TỔNG QUAN TÓM TẮT VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC MÔ HÌNH CGE TẠI VIỆT NAM Cùng với quá trình phát triển của các mô hình CGE và kỹ thuật, bao gồm cả phần mềm máy tính cụ thể, và ứng dụng của chúng
Trang 1CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KỸ THUẬT HẬU GIA NHẬP WTO
DỰ ÁN “ĐÁNH GIÁ TỒNG THỂ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM SAU 5 NĂM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐÁNH GIÁ ĐỊNH LƯỢNG TÁC ĐỘNG CỦA HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội, tháng 9/2012
Trang 2Mục lục
1 TỔNG QUAN CÁC MÔ HÌNH CGE SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH KINH
TẾ 3
2 TỔNG QUAN TÓM TẮT VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC MÔ HÌNH CGE TẠI VIỆT NAM 4
2.1 Đối với chính sách ngoại thương 4
2.2 Đối với thương mại và đầu tư 6
2.3 Đối với chính sách tài khóa (thuế, chi tiêu chính phủ) 7
2.4 Đối với chính sách tiền tệ (tỷ giá hối đoái) 8
2.5 Đối với phân phối thu nhập và nghèo đói 8
3 ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG MÔ HÌNH CGE Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG THI ẾU SÓT 10
3.1 Đánh giá việc sử dụng các mô hình CGE ở Việt Nam 10
3.2 Thiếu sót và giới hạn 11
3.2.1 Đối với cơ sở dữ liệu 11
3.2.2 Đối với các kỹ thuật mô hình CGE 12
4 M ỘT SỐ HƯỚNG CHO NGHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI 14
5 KẾT LUẬN 15
Trang 31 TỔNG QUAN CÁC MÔ HÌNH CGE SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH KINH
TẾ
Việc sử dụng các mô hình cân bằng tổng thể khả tính (CGE) trong những năm gần đây ảnh hưởng đến lĩnh vực khác nhau của chính sách công, bao gồm các chính sách điều chỉnh cơ cấu, thương mại quốc tế, tài chính công, nông nghiệp, phân phối thu nhập, chính sách năng lượng và môi trường, và nhiều chính sách khác Theo Devarajan (2002), đó là do những lợi thế mà chỉ các mô hình CGE có: (i) tính nhất quán giữa các kết quả từ các mô hình CGE và các phương pháp phân tích khác, (ii) các mô hình CGE thâu tóm được các tính năng cụ thể của nền kinh tế, chẳng hạn như tính khó thay đổi của cơ cấu và các hạn chế của thể chế, (iii) các mô hình CGE cung cấp một khuôn khổ phù hợp để đánh giá các mối liên kết và đánh đổi giữa các gói chính sách khác nhau
Trong lý thuyết mô hình, mô hình CGE là mô phỏng dựa trên máy tính về các hiệu ứng trong tương lai của một nhóm các thay đổi chính sách cụ thể (Abbott, Bentzen, Hương, và Tarp, 2007) Trong lĩnh vực được áp dụng nhiều nhất (thương mại), mô hình CGE được sử dụng để đánh giá thương mại, thu nhập, và các hiệu ứng nghèo của các kịch bản tự do hóa khác nhau Mô hình xác định các nguồn tăng, giảm thu nhập từ việc mở cửa thương mại nhiều hơn, và cho thấy chúng được phân phối như thế nào giữa các quốc gia hoặc khu vực Các mô hình CGE cũng tính đến việc bất
kỳ chính sách nhằm vào một khu vực hoặc một nhóm có tác động kinh tế gián tiếp đối với toàn bộ phần còn lại của nền kinh tế Đó là, các bên cung cấp và nhu cầu của một
cú sốc và các tác động trung gian của các thị trường được phân tích cùng một lúc Các
