1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỬ DỤNG DI SẢN TRONG GIẢNG DẠY MÔN ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNg

40 1,9K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 442,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU Di sản văn hoá Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hoá của cộng đồng các dân tộc anh em, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa v

Trang 1

SỬ DỤNG DI SẢN TRONG GIẢNG DẠY

MÔN ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ KIM THOA

Năm học 2013 -2014

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Di sản văn hoá Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hoá của cộng đồng các dân tộc anh em, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền,

kế thừa và sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay là bức tranh đa dạng văn hoá

Di sản văn hoá Việt Nam là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu và

kế thừa từ các nền văn hoá và văn minh của nhân loại Những giá trị đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn hoá và văn minh của nhân loại với nền văn hoá bản địa lâu đời của các dân tộc Việt Nam

Di sản văn hoá Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hoá phi vật thể có sức sống mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Để giúp học sinh có những hiểu biết về những giá trị của di sản, qua đó giáo dục học sinh ý thức giữ gìn, bảo vệ các di sản , đồng thời góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện đa dạng hoá hình thức tổ chức dạy học, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã tổ chức triển khai chương trình tập huấn “Sử dụng Di sản trong dạy học ở trường phổ thông” ở các bộ môn Lịch sử, Địa lý và Âm nhạc Bản thân tôi là một giáo viên Địa lý nên rất quan tâm đến vấn đề này và tôi đã chọn đề tài để nghiên cứu viết sáng kiến kinh nghiệm:

“Sử dụng di sản trong dạy học Địa lý ở trường Trung học phổ thông”

Trang 3

có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác

1.2 Đặc diểm của di sản văn hoá Việt Nam

Di sản văn hoá Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hoá của cộng đồng 54 dân tộc anh em, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền,

kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay Di sản văn hoá Việt Nam là bức tranh đa dạng văn hoá, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và

là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại Di sản văn hoá Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta

Di sản văn hoá Việt Nam là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu và kế thừa

từ các nền văn hoá và văn minh của nhân loại Những giá trị đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn hoá và văn minh của nhân loại với nền văn hoá bản địa lâu đời của các dân tộc Việt Nam

Di sản văn hoá Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hoá phi vật thể có sức sống mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nhà nước Cộng đồng xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ và phát huy giá trị

di sản văn hoá thông qua Luật di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2001 và được sửa đổi năm 2009

Trang 4

Di sản văn hoá vật thể bao gồm:

- Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, giáo dục

- Danh lam thắng cảnh còn gọi là di sản thiên nhiên là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên vời công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học

- Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học

- Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu lịch sự, văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên

- Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học

1.3.2 Di sản văn hoá phi vật thể :

Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hoá liên quan, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề và các hình thức khác

Di sản văn hoá phi vật thể bao gồm:

- Tiếng nói, chữ viết của của các dân tộc Việt Nam: Ngữ văn dân gian, bao gồm

sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết;

- Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác;

- Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác

- Lễ hội truyền thống;

- Nghề thủ công truyền thống;

- Tri thức dân gian

Trang 5

II SỬ DỤNG DI SẢN QUỐC GIA TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1.Di sản văn hoá vật thể

2.1.1 Vườn Quốc gia

thành lập

Diện tích (ha) Địa điểm

Bái Tử Long 2001 15.783 Quảng Ninh

Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang

Kon Ka Kinh 2002 41.780 Gia Lai

Chư Yang Sin 2002 58.947 Đăk Lăk Tây Nguyên

Bidoup Núi Bà 2004 64.800 Lâm Đồng

Đồng, Bình Phước

Bù Gia Mập 2002 26.032 Bình Phước

Lò Gò Xa Mát 2002 18.765 Tây Ninh Đông Nam Bộ

sông Cửu Long

Trang 6

2.1.2 Khu bảo tồn thiên nhiên

Vùng Tên khu bảo tồn Năm

thành lập

Diện tích (ha) Địa điểm

Đồng Sơn-Kỳ

Thần Sa-Phượng

Đồng bằng

Trang 7

Ngọc Linh 17.576 Quảng Nam

Kon Cha Răng

Vĩnh Cửu

53.850 Đồng Nai Láng Sen

5.030 Long An Thạnh Phú

2.1.3 Khu bảo tồn các loài sinh vật quý hiếm:

Vùng Tên khu bảo tồn Diện tích

(ha) Địa điểm

Khu bảo tồn loài vượn Cao

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 1.788 Bắc Kạn Khu bảo tồn loài và sinh

