Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.. Đo lường lạm phát Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt nhưhiện nay để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tếcũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nềnkinh tế mới Một trong những vấn đề kinh tế nổi cộm hiện nay là lạm phát Lạm phát nhưmột căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu
tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mong muốn đạt kết quả khả quan Kiểm soát lạmphát là nhiệm vụ của Chính phủ Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân,đến đời sống xã hội, đặc biệt là tầng lớp lao động Ở Việt Nam hiện nay, kiềm chế lạmphát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội là mục tiêu rất quan trọng trongphát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân
Tiểu luận với đề tài: “Lạm phát và các giải pháp nhằm hạn chế và kiểm soát
lạm phát ở Việt Nam hiện nay” do Nhóm 9 thực hiện xuất phát từ vấn đề nghiên cứu
lạm phát là cần thiết, cấp bách, mang tính thời sự hiện nay
Với lượng kiến thức còn hạn chế, nhóm em thiết nghĩ quan tâm nghiên cứu đến đềtài cũng là một phương pháp tìm hiểu nó một cách thấu đáo, sâu sắc hơn Trong quá trìnhthực hiện không thể tránh khỏi sai sót Mong Thầy cho nhận xét, đánh giá để giúp chúng
em có thể hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn Thầy !
Nhóm thực hiệnNhóm 9
Trang 4I/ Vấn đề chung về lạm phát
Khái niệm:
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung củanền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sứcmua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền
tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường theo nghĩa đầu tiên thìngười ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia,còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thịtrường toàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranhcãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ số lạmphát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả"
Đo lường lạm phát
Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của mộtlượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệuđược thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chíkinh doanh cũng làm việc này) Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp vớinhau để đưa ra một "mức giá cả trung bình", gọi là mức giá trung bình của một tập hợpcác sản phẩm Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mứcgiá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ
số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trungbình ở thời điểm gốc Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thướccủa một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ sốnày phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụthuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Các phép đo phổ biến của chỉ
số lạm phát bao gồm:
Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh: CLI) là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinhhoạt của một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giảđịnh một cách xấp xỉ Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc mộtCPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính Điều này được xem như là "sự thiênlệch" trong phạm vi CPI CLI có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" để phảnánh những khác biệt trong giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúngdao động một cách rất lớn từ giá cả thế giới nói chung)
Trang 5Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi "người tiêudùng thông thường" một cách có lựa chọn Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sựthay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thườnghay được nhắc tới Các phép đo này thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, donhững người lao động mong muốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặccao hơn tỷ lệ tăng của CPI Đôi khi, các hợp đồng lao động có tính đến các điều chỉnh giá
cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng củaCPI, thông thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phát thực tế (và cũng chỉ sau khilạm phát đã xảy ra)
Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tínhđến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợinhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là khôngbằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán Ở đây cũng có một sự chậm trễ điểnhình giữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó trong CPI Rất nhiềungười tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạmphát CPI "ngày mai" dựa trên lạm phát PPI ngày "hôm nay", mặc dù thành phần của cácchỉ số là khác nhau; một trong những sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các dịchvụ
Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn (thôngthường là trước khi bán có thuế) một cách có lựa chọn Chỉ số này rất giống với PPI
Chỉ số giá hàng hóa đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựachọn Trong trường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng Khinước Mỹ sử dụng bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và bạc
Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội: Nó là
tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP của năm gốc,
từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay GDP thực) (Xemthêm Thực và danh định trong kinh tế) Nó là phép đo mức giá cả được sử dụng rộng rãinhất Các phép khử lạm phát cũng tính toán các thành phần của GDP như chi phí tiêudùng cá nhân Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang đã chuyển sang sử dụng khử lạm phát tiêudùng cá nhân và các phép khử lạm phát khác để tính toán các chính sách kiềm chế lạmphát của mình
Chỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân (PCEPI) Trong "Báo cáo chính sách tiền tệcho Quốc hội" sáu tháng một lần ("Báo cáo Humphrey-Hawkins") ngày 17 tháng 2 năm
2000, Federal Open Market Committee (FOMC) nói rằng ủy ban này đã thay đổi thước
đo cơ bản về lạm phát của mình từ CPI sang "chỉ số giá cả dạng chuỗi của các chi phí tiêudùng cá nhân"
Trang 6Các loại lạm phát phân theo mức độ
Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ của tỷ lệ lạmphát Nếu phân loại lạm phát theo mức độ của tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh tế thường phânbiệt 4 loại lạm phát: thiểu phát, lạm phát thấp, lạm phát cao (lạm phát phi mã) và siêu lạmphát
Thiểu phát: Thiểu phát trong kinh tế học là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp Đây là một vấn nạn
trong quản lý kinh tế vĩ mô Ở Việt Nam, nhiều người thường nhầm lẫn thiểu phát vớigiảm phát Không có tiêu chí chính xác tỷ lệ lạm phát bao nhiêu phần trăm một năm trởxuống thì được coi là thiểu phát Một số tài liệu kinh tế học cho rằng tỷ lệ lạm phát ở mức3-4 phần trăm một năm trở xuống được gọi là thiểu phát Tuy nhiên, ở những nước mà cơquan quản lý tiền tệ (ngân hàng trung ương) rất không ưa lạm phát như Đức và Nhật Bản,thì tỷ lệ lạm phát 3-4 phần trăm một năm được cho là hoàn toàn trung bình, chứ chưaphải thấp đến mức được coi là thiểu phát Ở Việt Nam thời kỳ 2002-2003, tỷ lệ lạm phát
ở mức 3-4 phần trăm một năm, nhưng nhiều nhà kinh tế học Việt Nam cho rằng đây làthiểu phát
Lạm phát thấp: Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 3.0 đến 13 phần
Lạm phát cao (Lạm phát phi mã): Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong
phạm vi hai hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã, nhưng vẫn thấphơn siêu lạm phát Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tậptrung sang nề kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong những nămđầu thực hiện cải cách
Nhìn chung lạm phát thì phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra nhữngbiến dạng kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bị mất giá nhanh, chonên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày Mọingười có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vànghoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn vàtích lũy của cải
Siêu lạm phát: Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả
tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phátđược chấp nhận phổ quát Một định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế ngưười
Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31 ngàythì giá cả lại tăng gấp đôi) Theo định nghĩa này thì cho đến nay thế giới mới trải qua 15cuộc siêu lạm phát Một trường hợp được ghi nhận chi tiết về siêu lạm phát là nước Đức
Trang 7sau Thế chiến thứ nhất Giá một tờ báo đã tăng từ 0,3 mark vào tháng 1 năm 1922 lên đến70.000.000 mark chỉ trong chưa đầy hai năm sau Giá cả của các thứ khác cũng tăngtương tự Từ tháng 1 năm 1922 đến tháng 11 năm 1923, chỉ số giá đã tăng từ 1 lên10.000.000.000 Cuộc siêu lạm phát ở Đức có tác động tiêu cực tới nền kinh tế Đức đếnmức nó thường được coi là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh chủ nghĩa Đứcquốc xã và Thế chiến thứ hai.
Có một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát Thứ nhất, các hiện tượng này chỉxuất hiện trong các hệ thống sử dụng tiền pháp định Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm phát
có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến hoặc cách mạng, do sựcăng thẳng về ngân sách chính phủ Vào thập niên 1980, các cú sốc bên ngoài và cuộckhủng hoảng nợ của Thế giới thứ ba đã đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra siêu lạmphát ở một số nước Mỹ La-tinh
Theo Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế 29, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm phát, đólà: (1) người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; (2) giá cả hàng hóa trongnước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định; (3) các khoản tíndụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn; và (4) lãi suất, tiềncông và giá cả được gắn với chỉ số giá và tỷ lệ lạm phát cộng dồn trong ba năm lên tới
mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi Điều này khuyến khích nhàsản xuất đầu tư mở rộng sản xuất Việc làm được tạo thêm Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm
Các hiệu ứng tiêu cực
Đối với lạm phát dự kiến được
Trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến trước thì các thực thể tham gia vàonền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xãhội:
Chi phí mòn giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền và lãisuất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho người
ta giữ ít tiền hay làm giảm cầu về tiền Khi đó họ cần phải thường xuyên đến ngân hàng
để rút tiền hơn Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ "chi phí mòn giày" để chỉ những tổn
Trang 8thất phát sinh do sự bất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịu nhiềuhơn so với không có lạm phát.
Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các doanh nghiệp sẽmất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm
Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn: trong trường hợp do lạmphát doanh nghiệp này tăng giá (và đương nhiên phát sinh chi phí thực đơn) còn doanhnghiệp khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá cả củadoanh nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với doanh nghiệp tăng giá Donền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nên lạm phát đã dẫn đếntình trạng kém hiệu quả xét trên góc độ vi mô
Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ý muốncủa người làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạm phát Ví dụ:trong trường hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổi nhưng thu nhập danh nghĩatăng do lạm phát thì cá nhân phải nộp thuế thu nhập trên cả phần chênh lệch giữa thunhập danh nghĩa và thu nhập thực tế
Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: đồng tiền được sử dụng để làm thước đotrong tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước này co giãn và vì vậy các
cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của mình
Đối với lạm phát không dự kiến được
Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cải giữa các
cá nhân một cách độc đoán Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập trên lãi suấtdanh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vay được hưởng lợi còn người cho vay
bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến người cho vay sẽ được lợi còn người đi vaychịu thiệt hại Lạm phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tácđộng của nó rất lớn
Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu cựccủa lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là khôngđáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức vừa phải Khilạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc phân phối lại của cảigiữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do vậy chính phủ của tất cả cácnước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này
Trang 91 Thực trạng lạm phát Việt Nam hiện nay
Nhìn chung, lạm phát ở nước ta từ năm 2004 đến nay luôn ở mức khá cao Từ năm
2007 đến nay, lạm phát luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng GDPbình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 khoảng 7,1%, trong khi đó lạm phát bình quânhàng năm khoảng gần 11%
Mức lạm phát nói trên ở nước ta cũng cao hơn nhiều so với lạm phát của các nướctrong khu vực Ví dụ, lạm phát bình quân hàng năm ở Trung Quốc giai đoạn 2006-2009khoảng 3%, ở Indonesia khoảng 8,4%, Thái Lan khoảng 3,1%, Malaysia khoảng 2,7% vàPhilipine khoảng 5,8%,v.v
Cuối tháng 12 /2011, Tổng cục Thống kê Việt Nam chính thức thông báo tỷ lệtăng chỉ số giá tiêu dùng của năm 2010 là 11,75%, cao hơn chỉ tiêu do Quốc hội đề ranăm gần 5%
Qua tới năm 2011, trong bốn tháng đầu năm, lạm phát ở nước ta vẫn ở mức cao vàdiễn biến phức tạp
Lạm phát cuối tháng 4 năm 2011 so với tháng 12 năm 2010 đã tăng 9,64%; tăng17,51% so với tháng 4 năm 2010; lạm phát 4 tháng đầu năm 2011 so với cùng kỹ năm
2010 đã tăng 13,95% Mức lạm phát có thể lên đến 20% trước khi giảm xuống 13% vào
cuối năm theo một dự kiến của Vietnam Property Fund Ltd [3] Nhiều người e sợ rằngViệt Nam trở lại tình trạng lạm phát phi mã gần 30% vào năm 2008 Trong khi đó nhànước nhắm duy trì lạm phát ở mức tối đa là 7% cho cả năm 2011 Điều này xem ra khôngthể nào thực hiện được trên thực tế
Trang 10Biểu đồ: CPI Việt Nam 2007 – 4/2011
Lạm phát 4 tháng đầu năm nay ở nước ta cũng cao hơn nhiều so với các nước kháctrong khu vực Ví dụ, lạm phát tháng 3 năm nay ở Trung Quốc là 5,4% so với cùng kỳnăm ngoái; còn lạm phát quý I năm nay ở Indonesia có thể tăng lên 7,1%, ở Phillipine là4,9%, Thái Lan là 4% và Malaysia là khoảng 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) vừa mới công bố báo cáo triển vọng kinh tế thế giới,theo đó mức tăng trưởng dự báo cho nền kinh tế Việt Nam năm 2011 là 5,8% cùng vớilạm phát kỳ vọng 19% Năm 2012, dự kiến khả năng kiềm chế lạm phát của Việt Nam sẽtốt hơn, mức tăng giá sẽ trong khoảng 12% và tăng trưởng kinh tế là 6,3%
2 Tác động:
Lạm phát cao, kéo dài trong nhiều năm liên tục đã gây nhiều tác động tiêu cực đếnsản xuất và đời sống của người dân Lạm phát cao là một trong các biểu hiện của bất ổnkinh tế vĩ mô
Lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô là bất lợi lớn đối với khuyến khích và thuhút đầu tư; làm cho môi trường kinh doanh ở nước ta kém cạnh tranh hơn so với các nướckhác Lạm phát cao, biến động liên tục đã làm gia tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận;làm cho các kế hoạch đầu tư trung và dài hạn trở nên rủi ro hơn và không dự tính đượcmột cách chắc chắn Hệ quả là, các doanh nghiệp nói chung không những phải cắt giảmđầu tư phát triển, mà có thể phải cắt giảm cả quy mô sản xuất hiện hành để đối phó vớilạm phát cao