mô hình nắm bắt được tác động của các mối liên kết thông qua các yếu tố và thị trường sản phẩm, tới các quyết định của hộ gia đình, và xa hơn nữa tới các đối tác thương mại, và ngược lại thông qua các yếu tố và các thị trường sản phẩm
Các mô hình CGE cũng bị lạm dụng trong phân tích chính sách, bao gồm: (i) đẩy mô hình vượt ra ngoài phạm vi áp dụng của nó, (ii) vi phạm các nguyên tắc của Occam là sử dụng mô hình đơn giản nhất phù hợp với nhiệm vụ, (iii) "hội chứng hộp đen" - kết quả không phù hợp hoặc thích hợp với các thay đổi chính sách.1
1 Khi đánh giá việc sử dụng các mô hình CGE trong phân tích chính sách, điều quan trọng là phân biệt giữa các mô hình cách điệu hóa và mô hình ứng dụng Sự khác biệt quan trọng nhất là các mô hình cách điệu hóa có xu hướng nhỏ, tập trung và nhấn mạnh một chuỗi nguyên nhân hoặc chính sách cụ thể Trong khi đó, mô hình ứng dụng thường lớn hơn, tìm cách nắm bắt đặc điểm thể chế quan trọng của nền kinh tế được mô hình hóa, và bao gồm một phổ rộng các vấn đề Các mô hình này, tuy nhiên,
dễ bị hội chứng hộp đen và vi phạm ranh giới Occam (sử dụng mô hình đơn giản nhất phù hợp với nhiệm vụ) Do vậy, nên phối hợp sử dụng cả hai loại mô hình CGE cách điệu hóa và ứng dụng (Devarajan, 2002)
Trang 4
2 TỔNG QUAN TÓM TẮT VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC MÔ HÌNH CGE TẠI VIỆT NAM
Cùng với quá trình phát triển của các mô hình CGE và kỹ thuật, bao gồm cả phần mềm máy tính cụ thể, và ứng dụng của chúng trong phân tích kinh tế trên thế giới, đã có một nhóm ngày càng tăng của các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách sử dụng các mô hình CGE để khai thác lợi thế của mô hình trong các vấn đề kinh
tế khác nhau Trong đó, các lĩnh vực chính là: ngoại thương, đầu tư trực tiếp nước ngoài, chính sách tài khóa (thuế, chi tiêu chính phủ), chính sách tiền tệ (tỷ giá hối đoái), phân phối thu nhập và nghèo đói
2.1 Đối với chính sách ngoại thương
Ngoại thương và chính sách thương mại là một trong những lĩnh vực đầu tiên
mà các nhà kinh tế và hoạch định chính sách sử dụng kỹ thuật CGE Mô hình CGE đã được sử dụng rộng rãi trong phân tích ngoại thương vì thực tế rằng hầu hết các tác động của chính sách thương mại là hiệu ứng cân bằng tổng thể (Devarajan, 2002) Áp dụng mô hình CGE để phân tích tác động của chính sách thương mại cũng là một trong những nỗ lực đầu tiên của việc sử dụng các mô hình CGE tại Việt Nam Giữa những năm 1990, phiên bản đầu tiên của Ma trận hạch toán xã hội (SAM) được xây dựng để sử dụng trong các mô hình CGE Điều này là do thực tế rằng Việt Nam tham gia cộng đồng ASEAN và mở cửa nền kinh tế với khu vực và thế giới, và một trong những lĩnh vực quan trọng nhất trong quá trình này là ngoại thương Như chỉ ra về mặt lý thuyết và thực nghiệm, các mô hình CGE là những công cụ quan trọng và phù hợp cho việc phân tích kinh tế của các tác động của tự do hóa thương mại Các kết quả của chính sách và các kịch bản tự do hóa thương mại dựa trên các mô hình CGE phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở dữ liệu - SAM Sau đó đã có những nỗ lực đáng kể trong việc biên soạn một cơ sở dữ liệu nắm bắt được cấu trúc chính của nền kinh tế khá chi tiết - SAM (CIEM, 1998; Nielsen, 2001)