cảnh voọc mũi hếch Khau

Khu bảo tồn loài và sinh

Khu bảo tồn Hương Nguyên 10.311 Thừa Thiên-Huế Bắc Trung Bộ

Khu bảo tồn Sao La Thừa

Duyên hải Nam

Trung Bộ

Khu bảo tồn Sao La Quảng

Trang 8

Khu bảo tồn Đắk Uy 660 Kon Tum Khu bảo tồn sinh cảnh Ea

Tây Nguyên

Khu bảo tồn Trấp Ksơ

100 Đắk Lắk Khu bảo tồn thiên nhiên

Khu bảo tồn thiên nhiên vườn Chim Bạc Liêu 385 Bạc Liêu

ngày 1 tháng 1 Tết Nguyên đán Cả nước

ngày 5 tháng 1 Lễ hội Đống Đa Hà Nội, quận

Đống Đa ngày 5-10 tháng 1 Hội vật Liễu Đôi Hà Nam, huyện

Thanh Liêm tại làng Liễu Đôi ngày 6 tháng 1 hội Gióng Sóc

Sơn

Hà Nội, Sóc Sơn

ngày 6-16 tháng 1 Lễ hội Cổ Loa Hà Nội, Đông

Anh ngày 6-1 tháng 1-3 Lễ hội chùa Bái

Đính

Ninh Bình, Gia Viễn

ngày 7 tháng 1 Chợ Viềng Nam Định, Vụ

Bản ngày 7 tháng 1 Lễ hội đầm Ô

Loan

Phú Yên, Ô Loan

Quan

Phú Thọ, huyện Tam Nông

huyện Tiên Du ngày 6 tháng 1 Lễ hội chùa

tưởng nhớ sư Huyền Quang và Nguyễn Trãi

Trang 9

Ngày âm

lịch Tháng

Lễ hội truyền thống Địa phương Ghi chú

ngày 15 tháng 1 Lễ hội làm chay Long An, thị

trấn Tầm Vu ngày 15 tháng 1 Tết Nguyên tiêu -

ngày 17 tháng 1 Lễ hội chọi trâu

Vĩnh Phúc, huyện Lập Thạch

không tổ chức từ 1947-2002

ngày 18-19 tháng 1 Hội Xuân núi Bà Tây Ninh, Núi

Bà Đen ngày 10 tháng 2 Lễ hội đình Yên

Phụ

Hà Nội, Hồ Tây

khôi phục từ

2003 ngày 10, 11,

Lễ hội Miếu Mạch Lũng

Hà Nội, Đông Anh

ngày 19 tháng 2 Lễ hội Quán Thế

Âm

Đà Nẵng, Ngũ Hành Sơn Ngũ Hành Sơn tháng 3 Tiết Thanh minh

tháng 3 Hội đua voi Tây Nguyên lớn nhất ở Đắc

Lắc, bản Đôn ngày 3 tháng 3 Tết Hàn thực

ngày 5 tháng 3 Hội Phủ Giầy Nam Định, Vụ

Bản

thờ Mẫu Liễu Hạnh

tháng 3 và 7 Lễ hội Điện Hòn

Chén

Thừa Thiên - Huế, huyện Hương Trà

ngày 6 tháng 3 Lễ hội cố đô Hoa

Ninh Bình, huyện Hoa Lư

tên cũ: Lễ hội Trường Yên ngày 14-17 tháng 3 Lễ hội đền Thái

