Mục đích chính của REACH là: - Đảm bảo mọi hóa chất sử dụng ở EU, dù nhập khẩu hay sản xuất trong khu vực đáp ứng các tiêu chuẩn về sức khỏe và an toàn; - Buộc các nhà sản xuất và các nh
Trang 1CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA EU ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM
1 Dệt may
Các vấn đề TBT chủ yếu được quy định trong luật của EU liên quan đến ngành này bao gồm:
- Ngăn chặn việc sử dụng một số loại hóa chất trong quá trình sản xuất và dư lượng hóa chất tối đa được phép tồn tại trong thành phẩm
- Tên sản phẩm dệt và nhãn sợi
- Đóng gói
- Đánh giá tuân thủ và dấu CE
a) Ngăn chặn việc sử dụng một số loại hóa chất trong quá trình sản xuất và
dư lượng hóa chất tối đa được phép tồn tại trong thành phẩm
REACH: Quy định (EC) số 1907/2006 của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày
18/12/2006 về việc đăng ký, đánh giá, cấp phép và hạn chế sử dụng các loại hóa chất (REACH), đã thành lập Cơ quan Hóa chất châu Âu, sửa đổi Chỉ thị 1999/45/
EC và thay thế Quy định của Hội đồng (EEC) số 793/93 và Quy định của Ủy ban (EC) số 1488/94 cũng như Chỉ thị của Hội đồng số 76/769/EEC và các Chỉ thị của Ủy ban số 91/155/EEC, 93/67/EEC, 93/105/EC và 2000/21/EC Mục đích chính của REACH là:
- Đảm bảo mọi hóa chất sử dụng ở EU, dù nhập khẩu hay sản xuất trong khu vực đáp ứng các tiêu chuẩn về sức khỏe và an toàn;
- Buộc các nhà sản xuất và các nhà nhập khẩu phải có trách nhiệm đối với việc sử dụng và xử lý an toàn các chất của mình tạo ra;
- Thay thế các chất có nhiều khả năng nguy hại nhất bằng những chất ít nguy hại hơn trong khả năng có thể;
- Thành lập Cơ quan Hóa chất châu Âu để đăng ký, đánh giá, phê duy ệt việc
sử dụng mọi hóa chất
Vì thế, REACH chủ yếu đặt ra những giới hạn đối với việc sản xuất và sử dụng hóa chất ở EU, không áp dụng trực tiếp đối với việc sử dụng hoá chất bởi các nhà sản xuất của Việt Nam, ngoại trừ những quy định cấm và hạn chế cụ thể tại Phụ lục XVII của Chỉ thị của Hội đồng ngày 27/7/1976 về việc điều chỉnh thống nhất các luật, quy định và biện pháp hành chính của các quốc gia thành viên liên quan đến các hạn chế về tiếp thị và sử dụng các chất nguy hiểm
Trang 2Phụ lục XVII cấm bán trên thị trường các sản phẩm dệt may, sản phẩm da và giầy dép, sản phẩm điện tử, sản phẩm gỗ trong quá trình sản xuất có sử dụng hoặc trong thành phần cấu thành có các loại hóa chất nhất định Phụ lục này cũng đặt ra các hạn chế tối đa về dư lượng hóa chất trong các thành phẩm bán trên thị trường
EU Mặc dù những hạn chế và cấm đoán này đã có hiệu lực trước khi REACH bắt đầu có hiệu lực, việc nhập các quy định này vào REACH sẽ có nhiều tác động đến các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Tuy nhiên, ngoài việc áp dụng trực tiếp Phụ lục XVII, REACH có khả năng tác động gián tiếp đến các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam liên quan đến việc sử dụng các hóa chất không đăng ký theo REACH Người tiêu dùng có thể sẽ không mua những sản phẩm nhập khẩu bán trên thị trường tro ng quá trình sản xuất có