Rama và Sa (2005), Abbott và cộng sự (2006) đã tổng quan các nghiên cứu gần đây liên quan đến các tác động của hiệp định thương mại của Việt Nam và việc gia nhập WTO Họ nhận thấy rằng hầu hết các nghiên cứu này sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) để đánh giá tác động của cải cách thương mại đến toàn nền kinh
tế Những nghiên cứu này hoặc sử dụng mô hình GTAP (Hertel và Tsigas, 1997) hoặc
mô hình Linkage của Ngân hàng Thế giới (van de Mensbrugghe, 2005) Những mô hình này nắm bắt hiệu ứng toàn nền kinh tế thông qua nhiều ngành và thị trường yếu
tố sản xuất cũng như các hộ gia đình và chính phủ, vốn và lao động được phân bổ thông qua thuế và các ưu đãi thuế quan, và giả định một thị trường cạnh tranh hoàn hảo Sự khác biệt chính trong các mô hình này là mức độ gộp các ngành
Cơ sở dữ liệu cho các mô hình này thường được lấy từ bảng đầu vào-đầu ra (IO) của Việt Nam năm 1996, ma trận hạch toán xã hội (SAM) năm 1997 bằng cách
sử dụng GTAP hoặc một SAM được sử dụng trong Tarp (2001, 2002) và Jensen và
Trang 5cộng sự (2004) Dữ liệu hộ gia đình được lấy từ Điều tra mức sống dân cư Việt Nam Một đặc điểm chính khác của các mô hình này là cho dù đó là mô phỏng để ước tính kết quả ngắn hạn hoặc dài hạn, phần lớn các nghiên cứu này là mô hình tĩnh và do đó, không cho thấy các hiệu ứng dồn tích và chuyển tiếp cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn như các mô hình động Đối với trường hợp tự do hóa thương mại, các mô phỏng chủ yếu được thực hiện trên các mô hình này là những tác động của AFTA, APEC, WTO,
và US-BTA đối với nền kinh tế của Việt Nam Fukase và Martin (1999) sử dụng mô hình GTAP để ước tính hiệu ứng của tự do hóa thương mại của Việt Nam theo AFTA, APEC và các kịch bản tự do hóa đơn phương với kết quả là lợi ích kinh tế cho Việt Nam từ AFTA dường như nhỏ do: tỷ trọng xuất khẩu từ Việt Nam sang AFTA là nhỏ, lợi ích từ việc tạo dựng thương mại phải bù đắp cho chi phí chuyển hướng thương mại; và điều khoản thương mại có thể bất lợi Tuy nhiên, với tự do hóa đơn phương
và tự do hóa trong khuôn khổ cam kết APEC, lợi ích kinh tế đối với Việt Nam sẽ cao hơn Tương tự như vậy, Phương (2003) phát hiện ra rằng mặc dù có tác động tích cực
từ tự do hóa thương mại, kết quả tổng thể là tương đối nhỏ (GDP chỉ tăng 1,6% khi gia nhập AFTA, và 4% khi tự do hóa toàn cầu)
Gần đây, Hương và Vanzetti (2006) đánh giá tác động của tự do hóa của Việt Nam sử dụng mô hình GTAP cho thấy rằng cả nhập khẩu và xuất khẩu tăng trong tất
cả các ngành, đặc biệt là trong dệt may; và mức phúc lợi khá cao, đặc biệt là từ tự do hóa đơn phương Lao động phổ thông tăng 38% với đa số lao động làm việc trong các ngành dệt may, may mặc, sản phẩm gỗ và viễn thông Tuy nhiên, kết quả này có vẻ không thực tế với sự đánh đổi giữa việc sử dụng lao động và tiền lương, nên cần có một cách đóng mô hình thực tế hơn.Bên cạnh mô hình GTAP, đã có các mô hình CGE khác sử dụng để ước tính các tác động kinh tế của tự do hóa thương mại của Việt