn vốn để đầu tư khoảng trên 850 tỉ đồng Để có vốn đầu tư cần phải huy động từ nhiều nguồn: Vốn tích luỹ từ lợi nhuận sau thuế, vốn vay từ các ngân hàng trong nước hoặc các tổ chức tài chính hoặc ngân hàng thế giới (WB); ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) khả năng huy động vốn này sẽ gặp khó khăn khi giá điện không tăng được theo lộ trình đặt ra vì lý do giá điện tác động nhạy cảm đến giá cả tất cả
các loại hàng hoá khác
Công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh là một đơn vị thành viên của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam , mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của CTĐLHCM đều bám chặt với kế hoạch phát triển dài hạn và trung hạn của EVN
Hằng năm vào đầu quí II, CTĐLHCM triển khai xây dựng kế hoạch năm sau cho công ty Việc này thực hiện bắt đầu từ việc các đơn vị trực thuộc công ty xây dựng kế hoạch cho đơn vị mình, sau đó công ty tổng hợp và hiệu chỉnh thành kế hoạch của CTĐLHCM Kế hoạch hàng năm của CTĐLHCM sẽ được Tổng Côngty Điện lực Việt Nam phê duyệt Sau đó theo phân cấp, giám đốc công ty sẽ phê duyệt giao kế hoạch hằng năm cho các đơn vị trực thuộc vào cuối quí 3 hằng năm
Việc giao kế hoạch hằng năm cho các đơn vị trực thuộc công ty bằng những chỉ tiêu rời rạc như sản lượng điện thương phẩm, giá bán bình quân, tổn thất, đơn
Trang 16giá chi phí nhưng lại chưa giao giá bán điện nội bộ hợp lý dẫn tới hệ quả là các đơn
vị trực thuộc công ty chưa nỗ lực để thực hiện chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận đây là một tồn tại cần được khắc phục
Nhìn chung công tác kế hoạch tại CTĐLHCM trong thời gian qua đã đạt được các thành quả sau đây:
- Hoạch định được kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng và phát triển hằng năm của toàn công ty theo định hướng qui hoạch chung được duyệt: từ năm 1995 công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh thành lập, chuyển đổi mô hình hoạt động từ hạch toán phụ thuộc sang hạch toán độc lập, đòi hỏi công tác lập và xây dựng kế hoạch phải đổi mới về cách thức và phương pháp tiếp cận Nếu như trước đây, khi còn là một đơn vị hạch toán phụ thuộc thì công tác kế hoạch chỉ chú trọng nhiều đến kế hoạch cung cấp điện là chủ yếu, mọi chi phí đều do cấp trên cấp phát, thì khi chuyển sang cơ chế hạch toán độc lập, ngoài kế hoạch cung cấp điện, hàng loạt chỉ tiêu kế hoạch cần phải được nghiên cứu và tính toán như kế hoạch giá thành, kế hoạch đầu tư xây dựng, kế hoạch lợi nhuận, phân tích và thẩm định hiệu quả đầu tư của dự án sao cho vừa phải đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu về cung ứng điện, vừa phải đảm bảo điều hành sản xuất kinh doanh có lợi nhuận để đảm bảo thu nhập cho cán bộ công nhân viên và tích luỹ nguồn vốn để tái đầu
tư mở rộng sản xuất kinh doanh
- Công tác kế hoạch trong lĩnh vực đầu tư xây dựng được thực hiện chủ động, nhờ đó hằng năm giải ngân được 500-600 tỉ đồng cho các công trình cải tạo và phát triển lưới điện từ các nguồn vốn khấu hao cơ bản, vốn vay, vốn phụ thu Nhờ đó trong giai đoạn 1995 - 2002 đã hoàn tất được hai dự án quan trọng: (1) dự án điện khí hoá nông thôn ngoại thành 575 tỉ đồng và (2) dự án cải tạo phát triển lưới điện phân phối dùng vốn vay ngân hàng thế giới 64 triệu USD Hai dự án lớn này đã giúp cho lưới điện Thành phố Hồ Chí Minh được phát triển, phủ kín lưới điện vùng ngoại thành, nâng cao khả năng mang tải
Trong việc theo dõi các dự án đạt chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra, công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã dùng các chương trình theo dõi, quản lý tiến độ các công ty như Microsoff project, chương trình quản lý đầu tư xây dựng nhờ đó từ khâu thiết lập danh mục công trình đến lập báo cáo đầu tư, quyết định đầu tư, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, đấu thầu, thi công, nghiệm thu đã được thực hiện đúng qui định của nhà nước và đạt được tiến độ tổng công ty giao
Trang 17- Đã thực hiện được các qui chế phân cấp trong công tác thực hiện kế hoạch, phân định được nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp, phát huy được tính chủ động ở các bộ phận trực thuộc CTĐLHCM Đến cuối năm 2003 CTĐLHCM đã phân cấp công việc điều hành trên các lĩnh vực: đầu tư xây dựng, kinh doanh kỹ thuật, kế hoạch, vật tư, tài chính kế toán, tổ chức nhân sự cho các đơn vị trực thuộc Kèm với các quyết định phân cấp này, công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành hàng loạt các qui trình, qui định, hướng dẫn thực hiện tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị hoạt động ổn định và đẩy nhanh tiến độ hoàn thành kế hoạch Các dịch vụ về điện cho khách hàng như giải quyết các yêu cầu lắp đặt điện kế mới xây dựng trạm biến thế cho khách hàng, giải quyết các yêu cầu tăng cường công suất, được thực hiện nhanh, gọn, giảm các thủ tục từ đó ngăn chặn được các hiện tượng tiêu cực ở nhân viên thừa hành, lấy lại uy tín ngành điện và niềm tin của khách hàng Ngoài ra công tác kế hoạch của công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh cũng còn một số tồn tại, chúng ta sẽ phân tích trong phần 1.4
1.3.2.2 Về công tác kinh doanh điện năng:
Công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh, doanh nghiệp nhà nước hoạt động với chức năng kinh doanh điện năng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với pưhơng châm "Chất lượng ngày càng cao, dịch vụ ngày càng hoàn hảo" trong những năm qua, công ty đã không ngừng đầu tư đổi mới nhiều mặt: từ cơ sở vật chất đến nâng cao trình độ của người làm công tác kinh doanh - dịch vụ khách hàng nhằm đáp ứng được yêu cầu của khách hàng ngày càng tốt hơn
Công ty không ngừng cải tiến đơn giản hoá các loại thủ tục trong khi giải quyết các yêu cầu dịch vụ khách hàng Đồng thời để mở rộng khách hàng CTĐLHCM đầu tư hằng năm đến trên 500 tỉ đồng để cải tạo, nâng cấp, phát triển lưới điện, phủ kín các vùng chưa có điện
Đồng thời sự tác động tốt của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu dân cư không ngừng gia tăng đã làm cho số khách hàng của công ty tăng về cả số lượng lẫn chất lượng, nếu như năm 1995 điện thương phẩm chỉ đạt 2815 triệu KWH thì đến năm 2002 đạt 7498 triệu KWH, năm
2003 đạt: 8363 triệu KWH
Trang 18Tính trung bình mỗi năm số khách hàng tăng khoảng 10% và điện thương phẩm tăng 11,54% Các biểu đồ ở hình 1.3.1 và hình 1.3.2 cho thấy sự phát triển của lượng khách hàng và điện thương phẩm trong giai đoạn 1995 đến 2003
SỐ LƯỢNG KHÁCH HÀNG
(Số khách hàng)
0
Hình 1.3.1 Số lượng khách hàng phát triển qua thời kỳ 1995 đến 2003
Trang 19(Tr.KWh) ĐIỆN THƯƠNG PHẨM
2,815 3,891
4,522 4,942
Hình 1.3.2 Sự phát triển của điện thương phẩm qua thời kỳ 1995 - 2003
Tổn thất điện năng là một thành phần chi phí chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng chi phí hằng năm Công tác giảm tổn thất điện năng là một công tác quan trọng xuyên suốt, liên tục trong nhiều năm qua với sự nỗ lực phấn đấu trong toàn công ty từ khâu quản lý kỹ thuật đến quản lý kinh doanh Công ty đã và đang tập trung đầu
tư, từ việc nâng cao khả năng truyền tải và phân phối điện, thực hiện đầu tư cải tạo lưới điện trong toàn hệ thống điện Thành phố Hồ Chí Minh, vận hành tối ưu hệ thống điện đén việc tăng cường các nghiệp vụ chống tổn thất trong kinh doanh như kiểm tra; kiểm chứng điện kế, chống lấy cắp điện, thực hiện tốt công tác đo hiệu suất từng khu vực hạ thế để xác định các khu vực có tổn thất cao để thực hiện các giải pháp nhằm giảm tổn thất
Trong 8 năm liên tục vừa qua, công ty đã phấn đấu giảm tỉ lệ tổn thất điện năng, trung bình mỗi năm giảm được 1%, từ một lưới điện có tổn thất gần 18%, đến nay tổn thất còn 8,91% (năm 2003) Dự kiến từ đây đến 2010 sẽ giảm tỉ lệ tổn thất còn lại dưới 7,5% Biểu đồ trong hình 1.3.3 cho thấy công tác giảm tổn thất điện năng từ 1995 – 2003
Trang 20TỈ LỆ TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
Năm
Hình 1.3.3 Biểu đồ biểu diễn giảm tổn thất giai đoạn 1995 – 2003
Bên cạnh việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng lưới điện để nâng cao khả năng mang tải của lưới điện, đáp ứng đủ nhu cầu và chất lượng cung cấp điện cho khách hàng, công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã chú trọng đến việc đầu tư để cải tiến công tác kinh doanh và dịch vụ khách hàng như: đơn giản hoá tối đa các thủ tục hành chánh, rút ngắn thời gian mắc điện, sửa chữa điện Đa dạng hoá các hình thức thu ngân, cải tiến nâng cao chất lượng các phương tiện hỗ trợ trong công tác kinh doanh điện năng tạo thuận lợi cho khách hàng, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng điện
Nổi bật trong công tác cải tiến quản lý kinh doanh là việc sử dụng công nghệ máy tính cầm tay trong công tác ghi chỉ số điện kế và lập hoá đơn tiền điện Công nghệ này không những tăng cường quản lý trong việc điều hành sản xuất kinh doanh của công ty, tăng năng suất lao động mà còn mang lại những lợi ích thiết thực cho khách hàng sử dụng điện: hạn chế sai sót trong ghi điện và trong nhập liệu giảm phiền hà đối với khách hàng Đồng thời máy tính cầm tay này có thể in giấy báo tiền điện ngay cho khách hàng ngay sau khi ghi điệp viên nhập chỉ số Việc in giấy báo tiền điện ngay sau khi ghi điện làm cho khách hàng biết trước được lượng điện năng tiêu thụ đã tiêu thụ trong tháng, tiền phải trả để chuẩn bị thanh toán theo lịch trình ghi điện và thu tiền của công ty
Ngoài ra trong giai đoạn 2000 đến 2003, CTĐLHCM còn đầu tư cải tiến công tác kinh doanh Hệ thống xếp hàng tự động QMS thu tại quầy để nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng; đa dạng hoá hình thức thu, giúp khách hàng được thuận lợi, nhanh chóng kịp thời trong thanh toán tiền điện dù khách hàng đang ở bất kỳ trên địa bàn thành phố
Trang 21Theo lộ trình tăng giá điện của nhà nước vào các năm: 1995, 1996, 1997,
1999 và năm 2002 giá bán điện bình quân của công ty gia tăng đều qua các năm, tốc độ tăng giá bán điện bình quân của công ty tăng nhanh hơn so với mức tăng giá của chính phủ do các thành phần phụ tải có giá điện cao như kinh doanh dịch vụ,
du lịch, thương nghiệp và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh hơn các thành phần khác Về mặt chủ quan yếu tố quan trọng làm nâng cao giá bán điện bình quân chính là việc thực hiện đúng các mức giá điện do nhà nước qui định cho từng đối tượng khách hàng sử dụng điện, khiến giá bán điện bình quân của công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh luôn ở mức cao nhất trong toàn tổng công