sử dụng hoặc trong thành phần cấu thành có chứa những hóa chất mà các nhà sản xuất của EU không được phép sử dụng theo REACH Điều này có thể dẫn đến việc các nhà nhập khẩu của EU sẽ yêu cầu các nhà cung ứng từ các quốc gia thứ ba như Việt Nam chỉ đ ược sử dụng những hóa chất đã đăng ký theo REACH cho việc sản xuất các sản phẩm Ngoài ra, đối với những hóa chất bị cấm sử dụng theo REACH vì lý do sức khỏe công cộng, nhiều khả năng các cơ quan quản lý của các quốc gia thứ ba như Việt Nam cũng sẽ áp dụng tương tự và cấm các nhà sản xuất của Việt Nam sử dụng các hóa chất này
Danh sách chính xác các hóa chất được phép sử dụng theo REACH chưa được công bố cho đến khi hoàn tất quá trình đăng ký và cho phép sử dụng các hóa chất theo quy định của REACH Quá trình này có thể kéo dài ít nhất 10 năm Vì thế, các doanh nghiệp xuất khẩu cần theo dõi sát việc đăng ký và cho phép
sử dụng hóa chất bởi Cơ quan Hóa chất châu Âu
b) Tên sản phẩm dệt và nhãn sợi
Các quy định sau đề ra các y êu cầu về việc sử dụng tên sản phẩm dệt và nhãn sợi:
- Chỉ thị 96/74/EC về tên sản phẩm dệt đặt ra yêu cầu nhãn sợi đối với các sản phẩm dệt;
- Các Chỉ thị 96/73/EC và 73/44/EEC quy định chi tiết phương pháp phân tích để kiểm tra thành phần sản phẩm dệt có đúng với thông tin trên nhãn hay không ;
- Chỉ thị 2008/121/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 14/1/2009
về tên sản phẩm dệt (quy định lại).EU hiện đang đề xuất một quy định mới
Trang 3về các loại tên sợi mới liên quan đến tên sản phẩm dệt, nhãn sợi và các thủ tục liên quan để thực hiện các Chỉ thị nêu trên
c) Đóng gói: các yêu cầu về dấu và nhận dạng, hạn chế sử dụng các kim loại nặng
Chỉ thị của Nghị viện v à Hội đồng châu Âu số 94/62/EC ngày 20/12/1994 về đóng gói và rác thải bao gói quy định các quốc gia thành viên EU phải áp dụng việc hạn chế sử dụng kim loại nặng và đảm bảo bao gói được đánh dấu và nhận dạng để tạo thuận lợi cho việc thu gom rác thải bao gói
d) Đánh giá tuân thủ và dấu CE
Chỉ thị của Hội đồng 88/378/EEC ngày 3/5/1988 về việc điều chỉnh thống nhất luật của các quốc gia thành viên về đảm bảo tính an toàn của các sản phẩm đồ chơi
đề ra các yêu cầu an toàn thiết yếu đối với các sản phẩm đồ chơi, kể cả các sản phẩm đồ chơi được làm từ các vật liệu dệt may, đồng thời cũng quy định về dấu
CE
Lưu ý: Nhìn chung dấu CE không bắt buộc đối với các sản phẩm dệt may
2 Giày dép
Các vấn đề TBT chủ yếu được quy định trong luật của EU bao gồm:
- Sử dụng hóa chất trong quá trình sản xuất
- Sử dụng tên sản phẩm dệt và nhãn sợi
- Đóng gói
a) Hóa chất trong quá trình sản xuất
REACH áp dụng đối với các sản phẩm da và giày dép tương tự như đối với các sản phẩm dệt may
b) Vật liệu sử dụng: Yêu cầu nhãn hàng hóa
Chỉ thị 94/11/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 23/3/1994 về việc điều chỉnh thống nhất luật, quy định và thủ tục hành chính của các quốc gia thành viên liên quan đến việc dán nhãn các vật liệu sử dụng trong cấu phần chính của giày dép bán cho người tiêu dùng, cập nhật tại thời điểm hiện tại
c) Đóng gói
Tương tự như đối với ngành dệt may
Trang 43 Các sản phẩm nhựa
Các vấn đề TBT chủ yếu quy định trong luật của EU bao gồm:
- Cấm sử dụng một số loại hóa chất trong quá trình sản xuất và dư lượng hóa chất tối đa được phép trong thành phẩm
- Các vật liệu nhựa tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