Nam Ví dụ, Chân và Dung (2001) đã xây dựng một mô hình CGE dựa vào bảng đầu vào-đầu ra của Việt Nam năm 1996, mô phỏng việc giảm tất cả thuế quan của Việt Nam xuống 5% và thay thế thuế doanh thu với thuế GTGT Kết quả của họ cho thấy một số ngành (than, dầu, khí đốt, giao thông vận tải, thông tin liên lạc và chế tác công nghệ thấp) mở rộng sản xuất; trong khi đó các ngành khác (nông nghiệp, tài chính, ngân hàng và bảo hiểm) giảm sản lượng Với việc giảm thuế quan, xuất nhập khẩu tăng lên đáng kể (tương ứng là 7,8% và 5%), trong đó xuất khẩu của các ngành chế tác công nghệ thấp tăng trong khi lĩnh vực nông nghiệp, ngân hàng và tài chính sụt giảm
Doanh và Yoon Heo (2009) sử dụng một mô hình CGE cụ thể để ước tính các tác động kinh tế và phúc lợi của việc cắt giảm thuế quan sau khi gia nhập WTO của Việt Nam gia nhập WTO có phân biệt các thay đổi trong hệ thống thuế trong nước, 10 nhóm hộ gia đình, dựa trên các Bảng đầu vào-đầu ra 2000 và VHLSS 2004 Những phát hiện chính là Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ cắt giảm thuế quan sau khi gia nhập WTO thể hiện ở tăng GDP, tổng phúc lợi và tiêu dùng (trong khi sự gia tăng GDP có được là nhờ nâng cao hiệu quả của việc phân bổ lại nguồn lực, sự gia tăng phúc lợi tổng thể là do tăng các giá các yếu tố sản xuất và giảm giá tiêu dùng Cả khối lượng
Trang 6xuất nhập khẩu đều tăng do cầu trong nước cao hơn kết hợp với giá nhập khẩu thấp hơn Do gia tăng xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, cán cân thương mại sẽ được cải thiện Mức phúc lợi tổng thể cao hơn đi kèm với hiệu ứng phân phối do sự thay đổi trong giá cả yếu tố sản xuất và cấu trúc tiêu dùng Bất bình đẳng tương đối giữa người giàu nhất và tăng nghèo nhất tăng nhẹ, trong khi đó sự bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn giảm
Đối với các mô hình CGE động, Roland-Holst và cộng sự (2002) mô phỏng một mô hình CGE động từ giai đoạn 2000 đến năm 2020 để phân tích các tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO Họ tập trung vào tầm quan trọng của cải cách trong nước cũng như tự do hóa thị trường vốn cùng với việc gia nhập WTO Các tác giả nhận thấy rằng nếu Việt Nam gia nhập WTO theo phong cách thụ động mà không
có bất kỳ cải cách trong nước, điều này sẽ mang lại lợi ích không đáng kể cho nền kinh tế vì nếu không có cải cách trong nước, nền kinh tế Việt Nam sẽ chỉ tăng cường lợi thế so sánh trong các ngành lương thấp, dẫn đến xói mòn lợi ích chung của Việt Nam từ thương mại Ngoài ra, tự do hóa thị trường vốn sẽ thúc đẩy tăng trưởng nếu
nó được thực hiện cùng với các cải cách trong nước và gia nhập WTO.Toàn (2005) đã phát triển một mô hình CGE năng động cho nền kinh tế Việt Nam và mô phỏng cắt giảm 5% thuế quan theo cam kết WTO Những phát hiện chính của nghiên cứu này là cắt giảm thuế quan sẽ dẫn đến việc mở rộng công nghiệp chế tác gây thiệt hại cho ngành nông nghiệp và dịch vụ trong dài hạn Do đó, nhập khẩu nông sản và dịch vụ,
và xuất khẩu sản phẩm sản phẩm chế tác sẽ tăng lên
2.2 Đối với thương mại và đầu tư