ty điện lực Việt Nam Ưu thế này dẫn đến lợi nhuận của CTĐLHCM hằng năm đứng hàng đầu trong các công ty phân phối của EVN
GIÁ BÁN ĐIỆN BÌNH QUÂN (Đ/KWH)
Đồng/KWH
Năm
Hình 1.3.4 Biểu đồ tăng trưởng giá bán điện bình quân của CTĐLHCM trong giai đoạn 1995 – 2003
1.3.2.3 Về công tác quản lý kỹ thuật và vận hành lưới
Từ năm 2000 đến nay , cùng với sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh, công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước tiến vượt bậc cả về chất lượng lẫn năng lực quản lý điều hành lưới điện Nhờ sự năng động trong việc huy động và sử dụng các nguồn vốn khác nhau như: Vốn tín dụng, vốn ngân sách cấp của tổng công ty, vốn tự huy động, vốn phụ thu tiền điện của thành phố, vốn khấu hao cơ bản để lại Công ty đã có điều kiện triển khai thi công hàng loạt các dự án cải tạo và phát triển lưới điện Thành phố Hồ Chí Minh với tổng mức đầu tư hằng năm bình quân từ 35 đến 40 triệu USD Xem bảng 1.3.5
Trang 22Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003Giá trị đầu tư xây
38 máy biến thế với tổng dung lượng lắp đặt là 1757MVA, tăng 16% so với năm
2002 và tăng gần 200% so với thời điểm năm 1997
Lưới điện phân phối trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 3029 km đường dây trung thế 15KV trong đó có 840 km cáp ngầm 15KV, 6652km lưới hạ thế và 16225 trạm biến áp phân phối với tổng dung lượng là 5073KVA
Với cơ sở vật chất nêu trên cùng với sự vận hành kinh tế lưới điện Thành phố Hồ Chí Minh có khả năng tiếp nhận và phân phối công suất đạt 1700MW, đáp ứng được điện nhận tối đa là 28 triệu KWH/ngày, sản lượng điện nhận lưới năm
2003 đạt 9.181 triệu KWH, tăng 10,07% so với năm 2002 và tăng 352% so với năm
1995 Công suất đỉnh cao nhất đạt 1506,3 MW, tăng 9,67% so với 2002 và tăng 415% so với 1995
Hình1.3.6 Biểu đồ phát triển lưới trung thế từ năm 1997 đến nay
Trang 23LƯỚI ĐIỆN TRUNG THẾ
Cáp ngầm (km) Dây nổi (km)
Hình 1.3.7 Biểu đồ phát triển lưới trung thế từ 1997 đến 2003
Đánh giá chung về công tác quản lý kỹ thuật và vận hành lưới điện đến cuối năm 2003 công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được các thành quả như sau:
- Từ năm 2002 đã chấm dứt được tình trạng quá tải các máy biến thế tại các trạm trung gian 110KV Từ tháng 06/2003, hệ thống điện áp 66KV đã được nâng cấp hoàn toàn lên 110KV làm tăng khả năng truyền tải cũng như đảm bảo chất lượng 110KV cung cấp cho lưới điện
- Từ cuối năm 2003, sau khi đóng điện nâng cấp từ điện áp 66KV lên 110KV cho đường dây xa lộ Bến Thành và tiến hành thử kết nối các mạch vòng đường dây 110KV liên kết các trạm 220KV Thủ Đức 3 x 250MVA Nhà Bè 2 x
250, Phú Lâm 2 x 250 MVA đã giải quyết cơ bản tình trạng vận hành quá tải cho đường dây 110KV Nhà Bè - Phú Định, đảm bảo tính an toàn, độ tin cậy của lưới điện 110KV cấp nguồn cho các trạm biến áp khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh như các trạm Hùng Vương, Bến Thành, Phú Định, Chánh Hưng, Phú Định Đồng thời tất cả hệ thống tự đóng lại trên các đường dây 110KV thuộc công ty quản lý cũng đã được đưa vào vận hành làm tăng mức độ vận hành ổn định cho lưới điện truyền tải 110KV khu vực TP.HCM
Trang 24- Thiết bị điện từng bước được công ty tiêu chuẩn hóa theo hướng hiện đại hợp lý: sử dụng công nghệ GIS cho các trạm trung gian 110KV khu vực nội thành ngày càng nhiều Chú trọng nhiều hơn và thực hiện tốt công tác đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, mỹ quan cho lưới điện trung hạ thế Các đường dây phân phối khu vực nội thành được cải tạo tăng cường tính mỹ quan phù hợp với đô thị hiện đại
- Liên tục trong các năm qua đã thực hiện tốt chỉ tiêu tổng công ty giao, đặc biệt là chỉ tiêu giảm tổn thất điện năng, chỉ tiêu suất sứ cố MBA hạ thế và suất sứ cố lưới điện hạ thế Độ tin cậy của lưới điện dần dần được nâng lên đáp ứng được nhu cầu của các khách hàng khi vận hành các qui trình công nghệ hiện đại
- Các qui trình, qui định phục vụ cho công tác quản lý vận hành được biên soạn, phát hành và áp dụng khá đầy đủ Đưa các tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng thống nhất trong toàn công ty Các đơn vị trực thuộc công ty đã chú trọng biên soạn và ban hành các qui định vận hành và sửa chữa cho từng hiệu, từng loại thiết bị điện, quy trình xử lý sự cố cho từng tuyến dây trung thế, hạ thế
- Công tác kiểm tra và xử lý các điểm bất thường, mất an tòan trên lưới điện dần dần được đưa vào nề nếp Quản lý được kết quả xử lý các tồn tại sau kiểm tra
ở các cấp quản lý Từng bước tạo ý thức trách nhiệm đến từng cặp công nhân quản lý lưới điện Chất lượng quản lý lưới điện ngày một nâng cao hơn
- Để phù hợp với tình hình lưới điện ngày càng phát triển và đáp ứng nhu cầu đòi hỏi đảm bảo cung ứng điện chất lượng ngày càng cao hơn, cũng như nâng cao tính chủ động, trách nhiệm trong công tác quản lý vận hành ở cơ sở, năm 2003 CTĐLHCM đã triển khai áp dụng mô hình thống nhất về công tác quản lý vận hành hệ thống điện trung, hạ áp của các điện lực Việc áp dụng mô hình thống nhất này tạo sự chuẩn hóa, tương thích trong quản lý và nhất là trong vận hành, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Ngoài ra trong khâu quản lý kỹ thuật và vận hành lưới điện của công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh cũng còn một số yếu điểm và tồn tại, chúng ta sẽ phân tích trong phần 1.4
