311 Một số giải pháp phát triển thị trường vận tải dầu thô của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI DẦU THÔ 5
1.1- THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI DẦU THÔ 5
1.1.1- Tình hình thị trường vận tải thế giới 5
1.1.2- Tình hình thị trường vận tải Việt Nam 7
1.2- THỊ TRƯỜNG PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI CHUYÊN DÙNG 8
1.3- THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ THẾ GIỚI VÀ CHÂU Á 12
1.3.1- Thị trường dầu thô giai đoạn 1996 – 1997 12
1.3.2- Thị trường giai đoạn 1998 đến nay 14
1.4 - TẦM QUAN TRỌNG, LỢI ÍCH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NGÀNH VẬN TẢI VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ VẬN TẢI DẦU KHÍ NÓI RIÊNG KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ Ở NƯỚC TA THỜI GIAN QUA 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI DẦU THÔ CỦA TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM (PETROVIETNAM) 24
2.1- GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM 24
2.2.1 Chức năng nhiệm vụ 24
2.2.2- Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam 25
2.2- TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU DẦU THÔ VÀ THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI DẦU KHÍ CỦA VIỆT NAM 29
2.2.1 Sản lượng dầu thô xuất khẩu và dự kiến nhu cầu vận chuyển dầu thô 29
2.2.2 Một số tập đoàn có tàu chở dầu thô khu vực Châu Á là khách hàng mua dầu tại Việt Nam 30
2.2.3 Đội tàu viễn dương vận tải xăng dầu hiện nay ở Việt Nam 31
2.2.4 Đội tàu chở dầu thô của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam 31
2.3- YÊU CẦU KỸ THUẬT TÀU VẬN TẢI DẦU THÔ 32
2.3.1- Yêu cầu về chủng loại tàu 32
2.3.2- Yêu cầu về kích cỡ tàu 32
2.3.3- Yêu cầu về tuổi tàu 33
2.3.4- Yêu cầu đối với việc mua tàu dầu 33
2.3.5- Vấn đề an toàn môi trường 34
2.4 – ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VẬN TẢI DẦU THÔ, CƠ HỘI PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH, NHỮNG THÁCH THỨC CẦN KHẮC PHỤC 34
2.4.1 Hiệu quả của vận tải dầu thô 34
2.4.2 Những thách thức cần khắc phục 35
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI DẦU THÔ CỦA TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM 37
Trang 23.1 - NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN KHÁCH QUAN CỦA THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI DẦU THÔ ĐỐI VỚI
TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM: 37
3.1.1- Những thuận lợi 37
a.Thuận lợi từ trong nước 37
b Thuận lợi từ bên ngoài: 38
3.1.2- Những khó khăn khách quan: 38
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI DẦU THÔ CỦA TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM 39
3.2.1 Một số phương pháp phân tích để thiết lập các giải pháp phát triển thị trường vận tải dầu thô (5) 39
3.2.1.1 :Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE) của Petro Vietnam 40
3.2.1.2 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE) của Petro Vietnam 41
3.2.1.3: Ma trận hình ảnh cạnh tranh 42
3.2.1.4 Ma trận SWOT và chiến lược cạnh tranh của PETRO VIETNAM 43
3.2.1.5 Ma trận QSPM – NHÓM S/O 44
3.2.1.6 Ma trận QSPM – NHÓM S/T 46
3.2.1.7 Ma trận QSPM - Nhóm W/T 48
3.2.2 Một số giải pháp ở tầm vĩ mô: 49
3.2.3 Một số giải pháp ở tầm vi mô: 50
3.3 - CÁC BIỆN PHÁP AN TOÀN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG: 57
3.3.1- Những yếu tố ảnh hưởng đến môi trường: 57
3.3.2- Các giải pháp bảo vệ môi trường: 58
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 59
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để từng bước triển khai thực hiện những nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng đã được khẳng định tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) đã và đang hoàn thiện mô hình tổ chức cho phù hợp với tiến trình đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước, từng bước mở rộng hoạt động dầu khí ra các nước trong khu vực và trên thế giới
Theo chiến lược phát triển ngành dầu khí từ nay đến năm 2005 và 2010, cùng với nhiệm vụ gia tăng trữ lượng, tăng sản lượng khai thác dầu khí và mở rộng hoạt động dầu khí ra nước ngoài, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam còn mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh từ khâu tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí đến vận chuyển, tàng trữ, chế biến, phân phối sản phẩm dầu khí và các dịch vụ kỹ thuật cao trong công nghiệp dầu khí nói riêng cũng như trong nền kinh tế quốc dân nói chung
Từ cuối năm 1986, những thùng dầu thô Việt Nam đầu tiên đã được khai thác tại
mỏ Bạch Hổ và xuất khẩu Từ đó đến nay, sản lượng khai thác ở các mỏ dầu ngày càng gia tăng, kim ngạch xuất khẩu dầu thô đã nhanh chóng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Hiện nay Việt Nam chưa có nhà máy lọc dầu nên toàn bộ dầu thô khai thác đều được xuất khẩu Tuy nhiên từ khi chúng ta tham gia vào thị trường xuất khẩu dầu thô cho đến nay, hầu hết số lượng dầu khai thác đều được bán theo điều kiện FOB, có rất ít hợp đồng bán theo điều kiện CFR - một loại hình thương trường mà các nước đều mong muốn nhằm nâng cao giá trị thương mại của sản phẩm xuất khẩu - do ngành vận tải biển Việt Nam chưa thể đảm nhận việc chuyên chở dầu thô
Mặc dù đã có những bước phát triển đáng kể về số lượng, cỡ tàu và vùng hoạt động nhưng ngành Vận tải biển Việt Nam chỉ đáp ứng phần nào yêu cầu vận chuyển của các ngành xuất nhập khẩu hàng hoá thông thường, còn riêng đối với vận tải dầu thô xuất khẩu bằng những tàu dầu cỡ lớn (trọng tải 90.000 đến 110.000 DWT trở lên) cùng với kỹ thuật điều hành quản lý cao thì cho đến nay tuy đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa thể hình thành và phát triển, do vậy hầu như toàn bộ lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam đều do các tàu nước ngoài vận chuyển Năm 1992, Chính phủ đã có văn bản chỉ thị về việc phát triển đội tàu vận tải dầu thô Việt Nam để từng bước đảm nhận vận chuyển 30% lượng dầu thô xuất khẩu Hàng năm lượng dầu thô cần vận chuyển rất lớn, nhưng thực tế trong nước chỉ đảm đương được 1% khối lượng xuất khẩu, điều này không những làm lãng phí một nguồn ngoại tệ rất lớn mà còn hạn chế sự phát triển của đội tàu vận tải dầu thô cũng như của đội tàu quốc gia nói chung
Trang 4Mặt khác trong thời gian tới hai Nhà máy lọc dầu với quy mô lớn sẽ được xây dựng
và đi vào hoạt động đưa đến một thực tế khách quan là không thể để việc chuyên chở dầu thô cung cấp cho hai nhà máy này bị phụ thuộc vào các tàu vận tải nước ngoài Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề bảo đảm tính độc lập, an toàn vận hành cho các cơ sở lọc hoá dầu của đất nước Ngoài việc tất yếu phải có đội tàu riêng đảm bảo nhu cầu sản xuất của nhà máy, việc vận tải dầu thô còn mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn, vì vậy để phục vụ lợi ích lâu dài của toàn ngành Dầu khí Việt Nam cần có chiến lược đầu tư thành lập và phát triển đội tàu vận tải dầu thô của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu của đề tài này là nhu cầu bức thiết trong việc đầu tư phát triển đội tàu dầu thô Việt Nam và chiến lược phát triển của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam trên con đường trở thành một tập đoàn dầu khí vững mạnh và đa dạng trên trường quốc tế.Vì vậy tác giả chọn vấn đề nghiên cứu “MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI DẦU THÔ CỦA TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM” làm
đề tài Luận văn Thạc sỹ Kinh tế của mình
2 Mục đích của đề tài:
Đề tài nhằm đưa ra một số giải pháp phát triển thị trường vận tải dầu thô của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam nhằm phát triển thi trường vận tải dầu thô mà từ trước tới nay tại Việt Nam thị trường này hầu như còn bỏ ngỏ
3 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài giới hạn việc nghiên cứu trong lĩnh vực vận tải dầu thô thuộc ngành dầu khí Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện bằng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phương pháp thống kê định lượng, logic kết hợp với lịch sử, trừu tượng hóa khoa học trong nghiên cứu
và tính toán từ các số liệu báo cáo về thị trường vận tải dầu thô khu vực và trên thế giới
Hạn chế của đề tài: Đề tài mới chí thiên về hướng mở rộng thị trường theo chiều
rộng mà chưa quan tâm đến chiều sâu, do đặc điểm của ngành vận tải dầu thô của Việt Nam còn mới mẻ, những nghiên cứu tiếp theo sẽ đi theo chiều sâu để tăng sự khác biệt hóa của dịch vụ vận tải
5 Kết cấu Luận văn: ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục, nội dung Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về tình hình thị trường vận tải dầu thô
- Chương 2: Thực trạng thị trường vận tải dầu thô của Tổng Công ty Dầu khí Việt
Nam
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường vận tải dầu thô của
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Trang 5CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG
VẬN TẢI DẦU THÔ 1.1- THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI DẦU THÔ
1.1.1- Tình hình thị trường vận tải thế giới
Thị trường vận tải hiện nay là thị trường rất cạnh tranh với sự tham gia của rất nhiều công ty vận tải Tuy nhiên trong lĩnh vực vận tải nói chung cũng như trong lĩnh vực vận tải dầu thô nói riêng, các công ty vận tải lớn hầu hết tập trung tại Bắc Âu, Mỹ và Nhật Bản
Thị trường vận tải dầu thô luôn gắn liền với thị trường buôn bán dầu thô thế giới, do vậy đây cũng là thị trường đặc biệt nhạy cảm đối với các biến động về chính trị, kinh tế của thế giới Ngoài ra việc vận tải dầu luôn đi kèm với các yêu cầu cao về an toàn môi trường cho nên các tàu dầu đều phải chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt về trang thiết bị, an toàn, độ tuổi, đặc biệt là với thị trường Nhật Bản và Mỹ Chính vì vậy giá trị của tàu dầu rất cao, hơn nữa do thời gian khai thác tương đối ngắn (thông thường chỉ khoảng 20 – 25 năm) nên các tàu dầu có chi phí bảo dưỡng và bảo hiểm khá lớn
Nhìn chung, thị trường vận tải dầu thô biến động lớn trong 3 năm cuối thế kỷ trước, giai đoạn từ đầu năm 1998 đến cuối năm 2000, đánh dấu bằng thời kỳ suy thoái nghiêm trọng trong các năm 1998 – 1999, dần hồi phục trong năm 2000 và khởi sắc mạnh mẽ tại thời điểm cuối năm 2000 đầu năm 2001 cho đến nay
Vào đầu năm 1998, do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính – tiền tệ tại các nuớc khu vực Đông Á và Đông Nam Á, nhu cầu về dầu thô giảm xuống, giá dầu giảm nhẹ kéo theo thị trường vận tải có chiều hướng chững lại, mức cước thuê định hạn tàu dầu loại Aframax (trọng tải từ 90.000 – 110.000 DWT) trong thời gian này giảm xuống dưới mức 15.000 USD/ngày
Bước sang năm 1999, trước viễn cảnh nền kinh tế thế giới bị đe dọa bởi tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực Đông Á – Đông Nam Á, giá dầu thô sụt giảm nghiêm trọng, có thời điểm giá dầu Brent chỉ còn dưới 10 USD/thùng (tháng 2/1999) Điều này đã làm cho giá cước thuê tàu giảm xuống đến mức thấp nhất kể từ năm
1990, ở mức khoảng 12.500 USD/ngày Với mức giá này, các hãng tàu đều rơi vào tình trạng thua lỗ trầm trọng, hoạt động vận tải dầu thô gần như bị tê liệt do cước phí thuê tàu không bù đắp được chi phí khai thác
Nhằm vực dậy giá dầu thô trên thị trường thế giới, cuối quí 1 năm 1999 các nước xuất khẩu dầu thô thuộc khối OPEC đã đạt được thỏa thuận về việc cắt giảm sản lượng dầu thô khai thác giúp nâng giá dầu thô trên thế giới và do vậy giá cước vận tải dầu cũng
sẽ có xu hướng tăng hơn
Trang 6Hơn nữa, sau sự kiện đắm tàu dầu Erika trong năm 1999, Tổ chức Hàng hải Quốc tế (International Maritime Organization - IMO) đã buộc các Chủ tàu dầu phải tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu về an toàn và môi trường đối với các tàu dầu Ngày càng có nhiều tàu dầu cũ loại thân đơn – đáy đơn (single side – single bottom) không được tiếp tục sử dụng mà phải bị thải loại trong khi số lượng tàu đóng mới không đủ bù đắp ngay
số tàu cũ bị loại bỏ Điều này dẫn đến xu hướng cung về tàu vận tải dầu thô sẽ nhỏ hơn cầu trong lúc thị trường dầu thô đã bắt đầu có dấu hiệu hồi phục trở lại vào cuối năm
1999 – đầu năm 2000
Số liệu thống kê cho thấy, trong nửa đầu năm 2000 cước phí thuê tàu Aframax định hạn đã nhảy vọt từ mức 18.000 USD/ngày (tháng 1/2000) lên đến trên 32.000 USD/ngày (tháng 6/2000), tương đương với thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng Không những vậy, xu hướng vẫn tiếp tục kéo dài cho đến cuối năm 2000 và nhiều kỷ lục bị phá vỡ:
- Năm 2000 là năm có lượng tàu đặt hàng đóng mới nhiều nhất kể từ năm 1975 với tỷ lệ số tàu đóng mới trên số tàu hiện có là 17,7%;
- Số lượng tàu đặt hàng đóng mới trong năm là 430 tàu với tổng khối lượng là
51 triệu DWT, chiếm mức kỷ lục 57,2% khối lượng tàu thân đôi hiện có trên thế giới;
- Lợi nhuận vận tải cũng đạt mức kỷ lục trong năm, tiêu biểu là trung bình mỗi tàu VLCC đạt lợi nhuận gấp 2 lần mức hòa vốn;
- Khối lượng tàu VLCC và Suezmax đóng mới tăng đáng kể chiếm gần 50% tổng số tàu hiện có, mức kỷ lục kể từ năm 1974
Mặc dù sang đầu năm 2001, giá thuê tàu có bị chững lại chút ít do tác động của dự báo nền kinh tế Mỹ và Nhật Bản có nguy cơ suy thoái khiến cho giá dầu thô thế giới giảm nhẹ, nhưng theo nhận định chung của các tổ chức kinh tế hàng hải và các hãng tàu lớn trên thế giới thì từ nay đến năm 2005 thị trường thuê tàu sẽ vẫn tiếp tục tăng trưởng đều đặn với mức tăng trung bình 5%/năm, lợi nhuận vận tải trong năm vẫn duy trì ở mức cao và có lợi cho Chủ tàu, chẳng hạn một tàu cỡ VLCC có thể cho thuê định hạn với mức 60.000 USD/ngày, cao gấp 2 lần mức hòa vốn
Theo những dự báo đầu năm 2001, cước phí vận tải trong năm sẽ biến động tương
tự năm 2000, tức là khởi động chậm trong những tháng đầu năm và tăng tốc sau thời điểm tháng 5 và tháng 6 Cơ sở của dự báo nêu trên là việc nhu cầu dầu thô tiếp tục tăng 2,2% trong năm 2001 so với 1,1% trong năm 2000 dẫn đến nhu cầu vận tải sẽ tăng 3,5%
so với 4,6% trong năm 2000 trong lúc thị trường tàu thiếu hụt do đang trong thời điểm chuyển giao giữa thế hệ tàu cũ và mới
Dự báo cuối năm 2001 giá tàu sẽ tăng nhẹ so với thời điểm cuối năm 2000 khoảng
từ 0,5 đến 1,5 triệu USD, nhưng sẽ tăng trở lại từ 1 đến 3 triệu USD trong năm 2002 Trong giai đoạn này, giá tàu cũ sẽ biến động theo sự biến động của giá tàu đóng mới nhưng với biên độ nhỏ hơn
Trang 7Số lượng tàu đóng mới được dự báo sẽ vẫn tiếp tục tăng 2,5% trong năm 2001 và 3,8% trong năm 2002 chuẩn bị cho thời điểm những quy định mới của IMO sẽ có hiệu lực Tổng khối lượng tàu đặt hàng hiện tại ở vào khoảng 50,6 – 56,5 triệu DWT, chiếm 20% tổng khối lượng tàu hiện có, trong đó khối lượng giao trong năm 2001 là 17,1 triệu DWT (so với 21 triệu trong năm 2000), đưa tổng khối lượng tàu trên thế giới đạt mức
281 triệu DWT
Bảng 1.1: Số liệu thống kê giá tàu các loại trong giai đoạn 2000 – 2003
ĐVT: triệu USD
THỜI ĐIỂM LOẠI TÀU
Aframax mới 33 41 40 42
Nguồn: Clarksons Reseach (9)
1.1.2- Tình hình thị trường vận tải Việt Nam
Thị trường vận tải dầu và các sản phẩm dầu khí của Việt Nam cũng chịu những ảnh hưởng nhất định của những biến động nêu trên của thị trường thế giới, tuy nhiên do thị trường Việt Nam có những đặc thù riêng nên thị trường tàu dầu Việt Nam có một số nét riêng như sau:
Hiện nay trên thị trường chỉ có hai công ty Việt Nam đảm trách nhiệm vụ vận tải dầu thô là Công ty Vận tải Dầu khí Việt Nam (Falcon Shipping Company), thành viên của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) và Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) Công ty Falcon vào năm 1997 đã mua 01 tàu chở dầu sản phẩm (tàu này đóng năm 1986), sau đó hoán cải thành tàu vận tải dầu thô, có trọng tải khoảng 71.000 DWT (là tàu Pacific Falcon hiện nay) Mặc dầu vậy, khả năng tham gia vào lĩnh vực vận tải dầu thô của Falcon còn nhiều hạn chế do các hãng mua dầu phần lớn đều sử dụng đội tàu của mình hoặc tự thu xếp việc vận chuyển Mặt khác tàu 60.000 DWT thích hợp cho việc vận chuyển trong giai đoạn từ năm 1997 trở về trước nhưng hiện nay không phải là
cỡ tàu thích hợp để vận chuyển dầu cho khách hàng mua dầu Việt Nam, hơn nữa vào thời điểm này, tàu Pacific Falcon cũng đã 18 tuổi, do đó càng gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh trên thị trường vận tải dầu thô Các chủ hàng có xu hướng mua các lô lớn hơn hoặc kết hợp vận chuyển thêm lô dầu khác để giảm cước phí nên các tàu vào nhận dầu
Trang 8thường vận chuyển số lượng khoảng 600.000 thùng (tương đương 80.000 Tấn) Còn PetroVietnam sở hữu tàu Poseidon M (loại Aframax) trọng tải tương đương 100.000 tấn Trong những năm vừa qua, cơ cấu khách hàng mua dầu thô của Việt Nam đã có những thay đổi Tỷ trọng của thị trường Nhật Bản đã giảm xuống và tỷ trọng của thị trường Trung Quốc, Australia đã tăng lên đáng kể
Trong những năm vừa qua, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã đàm phán gia tăng
số lượng các lô dầu thô bán theo điều kiện CFR với mục đích dành cho Falcon đảm nhận chuyên chở Tuy nhiên, do nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau, khả năng đảm nhận chuyên chở của công Falcon còn bị hạn chế rất nhiều
Ta cũng biết rằng, một mặt thị trường dầu thô là thị trường nghiêng về phía người mua, mặt khác do những hạn chế về kho chứa (hiện nay Việt Nam chỉ có 5 kho chứa nổi với trọng tải trung bình khoảng 140.000 – 155.000 DWT, trong đó tại mỏ Bạch Hổ có 4 kho chứa của Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro là: Vietsovpetro 01, Chí Linh, Chi Lăng
và Ba Vì Kho chứa còn lại là Ruby Princess của Công ty Kỹ thuật Dịch vụ Dầu khí - PTSC hiện đang khai thác tại mỏ Ruby) nên phía Việt Nam phải chịu nhiều áp lực về thời hạn giao dầu nhất là trong điều kiện thời tiết xấu mà hiện nay ta chưa có đội tàu đủ khả năng đáp ứng yêu cầu cao trong lĩnh vực vận chuyển dầu thô, trong khi đó, khách hàng mua dầu phần lớn đều có đội tàu riêng (ví dụ như Shell, BPAmoco, ChevronTexaco, ExxonMobil, Sinopec – Sinochem ) Mặt khác, hiện nay chúng ta chưa có chính sách,
cơ chế phù hợp thuyết phục người mua phải mua theo điều kiện CFR, do vậy khách hàng mua dầu Việt Nam thường giành được quyền mua dầu theo điều kiện FOB, kéo theo là giành được quyền vận tải
1.2- THỊ TRƯỜNG PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI CHUYÊN DÙNG
Giá thị trường tàu cũ cũng biến động nhiều trong những năm qua theo những thăng trầm của nền kinh tế thế giới và qui luật cung cầu của thị trường Trước năm 1995, giá tàu cũ dừng ở mức tương đối cao vào những năm 1989, 1990 và xuống thấp vào những năm 1992 – 1993
Đầu năm 1993, thị trường tàu nhìn chung khá đình trệ làm cho số luợng các tàu cũ
bị phá dỡ tăng lên và nhịp độ mua bán tàu cũ giảm hẳn Đến cuối năm 1994 – đầu năm
1995 giá thuê tàu nhích lên làm giảm tốc độ phá tàu cũ và các thương vụ mua bán tàu cũ
có chiều hướng tăng Giá các loại tàu lớn nhích lên trong khi giá các loại tàu cỡ trung bình ít thay đổi Một số tàu cũ đã được hoán cải thành các kho nổi hoặc được sửa chữa nâng cấp thành các tàu tốt hơn phục vụ cho nhu cầu của thị trường
Trong năm 1996, giá các loại tàu cũ vẫn có chiều hướng tăng so với năm 1995 Nhu cầu về các loại tàu lớn cao hơn trong quý 4 Dù giá tàu và giá cước trên thị trường khá ổn định nhưng nhìn chung sự thay đổi của thị trường vẫn ghi nhận số lượng các tàu mới đưa vào thị trường vẫn ở mức thấp hơn so với số lượng tàu cũ bị loại thải nên thực tế không làm thị trường tàu cũ biến động nhiều Mặt khác, trong năm 1996 giá cước cao làm cho
Trang 9các chủ tàu có xu hướng kéo dài thời gian sử dụng các tàu cũ Tốc độ phá tàu cũ giảm hẳn nhất là đối với các tàu lớn Do giá cả tàu cũ ít biến động và vẫn ở mức tương đối cao nên khi có nhu cầu người mua nghiêng về tàu đóng mới thay vì mua tàu cũ
Năm 1997, giá tàu vẫn ở mức cao do nhu cầu lớn về tàu trên thị trường Trong tháng 3 và tháng 4, giá có xu hướng nhích lên sau đó lại giảm lại vào cuối tháng 7 – 8 nhưng vào cuối năm nhu cầu thị trường cao đã đẩy giá tàu cũ và đóng mới lên cao Cuối năm 1997, tình hình kinh tế châu Á có những chuyển biến xấu ảnh hưởng đến nhu cầu dầu thô làm cho thị trường ít nhiều bị ảnh hưởng Tuy nhiên giá tàu vẫn ở mức khá cao
và khá nhiều tàu được mua bán, chuyển chủ (theo thống kê từ các Môi giới tàu và Báo cáo Thị trường, 25 tàu loại VLCC, 25 tàu loại Suemax, hơn 45 tàu loại Aframax và 25 tàu loại Panamax đã được mua bán trao đổi trong năm)
Trong năm 1998, tình hình kinh tế thế giới có những chuyển biến xấu và một số nước đã gặp phải suy thoái nghiêm trọng Sự sụt giảm giá trị của đồng Yên và khủng hoảng kinh tế ở một số nước Châu Á đã làm cho bức tranh chung thêm ảm đạm Đã vậy
do các yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn môi trường, thị trường tàu cũ đã có những thay đổi lớn Giá tàu cũ xuống thấp và tốc độ thải loại tăng
So với năm 1997 giá tàu cũ trong năm 1998 và đầu năm 1999 giảm khoảng 30 – 40% Một tàu Aframax 5 tuổi cỡ 80.000 DWT trong năm 1997 giá khoảng 35 – 37 triệu USD nhưng trong năm 1998 và đầu năm 1999 giá chỉ còn khoảng 25 triệu USD, đây là mức giá thấp nhất kể từ năm 1990 và với tình hình thị trường vận tải bị khủng hoảng trong thời gian này dường như các Chủ tàu khó có thể giảm thêm giá cước cho thuê cũng như giảm giá bán tàu cũ mà vẫn bảo đảm cho đội tàu hoạt động bình thường
So với năm 1997 giá tàu cũ trong năm 1998 và đầu năm 1999 giảm khoảng 30 – 40% Một tàu Aframax 5 tuổi cỡ 80.000 DWT trong năm 1997 giá khoảng 35 – 37 triệu USD nhưng trong năm 1998 và đầu năm 1999 giá chỉ còn khoảng 25 triệu USD, đây là mức giá thấp nhất kể từ năm 1990 và với tình hình thị trường vận tải bị khủng hoảng trong thời gian này dường như các Chủ tàu khó có thể giảm thêm giá cước cho thuê cũng như giảm giá bán tàu cũ mà vẫn bảo đảm cho đội tàu hoạt động bình thường
Trong giai đoạn 2000 – 2001, dưới tác động của một loạt các yếu tố tích cực như:
sự tăng giá dầu thô do việc hạn chế sản lượng khai thác của các nước khối OPEC, nhu cầu dầu thô trên thế giới tăng cao dẫn đến nhu cầu vận tải dầu thô cũng tăng theo, trong khi số lượng tàu giảm đáng kể do các hãng tàu đều ngưng đóng mới trong các năm 1998 – 1999 và số tàu bị thải loại ngày càng tăng sau sự kiện đắm tàu Erika đã làm giá tàu cũ
đã tăng vọt (với tốc độ 4%/tháng) Đến cuối năm 2001, giá tàu Aframax 5 năm tuổi ở vào khoảng 40 triệu USD Cũng vào thời điểm này các xưởng đóng tàu dầu trên thế giới hầu như đều đã kín lịch đặt hàng cho đến năm 2003, trong đó riêng 6 tháng cuối năm 2002, số lượng tàu loại Aframax theo kế hoạch sẽ xuất xưởng tại Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ vào khoảng 40 chiếc, chưa kể các loại tàu có kích cỡ khác Trong năm 2002 đến nay, giá tàu
Trang 10Aframax đóng mới tại Nhật Bản và Hàn Quốc đã giảm xuống, hiện ở vào mức 36 – 40 triệu USD/tàu
Đồ thị 1.2: Giá tàu và giá thuê định hạn tàu Aframax giai đoạn 1985 – 2001
* YEARLY AV T/C EQUIV MID-1970'S BUILT.