- Đóng gói
a) Cấm sử dụng một số loại hóa chất trong quá trình sản xuất và dư lượng hóa chất tối
đa được phép trong thành phẩm
REACH có thể áp dụng gián tiếp đối với nhựa monomer sử dụng để sản xuất
polymer
b) Các vật liệu nhựa tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
Chỉ thị của Ủy ban ngày 23/2/1990 về các vật liệu và vật tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, cập nhật đến thời điểm hiện tại Quy định này đề ra mức độ thôi nhiễm tối đa cho phép của các thành phần trong vật liệu nhựa vào thực phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe và an toàn của con người
c) Đóng gói
Tương tự như đối với ngành dệt may
4 Các sản phẩm gỗ
Các vấn đề TBT chủ yếu quy định trong luật của EU bao gồm
- Cấm sử dụng một số loại hóa chất trong quá trình sản xuất và dư lượng hóa chất tối đa cho phép trong thành phẩm
- Đánh giá tuân thủ và dấu CE
- Đóng gói
- Bảo tồn môi trường
a) Cấm sử dụng một số loại hóa chất trong quá trình sản xuất và dư lượng hóa chất tối đa cho phép trong thành phẩm
REACH áp dụng đối với các sản phẩm gỗ trong trường hợp có sử dụng
các hóa chất bảo quả
Trang 5Chỉ thị 98/8/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 16/2/1998 về việc bán các sản phẩm diệt sinh vật gây hại trên thị trường đề ra các hạn chế về việc sử dụng chất diệt sinh vật gây hại (thuốc diệt côn trùng không phải cho nông nghiệp) như các chất bảo quản gỗ
b) Đánh giá tuân thủ và dấu CE
Chỉ thị 88/378/EEC của Hội đồng châu Âu ngày 3/5/1988 về việc điều chỉnh thống nhất luật của các quốc gia thành viên để đảm bảo tính an toàn của đồ chơi đề ra những yêu cầu an toàn tối thiểu áp dụng đối với đồ chơi, bao gồm cả đồ chơi làm
từ các vật liệu dệt may Chỉ thị này cũng quy định về dấu CE
c) Đóng gói
Tương tự như đối với ngành dệt may
d) Bảo tồn môi trường
Các quy định và đề xuất dưới đây đề ra các yêu cầu nhằm ngăn chặn việc nhập khẩu vào EU các sản phẩm gỗ được chế biến từ gỗ khai thác bất hợp pháp và hỗ trợ việc bảo tồn rừng ở các quốc gia thứ ba
- Hiệp định Gỗ nhiệt đới quốc tế ban hành năm 2006 – Tuyên bố của Cộng đồng châu Âu theo Điều 36(3) của Hiệp định – Tuyên bố của EC – Thực hiện tại EU
- Đề xuất Quy định của Nghị viện và Hội đồng châu Âu về các nghĩa vụ của các bên bán gỗ và các sản phẩm gỗ trên thị trường {SEC(2008) 2615} {SEC(2008) 2616}
- Chỉ thị FLEGT: Đề xuất Kế hoạch Hành động của EU về tăng cường thực thi luật pháp, quản lý và thương mại lâm sản
Các thành viên WTO hiện còn bất đồng về việc các biện pháp môi trường có phải
là vấn đề TBT được điều chỉnh bởi Hiệp định TBT của WTO hay không, nếu có thì
sẽ phải được thông báo như quy định kỹ thuật TBT Một số thành viên đề xuất các biện pháp như vậy phải được giải quyết trong khuôn khổ Ủy ban Thương mại và Môi trường của WTO EU không đưa các Chỉ thị này vào các thông báo TBT của mình Tuy nhiên, chúng tôi xin lưu ý trong báo cáo này là các doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm gỗ của Việt Nam cần tuân thủ các Chỉ thị này tương tự như các quy định TBT
5 Các sản phẩm điện và điện tử
Trang 6Các vấn đề TBT chủ yếu quy định trong luật của EU bao gồm:
- Cấm sử dụng một số hóa chất trong quá trình sản xuất và trong bộ phận cấu thành sản