1.3.2.4 Về công tác hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngành điện
Thực hiện tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo chủ trương của Đảng và chính phủ, công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư vốn để xây
Trang 25dựng và đang đưa vào ứng dụng một số giải pháp công nghệ nhằm hiện đại hóa sản xuất kinh doanh của công ty như sau:
- Áp dụng công nghệ GIS (gas Insulated Swithgear) cách điện bằng khí trong hệ thống truyền tải, các trạm cấp nguồn mới, công nghệ này đã được áp dụng thí điểm ở dự án xây dựng trạm truyền tải 220/110/15-22KV Nhà Bè và ngầm hóa lưới điện 220KV Nhà Bè – Tao Đàn Đây là công trình trạm và đường dây 220KV hiện đại nhất từ trước tới nay ở Việt Nam để đưa nguồn điện 220KV từ trạm biến áp Nhà Bè ở ngoại ô vào tận trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần giải quyết nhanh chóng quá tải và có dự phòng nguồn điện cung ứng cho khu vực trung tâm thành phố trong giai đoạn 2005 và năm 2010 Sự xuất hiện của trạm biến áp 220KV Tao Đàn nói trên là cơ sở để phân bố tối ưu lại cấu trúc lưới điện truyền tải khu vực Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời qua công tác quản lý dự án lực lượng kỹ sư, cán bộ kỹ thuật của công ty điện lực học tập và tích lũy kinh nghiệm để triển khai thực hiện GIS hóa các trạm 110KV khu vực nội thành
- Đã triển khai dự án NIMS/GIS (Network information system/ geography in formation system) dùng công nghệ thông tin địa lý để hỗ trợ cho công tác cập nhật, quản lý vận hành, quản lý kinh doanh và công tác thiết kế công trình điện
- Triển khai chương trình quản lý phía nhu cầu DSM (Demand side Management) để điều hòa đồ thị phụ tải của hệ thống điện thành phố, tạo sự cân bằng phụ tải giữa giờ cao điểm và giờ thấp điểm nhằm đạt mục tiêu cuối cùng là tiết kiệm chi phí đầu tư nguồn điện để huy động phát vào giờ cao điểm (chi phí đầu
tư 1MW là khoảng 1 triệu USD)
- CTĐLHCM đang triển khai thí điểm dự án CIS/MIS (Customer information system/Management information system) dùng công nghệ quản lý thông tin khách hàng để giúp giải quyết toàn diện các vấn đề trong quản lý kinh doanh điện năng
- Từ năm 1998 đến nay, CTĐLHCM đã thực hiện chương trình ngầm hóa lưới điện phân phối cho khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh công nghệ ngầm hóa này hạn chế đến mức thấp nhất khả năng sự cố và nâng cao chất lượng cung ứng điện năng cho hộ tiêu thụ, đồng thời thu gọn lưới điện ngoài trời làm tăng mỹ quan đô thị Ngầm hóa lưới điện đi song song với việc đầu tư trang bị hệ thống đào dẫn đường bằng Robot, hạn chế ô nhiễm môi trường, kẹt xe
Trang 26- CTĐLHCM đã và đang thực hiện chương trình kiện toàn hệ thống mạng kết nối tất cả các máy tính trong tòan công ty cụ thể là chương trình CMIS và FMIS Mục tiêu bước đầu của chương trình này là tăng cường khả năng cập nhật trao đổi, khai thác số liệu thông tin giữa các đơn vị trong công ty, tiến tới cải tiến, từng bước ứng dụng nâng cao hiệu quả trong công tác kinh doanh và cung ứng các dịch vụ cho khách hàng
1.3.2.5.Về công tác hợp tác quốc tế và xuất nhập khẩu
Với mục tiêu tiếp cận và nhập khẩu công nghệ mới trong những năm qua quan hệ hợp tác của công ty với các tổ chức tín dụng và các công ty nước ngoài đã phát triển khá tốt đẹp Công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư phát triển công nghệ tự động hóa quản lý mạng điện bằng công nghệ tiên tiến Để giải quyết vấn đề tìm kiếm nguồn vốn để tại trợ các dự án nói trên, công ty đã duy trì mối quan hệ hợp tác tốt với các tổ chức tín dụng quốc tế như sau:
- Chính phủ Thụy Điển (SIDA) tài trợ cho dự án SCADA giai đoạn 2 và khóa huấn luyện bổ sung về hệ thống SCADA do ABB thực hiện, tổng giá trị của dự án là 12 triệu USD hiện đã hoàn tất đưa vào vận hành
- Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ cho dự án trạm biến áp 220KV GIS Tao Đàn và đường dây truyền tải 220KV Nhà Bè- Tao Đàn, tổng giá trị 46 triệu USD
- Chính phủ Thụy Sĩ tài trợ cho dự án trạm biến áp 110KV GIS Sở Thú và dự án điều khiển phụ tải bằng sóng (Ripple Control)
- Chính phủ Bỉ tài trợ cho dự án trạm biến áp di động 25MVA giải quyết cho nhu cầu xử lý sự cố tái lập điện nhanh cho các khu vực trọng điểm
Thực hiện chủ trương của thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh trong việc xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh thành thành phố hiện đại, trong việc cải tạo và phát triển lưới điện thành phố không những phải chú ý đến việc nâng cao khả năng mang tải của lưới điện, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện còn phải chú trọng tiêu chuẩn mỹ quan Công ty đang áp dụng công nghệ GIS để xây dựng các trạm truyền tải trong trung tâm thành phố nơi gặp nhiều khó khăn trong việc giải tỏa và chi phí đền bù rất cao, các tuyến dây cần phải dùng công nghệ GIS để ngầm hóa thu hẹp được không gian chiếm chỗ, hạn chế khó khăn trong giải tỏa mặt bằng Để giải quyết cho việc cung ứng vốn cho các công trình, CTĐLHCM đang kêu gọi sự hợp