2001 Av.January
T/C EQUIV *
MARKET DEVELOPMENT AFRAMAX TANK
© Fearnleys 95' 5 YRS
Nguồn: Fearnleys Publications (12)
Theo dự đoán trong vòng 5 năm tới, nhu cầu về tàu dầu cỡ trung bình trên thị trường thế giới sẽ vẫn tiếp tục tăng cao do thị trường tàu Aframax đang ở vào thời điểm giao thời đòi hỏi thay thế hàng loạt các tàu được đóng trước năm 1985 (đã trên 25 năm tuổi), đồng thời giữ lại và đóng mới các tàu hiện đại hai thân – hai đáy (double hull) đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn môi trường nghiêm ngặt của các Công ước Hàng hải Quốc tế về phòng chống ô nhiễm
Qua khảo sát sơ bộ tình hình thị trường mua bán tàu hiện nay cho thấy giá tàu khá biến động do tác động của tình hình kinh tế, chính trị thế giới, và do ảnh hưởng cung-cầu
của thị trường Giá của cùng một loại kích cỡ tàu còn phụ thuộc vào đặc tính kỹ thuật
riêng của từng con tầu hay thoả thuận mua bán khác nhau của từng người mua và người bán
Theo thống kê của hãng Clarksons Research(9), giá tàu Aframax 5 tuổi trong giai đoạn 1999 - 2003 dao động từ 25 – 41 triệu USD (chi tiết xin xem trong biểu đồ dưới
đây):
Trang 11Đồ thị 1.3: Thống kê giá tàu 5 tuổi giai đoạn 1999 - 2003
Nguồn: Clarksons Research (9)
Trong đó cụ thể một số tàu Aframax từ 4 - 7 tuổi đã được bán từ năm 1999-2003 như sau:
Bảng 1.4: Thống kê số tàu được bán từ năm 1999 - 2003
NĂM TÊN TÀU DWT NĂM
ĐÓNG TUỔI NƠI ĐÓNG
GIÁ (Triệu USD)
1999 Sanko Pageant 96.136 92 7 Japan 22.0
1999 Sanko Paragon 96.136 92 7 Japan 19.1
1999 Stena Concert 96.828 92 7 Japan 20.0
2000 Banda Sea 96.168 96 4 Korea 41.0
2001 Astro Arcturus 98.800 97 4 Korea 46.0
2001 Astro Altair 98.800 97 4 Korea 46.0
2001 Berge Hugin 103.854 97 4 Korea 37.5
2002 Yannis M 96.125 95 7 Korea 29.5
Trang 12NĂM TÊN TÀU DWT NĂM
ĐÓNG TUỔI NƠI ĐÓNG
GIÁ (Triệu USD)
2003 Pacific Libra 106.644 99 4 Japan 33.5
2003 Diamond Queen 107.261 98 5 Japan 29.8
Nguồn: Clarksons Research (9)
Trong năm 2003, giá tàu ở mức 33 – 34 triệu USD, tuy nhiên theo đánh giá của chuyên gia môi giới tàu thì giá tàu vào thời điểm hiện nay đang cao vào khoảng 36 – 37 triệu USD và sẽ còn tiếp tục ở mức cao trong thời gian tới đầu 2004
Sau đây là những tàu đang được thông báo có thể bán trên thị trường vào thời điểm tháng 10-11/2003:
Bảng 1.5: Thống kê số tàu thông báo có thể bán trên thị trường
tháng 10 – 11/2003
NĂM TÊN TÀU DWT NĂM
ĐÓNG TUỔI NƠI ĐÓNG
GIÁ (Triệu USD)
2003 Astro Altair 98,879 1997 6 Korea 34-35
Nguồn: Clarksons Research (9)
Số liệu thống kê giá bán tàu quý 3/2004 xin xem Phụ lục (đính kèm)
1.3- THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ THẾ GIỚI VÀ CHÂU Á
Thị trường giai đoạn 1996 – 2004 có thể chia thành hai giai đoạn chính, giai đoạn
1996 – 1997 và giai đoạn 1998 về sau Trong đó năm 1998 được đánh giá như là trang sử đen tối nhất của thị trường dầu thô thế giới kể từ sau khủng hoảng dầu lửa Trung Đông trong thập kỷ 70
1.3.1- Thị trường dầu thô giai đoạn 1996 – 1997
Thị trường dầu thô thế giới giai đoạn này diễn biến phức tạp và chịu tác động mạnh của các yếu tố chính trị Nửa đầu năm 1996, giá dầu tương đối ổn định, từ 16 – 18 USD/thùng do mức tiêu thụ trên toàn thế giới hạn chế vì thời tiết mùa đông năm nay ôn hòa, lợi nhuận lọc dầu tại các khu vực chính đều thấp Giá trung bình một số loại dầu chuẩn như sau:
Trang 13Bảng 1.6: Bảng giá trung bình một số loại dầu tiêu biểu trong giai đoạn 1996 – 1997
(+/-)
Dầu Brent (Biển Bắc) 20,66 USD/thùng 17,04 USD/thùng + 3,62 USD
Dầu Dubai (Dubai) 18,55 16,11 + 2,44
Dầu WTI (Mỹ) 22,14 18,42 + 3,72 Dầu Minas 19,93 17,31 + 2,62
Nguồn: Reuteurs (1)
Một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng lên giá dầu là bắt đầu từ năm 1996, lần đầu
tiên Iraq chấp thuận đàm phán bán dầu với Liên hợp quốc
Từ cuối Quí 1, giá dầu bắt đầu tăng sau các đợt lạnh phía bắc bán cầu khiến nhu cầu
sưởi ấm gia tăng, trong khi sản xuất tại một số vùng bị đình trệ, đồng thời dự trữ của các
nước tiêu thụ chính như Mỹ, Châu Âu luôn ở mức khá thấp và giá sản phẩm bị ảnh
hưởng bởi nhiều Nhà máy Lọc dầu cắt giảm sản xuất Tuy nhiên sau khi đạt mức 23,6
USD/thùng vào giữa tháng 4, giá dầu giảm mạnh trở lại theo nhu cầu cuối mùa đông,
mức tiêu thụ xăng tại Mỹ trong mùa hè thấp hơn bình thường và Iraq chính thức chấp
thuận bán dầu theo điều kiện của Liên hợp quốc
Cho đến cuối tháng 8, giá dầu dao động từ 18 – 20 USD/thùng Từ đầu tháng 9, giá
dầu thô tăng trở lại, khởi đầu bằng những đợt tiến công tên lửa của Mỹ vào Iraq, nhiều vụ
khủng bố quốc tế liên tục xảy ra, tình hình tại Trung Đông căng thẳng Giá dầu tiếp tục
xu hướng nhích lên và đạt mức cao nhất từ sau cuộc chiến vùng Vịnh năm 1990, bằng 24
– 25 USD/thùng vào cuối năm theo thị trường Diezel London và dầu đốt thế giới, trong
khi nhu cầu xăng của Mỹ cao đột biến, trái với chu kỳ các năm trước
Ngược lại với thị trường dầu thô thế giới, thị trường châu Á mà dầu Minas là tiêu
biểu lại có giá khá ổn định trong suốt từ tháng 1 đến tháng 9 ở mức 18 – 20 USD/thùng
So với những năm trước, trong năm 1996 khối lượng nhập khẩu dầu nhẹ từ Tây Phi của
các nhà máy lọc dầu Châu Á tăng đáng kể nên mặc dù nhu cầu trong khu vực gia tăng,
song giá Minas vẫn ít biến động
Ngoài ra, thời tiết mùa hè năm 1996 tương đối ôn hòa nên mức tiêu thụ dầu thô
dùng đốt trực tiếp của các nhà máy điện khá hạn chế Từ tháng 9, giá Minas bắt đầu
nhích lên sau khi khối lượng dầu nhẹ Tây Phi nhập khẩu thấp vì giá quá cao, nhu cầu
mua trên thị trường spot của các nhà máy lọc dầu trong khu vực, như Trung Quốc,
Hàn Quốc gia tăng, nhất là vào dịp lễ giáng sinh, năm mới và tết Nguyên đán
Thị trường dầu thô năm 1997 trải qua 2 giai đoạn sụt giá mạnh mẽ với những
nguyên nhân không giống nhau Giai đoạn đầu từ tháng 1 – 4, giá dầu giảm chừng 7
USD/thùng, từ 22 – 26 USD/thùng xuống 15 – 19 USD/thùng do hậu quả của việc các
Trang 14nước sản xuất dầu đẩy mạnh khai thác nhằm tranh thủ giá dầu cao trong nửa cuối năm
1996, khiến mức cung trên thị trường vượt quá xa nhu cầu, đồng thời nhu cầu cuối mùa đông thấp vì thời tiết tương đối ôn hòa, dự trữ toàn thế giới cao góp phần tạo áp lực thường xuyên đẩy giá dầu xuống nhanh
Từ tháng 4, các chỉ số thị trường cho thấy kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng khá, nhất là tại các nước phát triển như Bắc Mỹ, Châu Âu, kích thích nhu cầu tiêu thụ khiến giá xăng gia tăng, tạm thời hạn chế được khuynh hướng đi xuống của thị trường dầu thô nên từ quí 2, giá dầu tương đối ổn định, phổ biến ở mức 17 – 19 USD/thùng
Giai đoạn sụt giá thứ 2 bắt đầu từ tháng 10, giá dầu giảm nhanh từ 20 – 23 USD/thùng xuống 15 – 17 USD/thùng vào cuối năm và xu hướng này tiếp tục kéo dài qua năm 1998 Một loạt các yếu tố bất lợi đồng thời tác động, gây sức ép lớn lên thị trường dầu thô, trong đó nguyên nhân chính là dư thừa tràn lan trong khi nhu cầu có chiều hướng giảm
Từ tháng 1 năm 1998, khối OPEC tăng hạn ngạch xuất khẩu thêm 2,5 triệu thùng/ngày lên 27,5 triệu thùng/ngày so với 25,03 triệu thùng/ngày trước đây Tuy nhiên khả năng khai thác của các nước thường xuyên sản xuất vượt quá quota của mình như Venezuela, Nigeria, Angola, còn khá lớn nên xuất khẩu thực tế của OPEC sẽ vượt quá
28 triệu thùng/ngày
Sản lượng ngoài OPEC năm 1998 được dự kiến tăng đáng kể, khoảng 2 triệu thùng/ngày, riêng khu vực Biển Bắc, sản lượng có thể tăng trên 1 triệu thùng/ngày Bên cạnh đó, tình hình Iraq có vẻ ngày càng dịu đi Iraq đang vận động để dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận và được xuất khẩu trở lại khoảng 3 triệu thùng/ngày Tối thiểu, theo thỏa thuận với Liên hợp quốc, với giá dầu thấp như hiện nay, Iraq sẽ tiếp tục xuất khẩu trên 1 triệu thùng/ngày so với 500 – 650.000 thùng/ngày trước đây