phẩm
- Bảo vệ môi trường
- Nhãn thiết kế thân thiện với môi trường
- Đánh giá tuân thủ và dấu CE
- Đóng gói
a) Cấm sử dụng một số hóa chất trong quá trình sản xuất và trong bộ phận cấu thành
sản phẩm
Vì nhiều bộ phận cấu thành các sản phẩm điện và điện tử trong quá trình sản xuất
có sử dụng
các loại hóa chất, REACH có hiệu lực gián tiếp đối với các sản phẩm này
b) Bảo vệ môi trường
Chỉ thị WEEE: Chỉ thị 2002/96/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 27/1/2003 về chất thải là thiết bị điện và điện tử (WEEE) nhằm giảm số lượng các sản phẩm điện và điện tử sản xuất ra và khuy ến khich việc tái sử dụng, tái chế và thu hồi các bộ phận cấu thành khi sản phẩm bị thay thế hoặc trở nên lỗi thời Chỉ thị này cũng quy định về việc sử dụng biểu tượng (logo) WEEE Các nhà sản xuất
và nhập khẩu bắt buộc phải chịu chi phí xử lý rác thải, tái chế hoặc thu hồi các loại sản phẩm cung ứng ra thị trường
Mặc dù Chỉ thị WEEE chỉ áp dụng trực tiếp đối với các nhà sản xuất và nhập khẩu của EU, các doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm điện và điện tử của Việt Nam cũng phải tuân thủ để tiếp cận được thị trường EU
Chỉ thị RoHs: Chỉ thị 2002/95/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 27/1/2003 về việc hạn chế sử dụng các chất độc hại trong các sản phẩm điện và điện tử Chỉ thị RoHs có liên quan chặt chẽ với chỉ thị WEEE và được xây dựng nhằm thúc đ ẩy việc ngăn chặn rác thải thông qua thiết kế sản phẩm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc tái sử dụng, tái chế và thu hồi các bộ phận cấu thành của các thiết bị điện và điện tử lưu hành trên thị trường Chỉ thị này cấm việc sử dụng chì, thủy ngân, cadimi, crom 6+, poly -brominated biphenyls (PBB) hay
Trang 7polybrominated diphenyl ethers (PBDE) với hàm lượng vượt quá mức tối đa cho phép trong các sản phẩm điện và điện tử bán trên thị trường
Hiện nay, Ủy ban châu Âu đang đưa ra một số đề xuất điều chỉnh các Chỉ thị WEEE và RoHs để các bên liên quan có thể thực hiện các chỉ thị này một cách hiệu quả hơn
Chỉ thị 2006/66/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 6/9/2006 về pin và
ắc quy, các loại pin và ắc quy thải loại, bãi bỏ hiệu lực của Chỉ thị 91/157/EEC Chỉ thị này áp dụng đối với các loại pin sử dụng cho các sản phẩm điện và điện tử, được xây dựng nhằm bảo vệ môi trường thông qua việc ngăn chặn rác thải, tái sử dụng, tái chế và thu hồi các sản phẩm điện và điện tử
c) Các yêu cầu về thiết kế thân thiện với môi trường và nhãn hàng hóa
Chỉ thị 2005/32/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 6/7/2005 lập ra khuôn khổ cho các yêu cầu về thiết kế thân thiện với môi trường áp dụng đối với các sản phẩm sử dụng năng lượng, sửa đổi Chỉ thị của Hội đồng số 92/42/EEC và các Chỉ thị số 96/57/EC và 2000/55/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu
Các thành viên WTO hiện còn bất đồng về việc các biện pháp môi trường có phải
là các vấn đề TBT được điều chỉnh bởi Hiệp định TBT của WTO hay không, nếu