Vi

Ninh Bình, huyện Hoa Lư ngày 9 tháng 3 Lễ hội Nam Trì Hưng Yên,

huyện Ân Thi ngày 10 tháng 3 Giỗ tổ Hùng

Vương Nhiều nơi

lớn nhất tại Đền Hùng, Phú Thọ ngày 10-15 tháng 3 Lễ hội đền Mẫu Hưng Yên, Phố

Hiến

thờ Dương Quý Phi

ngày 01 tháng 4 Lễ hội Làng cá

Cát Bà

Hải Phòng, huyện Cát Hải, Thị trấn Cát Bà ngày 6-10 tháng 4 Hội Gióng Phù

Đổng

Hà Nội, huyện Gia Lâm

ngày 15 tháng 4

Lễ hội Chol Chnam Thmay Nam Bộ Tết người Khmer

Trang 10

Ngày âm

lịch Tháng

Lễ hội truyền thống Địa phương Ghi chú

ngày 18-20 tháng 4 Lễ khao lề thế

lính

Quảng Ngãi, huyện Lý Sơn

ngày 23-27 tháng 4 Lễ hội miếu Bà

Chúa Xứ

An Giang, Châu Đốc

tại Miếu Bà Chúa Xứ, Núi Sam

ngày 7 tháng 7 Thất Tịch

Ngày lễ tình nhân Đông phương ngày 15 tháng 7 Lễ Vu Lan, Tết

sau rằm tháng 7

Lễ hội Nghinh Ông (Quan Thánh Đế Quân)

Phan Thiết (Bình Thuận)

của Người Hoa,

tổ chức vào năm chẵn Tây Lịch tháng 8 Lễ hội Katê Bình Thuận

Lễ hội người Chăm, 1 tháng 7 theo lịch Chăm ngày 9 tháng 8 Lễ hội chọi trâu Hải Phòng, Đồ

Sơn

ngày 15-20 tháng 8 Hội Đền Kiếp

Bạc

Hải Dương, huyện Chí Linh

thờ Trần Hưng Đạo ngày 15 tháng 8 Hội Yến Diêu

Trì

Tây Ninh, Tòa Thánh Tây Ninh

Đạo Cao Đài

ngày 16 tháng 8 Lễ hội Nghinh

Ông (Cá Voi)

Vàm Láng, Tiền Giang ngày 27 tháng 8

Lễ hội AHDT Nguyễn Trung Trực

Rạch Giá, Kiên Giang

ngày 13-15 tháng 9 Lễ hội Chùa Keo Thái Bình, Vũ

Thư

ngày 14-16 tháng 11

Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ

Ninh Bình, huyện Kim Sơn

ngày 23 tháng 12 Tiễn Ông Táo về

2.2.2 Các làng nghề thủ công truyền thống:

Dù nhiều làng nghề truyền thống đã biến mất cùng với thời gian, nhưng hiện nay, Việt Nam còn có gần 2.000 làng nghề thuộc các nhóm nghề chính như: sơn mài, gốm sứ, vàng bạc, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá

Trang 11

STT Tên làng nghề

truyền thống

Sản phẩm chính Quận/Huyện Tỉnh/Thành

1 Làng Lâm Xuân chiếu cói Gio Linh Quảng Trị

2 Làng Thổ Hà gốm mỹ nghệ Việt Yên Bắc Giang

4 Làng Kiêu Kỵ dát vàng quỳ Gia Lâm Hà Nội

9 Làng Đông Hồ tranh dân gian Thuận Thành Bắc Ninh

10 Làng cói Kim Sơn Làng nghề cói Kim Sơn Ninh Bình

11 Làng Non Nước đá mỹ nghệ Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng

12 Làng Châu Khê trang sức Bình Giang Hải Dương

13 Làng Đồng Xâm chạm bạc Kiến Xương Thái Bình

15 Làng Sơn Đồng gỗ mỹ nghệ Hoài Đức Hà Nội

16 Làng Kiên Lao sản phẩm cơ

18 Làng Văn Lâm thêu ren Hoa Lư, Ninh

19 Làng La Xuyên chạm khảm gỗ Ý Yên Nam Định

20 Làng Đại Nghiệp mộc mỹ nghệ Phú Xuyên Hà Nội

21 Làng Cao Thôn hương trầm thành phố

Hưng Yên Hưng Yên

22 Làng Đông Giao chạm khắc gỗ Cẩm Giàng Hải Dương

23 Làng Xuân Lai tre trúc Gia Bình Bắc Ninh

24 Làng đào Đông Sơn Nghề trồng hoa

đào

Thị xã Tam

27 Làng Hương Mạc chạm khảm gỗ Từ Sơn Bắc Ninh

Trang 12

STT Tên làng nghề

truyền thống

Sản phẩm chính Quận/Huyện Tỉnh/Thành

29 Làng Phúc Lộc Nghề mộc thành phố Ninh

31 Làng Phù Khê chạm khắc gỗ Từ Sơn Bắc Ninh

32 Làng Vọng Nguyệt dệt tơ tằm Yên Phong Bắc Ninh

33 Bản Đỉnh Sơn mây tre đan lát Kỳ Sơn Nghệ An

35 Làng Tăng Tiến mây tre Việt Yên Bắc Giang

38 Làng nem Thủ Đức chế biến nem

39 Làng Bát Tràng gốm mỹ nghệ Gia Lâm Hà Nội

42 Làng Phong Khê giấy đống cao thành phố Bắc

43 Làng Trường Yên nghề xây dựng Hoa Lư Ninh Bình

46 Làng nấu rượu Kim

49 Làng gốm Gia Thủy Nghề gốm Nho Quan Ninh Bình

50 Làng Nghề rượu Phú

Lộc

Nghề nấu

Trang 13

III SỬ DỤNG DI SẢN ĐỊA PHƯƠNG TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

3.1 Di tích lịch sử

3.1.1 Mộ Thủ Khoa Huân

Mộ Thủ Khoa Huân (xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang) thuộc loại hình di tích lịch sử dân tộc Lúc đầu mộ được lắp bằng đất, đến năm 1927 con cháu của ông và nhân dân địa phương xây lại bằng đá xanh Đây là nơi chôn cất Phó

đề đốc, nhà thơ, nhà trí thức yêu nước Thủ Khoa - Nguyễn Hữu Huân Khu di tích Đền thờ Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân với diện tích 3.500 m2 Hiện nay, tại đây đã thành lập Ban bảo vệ Đền thờ Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân, hằng ngày có người bảo vệ, chăm sóc khu di tích và đón tiếp khách tham quan

3.1.2 Chiến Lũy Pháo Đài

Luỹ Pháo Đài thuộc ấp Pháo Đài, xã Phú Tân, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang Di tích nằm ngay Cửa Tiểu trên cù lao Phú Tân nên đường đi đến chủ yếu bằng đường thuỷ hoặc đường bộ Luỹ Pháo Đài xung quanh là thành đất đắp cao, dày có 06 cạnh cân đối khá đều nhau, thành hình lục lăng (lục giác), diện tích khoảng 3.000m vuông,trên thành đất trồng me, chính giữa có cây trôm to và giếng nước Theo hướng Đông-Nam pháo đài có một gò tròn cao 21m, đường kính 15-20m Đó là Gò Thổ Sơn

có thể đó là đài quan sát của nghĩa quân Bao bọc bên ngoài thành luỹ là rừng kè, đước, dừa nước, bần Dưới lòng sông, để bảo vệ cửa sông và ngăn chặn tàu chiến của địch có ủi bải xung phong lên bờ Đồng thời, làm tàu địch giảm tốc độ làm bia cho những khẩu thần công và đẩy địch dạt sang bờ Trại Cá cho nghĩa quân tiêu diệt, cho nên Trương Định đã đổ đá hàn một đoạn theo chiều rộng của sông Cửa Tiểu trước chiến luỹ về hướng Tây mặt khẩu thần công chừng 120m đến 150m gọi là Đập đá hàn, ngày nay Đập đá hàn vẫn còn và đã được đánh dấu để tàu bè ra vào không vướng phải

3.1.3 Đền thờ Trương Định ở Gia Thuận

Đền thờ Trương Định toạ lạc tại ấp 2, xã Gia Thuận, huyện Gò Công, tỉnh Tiền

Giang Đền thờ thuộc loại hình di tích lịch sử dân tộc, nơi thờ cúng vị anh hùng dân tộc Trương Định-người có công khai phá mở mang vùng đất Gò Công Ông là một trong những người lãnh đạo nhân dân Nam Kỳ đứng lên chống quân xâm lược Pháp

Trang 14

trong giai đoạn đầu 1858-1864 trước sự nhu nhược của Triều Đình nhà Nguyễn Để tưởng nhớ công đức của Ông, nhân dân Gò Công thường gọi là “Trương Công Định” hoặc “Ông Trương”, có nơi ở Gò Công gọi là “Ông Lớn”