Abbott và cộng sự (2008) sử dụng một mô hình CGE một quốc gia cách điệu động để khám phá quan hệ giữa thương mại và phát triển tại Việt Nam Động cơ thúc đẩy ở đây là cải cách thuế quan, cơ hội tiếp cận thị trường và cải cách thể chế, tất cả đều ảnh hưởng cả mức độ và cấu trúc đầu tư theo ngành (tăng thêm năng lực), theo đó quyết định tăng trưởng Cải cách chính sách thương mại, bao gồm cải cách thể chế và
cơ hội tiếp cận thị trường đạt được thông qua các hiệp định thương mại, tạo ra các ưu đãi ảnh hưởng tới mức độ và việc phân bổ đầu tư theo ngành Mô hình CGE cách điệu với 35 ngành được sử dụng để dự đoán mức độ thương mại ròng của Việt Nam bắt đầu từ năm 2000 đến năm 2005 Cân bằng thị trường của nền kinh tế gồm sản xuất và nhập khẩu bằng cầu trung gian cộng với tiêu dùng cá nhân và chính phủ cộng với cầu đầu tư công và tư nhân cộng với xuất khẩu
Các kết quả mô hình làm nổi bật vai trò của nhà nước trong phân bổ đầu tư và huy động tiết kiệm ở Việt Nam, và tầm quan trọng của tích lũy vốn trong thành tựu phát triển của Việt Nam Điều đó cho thấy tầm quan trọng của đầu tư công và cấu trúc đầu tư của nền kinh tế: trong khi nhà nước đặc biệt chiếm ưu thế trong lĩnh vực năng lượng, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào công nghiệp chế tác và các doanh nghiệp tư nhân trong nước chú trọng nông nghiệp và dịch vụ Tác động của tự
Trang 7do hóa thương mại lớn hơn trong các kịch bản thay đổi cấu trúc đầu tư theo các cam kết thương mại chứ không phải là hậu quả của việc cắt giảm thuế quan
2.3 Đối với chính sách tài khóa (thuế, chi tiêu chính phủ)
Dựa trên sự đóng góp của Harberger về tác động bóp méo của thuế dựa trên một mô hình cân bằng tổng thể đơn giản cho khu tài chính công Do tài chính công là mối quan tâm lớn của nhà hoạch định chính sách, đương nhiên là các mô hình CGE cũng được đưa vào lĩnh vực chính sách thông qua khu vực này Các mô hình CGE đã được sử dụng để đánh giá các vấn đề tài chính công, đặc biệt là cải cách thuế.2
Giesecke và Trần (2009) sử dụng kỹ thuật CGE để đánh giá những hậu quả kinh tế vĩ
mô và ngành do thực hiện cải cách thuế giá trị gia tăng của Việt Nam Mô hình được
sử dụng trong nghiên cứu của họ (VIPAG) là mô hình CGE động cho nền kinh tế Việt Nam, bao gồm phân chia các hàng hóa và người sử dụng khá chi tiết; tương tự như
mô hình MONASH (Dixon và Rimmer 2002) Mô hình của họ sử dụng SAM của Việt Nam năm 2005 với 113 ngành và 113 mặt hàng, ba yếu tố chính là lao động, vốn và đất đai Lao động được phân chia nhỏ hơn theo kỹ năng Khả năng thay thế không hoàn hảo giữa hàng hóa trong nước và nhập khẩu của từng mặt hàng được đưa vào
mô hình thông qua giả định Armington về độ co dãn thay thế bất biến (CES) Ba loại điều chỉnh động là tích lũy vốn, tích lũy nợ ròng và điều chỉnh với độ trễ Tích lũy vốn mang tính đặc thù của ngành, và có quan hệ với đầu tư ròng của ngành công nghiệp cụ thể Thay đổi hàng năm về nợ ròng của khu vực tư nhân và của khu vực công có liên quan đến sự mất cân bằng giữa đầu tư và tiết kiệm hàng năm của họ Trong mô phỏng chính sách, thị trường lao động được điều chỉnh với độ trễ Trong ngắn hạn, tiền lương theo giá so sánh của người tiêu dùng không đổi, do đó áp lực đối với thị trường lao động trong ngắn hạn chủ yếu biểu hiện qua những thay đổi trong việc làm Trong dài hạn, áp lực của thị trường lao động phản ánh những thay đổi trong tiền lương theo giá so sánh