có thì sẽ phải được thông báo như quy định kỹ thuật TBT Một số thành viên đề xuất các biện pháp như vậy phải được giải quyết trong khuôn khổ Ủy ban Thương mại và Môi trường của WTO EU không đưa Chỉ thị 2005/32/EC vào các thông báo TBT của mình Tuy nhiên, Văn phòng TBT của EU lại phát hành các thông báo TBT đối với các biện pháp thực hiện Chỉ thị này
d) Đánh giá tuân thủ và dấu CE
Các Chỉ thị sau đề ra các yêu cầu an toàn tối thiểu mà các sản phẩm điện và điện tử phải đáp ứng để được bán trên thị trường EU Các Chỉ thị này cũng quy định các thủ tục tương ứng để được cấp dấu CE
- Chỉ thị 2006/95/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 12/12/2006
về hài hòa hóa luật của các quốc gia thành viên đối với các thiết bị điện được thiết kế sử dụng trong phạm vi điện thế nhất định (đồng thời quy định
về dấu CE)
- Chỉ thị 88/378/EEC của Hội đồng châu Âu ngày 3/5/1988 về việc điều chỉnh thống nhất luật của các quốc gia thành viên đối với đồ chơi an toàn (đồng thời cũng quy định về dấu CE)
Trang 8- Chỉ thị 89/336/EEC của Hội đồng châu Âu ngày 3/5/1989 về việc điều chỉnh thống nhất luật của các quốc gia thành viên đối với tương thích điện từ (đồng thời cũng quy định về dấu CE)
- Chỉ thị 2004/108/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 15/12/2004 về việc điều chỉnh thống nhất luật của các quốc gia thành viên đối với tương thích điện từ (đồng thời cũng quy định về dấu CE)
- Các trao đổi của Ủy ban để thực hiện Chỉ thị 2004/108/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 15/12/2004 về việc điều chỉnh thống nhất luật của các quốc gia thành viên đối với tương thích điện từ và bãi bỏ hiệu lực của Chỉ thị 89/336/EEC
- Chỉ thị 98/37/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 22/6/1998
về việc điều chỉnh thống nhất luật của các quốc gia thành viên đối với máy móc
- Chỉ thị 1999/5/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 9/3/1999 đối với các thiết bị sử dụng sóng radio và các thiết bị đầu cuối viễn thông, đối với việc công nhận lẫn nhau về việc tuân thủ (đồng thời cũng quy định về dấu CE)
- Chỉ thị 1996/57/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 3/9/1996 về các y êu cầu sử dụng năng lượng hiệu quả đối với các loại tủ lạnh, máy lạnh
và máy hỗn hợp trong gia đình
e) Đóng gói
Tương tự như quy định áp dụng đối với ngành dệt may
6 Cá và các sản phẩm cá
Các vấn đề TBT chủ yếu quy định trong luật của EU bao gồm:
- Dấu sức khỏe, nhận dạng và nhãn hàng hóa
- Các vật liệu nhựa tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
- Đóng gói
- Bảo vệ môi trường
- Bảo tồn môi trường
a) Dấu sức khỏe, nhận dạng và nhãn hàng hóa
Quy định (EC) số 853/2004 của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 29/4/2004
đề ra các yêu cầu vệ sinh cụ thể đối v ới thực phẩm có nguồn gốc động vật, trong
đó bao gồm các yêu cầu về dấu nhận dạng và nhãn của sản phẩm
Trang 9b) Các vật liệu nhựa tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
Tương tự như các sản phẩm nhựa ( xem 3b)
c) Đóng gói
Tương tự như đối với ngành dệt may
d) Bảo vệ môi trường
Chỉ thị 98/8/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 16/2/1998 về việc đưa ra thị trường các sản phẩm trừ sinh vật có hại cũng đề ra những giới hạn sử dụng các chất diệt sinh vật có hại (các chất diệt sinh vật không phải sử dụng cho nông nghiệp) để làm sạch các thiết bị sản xuất thực phẩm