Ở thị trường châu Á, trong khi mức cung tăng thì do cuộc khủng hoảng tài chính tại Châu Á ảnh hưởng sâu sắc tới tăng trưởng kinh tế thế giới nên mức tăng nhu cầu dầu năm 1998 dự kiến thấp hơn trước, chỉ cao hơn năm 1997 là 1,8 triệu thùng/ngày, so với mức 2 – 2,5 triệu thùng/ngày của những năm gần đây
Đối với dầu chuẩn Minas, Tapis của khu vực Châu Á, tình hình có phần xấu hơn Đồng tiền nội địa mất giá buộc các nước trong khu vực tăng cường xuất khẩu dầu nhằm thu thêm ngoại tệ để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính đang ngày càng trầm trọng Một hệ quả khác của cuộc khủng hoảng là nhu cầu dầu của khu vực giảm đi nhanh chóng Dự kiến nhu cầu của các nước Châu Á trong năm 1998 chỉ tăng khoảng 400 – 500.000 thùng/ngày, so với 800.000 thùng/ngày của năm 1997
1.3.2- Thị trường giai đoạn 1998 đến nay
1.3.2.1 Giai đoạn khủng hoảng
Đây là giai đoạn cực kỳ biến động của thị trường, được đánh dấu bằng sụt giá chưa từng thấy trên thị trường dầu thô, ngay từ đầu năm 1998, giá dầu thô thế giới diễn biến
Trang 15theo xu thế giảm mạnh, giá trung bình cả năm của các loại dầu chuẩn ở mức thấp nhất trong vòng 25 năm qua
Từ đầu năm, giá dầu giảm liên tục từ mức 16 – 18 USD/thùng xuống 10 – 13 USD/thùng vào đầu tháng 3 (giảm 5 – 6 USD/thùng) Nguyên nhân chủ yếu là do lượng dầu dư thừa tràn lan trong khi các nước sản xuất dầu không chịu thực hiện biện pháp nào nhằm cứu vãn thị trường
Sau thời gian ngắn tương đối ổn định ở mức thấp từ 12 – 15 USD/thùng, kết quả của việc khối OPEC tuyên bố cắt giảm 1,245 triệu thùng/ngày trong cuộc họp tại Viên (Áo) vào cuối tháng 3, từ tháng 6, giá dầu lại lâm vào đợt sụt giảm mới, xuống 8 – 12 USD/thùng, thấp nhất kể từ đầu năm, riêng giá dầu WTI (Mỹ) xuống 11 – 12 USD/thùng Nguyên nhân chính là lượng dầu dư thừa trên thị trường ngày càng tăng, khối OPEC chỉ cắt giảm khoảng 700.000 thùng/ngày so với cam kết 1,245 triệu thùng/ngày Ngoài ra, Iraq xuất khẩu khoảng 1,3 triệu thùng/ngày và nhu cầu dầu của thế giới thấp do khủng hoảng tài chính tại Châu Á lan rộng càng làm tình hình thị trường trầm trọng thêm
Nhằm cứu thị trường dầu thế giới tránh khỏi sự sụp đổ hoàn toàn, ngày 24/06/1998 tại Viên (Áo), khối OPEC quyết định cắt giảm thêm 1,355 triệu thùng/ngày, nâng tổng khối lượng được cam kết của các nước trong và ngoài OPEC lên khoảng 3 triệu thùng/ngày Từ tháng 7 đến tháng 10, giá dầu phục hồi dần trở lại do mức dư thừa dịu bớt sau những nỗ lực cắt giảm sản lượng nói trên
Sau khi đạt mức giá từ 14 – 16 USD/thùng vào đầu tháng 10, giá dầu rớt nhanh trở
và hiện chỉ còn khoảng 9 – 11 USD/thùng mặc dù khối OPEC tuân thủ tương đối nghiêm chỉnh sản lượng cắt giảm đã cam kết Nguyên nhân chính là áp lực dư thừa luôn đè nặng lên thị trường trong khi nhu cầu thế giới năm nay chỉ cao hơn năm trước khoảng 400.000 thùng/ngày và tiếp tục theo xu hướng giảm
1.3.2.2 Giai đoạn phục hồi
Bước sang năm 1999, giá dầu thô thế giới dần phục hồi và tăng mạnh từ mức rất thấp 9 – 11 USD/thùng vào tháng 01/1999 lên đến 24 – 26 USD/thùng vào cuối năm Sau thời gian dài từ cuối năm 1997 đến đầu năm 1999 thị trường dầu thô thế giới bị khủng hoảng trầm trọng, từ Quí 1/1999, thị trường dầu bắt đầu xuất hiện dấu hiệu phục hồi Các nước Châu Á thoát dần khỏi cuộc khủng hoảng Kinh tế – Tài chính khu vực và bắt đầu tăng trưởng Các thị trường tiêu thụ chính như Mỹ, Châu Âu tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 3 – 4%/năm
Sau khi các nước khối OPEC quyết định cắt giảm sản lượng thêm 2 triệu thùng/ngày, nâng tổng khối lượng cam kết cắt giảm lên đến 5 triệu thùng/ngày (khoảng
250 triệu tấn/năm), thị trường dầu thế giới đã có chuyển biến tích cực rõ rệt Giá dầu thô tăng liên tục từ Quí 2/99 cho đến cuối năm và dự kiến kéo dài đến hết quí 1/2000
Thị trường dầu trong năm 1999 phục hồi và tăng mạnh do:
Trang 16- Các nước sản xuất trong và ngoài khối OPEC tỏ rõ quyết tâm cùng cắt giảm sản lượng để nâng giá dầu lên Tổng khối lượng cắt giảm sản xuất của các nước trong và ngoài khối OPEC chiếm tỷ lệ khá lớn (khoảng 250 triệu tấn/năm) và tính kỷ luật cao của các thành viên sau những thiệt hại nặng nề do giá dầu thấp đã đóng vai trò quyết định ổn định giá dầu
- Kinh tế thế giới nói chung và Châu Á nói riêng đi vào ổn định và tăng trưởng
đã thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ tăng đáng kể, hỗ trợ cho cán cân cung cầu dầu thô thế giới ổn định trở lại
Sau khi giảm xuống 8 – 10 USD/thùng vào cuối năm 1998, mức thấp nhất trong vòng 12 năm, giá dầu thô thế giới hồi phục dần từ quí 2/1999 do các nước sản xuất trong
và ngoài khối OPEC cắt giảm tổng cộng 5 triệu thùng/ngày Giá dầu tăng liên tục và giá dầu chuẩn WTI (Mỹ) đạt mức cao nhất tới 36,91 USD/thùng vào tháng 9/2000, cao gấp 3 lần mức giá năm 1998
Ngoài yếu tố cắt giảm sản lượng của các nước khai thác, giá dầu tăng còn do các nguyên nhân hết sức quan trọng khác là các nước Châu Á thoát dần ra khỏi cuộc khủng hoảng Kinh tế – Tài chính khu vực và bắt đầu tăng trưởng, các thị trường tiêu thụ chính như Mỹ, Châu Âu tiếp tục giữ tốc độ tăng trưởng 3 – 4%/năm đã thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ tăng đáng kể
Bước sang năm 2000, giá dầu thô thế giới tiếp tục duy trì ở mức cao Tuy nhiên sau giai đọan dài căng thẳng do nhu cầu tăng vượt mức cung, từ đầu quí 4/2000 thị trường dầu thô thế giới đã chứa đựng các yếu tố dư thừa
Sản lượng khai thác của các nước trong và ngoài khối OPEC không ngừng tăng lên vượt quá nhu cầu tiêu thụ của thế giới Một phần sản xuất thặng dư trong thời gian qua đã được đưa vào các kho chứa của các nước công nghiệp tiêu thụ chính như Mỹ, Tây Âu vốn đã giảm xuống rất thấp do tiêu thụ tăng trong giai đoạn trước
Tuy vậy, giá dầu vẫn luôn giữ được ở mức cao trên 30 USD/thùng trong thời gian dài, theo đánh giá của các nhà chuyên môn, phần lớn do yếu tố đầu cơ của các thế lực tư bản tài chính tạo ra Trong các cuộc họp, khối OPEC luôn giữ lập trường sản xuất của khối đã đạt gần hết công suất và nguồn cung cấp đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ toàn thế giới không cần thiết phải tăng thêm
Tổng sản lượng khai thác dầu thô của thế giới đã lên tới 78,5 triệu thùng/ngày, cao hơn cả sản lượng khai thác trong giai đọan khủng hoảng thừa năm 1998 (khi giá dầu giảm xuống dưới 10 USD/thùng) Theo thống kê, sản lượng khai thác trong năm 2000 so với nhu cầu tiêu thụ thế giới như bảng dưới đây
Tuy sản xuất đã vượt nhu cầu tiêu thụ từ quí 2/2000 trở đi nhưng giá dầu vẫn luôn được kìm giữ ở mức cao một phần nhờ yếu tố Iraq thường xuyên đe dọa dừng sản xuất để gây sức ép với Liên hợp quốc
Trang 17Bảng 1.7: Sản lượng khai thác trong năm 2000
ĐVT: triệu thùng/ngày
Sản xuất 75,1 76,2 77,3 78,5 76,8 Tiêu thụ 75,3 73,8 75,5 77,9 75,6
và vượt qua nhu cầu tiêu thụ
Giá dầu giảm sau khi Iraq ngừng xuất khẩu 2,4 triệu thùng/ngày là dấu hiệu cho thấy thị trường đang ở trạng thái dư thừa sau giai đoạn khan hiếm giả tạo do đầu cơ Một
số yếu tố thể hiện như:
- Mức cung hiện vượt nhu cầu thực tế khoảng 1,5 triệu thùng/ngày
- Dự trữ toàn thế giới tăng nhanh, trung bình 700.000 thùng/ngày trong cả năm nhưng tập trung vào quí 4/2000 sau khi khối OPEC hai lần tăng sản lượng tổng cộng 1,3 triệu thùng/ngày từ tháng 10/2000 và Mỹ đang thực hiện quyết định tung 30 triệu thùng dầu từ dự trữ Liên bang (SPR) ra thị trường