Trang 27tác đầu tư của các tổ chức tín dụng và các hãng nước ngoài để tài trợ cho các dự án truyền tải sau đây:
- Dự án trạm biến áp Tân Định 110/15KV, 2x63 MVA, tổng dự toán 3,86 triệu USD
- Dự án cáp ngầm 110KV Tao Đàn - Tân Định 2 x 1,8km tổng dự toán 2,4 triệu USD
- Dự án cáp ngầm 110KV Tao Đàn - Sở Thú 2 x 2,32km tổng dự toán 2,90 triệu USD
- Dự án cáp ngầm 110KV, Tao Đàn - Bến Thành 2,10km tổng dự toán 2,7 triệu USD
Trong năm 2002-2003, CTĐLHCM thực hiện đầu tư chiều sâu để phát triển lưới điện , đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố Công ty đã tổ chức được 21 đợt đấu thầu và chào hàng cạnh tranh quốc tế mua sắm vật tư thiết bị cho các công trình CTĐLHCM đã ký được 68 hợp đồng với các tập đoàn và các công ty lớn trên thế giới với tổng giá trị hợp đồng đạt được 40,8 triệu USD
BIỂU ĐỒ GIÁ TRỊ VẬT TƯ THIẾT BỊ NHẬP KHẨU
0102030 40 50 60
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Triệu USD
Năm
Hình 1.3.8 Biểu đồ giá trị vật tư thiết bị nhập khẩu
1.3.2.6 Về công tác đầu tư xây dựng
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và các giải pháp điều hành của chính phủ đặc biệt là của thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, nền kinh tế của thành phố luôn tăng trưởng phát triển với tốc độ khá cao với tốc độ tăng GDP
Trang 28bình quân trên 9% /năm Thực trạng cơ cấu kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng chuyển dịch đúng định hướng CNH-HĐH, tăng tỉ trọng công nghiệp, thương mại - dịch vụ trong GDP, giảm tương đối tỉ trọng nông nghiệp Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã được xác lập trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo trên nhiều lĩnh vực, chiếm ưu thế đóng góp vào GDP Với tình hình phát triển kinh tế thành phố đòi hỏi, ngành điện lực phải thực hiện việc đầu tư xây dựng phát triển nguồn và lưới điện nâng cao khả năng cung cấp điện cho thành phố để đáp ứng nhu cầu điện năng gia tăng Kinh nghiệm cho thấy tại nhiều nước trên thế giới, để GDP tăng 1% thì sản lượng điện phải tăng 1,5% Thực tế trong những năm qua công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh đã làm công tác đầu tư xây dựng khá tốt, đáp ứng được tốc độ gia tăng phụ tải từ 13 đến 15% /năm
Tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn 5 do thủ tướng phê duyệt (TSD-V) giai đoạn 2001-2010 có xét triển vọng đến năm 2020 đã đặt ra các mục tiêu chính cho CTĐLHCM phải hoàn thành trong đó:
(1) Nguồn trạm 500KV nâng cao nguồn cấp cho Thành phố Hồ Chí Minh: + Xây dựng trạm 500KV Nhà Bè, 2 x 600 MVA
+ Xây dựng mạch 2 đường dây 500KV Plâycu-Phú Lâm
+ Xây dựng đường dây 500Vk Phú Lâm - Nhà Bè
+ Xây dựng đường dây 500KV Nhà Bè + Phú Mỹ
+ Xây dựng đường dây 500KV Nhà Bè - Ô Môn
(2) Lưới điện 220KV: trong giai đoạn 2001 đến nay CTĐLHCM đã được Tổng Công ty Điện lực Việt Nam cho phép đầu tư các công trình đường dây và trạm 220KV đáp ứng kịp thời nhu cầu phụ tải tăng hằng năm từ 12 đến 15% như sau:
+ Cải tạo trạm 220KV Thủ Đức 220/66KV thành 2 x 175 MVA, điện áp 220/110KV
+ Xây dựng đường dây 220KV dài 3,5km đây nổi và 6km cáp ngầm Nhà Tao Đàn và trạm 220KV GIS Tao Đàn, công suất 2 x 250MVA
Bè-+ Xây dựng trạm 220KV Nam Sài Gòn, 3 x 250MVA nếu tính đến cuối 2005 thì tổng công suất trạm 220KV sẽ là 3475MVA, kết hợp với nguồn phát Thủ Đức và Hiệp Phước sẽ cân đối được phụ tải năm 2005 là gần 2390 MW và có dự phòng
Trang 29(3) Lưới điện 110KV: từ cuối năm 2000, CTĐLHCM đã bắt đầu công tác cải tạo lưới điện từ 66KV lên 110KV và xây dựng mới trạm 110KV nhằm cân bằng công suất và khai thác công suất các trạm 500KV
(4) Lưới điện phân phối: lưới điện phân phối là công cụ trực tiếp để CTĐLHCM kinh doanh điện năng, để đảm bảo khả năng mang tải và đáp ứng được nhu cầu phụ tải ngày càng tăng của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2000-
2004 CTĐLHCM đã đầu tư 1052 tỉ đồng để xây dựng lưới phân phối
Bảng 1.3.9 Vốn đầu tư xây dựng lưới phân phối 2000 – 2004 (tỷ đồng)
Thực trạng công tác đầu tư xây dựng của CTĐLHCM trong những năm qua có nhiều thuận lợi đồng thời cũng có nhiều thách thức cản ngại Thuận lợi là có định hướng phát triển cụ thể do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (sơ đồ V), được sự thường xuyên quan tâm, chỉ đạo của Tổng công ty Điện lực Việt Nam và Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Những thách thức lớn là nhu cầu vốn đầu tư hằng năm khá lớn đòi hỏi CTĐLHCM phải năng động, nhạy bén trong huy động vốn Ngoài ra các thủ tục đầu tư xây dựng, chính sách giải phóng mặt bằng còn nhiều khó khăn do cơ chế, chính sách chưa đồng bộ và chưa được sửa đổi kịp thời, nhu cầu về điện vẫn tiếp tục có những biến động với xu hướng tăng trưởng cao hơn dự báo; số lượng cán bộ công nhân viên trực tiếp thực hiện công tác đầu
tư xây dựng chưa đáp ứng được nhu cầu công tác