3.1.5 Chợ Giữa Vĩnh Kim

Chợ Giữa xưa nằm ở làng Vĩnh Kim Đông thuộc tổng Thuận Bình - tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc ấp Vĩnh Hoà, xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang Cách thành phố Mỹ Tho 20 km về phía Đông, cách quốc lộ 1A 6km về phía Bắc Di tích Chợ Giữa Vĩnh Kim là di tích lịch sử cách mạng nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp xâm lược đối với nhân dân ta nói chung và nhân dân Mỹ Tho (Tiền Giang) nói riêng Tại di tích này, tỉnh Tiền Giang đã xây dựng một tượng đài với chất liệu bằng đồng, cao 8 mét, biểu tượng một phụ nữ một tay bồng con, một tay cầm cây đòn gánh bị gãi với những đường nét mạnh mẽ, đầy căm thù, phía sau tượng đài là tranh gốm sứ tái hiện cảnh thảm sát năm xưa, phía trước là công viên được trồng cây cảnh, kiểng rất đẹp mắt Di tích Chợ Giữa Vĩnh Kim nằm trong khu tam giác giữa các di tích Rạch Gầm-Xoài Mút; di tích Nam Kỳ Khởi Nghĩa (đình Long Hưng); di tích Chiến thắng

Ấp Bắc

3.1.6 Lăng Tứ Kiệt

Lăng Tứ Kiệt là tên gọi mộ và đền thờ của bốn vị anh hùng chống Pháp ở Cai Lậy gồm: Nguyễn Thanh Long; Trần Công Thận (Trần Quang Thận); Trương Văn

Trang 15

Rộng và Ngô Tấn Đước (Đức) đã lãnh đạo nhân dân và nghĩa quân Cai Lậy–Cái Bè đứng lên chống Pháp xâm lược trong những thập niên cuối của thế kỷ XIX Sau khi Bốn ông hy sinh ngày 14 tháng 2 năm 1871, nhân dân lập mộ và đền thờ tại Thị trấn Cai Lậy và để tỏ lòng tôn kính nhân dân gọi là Lăng Tứ Kiệt Theo lời truyền của dân gian, bốn ông đều là những người can đảm và mưu lược hơn người, thân hình cao lớn, gương mặt cương nghị, da màu đồng đen, sức khỏe phi thường và võ nghệ cao cường Cảm phục cuộc đời và tấm gương chiến đấu oanh liệt, bất khuất của bốn ông, nhân dân Cai Lậy đã đấp nên một đất, xung quanh có làm hàng rào bằng gỗ tốt, quét vôi trắng

và sau nhiều lần sửa chữa, trùng tu Năm 1999, Lăng mộ của bốn ông được tỉnh Tiền Giang trùng tu với quy mô lớn, trông rất khang trang và cổ kính Hằng năm Chính quyền, các Đoàn thể và nhân dân huyện Cai Lậy cúng bốn vị anh hùng dân tộc vào ngày 14/02 tại Lăng Tứ Kiệt

3.1.7.Chiến thắng Giồng Dứa

Giồng Dứa là một bộ phận của Ba Giồng ở Tiền Giang (cánh én, kỳ lân và qua qua) chạy theo hướng Bắc - Nam, xuất phát từ xã Tam Hiệp chạy đến Quốc lộ 1A thuộc ấp Đông xã Long Định huyện Châu Thành, do quá nhiều cây dứa gai mọc hoang

um tùm nên nhân dân địa phương gọi là Giồng Dứa

Chiến thắng Giồng Dứa là di tích lịch sử cách mạng thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta trong giai đoạn 1945-1954.Chính tại nơi đây trong những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược, quân và dân

Mỹ Tho (Tiền Giang) dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Văn Trà Khu Bộ trưởng Khu

8, đánh tiêu diệt đoàn xe Công voa và đoàn xe của chính phủ bù nhìn Nam Kỳ tự trị ngày 25 tháng 04 năm 1947 Theo đánh giá của Phòng khoa học lịch sử quân sự quân khu 9: “Chiến thắng Giồng Dứa (Mỹ Tho) là một trong những trận tiêu diệt tiêu biểu ở nước ta trong những tháng đầu toàn quốc kháng chiến Là những trận tiêu diệt địch lớn

có tác dụng thối động hàng ngũ địch góp phần làm thất bại âm mưu bình định Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) của giặc Pháp và thúc đẩy khí thế đấu tranh cách mạng tạo được sự tin tưởng, phấn khởi trong nhân dân từ địa phương đến cả nước