Đặc biệt, một hệ thống thuế giá trị gia tăng phức tạp, bao gồm nhiều mức thuế, nhiều miễn trừ, nhiều mức độ hoàn thuế giữa các người sử dụng hàng hóa, và các doanh nghiệp cùng lúc sản xuất nhiều sản phẩm đã được đưa vào mô hình Mô phỏng được thực hiện là ba mức thuế suất thuế giá trị gia tăng được thay thế bằng một mức duy nhất là mức thuế không làm thay đổi tổng thu từ thuế, đồng thời loại bỏ các miễn trừ thuế giá trị gia tăng tùy tiện Kết quả cho thấy GDP theo giá so sánh, đầu tư, tiêu dùng tư nhân tăng lên, và hầu hết các ngành đều cùng mở rộng sản xuất Đặc biệt, ngành nhà ở bùng nổ nhưng giá nhà đất lại thấp hơn
2 Ví dụ, mô hình ORANI được xây dựng đầu tiên tại Úc vào năm 1977 Sau đó, các mô hình ORANI/MONASH đã đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc tranh luận của công chúng về thuế nhập khẩu ô tô, thuế nhập khẩu hàng dệt, mức độ bảo hộ tổng thể và thuế doanh thu (Dixon, 2001)
Trang 8
Mô hình VIPAG có thể ước tính tác động của những thay đổi trong hầu hết các biến số chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách thuế và chính sách chi tiêu của chính phủ Một số mô phỏng sử dụng mô hình này đã chứng minh kết quả khá phù hợp trong việc thay đổi mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, tỷ lệ đầu tư công, cơ cấu chi tiêu công, v.v…
2.4 Đối với chính sách tiền tệ (tỷ giá hối đoái)
Chính sách tiền tệ, đặc biệt là tỷ giá hối đoái là một trong những lĩnh vực quan trọng để sử dụng mô hình CGE Ngoài ra, khi một quốc gia thực hiện chương trình điều chỉnh cơ cấu nhằm khôi phục lại cân đối kinh tế vĩ mô đồng thời giảm các méo
mó trong cơ cấu kinh tế Về nhiều phương diện, các mô hình CGE rất phù hợp để đánh giá các chương trình như vậy Các mô hình này có thể lột tả những điều chỉnh kinh tế vĩ mô, chẳng hạn như sự phá giá của tỷ giá hối đoái thực, cùng với một số các chính sách kinh tế vi mô, chẳng hạn như giảm các rào cản thương mại, trong một khuôn khổ nhất quán.3
Mô hình VIPAG (2008) có thể được sử dụng để đánh giá các tác động của điều chỉnh tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế Việt Nam Đây là mô hình CGE động với mức độ phân chia hàng hóa và người sử dụng khá chi tiết theo kiểu mô hình MONASH (Dixon và Rimmer 2002) Mô hình VIPAG sử dụng SAM của Việt Nam năm 2005 với 113 ngành và 113 mặt hàng, ba yếu tố sản xuất sơ cấp là lao động, vốn
và đất đai Việc phá giá tỷ giá hối đoái sẽ dẫn đến sự gia tăng trong xuất khẩu và có tác động đến tốc độ tăng trưởng GDP cũng như các chỉ số kinh tế vĩ mô chính khác, theo đúng lí thuyết
2.5 Đối với phân phối thu nhập và nghèo đói
Cùng với chính sách thương mại, phân phối thu nhập và nghèo đói là một trong các lĩnh vực quan trọng nhất và sử dụng các mô hình CGE khá thường xuyên do lợi thế có một không hai của loại mô hình này so với các kỹ thuật khác Các mô hình này có thể xử lý nhiều vấn đề khác nhau, bao gồm cả việc người nghèo bị ảnh hưởng bởi chính sách thương mại, chính sách thuế, chính sách điều chỉnh cơ cấu, và các chính sách khác.4