Trong những năm qua CTĐLHCM có nhiều cố gắng trong công tác đầu tư xây dựng lưới điện, trung bình mỗi năm đầu tư trên 500 tỉ đồng để xây dựng lưới truyền tải và lưới điện phân phối Số công trình đưa vào vận hành đúng tiến độ tăng nhiều và giảm số công trình chậm tiến độ Tổ chức tốt bộ máy làm công tác đền bù, phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong công tác đền bù, kịp thời tháo gỡ khó khăn để khắc phục tình trạng kéo dài một số dự án Nhờ đó thực hiện tốt các công trình chống quá tải lưới điện góp phần tích cực vào việc cung cấp điện kịp thời và cải thiện đáng kể chất lượng điện cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng khu vực trong Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 30Nhìn chung các công trình được đầu tư đáp ứng kịp thời và phù hợp với nhu cầu tăng trưởng phụ tải Việc huy động vốn để thực hiện công tác đầu tư xây dựng được thực hiện khá linh hoạt trong đó có các nguồn vốn đầu tư phát triển trích từ lợi nhuận sau thuế, vốn khấu hao cơ bản để lại, vốn vay các tổ chức tài chính quốc tế với lãi suất thấp (WB, ADB), vốn phụ thu tiền điện của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Công tác thanh quyết toán ngày càng tiến bộ, đáp ứng được tiến độ giải ngân hàng năm, nhờ đó CTĐLHCM ngày càng tạo được uy tín trên thị trường vốn
1.4 Phân tích các tồn tại trong sản xuất kinh doanh tại công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh
1.4.1 Các tồn tại từ phương thức tổ chức và phân cấp cho các đơn vị trực thuộc
Một là độc quyền ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế : xây dựng kinh tế thị
trường và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đồng thời để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong nước và ngoài nước vào phát triển ngành điện, chúng ta cần nghiêm túc xem xét vấn đề độc quyền trong sản xuất kinh doanh điện năng ở nước ta hiện nay
Như đã nói ở trên điện năng rất cần thiết và có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội và có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân Đó chính là lý do mà nhà nước ta trước đây thực hiện chính sách độc quyền quản lý và kinh doanh điện năng hay nói cách khác thị trường điện năng là thị trường độc quyền Cơ chế độc quyền đã mang lại thuận lợi cho công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh , song nó đã tạo ra những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh Trong cơ chế độc quyền một người bán đã tạo cho nhà kinh doanh mất đi tư duy sáng tạo, tìm kiếm thị trường , cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm dẫn tới hiệu quả kinh doanh thấp Đặc biệt là các vấn đề liên quan đến dịch vụ, chất lượng các dịch vụ cấp cho khách hàng chưa được chú trọng nâng cao do thị trường thiếu sự cạnh tranh Mô hình tổ chức của ngành điện trước đây dựa trên quan niệm điện lực là một ngành kinh tế có tính chất độc quyền tự nhiên Trong những phân tích ngày nay cho thấy ở từng công đoạn từ sản xuất, truyền tải đến phân phối thì tính độc quyền này thể hiện hoàn tòan khác nhau Về phương diện kỹ thuật thì hai khâu truyền tải và phân phối mang rõ nét của tính chất độc quyền tự nhiên Về mặt thương mại, có thể tạo ra môi trường cạnh tranh ở khâu phân phối, bán điện khi chuyển nhượng quyền tổ chức phân
Trang 31phối, bán điện trên một vùng lãnh thổ cho một công ty, một tổ chức hoặc cá nhân theo các tiêu chuẩn cạnh tranh về giá cả và chất lượng phục vụ Chính vì thế người
ta đưa ra mô hình tổ chức ngành điện trong đó khâu sản xuất điện được tách khỏi các khâu truyền tải và phân phối bằng cách cho phép nhiều công ty sản xuất độc lập tham gia xây dựng nhà máy điện, tham gia vào quá trình cung ứng điện năng
Ở khâu phân phối và bán điện, cạnh tranh thương mại cũng được hình thành bằng cách chuyển nhượng hoặc cho phép các công ty phân phối tư nhân tham gia phân phối điện năng ở từng vùng nhất định (tỉnh, quận, huyện) Riêng khâu truyền tải điện để đảm bảo an ninh năng lượng, nhà nước vẫn giữ độc quyền Nhìn chung trên thế giới quá trình cải cách ngành điện có điểm chung là tìm cách bãi bỏ cơ chế độc quyền của các công ty điện lực quốc gia và tạo môi trường khuyến khích thành phần kinh tế tư bản tư nhân tham gia vào quá trình phát triển Ngành điện lực có xu hướng áp dụng cạnh tranh vào lĩnh vực phát điện và lĩnh vực phân phối điện để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Tuy nhiên tại nước ta việc chuyển đổi phải tính đến các yếu tố định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến hành thận trọng với một lộ trình thích hợp để tránh các ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển các ngành kinh tế và đời sống nhân dân
Hai là, CTĐLHCM chưa có cơ chế phù hợp để khuyến khích tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí, nâng cao lợi nhuận:
Bất kỳ doanh nghiệp nào thì các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận luôn là các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp đó Đối với công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh doanh thu có xu hướng tăng lên vì sản lượng điện thương phẩm cung cấp cho nền kinh tế và xã hội ngày càng tăng, bình quân 15%/năm Đồng thời giá điện cũng luôn tăng lên qua các thời kỳ từ trước đến nay Vấn đề đặt ra đối với hoạt động kinh doanh của công ty là phải điều hành thế nào để vừa tăng được giá bán bình quân, vừa thực hiện được giá điện hợp lý ở khu vực nông thôn, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước Về chi phí thì công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh cần phải có cơ chế phù hợp về giá bán điện nội bộ giữa công ty và các đơn vị điện lực khu vực trực thuộc Công ty chưa giao chỉ tiêu lợi nhuận một cách thực tế cho các đơn vị trực thuộc nên chưa khuyến khích các đơn vị trực thuộc giảm chi phí và giảm tổn thất điện năng Công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh cũng chưa có cơ chế phù hợp để khuyến khích các điện lực khu vực nâng cao lợi nhuận