Chiến thắng Giồng Dứa đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang ta nói chung cả về trình độ nghệ thuật tác chiến, chỉ huy, sử dụng lực lượng, bố trí thế trận của cuộc chiến tranh nhân dân Đồng thời khẳng định tinh thần chiến đấu anh

Trang 16

dũng mưu trí của cán bộ chiến sĩ địa phương sẵn sàng vùng lên bảo vệ độc lập, tự do của tổ quốc theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng và Hồ Chủ Tịch”

Năm 1985 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang xây dựng tại đây 01 tượng đài chiến thắng gồm: tượng tròn và phù điêu mô tả trận đánh do hai nhà điêu khắc Đỗ Như Cẩn và Phạm Mười tạo mẫu, đồng chí Thượng tướng Trần Văn Trà làm cố vấn tượng đài mô tả lại cảnh chiến đấu đốt xe địch của quân ta bằng 3 thứ quân, với nhân vật được thể hiện: nữ dân quân, vệ quốc quân và một nông dân thổi tù và

3.1.8.Chiến thắng Cổ Cò

Địa điểm di tích chiến thắng Cổ Cò nằm trên quốc lộ 1A thuộc xã An Thái Đông, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Trận đánh Cổ Cò đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội chủ lực khu 8 và bộ đội địa phương tỉnh Mỹ Tho về trình độ tác chiến chỉ huy, bố trí thế trận, sử dụng lực lượng và cách đánh phục kích Thể hiện tinh thần chiến đấu mưu trí, dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ; góp phần thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích ở địa phương cũng như cả nước phát triển mạnh mẽ Chiến thắng Cổ Cò

là trận đánh lớn đầu tiên trên chiến trường Khu 8, kể từ khi hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh

3.1.9 Bến đò Phú Mỹ

Làng Phú Mỹ xưa thuộc Tân Hiệp tỉnh Định Tường, ngày nay di tích Bến đò Phú Mỹ thuộc xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, cách Quốc lộ I khoảng 10km, nằm bên trái từ Mỹ Tho đi thành phố Hồ Chí Minh,

Di tích Bến đò Phú Mỹ là di tích lịch sử cách mạng-nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta vào những năm 1945-1947 trong giai đoạn Pháp trở lại xâm lược nước ta Với lần trở lại này chúng dùng thủ đoạn vô cùng tàn ác với một hệ thống kìm kẹp, càn quét tàn sát của bè lũ tay sai hết sức tàn án giả mang, đầu não là đồn Tây tại Bến đò Phú Mỹ gần 10 tên lính Pháp với vũ khí trang bị chánh qui, nên người dân nơi đây chỉ có hai con đường: một là vào đạo Cao Đài, hai là tham gia kháng chiến hoặc bỏ xứ ra đi Đã hơn 60 năm qua, nhưng mỗi khi nhắc đến là người dân nơi đây không khỏi bàng hoàng nhớ về một thời kỳ đầy man rợ mà thực dân Pháp

đã gây ra đối với dân làng Phú Mỹ Những hình ảnh đau thương gợi nhớ một thời đất nước, nhân dân ta sống dưới ách thuộc địa của thực dân Pháp như nhắc nhở chúng ta

Trang 17

về tội ác đất không dung, trời không tha mà kẻ thù đã gây ra cho đồng bào ta trong những năm 1947-1949

3.1.10 Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút

Rạch Gầm - Xoài Mút là tên hai con rạch đổ ra sông Tiền, (một nhánh lớn của sông Mê kông, đây là nơi đầu tiên trên địa bàn phía Nam của Tổ quốc đã diễn ra một trận thủy chiến chiến lược đánh tan 300 chiến thuyền, 5 vạn quân Xiêm xâm lược và tập đoàn phong kiến bán nước Nguyễn Ánh vào đêm 19 rạng sáng 20 tháng 01 năm 1785.Có thể nói, chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút là một chiến công chống ngoại xâm lừng lẫy của nhân dân Đàng Trong, lớn nhất trong 5 thế kỷ kể từ chiến thắng Bạch Đằng ở thế kỷ thứ 13 Với chiến thắng này, nhân dân miền Nam đã nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc và xứng đáng là bức thành kiên cố phía Nam của