- Ngay sau khi Iraq tuyên bố ngừng xuất khẩu khoảng 2,4 triệu thùng/ngày từ 01/12/2000, Saudi Arabia và một số thành viên OPEC cho biết sẽ cung cấp thêm dầu thô đủ bù sản lượng của Iraq
- Giá sản phẩm dầu thấp do nhu cầu hạn chế vì thời tiết tại Bắc bán cầu ấm hơn bình thường
Trong năm 2004, giá dầu thô đã tăng 30% trong năm nay lên những mức kỷ lục chưa từng xuất hiện kể từ đầu thập niên 80 Các nước xuất khẩu dầu lớn đang chia tách thành 2 bên, một bên là Ả-rập Xê-út và Cô-ét ủng hộ tăng sản lượng nhằm hạ giá dầu và một bên là những nước như Venezuela phản đối động thái hoà giải với các nước tiệu thụ lớn, nổi bật là Mỹ
Trang 18Bảng 1.8: Thống kê giá dầu thô nhập khẩu vào các thị trường chính (1996 – 2002) ĐVT:
T 8-2001 25,02 25,62 25,04 24,04 25,78 25,70 25,15 23,39
Trang 19THỜI ĐIỂM PHÁP ĐỨC Ý T.B.NHA ANH NHẬT CANADA MỸ
THÁNG 9-2001 25,38 25,14 25,12 24,44 25,93 26,09 25,43 23,28THÁNG 10-2001 20,76 20,75 21,12 20,72 20,65 24,57 21,24 19,37THÁNG 11-2001 19,21 19,23 19,14 19,18 19,52 20,89 19,32 16,65THÁNG 12-2001 18,78 18,59 18,58 18,31 18,90 19,22 19,20 15,80THÁNG 1-2002 19,47 19,32 19,43 18,99 19,53 19,29 19,24 16,76THÁNG 2-2002 20,20 19,86 19,52 19,47 20,01 20,02 19,49 17,87THÁNG 3-2002 22,85 22,53 22,49 21,59 22,17 21,14 22,02 21,26THÁNG 4-2002 24,93 24,47 24,34 24,66 25,06 24,96 25,26 23,99THÁNG 5-2002 24,80 24,31 24,83 24,16 24,68 27,08 25,60 24,62THÁNG 6-2002 23,93 23,41 23,41 23,43 24,15 26,40 24,90 23,80THÁNG 7-2002 25,45 25,11 24,96 24,73 25,81 25,82 25,70 24,61THÁNG 8-2002 26,32 26,24 26,01 25,77 26,82 26,44 26,59 25,59THÁNG 9-2002 27,77 27,99 27,37 27,35 28,35 27,16 27,88 26,87THÁNG 10-2002 27,01 27,28 27,45 26,45 27,52 28,32 28,43 26,31THÁNG 11-2002 24,00 23,85 24,29 24,05 24,26 27,62 25,78 23,98THÁNG 12-2002 28,34 28,13 27,12 27,01 28,60 26,28 27,50 25,57THÁNG 1-2003 31,98 31,02 30,66 30,65 32,24 29,14 31,58 29,42THÁNG 2-2003 32,31 32,02 31,19 33,23 31,22 33,20 31,89
Nguồn: Reuteurs (1)
Giá dầu thô ngọt, nhẹ giao dịch ở Mỹ tháng 8/2004 đã tăng lên hơn 44 USD/thùng trong khi giá dầu thô Brent từ Biển Bắc giao dịch ở Anh đạt 40 USD/thùng Dưới đây là một số nguyên nhân BBC News Online đưa ra để giải thích tại sao giá dầu lại ở mức quá cao như vậy(1)
Nhu cầu gia tăng
Cơ quan năng lượng quốc tế (IAEA) nhận định tốc độ phát triển kinh tế toàn cầu hiện là nguyên nhân chính khiến nhu cầu dầu tăng mạnh nhất trong vòng 16 năm qua Nhu cầu ở các nước công nghiệp hoá dự báo cao hơn trong khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng của Trung Quốc cũng tạo ra nhu cầu tăng đột biến Nhu cầu dầu ở Mỹ tăng do nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ đồng thời nhu cầu đối với dầu thô chất lượng cao - phù hợp với quy trình chế biến thành xăng phục vụ các loại xe thể thao (SUV) tiêu tốn nhiên liệu rất được ưa chuộng ở Mỹ - lớn hơn
Trang 20Hình 1.9: Biểu đồ giá các sản phẩm dầu giai đoạn 2000-2003
Nguồn: BBC online (1)
Bảng 1.10: Thống kê giá dầu giao trong cuối tháng 10/2004, đầu tháng 11/2004
Đơn vị - USD/th; Riêng FO và LPG =USD/tấn
Năm ngoái, nhu cầu dầu Trung Quốc tăng 20% Các công ty thương mại đánh cược tốc
độ gia tăng chóng mặt này sẽ tiếp tục trong một vài năm mặc dù một số dấu hiệu cho thấy nền kinh tế nước này “sẽ trở nên quá nóng” và tốc độ gia tăng nhu cầu dầu sẽ hạ nhiệt Trong số các nguồn cung toàn cầu thì chỉ Ả-rập Xê-út có công suất dự phòng lớn có thể cung cấp cho thị trường
Khối lượng tồn kho thấp: Trong những năm gần đây, các công ty dầu cố gắng trở nên
hiệu quả hơn và hoạt động với khối lượng dầu thô tồn kho thấp Điều này có nghĩa tấm đệm trên thị trường chống lại hiện tượng gián đoạn nguồn cung mỏng hơn
Trang 21Năm 2003, những sự kiện như tình trạng bạo động ở Trung Đông, căng thẳng dân tộc ở Nigeria và đình công ở Venezuela ảnh hưởng đến giá dầu lớn hơn so với trường hợp nếu khối lượng tồn kho của các công ty cao hơn
Chiến lược của Opec
Các nước sản xuất Opec chiếm 1/2 tổng khối lượng dầu thô xuất khẩu thế giới và nỗ lực duy trì giá dầu ở mức Opec mong muốn thông qua hành động cắt giảm hay tăng sản lượng ra thị trường Trước đây, các Bộ trưởng Opec thường chờ giá giảm trước khi thống nhất cắt giảm sản lượng Nhưng hiện nay Opec hành động tích cực hơn, thông báo cắt giảm sản lượng nhằm tránh bất kỳ hiện tượng giá suy yếu nào
Trước đây, các công ty dầu quốc tế thường sử dụng thời gian nhu cầu thấp theo mùa, khi
đó giá dầu giảm, để củng cố khối lượng tồn kho Hiện nay, những cánh cửa này dường như đã đóng lại Một số nhà phân tích cho biết ngoài ra sai số dữ liệu còn là một nguyên nhân nữa
Trước đây, nhiều chuyên gia thị trường dự báo mức tiêu thụ dầu sẽ giảm Kết quả là các nước sản xuất duy trì nguồn cung thắt chặt hơn mức cần thiết nhằm hạn chế hành động củng cố khối lượng tồn kho
Hành động của các nhà đầu cơ tích trữ - tổng thống G Bush tái đắc cử nhiệm kỳ II
Kết hợp khối lượng dầu tồn kho thấp và chính sách thắt chặt nguồn cung của Opec đã đẩy thị trường đứng trước nguy cơ giá tăng mạnh nếu nguồn cung bị đe doạ Các nhà đầu cơ tích trữ chuyên nghiệp trên thị trường không bỏ qua đặc điểm này, các công ty đầu cơ đánh cược về khả năng giá dầu sẽ tăng càng làm tăng áp lực giá cao hơn trên thị trường Đặc biệt theo dự đoán với nhiệm kỳ II của mình, tổng thống G.Bush sẽ tăng lượng dầu tích trữ
Bạo lực ở Trung Đông
Các nước tiêu thụ dầu lớn trên thế giới vẫn phụ thuộc vào dầu Trung Đông Tình trạng bạo lực gần đây ở I-rắc và Ả-rập Xê-út lại một lần nữa làm dấy lên tâm lý lo lắng về khả năng gián đoạn nguồn cung Khối lượng dầu xuất khẩu của I-rắc đã phải cắt giảm do các
vụ tấn công phá hoại vào cơ sở sản xuất dầu Nguồn cung giảm tương đối thấp nhưng nó dẫn đến thái độ nghi ngờ về triển vọng dài hạn của I-rắc trở thành nước xuất khẩu dầu lớn
và ổn định Bất kỳ vụ tấn công lớn nào vào các cơ sở sản xuất dầu của Ả-rập Xê-út cũng
sẽ là một sự kiện lớn đối với thị trường dầu thế giới Đến nay, Ả rập Xê-út vẫn là nước sản xuất dầu đồng thời là nước xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới
Những căng thẳng chính trị khác: Các nhà phân tích cũng nhận định căng thẳng chính
trị ở các nước ngoài khu vực Trung Đông như Nigeria và Venezuela có tiềm năng dẫn đến hoạt động xuất khẩu gián đoạn và đẩy giá dầu thế giới lên cao
Giá dầu cuối tháng 7 vừa qua tăng sau khi có dấu hiệu cho thấy tranh chấp giữa Chính phủ Nga và Công ty dầu lớn nhất đất nước, Yukos, sẽ dẫn đến đóng cửa phần lớn hoạt
Trang 22động sản xuất của Công ty Yukos chiếm 1/5 tổng sản lượng 8,5 triệu thùng/ngày của Nga nhưng đang đối mặt với nguy cơ phá sản và/hoặc đáp ứng yêu cầu của Chính phủ về hoàn trả thuế
Công suất lọc dầu của Mỹ thiếu
Khối lượng xăng tồn kho ở Mỹ thấp cộng với áp lực lên các nhà máy lọc dầu Mỹ tăng sản lượng xăng mới cũng là nguyên nhân đẩy giá dầu thô thế giới tăng cao
1.4 - TẦM QUAN TRỌNG, LỢI ÍCH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NGÀNH VẬN TẢI VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ VẬN TẢI DẦU KHÍ NÓI RIÊNG KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ Ở NƯỚC TA THỜI GIAN QUA
1.4.1 Việc đầu tư khai thác vận tải dầu thô trước hết xét về khía cạnh hiệu quả kinh tế
là một ngành kinh doanh mang lại lợi nhuận cao mà hiện nay bất cứ quốc gia xuất khẩu dầu thô nào như các nước Trung Đông, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, … cũng đều tập trung khai thác Hiệu quả kinh doanh thể hiện ở doanh thu, lợi nhuận cao và tăng nhanh theo vòng đời khai thác
1.4.2 Khai thác và quản lý tàu dầu là một lĩnh vực đang được Chính phủ Việt Nam hết