Trang 32Hiện nay công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh chưa giao giá bán điện nội bộ cách chính xác cho các điện lực khu vực, tuy bước đầu có giao các chỉ tiêu như sản lượng điện thương phẩm, doanh thu, tổn thất điện năng và chi phí sản xuất nhưng chưa có cơ chế thưởng thích đáng đối với các đơn vị vượt chỉ tiêu, điều này dẫn đến sự đối phó với công ty trong vấn đề thực hiện chỉ tiêu vì nếu năm nay càng làm tốt càng vượt chỉ tiêu thì kế hoạch năm sau được giao càng cao hơn và thực hiện đạt chỉ tiêu càng khó khăn hơn
Mặt khác hiện nay với cơ chế giá bán điện của chính phủ được xây dựng để phục vụ cho việc bù giá chéo giữa các mục đích sử dụng khác nhau, để tạo sự phát triển đồng đều giữa các ngành và giữa các vùng Để công ty Điện lực thực sự chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh thì chính phủ phải tạo cơ chế để tách bạch phần làm nhiệm vụ công ích cho xã hội ra khỏi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Quy trình xác định giá bán điện nội bộ còn nhiều bất cập, chưa hợp lý nên chưa đánh giá chính xác được hiệu quả sản xuất kinh doanh của các điện lực khu vực nói riêng và công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh nói chung, chưa tạo ra được động lực thật sự cho các điện lực khu vực phấn đấu tăng lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình
Ba là, CTĐLHCM chưa khuyến khích các đơn vị trực thuộc tăng năng suất lao động:
Cũng xuất phát từ cơ chế phân cấp chưa triệt để, các đơn vị trực thuộc công
ty chưa chú ý đến việc nâng cao năng suất lao động Quỹ tiền lương được công ty tính ngược xuất phát từ số lao động hiện có ở từng đơn vị với một mức lương bình quân gần như nhau Chính vì cách tính toán này các đơn vị điện lực khu vực không chú trọng tinh gọn bộ máy lao động và nâng cao chất lượng CB/CNV điều này dẫn đến hậu quả chưa khuyến khích các đơn vị nâng cao năng suất lao động
1.4.2 Các tồn tại trong công tác kế hoạch:
Để thực hiện lập kế hoạch tốt, phải có dự báo tình hình thị trường, tình hình phụ tải cho năm kế hoạch thật chính xác Bên cạnh những kết quả đã đạt được , công tác kế hoạch trong công ty vẫn còn một số tồn tại như sau:
- Công tác dự báo phụ tải điện, CTĐLHCM chủ yếu mới dự báo bằng phương pháp dự báo trực tiếp, căn cứ vào số thực hiện của kỳ trước liền kề, sau đó kiểm nghiệm lại bằng phương pháp chuyên gia và kinh nghiệm Chưa dùng phương
Trang 33pháp dự báo hiện đại khác để tổng hợp và kiểm nghiệm Vấn đề này dẫn đến việc dự báo phát triển phụ tải trên địa bàn chưa bảo đảm mức độ tin cậy cao dẫn đến việc xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch chưa sát với tình hình nhu cầu phát triển thực tế tại địa phương Hệ quả là có một số khu vực bị quá tải cục bộ gây sự cố thiết bị và đường dây làm ảnh hưởng đến quá trình cung cấp điện
- Các chỉ tiêu kế hoạch CTĐLHCM giao cho các đơn vị trực thuộc chưa có sự gắn kết chặt chẽ, chưa chú ý đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận dẫn đến khó khăn lúng túng cho các đơn vị trong khi triển khai thực hiện
Các chỉ tiêu kế hoạch hiện nay của côngty do phòng kế hoạch tổng hợp và giao cho các đơn vị trên cơ sở tổng hợp từ các chỉ tiêu do các phòng chắc năng lập: như phòng kinh doanh lập chỉ tiêu giá bán bình quân, chỉ tiêu tổn thất; phòng kỹ thuật lập chỉ tiêu về suất sự cố, phòng lao động tiền lương lập chỉ tiêu về đơn giá tiền lương; phòng kỹ thuật an toàn và bảo hộ lao động lập kế hoạch bảo hộ lao động hằng năm Một số chỉ tiêu khi cần điều chỉnh, các phòng chức năng trình ban hành vào nhiều thời điểm khác nhau trong năm, trong khi đó tổng công ty chỉ cho phép công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh điều chỉnh kế hoạch một lần vào tháng 9 hằng năm, điều này gây khó khăn cho các đơn vị trực thuộc trong khi triển khai thực hiện Bên cạnh đó chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh hiện nay công ty chưa giao cho các đơn vị đầy đủ và triệt để, nên chưa khuyến khích các đơn vị quan tâm đúng mức đến hiệu quả cuối cùng là lợi nhuận
- Các đơn vị thuộc công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh chưa quan tâm đúng mức đến vị trí và vai trò của công tác kế hoạch trong việc tổ chức điều hành sản xuất hoạt động kinh doanh tại đơn vị mình, việc lập kế hoạch còn sơ sài, chiếu lệ Việc phân cấp rộng rãi cho các đơn vị chỉ mới thực hiện triển khai trong vài năm trở lại đây nên nhìn chung còn khá mới mẻ với các đơnvị trực thuộc Ngoài ra lực lượng chuyên trách về công tác kế hoạch còn thiếu về lượng và chất, kiêm nhiệm từ phòng kỹ thuật nên chưa có nhiều kinh nghiệm trong dự báo và hoạch định kế hoạch Công tác kế hoạch tại các đơn vị chủ yếu chủ động ở khâu lập kế hoạch ngắn hạn (1 năm), trong việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh thường không bám sát vào qui hoạch phát triển của ngành và vùng lãnh thổ đã được phê duyệt, việc lập kế hoạch còn nặng theo cảm tính chủ quan, chưa phản ảnh được đầy đủ nhu cầu điện năng để phát triển kinh tế xã hội của địa phương, dẫn đến việc phải điều chỉnh hoặc bổ sung kế hoạch nhiều lần trong năm Vấn đề dự báo