3.2 Di tích văn hoá:

3.2.1 Đình Đồng Thạnh

Đình Đồng Thạnh được thành lập vào cuối thế kỷ XIX, sơ khai đình được xây dựng bằng tre lá đơn sơ, vào những đầu thế kỷ XX, trước làn sóng văn hoá phương Tây, người dân đã phản ứng bằng cách trùng tu tái thiết các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng truyền thống nhằm bảo tồn di sản văn hoá của cha ông, trên cơ sở đó, đình Đồng Thạnh được nhân dân trong vùng đóng góp tiền của trùng tu đến năm 1914 mới hoàn

Trang 18

thành và có qui mô đồ sộ, khang trang với lối kiến trúc có sự kết hợp độc đáo phong cách Đông-Tây, mang đậm bản sắc văn hoá vùng miền và địa phương Nét đặc sắc nhất của ngôi đình là nghệ thuật chạm khắc, trang trí hoa văn, tranh đắp nổi trên tường, tượng gốm…cả ở bên trong và bên ngoài đình Đặc biệt, với những hoa văn và họa tiết trang trí ở đình Đồng Thạnh được rút ra từ những hình tượng và triết lý của Nho, Phật, Lão giáo, đã ăn sâu vào trong tâm khảm của dân tộc ta, được hình tượng hóa qua tứ linh, tứ quý, bát bửu v.v và các biểu tượng hàm ý sự giàu sang phú quí, mong cho hạnh phúc tràn đầy, con đàn cháu đống, mưa thuận gió hòa, mọi vật đều trường tồn với thiên địa Với đôi bàn tay tài hoa, các nghệ nhân đã bố cục và thể hiện hài hoà các đề tài truyền thống trong nghệ thuật điêu khắc Việt Nam với những đường nét tinh tế uyển chuyển rất sinh động, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, mang tính triết

lý nhân sinh sâu sắc, hàm chứa ước mơ thịnh vượng, tốt lành cho muôn đời của con người Có tận mắt chứng kiến lối kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc và đắp nổi tranh của đình ta mới cảm nhận hết cái đẹp, sự tài hoa của các nghệ nhân, khi đã “thổi hồn” vào

gỗ, xi măng…tạo thành những mảng trang trí nhẹ nhàng, thanh thoát, giàu tính nhân văn góp phần tăng thêm giá trị của di tích đã tồn tại từ hơn 300 năm qua

Di tích đình Đồng Thạnh tọa lạc tại ấp Lợi An, xã Đồng Thạnh, huyện Gò Công Tây Hằng năm Chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức lễ hội Kỳ yên vào 16 tháng 3 và 16 tháng 11 âm lịch

Trang 19

Bộ tượng cổ nhất chùa là bộ Tam Tôn: Di Đà, Quan Âm, Thế Chí bằng đồng, riêng tượng Quan Âm bị thất lạc nên đã được làm lại bằng gỗ Đặc biệt, ở đây có bộ tượng Thập Bát La Hán cưỡi trên mình các con thú là những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo

mà một số nghệ nhân Nam bộ đã tạc khá tỉ mỉ vào những năm 1909-1910

3.2.3 Đình Điều Hòa

Di tích tọa lạc tại số 101, đường Trịnh Hoài Đức, phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Đình Điều Hòa là một công trình kiến trúc nghệ thuật có quy mô xây dựng lớn, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua cấu trúc xây dựng và các mảng chạm khắc trang trí bên trong

Đây là nơi tập trung và bảo tồn nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Tiền Giang Hiện trong đình còn lưu giữ, bảo quản các sưu tập lư, đỉnh đồng, sưu tập binh khí thờ, và nhiều cổ vật gốm sứ của Trung Quốc thế kỷ XVIII - XIX Đặc biệt là nghi thức hành lễ cúng bái trong đình có từ các thế kỷ trước vẫn còn lưu lại cho đến nay

Với phong cách kiến trúc nghệ thuật thời nhà Nguyễn, đình Điều Hòa xứng đáng là di sản văn hóa quý hiếm của nhân dân Tiền Giang nói riêng, và nhân dân cả nước nói chung

Do có ý thức bảo quản gìn giữ tốt và thường xuyên được nhân dân địa phương đóng góp tu bổ, nên ngày nay Đình Điều Hòa rất khang trang, giữ nguyên được giá trị

sử dụng ban đầu và còn nhiều cổ vật quý hiếm có từ khi đình mới được thành lập vào thế kỷ XVIII