sức quan tâm và khuyến khích để:
1.4.2.1 Xây dựng và phát triển ngành vận tải dầu khí nhằm phục vụ chính sách
của Chính phủ là giành 40% lượng dầu thô xuất khẩu cho các đội tàu Việt Nam chuyên chở
1.4.2.2 Đảm bảo cung cấp dầu thô Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và Nhà máy
Lọc dầu số 2 sẽ được xây dựng và đưa vào hoạt động trong những năm sắp tới
1.4.2.3 Phát triển trình độ quản lý kỹ thuật và thương mại cho ngành vận tải
dầu khí, một ngành còn rất non trẻ tại Việt Nam, tạo điều kiện để nắm bắt được các kiến thức, kinh nghiệm và bí quyết công nghệ mới của ngành Hàng hải Thế giới
1.4.2.4 Đào tạo đội ngũ thuyền viên đủ tay nghề và kinh nghiệm phục vụ cho
đội tàu dầu khí Việt Nam cũng như cho các chủ tàu nước ngoài khác khi cần
1.4.3 Các hoạt động đầu tư và khai thác vận tải dầu thô còn có ý nghĩa rất quan trọng
đối với nền kinh tế nói chung và ngành vận tải biển nói riêng vì những lý do sau: 1.4.3.1 Hiện tại hầu hết việc vận chuyển dầu thô từ Việt Nam đều do các tàu
nước ngoài thực hiện Để tăng cường hiệu quả kinh tế cho đất nước, rất cần thiết phải có một đội tàu Quốc gia riêng nhất là khi lượng dầu thô khai thác xuất khẩu của Việt Nam đang không ngừng gia tăng và nhu cầu phải đảm bảo cung cấp dầu thô cho 2 Nhà máy Lọc dầu sẽ được xây dựng và đưa vào hoạt động trong những năm sắp tới
Trang 231.4.3.2 Việc phát triển đội tàu dầu có trình độ quản lý tốt, khai thác an toàn và
hiệu quả cạnh tranh cao sẽ đem lại những thay đổi to lớn cho việc lưu thông xuất nhập khẩu dầu thô, dầu sản phẩm và khí hóa lỏng là những mặt hàng xuất nhập khẩu quan trọng và thiết yếu nhất của Việt Nam 1.4.3.3 Khi sở hữu, quản lý và kiểm soát một số lượng tàu nhất định, việc điều
động tàu vận chuyển hàng trong và ngoài nước sẽ thuận lợi và linh hoạt hơn, giảm được giá thành vận chuyển và tạo điều kiện tốt cho ngành khai thác dầu khí Việt Nam phát triển
1.4.3.4 Việc đào tạo thuyền viên Việt Nam qua công việc cụ thể, thực tế tại
chính đội tàu sẽ dễ dàng và có chi phí thấp hơn
1.4.3.5 Một khi đào tạo đủ số thuyền viên cho mình, những thuyền viên kinh
nghiệm này cũng có thể được gửi đi làm việc cho các tàu nước ngoài khác và thuyền viên Việt Nam sẽ có thể có được cơ hội tuyển dụng như thuyền viên Philippin, Indonesia, Malaysia … như hiện nay Việc này
sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước và tạo thêm công ăn việc làm cho thuyền viên Việt Nam
Như vậy, việc phát triển thị trường vận tải dầu thô nói chung và hình thành một đội tàu vận chuyển dầu thô nói riêng không những tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của ngành Vận tải biển Việt Nam, mà còn đem lại những lợi ích kinh tế – xã hội nhất định cho nền kinh tế quốc dân
Trang 24CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI DẦU THÔ CỦA TỔNG
CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM (PETROVIETNAM)
2.1- GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM
2.2.1 Chức năng nhiệm vụ
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam được thành lập vào ngày 03/09/1975 là Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác, xuất nhập khẩu dầu thô và các vật tư, thiết bị dầu khí đến vận chuyển, tàng trữ, cung cấp dịch vụ, chế biến, phân phối sản phẩm dầu khí
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Vietnam Oil & Gas Corporation, trụ sở chính đặt tại 22 Ngô Quyền, Hà nội
Điện thoại: 04-8252526 Fax: 04-8265942
Website: www.petrovietnam.com.vn
E-mail: webmaster@hn.pv.com.vn
Chức năng nhiệm vụ của Tổng Công ty chủ yếu gồm:
2.2.1.1 Tìm kiếm thăm dò, khai thác: trong lĩnh vực thăm dò khai thác với mục tiêu xác định tiềm năng và gia tăng trữ lượng dầu khí, phát hiện thêm nhiều mỏ mới, đảm bảo nhu cầu về sản lượng dầu khí cho đất nước
Kết quả các hoạt động dầu khí bao gồm: đã ký 49 hợp đồng dầu khí dưới dạng PSC,
JV, JOC, trong đó 27 hợp đồng đang được thực hiện Số mỏ dầu đang chính thức khai thác gồm: Bạch Hổ, Rồng, Đại hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Bunga Kekwa – Cái nước
và đã đưa mỏ khí đầu tiên Lan Tây – Lan đỏ vào khai thác từ tháng 11/2002, sản lượng khai thác ổn định khoảng 2 triệu m3/ngày
Năm 2002 tiếp tục thẩm lượng mỏ dầu Sư Tử đen – Sư Tử vàng (lô 15-1 Cửu Long JOC) và xây lắp thiết bị sớm Trữ lượng của 2 mỏ này ước tính khoảng 2 tỷ thùng Ngày 29/10/2003 đã có dòng dầu đầu tiên Tháng 10/2003 phát hiện mỏ khí condensat lớn cấu tạo Sư tử trắng
Bên cạnh việc mở rộng hoạt động thăm dò khai thác trong nước, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã có những hợp đồng thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài như ký với Angiêri, ký JOC với Malasia, ký PSC với Indonesia
2.2.1.2 Khai thác các tiềm năng khí: để tận dụng tiền năng to lớn về khí thiên nhiên, ngoài việc xây dựng đường ống Rạng Đông – Bạch Hổ và Trạm nén khí Dinh Cố nhằm nâng công suất vào bờ của hệ thống Bạch Hổ lên 6 triệu m3/ngày
Trang 25Cuối năm 2002 dự án khí Nam Côn Sơn đã hoàn thành đảm bảo việc cấp khí cho nhà máy điện Bà Rịa – Phú Mỹ
2.2.1.3 Các hoạt động chế biến dầu khí: Trong lĩnh vực hạ nguồn, các đề án chế biến dầu khí đang được PetroVietnam triển khai tích cực Đề án nhà máy Lọc Dầu Dung quất, Ban Quản lý dự án Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn, Cụm điện đạm khí Cà Mau, sản xuất nhựa PVC, …
2.2.1.4 Dịch vụ Dầu khí: Ngoài những dự án có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trong các khâu tìm kiếm, thăm dò, khai thác PetroVietnam chú trọng những dự án phát triển năng lực các loại dịch vụ, nhất là các loại dịch vụ mang tính kỹ thuật cao như: vận tải, tàu dịch vụ ngoài khơi…
2.2.2- Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam hiện nay gồm:
- Hội đồng Quản trị: Hội đồng Quản trị của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam là người đại diện chủ sở hữu các nguồn vốn của Tổng Công ty do Nhà nước giao, thực hiện chức năng quản lý hoạt động của Tổng công ty, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về sự phát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ Nhà nước giao
- Bộ máy điều hành Tổng Công ty: bao gồm Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng và các phòng ban chức năng giúp việc
Tổng Giám đốc: Tổng giám đốc do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm,
khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Hội đồng Quản trị và Bộ trưởng, Trưởng ban Ban
Tổ chức - Cán bộ Chính phủ
Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của Tổng công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản trị, Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật về điều hành hoạt động của Tổng công ty Tổng giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất trong Tổng công ty
hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty theo phân công của hoặc uỷ quyền của Tổng giám đốc và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được Tổng giám đốc phân công hoặc uỷ quyền
Kế toán trưởng: Kế toán trưởng giúp Tổng giám đốc chỉ đạo, tổ chức thực hiện
công tác kế toán, thống kê của Tổng công ty, có các quyền và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật
Các phòng (ban) chức năng: Các phòng (ban) chức năng chuyên môn, nghiệp vụ
có chức năng tham mưu, giúp việc Hội đồng Quản trị và Tổng giám đốc trong quản lý, điều hành công việc Các Trưởng, Phó các phòng (ban) chức năng của Tổng công ty do Tổng Giám đốc bổ nhiệm và miễn nhiệm Bộ máy tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của các phòng (ban) chức năng do Hội đồng Quản trị quy định theo đề nghị của Tổng Giám đốc