e) Bảo tồn môi trường
Chỉ thị IUU: Quy định của Hội đồng (EC) số 1005/2008 ngày 29/9/2008 thành lập một hệ thống cấp Cộng đồng để chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo hay không tuân thủ quy định , sửa đổi các Quy định (EEC) số 2847/93, (EC)
số 1936/2001 và (EC) số 601/2004 và bãi bỏ hiệu lực của các Quy định (EC) số 1093/94 và (EC) số 1447/1999 Quy định này cũng yêu cầu phải có chứng nhận
về cá được đánh bắt hợp pháp để cung ứng cá và các sản phẩm cá ra thị trường EU Các thành viên WTO còn tranh cãi về việc các biện pháp môi trường có phải là các vấn đề TBT được điều chỉnh bởi Hiệp định TBT của WTO hay không, nếu có thì sẽ phải được thông báo như quy định kỹ thuật TBT Một số thành viên đề xuất các biện pháp như vậy phải được giải quyết trong khuôn khổ Ủy ban Thương mại
và Môi trường của WTO EU không đưa Quy định của Hội đồng (EC) số
1005/2008 vào các thông báo TBT của mình Thay vào đó, EU thông báo biện pháp này cho Ủy ban Thương mại và Môi trường của WTO
7 Các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm
Các nội dung TBT chủ y ếu được quy định trong luật của EU đối với ngành này bao gồm:
- Tiếp thị và tiêu chuẩn chất lượng
- Các vật liệu nhựa tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
- Đóng gói
- Bảo vệ môi trường
a) Tiếp thị và tiêu chuẩn chất lượng
Trang 10Quy định của Ủy ban (EC) số 1221/2008 ngày 5/12/2008 sửa đổi Quy định (EC) số 1580/2007 nhằm thực hiện các Quy định của Hội đồng (EC) số 2200/96, (EC) số 2201/96 và(EC) số 1182/2007 đối với rau quả, chẳng hạn như các tiêu chuẩn về tiếp thị Quy định này đề cập đến kích cỡ, nhãn hiệu của sản phẩm
b) Các vật liệu nhựa tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
Xem mục 3b: Tương tự như các sản phẩm nhựa
c) Bao bì
Tương tự như đối với ngành dệt may
d) Bảo vệ môi trường
Chỉ thị của Hội đồng châu Âu ngày 21/12/1978 cấm đưa ra thị trường cũng như cấm sử dụng các sản phẩm nhằm bảo vệ cây trồng có chứa các chất hoạt tính theo danh mục sửa đổi tại thời điểm ban hành Chỉ thị Chỉ thị này nhằm đảm bảo các sản phẩm bảo vệ cây trồng sử dụng tại EU chỉ chứa các chất hoạt tính đ ược phép Mặc dù chỉ áp dụng trực tiếp đối với các nhà sản xuất và nhập khẩu các sản phẩm bảo vệ cây trồng, Chỉ thị này tác động gián tiếp đến các nhà xuất khẩu thực phẩm
vì các khách hàng EU có khả năng sẽ đặt ra y êu cầu các cây trồng và sản phẩm thực vật mà họ mua để cung ứng cho thị trường EU phải được bảo vệ bởi những loại sản phẩm bảo vệ cây trồng được phép sử dụng theo Chỉ thị này
CÁC RÀO CẢN KĨ THUẬT CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
1 Đối với hàng nông sản:
1.1 Mặt hàng gạo
Nhật bàn là một trong những thị trường tiềm năng xuất khẩu gạo của Việt Nam ở châu Á Phần lớn gạo xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật là những hợp đồng trúng thầu do chính phủ Nhật tổ chức Gạo là một trong những mặt hàng thuộc nhóm điều tiết bằng các quy định về thương mại Nhà nước- State trading( thuốc lá, gạo, lúa mạch, lúa mì, sản phẩm sữa
và tơ tằm nguyên liệu) và Luật kiểm dịch Từ năm 2002 Việt Nam bắt đầu xuất khẩu sang Nhật Bản thông qua những cuộc đấu thầu do Chính phủ Nhật tổ chức