Trải qua hơn 200 năm tồn tại và qua nhiều lần tu bổ, đình Điều Hòa vẫn còn giữ đuợc dáng vẻ ban đầu, trông rất khang trang và còn sử dụng được lâu dài.Những vị tiền bối có công khởi dựng đình là các ông Nguyễn Văn Kiên, Nguyễn Văn Trước, Trương Văn Ân Nhân dân đã tôn thờ 3 vị tiền bối này là Tiền Hiền Cẩm Địa và Hậu Hiền Khai Khẩn, và đến nay vẫn còn thờ ở trong đình Trước kia Đình Điều Hòa được dùng làm trạm dừng chân của các quan lại dưới triều Nguyễn đi công tác ở địa phương muốn nghỉ lại qua đêm hoặc chờ đò qua sông Đồng thời đình còn là nơi thờ cúng Thành Hoàng Bổn cảnh của nhân dân trong vùng Đến giữa thế kỷ thứ XIX, đình Điều Hòa được sử dụng với một chức năng duy nhất: thờ cúng Thành Hoàng và những vị

Trang 20

Tiền hiền Nơi đây, hàng năm vào những ngày lễ hội Kỳ Yên ( 16-17-18 tháng 02 và 16-17-18 tháng 10 âm lịch) nhân dân đã đến cầu an

3.2.4 Nhà Đốc Phủ Hải

Nhà Đốc Phú Hải thuộc phường I, thị xã Gò Công, là một công trình kiến trúc phong kiến cuối thế kỷ 19 đầu 20 vùng Gò Công Tiền Giang, ngôi nhà này được khởi công xây dựng từ giữa những năm 1860, được cất theo dạng chữ Đinh, ba gian lợp lá,

it lâu sau lợp ngói âm dương Năm 1909-1917 ngôi nhà được tu bổ thêm xây tường, làm hàng rào sắt, phía sau xây thêm lẫm lúa rất lớn Trong đợt trùng tu này tốn hết 10.000 giạ lúa tương đương 250 tấn thóc lúc bấy giờ

Toàn cục ngôi nhà thành thể cách nội công ngoại quốc rất đặc biệt Địa cuộc bên ngoài quay về phía Bắc, sau lưng quay về phía Nam Gồm ba phần: nhà chính có diện tích là 533,26m2, hai nhà vuông 196,4m2 và lẫm lúa Vật lệu xây dựng chủ yếu là

gỗ, gạch, xi-măng, ngói

Vào trong nhà tiền đường nối các khoảng cột với nhau là các bộ bao lam bằng

gỗ chạm hai mặt thể hiện các đề tài tứ linh, tứ quí, bát bửu Bên cạnh các bao lam là liễn đại tự để thờ, liễn treo trên cột được khảm xà cừ óng ánh, độc đáo với các tích truyện Tàu ngày xưa: nhị thập tứ hiếu, Văn Vương cầu hiền… hoặc các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam: đàn bầu, tỳ bà, sáo trúc được các nghệ nhân thể hiện rất công phu tỉ

mỉ Trên các khánh thờ chạm lưỡng long chầu nguyệt và thếp vàng

Ngoài các khuôn biển, các liễn đại tự, các đôi liễn trên các vách cột, phải kể đến các đồ dùng quí hiếm hiện nay còn để lại như: tủ, ghế khảm xà cừ, bàn đá cẩm thạch,

đồ sứ Trung Quốc và Việt Nam thế kỷ 17-18 Giường Tàu (giường Thất Bảo) mặt loát

6 tấm đá cẩm thạch màu sắc khác nhau, thanh chân chạm nổi hoa lá và khảm xà cừ Hai bộ đi văng bằng đá cẩm thạch màu trắng vân đen… Đặc biệt các bức tranh vẽ trên kính, hai bộ tranh hạt cườm bằng nhung đỏ, 8 tấm thêu mai-lan-cúc-trước, xuân-hạ-thu-đông Với các công trình còn lại của ngôi nhà và hơn 350 khuôn biển trang trí, đại

tự, liễn khảm xà cừ , cùng với 70 cổ vật có trong nhà hiện nay thì nhà Đốc Phủ Hải là một trong những ngôi nhà địa chủ phong kiến còn lại tiêu biểu nhất ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Tiền Giang nói riêng

Ngày đăng: 15/03/2015, 20:57

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w