3 Các mô hình CGE cho thấy tác động đơn giản và dễ hiểu của chính sách điều chỉnh, chẳng hạn như phá giá tỷ giá hối đoái thực và điều chỉnh điều khoản thương mại (Devarajan, Lewis và Robinson (1993)
4 Vào đầu những năm 1990 đã có một số mô hình CGE xem xét hậu quả đối với phân phối thu nhập của các chính sách điều chỉnh (ví dụ, Bourguignon, de Melo, và Morrison (1991))
Trang 9
Cũng đã có một số mô hình CGE nghiên cứu phân phối thu nhập và nghèo đói cùng với tự do hóa thương mại dựa trên việc sử dụng số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VLSS) Đó là do Việt Nam đã giảm nghèo đáng kể trong quá trình cải cách kinh tế và tự do hóa thương mại
Gallup (2002) cũng cho thấy rằng mặc dù đói nghèo đã giảm đáng kể ở Việt Nam, bất bình đẳng về tiền lương đã tăng lên Hương (2003) đã trình bày một mô hình CGE dựa trên bảng IO của Việt Nam năm 1996 và cơ sở dữ liệu VLSS 1992/1993 Với mô phỏng giảm 5% thuế quan và việc giảm thu thuế quan được bù đắp lại bằng tăng thuế gián tiếp hoặc vay bên ngoài, tác giả nhận thấy rằng nền kinh tế
đã tăng trưởng với một tốc độ chậm hơn khi tăng thuế gián tiếp; các hộ gia đình trong khi đó có lợi ít hơn từ tự do hóa thương mại Hộ dân nông thôn đã đạt được nhiều hơn
so với các hộ gia đình thành thị, và có sự cải thiện trong bất bình đẳng thu nhập giữa các hộ gia đình nông thôn và thành thị Trong trường hợp sử dụng vay bên ngoài, nền kinh tế đạt mức phúc lợi cao hơn so với lựa chọn đầu, nhưng bất bình đẳng có xu hướng doãng rộng giữa các hộ gia đình nông thôn và thành thị
Jensen và Tarp (2003) nghiên cứu các mô hình CGE tĩnh với cơ sở dữ liệu SAM Việt Nam năm 2000 và số liệu VLSS năm 1998 (1 mô hình có 16 nhóm hộ gia đình và mô hình kia có 6002 hộ gia đình) Ba thử nghiệm là: xóa bỏ thuế xuất khẩu, xóa bỏ thuế nhập khẩu; và xóa bỏ cả thuế xuất khẩu lẫn thuế nhập khẩu Kết quả cho thấy rằng khi bỏ thuế ngoại thương số lượng những người sống trong nghèo đói tăng, đặc biệt là đối với trường hợp của các hộ gia đình nông nghiệp nông thôn ở vùng núi phía bắc Việt Nam, dẫn đến sự chênh lệch về nghèo giữa các vùng xấu đi
Nguyễn và Ezaki (2005) cũng đã xây dựng một mô hình CGE bằng cách sử dụng dữ liệu GTAP và các số liệu VHLSS năm 2002 Với mô phỏng các kịch bản tự
do hóa thương mại khác nhau (xoá bỏ thuế quan giữa: Việt Nam và ASEAN-4, Việt Nam và ASEAN-4 và Trung Quốc, các nền kinh tế công nghiệp hóa mới ở Đông Á và Nhật Bản, Bắc Mỹ, và tự do hóa thương mại đa phương, Các tác giả ngạc nhiên thấy rằng GDP thực tế đã giảm trong tất cả các kịch bản, mặc dù có sự gia tăng trong tiêu dùng tư nhân và thương mại, thu nhập hộ gia đình và thu nhập lao động
Trong một mô hình CGE động, Toàn (2005) thấy rằng với cắt giảm thuế quan của Việt Nam xuống 5% theo cam kết WTO, trong dài hạn, việc tự do hóa thương mại
sẽ tăng các khoảng cách thu nhập giữa các hộ gia đình thành thị và nông thôn vì công nghiệp chế tác mở rộng sản xuất làm ảnh hưởng xấu đến nông nghiệp và các ngành dịch vụ