Trang 34tình hình phụ tải chưa chuẩn xác, hệ quả là việc đầu tư cho lưới điện chưa phát huy hết hiệu quả như mong muốn
Việc đánh giá thực trạng chưa chính xác dẫn đến việc xây dựng kế hoạch còn chung chung, biện pháp tổ chức còn dàn trải chưa có trọng tâm trọng điểm, chưa phù hợp với thực tế Tại các đơn vị cơ sở việc lập kế hoạch chỉ chú trọng đến giải pháp kỹ thuật để cung cấp điện mà chưa quan tâm nhiều đến hiệu quả sản xuất kinh doanh , nhất là chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận
- Công tác thống kê và tổng hợp số liệu để phục vụ cho công tác dự báo còn rời rạc, chưa đồng bộ từ công ty đến đơn vị cơ sở, điều này dẫn tới nguồn dữ liệu trong quá khứ thiếu độ tin cậy, chưa chính xác và đầy đủ lại các đơn vị chưa có bộ phận chuyên trách để cập nhật và tổng hợp số liệu mà việc theo dõi được thực hiện
ở nhiều phòng chức năng khác nhau tại đơn vị Điều này dẫn đến việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh tại các đơn vị gặp khó khăn trong kỳ trước và thiếu
cơ sở để dự báo và xây dựng kế hoạch cho kỳ kế hoạch
- Công tác lập kế hoạch đầu tư xây dựng chưa phối hợp tốt giữa điện lực và các đơn vị tư vấn, ban quản lý dự án: tuy trong những năm gần đây, tiến độ hòan thành các dự án được đẩy nhanh, khối lượng hoàn thành các công trình đều đạt 90% trở lên so với kế hoạch đề ra, nhưng nhìn chung vẫn còn một số tồn tại gây ảnh hưởng đến tiến độ dự án:
y Trong giai đoạn lập báo cáo nghiên cứu khả thi, các điện lực khu vực chưa nắm rõ nhu cầu sử dụng điện, định hướng phát triển kinh tế xã hội của khu vực do đó khi thực hiện dự án gặp khó khăn trong việc giải tỏa đền bù mặt bằng, kéo dài thời gian thực hiện
y Các dự án chỉ chú trọng về mặt kỹ thuật vận hành, thiếu thẩm định hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Điều này chưa phát huy được tiêu chí quan trọng của bất kỳ doanh nghiệp nào là chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận
y Sự phối hợp giữa các điện lực khu vực và ban quản lý dự án chưa nhịp nhàng, ban quản lý dự án chưa tích cực đôn đốc tư vấn thiết kế hay đơn vị thi công thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký Các qui định về giám sát công trình chưa thực hiện đúng qui định hiện hành của chính phủ
y Chưa thực hiện đầy đủ công tác giám định đầu tư do đó chưa thực hiện tốt việc giám định việc thực hiện khâu chi phí trong đầu tư, mức độ hiệu quả trong kỹ
Trang 35thuật vận hành, mức độ phát huy hiệu quả của dự án nhất là việc giám định trình tự đầu tư theo nghị định 52 CP của chính phủ
1.4.3 Các tồn tại trong khâu quản lý kỹ thuật và vận hành lưới điện
Trong những năm qua, công tác quản lý kỹ thuật và vận hành được chấn chỉnh và nâng cao chất lượng toàn diện, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện Tuy nhiên trong lĩnh vực này vẫn còn một số tồn tại sau đây:
- Do vấn đề thiết lập kế hoạch chưa chuẩn xác như nói ở phần 1.4.2, tình trạng vận hành ở mức đầy tải máy biến thế tại một số trạm trung gian, đường dây 110KV chưa được giải quyết triệt để, lưới điện vận hành trong điều kiện thiếu công suất dự phòng để hỗ trợ nhau trong tình trạng lưới điện bị sự cố hoặc nhu cầu chuyển nguồn khi cắt điện để phục vụ công tác sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng thiết
bị điện Mặt khác, mức độ liên kết, dự phòng trên các tuyến dây trung kế chưa mạnh, chưa thể đáp ứng nhu cầu chuyển tải trong các trường hợp sự cố đường dây, máy biến thế của lưới truyền tải
- Chất lượng điện áp lưới truyền tải đưa về các trạm trung gian chưa ổn định làm cho điện áp lưới phân phối không ổn định Đây chính là một trong những lý do
cơ bản gây ra tình trạng điện áp yếu cho người sử dụng điện nhất là các vùng xa như Củ Chi, Phú Hòa Đông
- Tình trạng mất điện do sự cố lưới điện phân phối trong những năm vừa qua
xu hướng có giảm Bảng 1.4.3 sau đây biểu thị biểu đồ thống kê tình hình sự cố lưới điện từ năm 1995 đến 2003 Bình quân 20% năm, tuy nhiên số vụ sự cố do chủ quan có xu hướng tăng Sự cố máy biến áp do quá tải vẫn còn xảy ra phổ biến
Tuy số vụ sự cố có giảm năm sau so với năm trước, tuy nhiên tổng số vụ sự cố trong năm vẫn còn cao so với các nước trong khu vực Vấn đề cắt điện đột xuất hoặc cắt điện có báo trước để phục vụ yêu cầu an toàn cho công tác bảo trì, đại tu cải tạo lưới điện trong những năm vừa qua có xu hướng gia tăng Năm 2003 số vụ cắt điện đột xuất tăng 41,16% so với năm 2002 gây thiếu hụt nhiều cho sản lượng điện bán được của công ty và thiệt hại cho sản xuất của khách hàng
- Trong khâu quản lý kỹ thuật, các đơn vị trong công ty chưa chú trọng công tác điều tra phân tích nguyên nhân sự cố, xác định chính xác các nguyên nhân sự cố hoặc tiến hành tổ chức kiểm điểm quy trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, tổ,