Trang 26Hình 2.1: Bộ máy điều hành Tổng Cơng ty Dầu khí Việt Nam
BAN CHẾ BIẾN DẦU KHÍ
BAN KHÍ - ĐIỆN
BAN KẾ HOẠCH
BAN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
BAN HỢP TÁC QUỐC TẾ VÀ QUẢN LÝ PSC
BAN LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG & CĐCS
BAN LUẬT
BAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VĂN PHÒNG
BAN THĂM DÒ KHAI THÁC TỔ CHỨC BAN CÔNG NGHỆ - AN TOÀN MÔI TRƯỜNG
BAN THƯƠNG MẠI
BAN KIỂM TOÁN NỘI BỘ
BAN TỔ CHỨC NHÂN SỰ - ĐÀO TẠO
BAN THANH TRA BẢO VỆ
BAN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
VĂN PHÒNG THẨM ĐỊNH THẦU
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
Trang 27Hình 2.2: CÁC ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN CỦA TỔNG CƠNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM
CÔNG TY CHẾ BIẾN VÀ KINH DOANH CÁC SẢN PHẨM DẦU MỎ
PDC CÔNG TY CHẾ BIẾN VÀ KINH DOANH CÁC SẢN PHẨM KHÍ
PV GAS CÔNG TY DỊCH VỤ KỸ THUẬT DẦU KHÍ
PTSC CÔNG TY THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG DẦU KHÍ
PVECC CÔNG TY
TƯ VẤN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG DẦU KHÍ
PV ENGINEERING CÔNG TY DUNG DỊCH KHOAN VÀ HÓA PHẨM DẦU KHÍ
DMC CÔNG TY KHOAN VÀ DỊCH VỤ KHOAN DẦU KHÍ
PV DRILLING CÔNG TY DỊCH VỤ VÀ DU LỊCH DẦU KHÍ
PETROSETCO CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ
PVFC CÔNG TY VẬN TẢI DẦU KHÍ
PV TRANS CÔNG TY THƯƠNG MẠI DẦU KHÍ
PETECHIM CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ
PV INSURANCE CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ
PVEP
CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN DẦU KHÍ
PIDC TRƯỜNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DẦU KHÍ
PVTMSC
VIỆN DẦU KHÍ VPI
TRUNG TÂM AN TOÀN VÀ MÔI TRƯỜNG DẦU KHÍ
RDCPSE
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & PHÁT TRIỂN CHẾ BIẾN DẦU KHÍ
RDCPP TRUNG TÂM THÔNG TIN TƯ LIỆU DẦU KHÍ
PIC BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT - QUẢNG NGÃI
BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN CỤM KHÍ ĐIỆM ĐẠM CÀ MAU
CÔNG TY PHÂN ĐẠM VÀ HOÁ CHẤT DẦU KHÍ
BAN CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ CÔNG TRÌNH LIÊN HỢP LỌC HÓA DẦU NGHI SƠN -
THANH HÓA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ PHÚ MỸ - TP HCM
BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI HÀ NỘI
BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN NHÀ SỐ 5 LÊ DUẨN
TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM
Trang 28Bàng 2.3: CÁC CÔNG TY LIÊN DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM
CÁC CÔNG TY LIÊN DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT
NAM
TỶ LỆ % QUYỀN LỢI THAM GIA CỦA PETRO VIET NAM
XÍ NGHIỆP LIÊN DOANH DẦU KHÍ VIETSOCPETRO (VSP) 50%
CÔNG TY LIÊN DOANH ĐIỀU HÀNH HOÀN VŨ JOC LÔ 09-2 50%
CÔNG TY LIÊN DOANH ĐIỀU HÀNH HOÀNG LONG JOC LỘ 16-1 41%
CÔNG TY LIÊN DOANH ĐIỀU HÀNH CỬU LONG 50%
CÔNG TY LIÊN DOANH ĐIỀU HÀNH VIETGASPROM JOC LÔ 112 50%
CÔNG TY LIÊN DOANH ĐIỀU HÀNH JOC TRƯỜNG SƠN 30%
CÔNG TY LIÊN DOANH ĐIỀU HÀNH CÔN SƠN JOC LÔ 10, 11-1 40%
CÔNG TY LIÊN DOANH ĐIỀU HÀNH VRJ 09-3 35%
TỔ HỢP ĐỊA VẬT LÝ THÁI BÌNH DƯƠNG 44% CÔNG TY LIÊN DOANH SẢN XUẤT - SỬA CHỮA CẦN KHOAN ỐNG
CHỐNG – VIETTUBES
30%
CÔNG TY LIÊN DOANH HÓA CHẤT (LG VINA) 15%
CÔNG TY LIÊN DOANH KHÍ HÓA LỎNG VIỆT NAM (VIET NAM LPG) 55%
LIÊN DOANH KHÍ HÓA LỎNG THĂNG LONG (THĂNG LONG LPG) 51%
LIÊN DOANH KHÍ HÓA LỎNG MÊKONG (MEKONG GAS) 87%
CÔNG TY LIÊN DOANH DẦU KHÍ MEKONG 56%
CÔNG TY LIÊN DOANH XÂY LẮP VIỆT NGA 25%
LIÊN DOANH NHỰA VÀ HÓA CHẤT PHÚ MỸ 43%
LIÊN DOANH BARIT TUYÊN QUANG DMC 50%
LIÊN DOANH CHẾ BIẾN SUẤT ĂN DẦU KHÍ 30%
LIÊN DOANH PETRO VIỆT NAM – SÔNG TRÀ 67%
CÔNG TY LIÊN DOANH ĐÁ VÔI TRẮNG NGHỆ AN – DMC 70%
HỢP ĐỒNG HỢP TÁC KINH DOANH ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ NAM CÔN
SƠN
51%
Trang 292.2- TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU DẦU THÔ VÀ THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI DẦU KHÍ CỦA VIỆT NAM
2.2.1 Sản lượng dầu thô xuất khẩu và dự kiến nhu cầu vận chuyển dầu thô
Từ năm 1986, khi Việt Nam bắt đầu khai thác và xuất khẩu dầu thô thì toàn bộ khối lượng dầu thô khai thác được đều phải bán theo điều kiện FOB do ta không có phương
tiện tàu dầu thô để chuyên chở (trước đây Việt Nam chỉ có 1 tàu chở dầu thô Pacific
Falcon trọng tải 60.000 DWT, chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu vận chuyển)
và như vậy Việt Nam mất đi cơ hội thu một lượng ngoại tệ lớn từ dịch vụ vận tải này Do vậy từ năm 1992 Chính phủ đã có chủ trương phát triển đội tàu dầu thô của quốc gia để từng bước đảm nhận vận chuyển đến 30 – 40% khối lượng dầu thô xuất khẩu Với chủ trương phát triển này của Chính phủ, nhu cầu vận chuyển dầu thô ở Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2020 đã được dự kiến như sau:
Bảng 2.4 Dự kiến nhu cầu vận chuyển dầu thô
Đơn vị: triệu tấn/năm
Khối lượng xuất CFR Nhu cầu của
NMLD Năm
Sản lượng khai thác trung bình
Khối lượng xuất khẩu Khối lượng Tỷ lệ %
Từ Bạch
Hổ
Từ Trung Đông
Tổng nhu cầu vận chuyển
2001 – 2004 16 16 Tăng từ 1,6
đến 4,8
Tăng từ 10% đến 30%
- Giai đoạn 2001 – 2004: Chưa có Nhà máy Lọc dầu (NMLD) số 1
- Giai đoạn 2005 – 2008: NMLD số 1 đi vào hoạt động sẽ sử dụng 6,5 triệu tấn dầu thô từ mỏ Bạch Hổ và 4,8 triệu tấn CFR
- Giai đoạn 2009 – 2012: NMLD số 2 đi vào hoạt động sẽ sử dụng 8.75 triệu tấn dầu thô từ mỏ Bạch Hổ; 2,7 triệu tấn CFR và 4,25 triệu tấn nhập từ Trung Đông
Trang 30- Giai đoạn 2013 – 2020: NMLD số 2 đi vào hoạt động sẽ sử dụng 8.75 triệu tấn dầu thô từ mỏ Bạch Hổ; 3,65 triệu tấn CFR và 4,25 triệu tấn nhập từ Trung Đông
2.2.2 Một số tập đoàn có tàu chở dầu thô khu vực Châu Á là khách hàng mua dầu tại Việt Nam
a Tập đoàn COSCO của Trung Quốc: Tập đoàn này hiện có 18 tàu chở dầu thô với tổng trọng tải lên tới 1,8 triệu DWT, trong đó có 5 tàu chở dầu thô cỡ VLCC trọng tải cỡ 300.000 tấn/tàu
Hiện nay Sinopec là một Công ty Dầu khí của Trung Quốc được mua dầu tại Việt Nam
và Trung Quốc có chế độ bảo hộ chặt chẽ, và phần lớn tàu hành trình từ Việt Nam tới Trung Quốc chế độ kiểm tra tàu không nghiêm ngặt, chất lượng tàu không cao do vậy Sinopec thường dùng tàu của COSCO để chở dầu mua của Việt Nam, cước phí thấp do vậy rất khó có thể cạnh tranh được với tàu đến từ Trung Quốc
b Tập đoàn Korea Shipping (KSC): thành lập từ năm 1950, sở hữu 95 tàu chở dầu các loại, tàu của KSC có thể ghé vào 75 cảng chính trên 35 quốc gia, có văn phòng đại diện trên 53 quốc gia Đặc biệt ngành đóng tàu và vận tải của Hàn Quốc rất được bảo hộ
c Tập đoàn Shell của Mỹ: Sở hữu hơn 600 tàu chở dầu thô, dầu sản phẩm và gas
d Tập đoàn Exxon Mobil: Sở hữu hơn 400 tàu chở dầu các loại
e Tập đoàn BP: từ 1950, BP đã có hơn 100 tàu chở dầu thô, hiện nay số tàu đã nâng đến con số trên 700 chiếc hoạt động trên tất cả các cảng dầu chính trên thế giới Trong năm
2003, BP đã mua mới 11 tàu chở dầu thô và thị phần vận tải quốc tế (theo thông tin từ trang web: BP.com) chiếm 64,5% thị phần thị trường quốc tế
f Tập đoàn Teekay Shipping: là hãng điều hành tàu lớn thế giới đối với các tàu dầu thô hạng trung và hiện Teekay được niêm yết tại thị trường chứng khoán New York, Teekay đặt trụ sở chính tại Bahamas, văn phòng điều hành chính tại Vancouver, Canada Công ty Teekay là một tổ chức mang tính toàn cầu cung cấp dịch vụ vận tải dầu thô cho các Công
ty kinh doanh dầu lớn trên thế giới Kể từ năm 1989 đến nay, Teekay đã chuyên chở hơn
200 chuyến dầu thô từ Việt Nam với số lượng vận chuyển trên 16 triệu tấn