Fujii và Roland-Holst (2008) khám phá phương diện không gian của đói nghèo liên quan đến việc Việt Nam gia nhập WTO bằng cách sử dụng một mô phỏng
vi mô tích hợp mô hình với mô hình CGE với ước lượng diện nhỏ cho toàn bộ các mục tiêu kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô Họ đã sử dụng một bảng SAM 38 ngành kết nối với dữ liệu không gian của các biến số địa lý và chi tiêu, thu nhập hộ gia đình, và
từ VLSS và tổng điều tra dân số Những cú sốc thương mại tạo ra các thay đổi về giá
Trang 10đầu ra, và điều này về phần mình gây ra những thay đổi ở cấp ngành đối với sản phẩm giá trị biên của các yếu tố sản xuất, dẫn đến lao động và các yếu tố có thể phân bổ được chuyển dịch giữa các ngành cùng với những thay đổi về giá các yếu tố sản xuất
Đối với phúc lợi xã hội, nghiên cứu của họ cho thấy kết quả rằng tự do hóa thương mại làm tăng phúc lợi tổng hợp và giảm nghèo, trong khi đó bất bình đẳng thu nhập sẽ tăng lên Cả hai đơn phương và tự do hóa toàn cầu sản xuất dẫn đến tăng đầu
ra của ngành may mặc và các ngành khác sử dụng nhiều lao động, nhưng tự do hóa toàn cầu dẫn đến sự gia tăng lớn trong sản lượng nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên Mức nghèo sẽ giảm khi Việt Nam loại bỏ tất cả thuế nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu Những cải thiện về tình trạng đói nghèo thậm chí còn lớn hơn khi các nước khác cũng loại bỏ thuế quan đối với các sản phẩm Việt Nam
3.1 Đánh giá việc sử dụng các mô hình CGE ở Việt Nam
Mô hình CGE đã chứng tỏ là một công cụ mạnh để đánh giá định lượng tác động của các chính sách công, đặc biệt là thương mại và các chính sách liên quan trong bối cảnh hội nhập kinh tế ở Việt Nam Có một số tính năng chính của việc sử dụng các mô hình CGE tại Việt Nam, như sau:
- Ngày càng có nhiều mô hình CGE được sử dụng để đánh giá tác động của các chính sách kinh tế và điều chỉnh cơ cấu ở Việt Nam Hầu hết các mô hình CGE cho nền kinh tế Việt Nam là tĩnh Chỉ có một vài mô hình động
- Các dạng hàm của các mô hình CGE chủ yếu là theo hoặc mô hình GTAP hoặc mô hình Linkage của Ngân hàng Thế giới, theo đó nắm bắt được toàn bộ các quan hệ giữa các ngành khác nhau, các thị trường nhân tố sản xuất, các hộ gia đình,
và chính phủ, phân bổ vốn khan hiếm và lao động cho việc sử dụng hiệu quả nhất dưới động lực chịu ảnh hưởng của thuế quan cũng như các biến số chính sách khác trong toàn nền kinh tế
- Hầu hết các mô hình CGE giả định cạnh tranh hoàn hảo, thị trường hiệu quả,
và không cho phép các nền kinh tế quy mô
- Mức phân chia ngành khá đa dạng dựa trên các mục tiêu nghiên cứu Nhiều nghiên cứu hạn chế SAM dưới 20 ngành gộp Một vài nghiên cứu sử dụng các chi tiết của bảng IO với trên 100 ngành (VIPAG sử dụng 113 ngành)
- Các cơ sở dữ liệu cho các mô hình CGE chủ yếu là bảng IO chính thức 1996,
và bảng SAM sử dụng số liệu kinh tế vĩ mô năm 1997 như trong các mô hình dựa trên GTAP Một số mô hình CGE sử dụng SAM cập nhật (SAM 1999, SAM 2003, SAM 2005) VLSS 1992/93 và 1997/98 là những nguồn thông tin quan trọng về các hộ gia