1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

IÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG GIÁO DỤC THẨM MỸ VÀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

80 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 709,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TIỀN GIANG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG GIÁO DỤC THẨM MỸ VÀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TR

Trang 1

1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TIỀN GIANG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG GIÁO DỤC THẨM MỸ VÀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP –

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Người thực hiện: NGUYỄN VĂN HƯNG

TIỀN GIANG, THÁNG 03/ 2014

Trang 2

2

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Mục lục

MỞ ĐẦU

0.1 Lý do chọn đề tài 2

0.2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 4

0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 4

0.4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5

0.5 Đóng góp của đề tài 5

0.6 Bố cục của đề tài 6

Chương 1 THỰC TRẠNG VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, VỀ THỊ HIẾU THẨM MỸ, CẢM NHẬN THẨM MỸ CỦA HỌC SINH THPT VÀ VIỆC LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH SAU TỐT NGHIỆP 1.1 Thực trạng về giáo dục đạo đức, lối sống, về thị hiếu thẩm mỹ, cảm nhận thẩm mỹ của học sinh THPT 7

1.2 Việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh sau tốt nghiệp THPT 10

1.3 Nguyên nhân của những thực trạng 11

1.4 Tiểu kết 21

Chương 2 CÁC GIẢI PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, GIÁO DỤC THẨM MỸ, GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP 2.1 Giải pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh 23

2.2 Giải pháp giáo dục thẩm mỹ cho học sinh THPT 27

2.3 Giải pháp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT 34

KẾT LUẬN 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ LỤC 44

Trang 3

rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống, giáo dục

thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, như Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc quan trọng Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định ”

Và sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:

“Có tài không có đức chỉ là người vô dụng

Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó “

Đảng ta đã chủ trương:“Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đưa việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù hợp với từng lứa tuổi và bậc học ” Bởi vậy, tu dưỡng và rèn luyện bản thân để trở thành người có nhân

cách, vừa có đức vừa có tài là hết sức quan trọng đối với mỗi con người, là nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục - đào tạo

Ngày nay, giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh là giáo dục lòng trung thành đối với Đảng, hiếu với Dân, yêu quê hương đất nước, có lòng vị tha, nhân

ái, cần cù, liêm khiết và chính trực Đó là đạo đức Xã hội Chủ nghĩa, là đạo đức của cá nhân, tập thể và chủ nghĩa nhân đạo mang tính chân thực, tích cực, khác với đạo đức vị kỷ, cá nhân Giáo dục đạo đức học sinh gắn chặt với giáo dục tư tưởng - chính trị, giáo dục truyền thống và giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục pháp luật nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, cung cấp cho học sinh những

Trang 4

4

phương thức ứng xử đúng trước các vấn đề của xã hội…, giúp cho các em có khả năng tự kiểm soát được hành vi của bản thân một cách tự giác, có khả năng chống lại những biểu hiện lệch lạc về lối sống

Giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ cho học sinh là một lĩnh vực quan trọng trong việc hình thành nhân cách, phát triển con người trong nhà trường Ðiều đó đòi hỏi chúng ta phải tăng cường giáo dục kỹ năng sống để học sinh có những hành vi ứng xử, có những việc làm đúng đắn trong học tập

và cuộc sống

Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông (THPT) cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục THPT, nhằm hướng đến mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh Đây là điều mà bất kỳ nhà trường THPT Việt Nam nào cũng đặt ra cho từng năm học

Tuy nhiên, việc giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong nhiều thập kỷ qua còn bỏ ngõ, chưa được các nhà trường quan tâm đúng mức, hiệu quả đạt được chưa cao Những bất cập trong nội dung, hình thức giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp ở cấp học này vẫn là vấn đề thời sự đối với ngành giáo dục – đào tạo, đối với các nhà trường THPT, với những người làm công tác quản lý giáo dục, đối với nhà giáo, đối với các bậc cha mẹ học sinh và toàn xã hội

Mặt khác, hiện nay học sinh đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc lựa chọn những giá trị phù hợp với truyền thống của dân tộc, vừa đáp ứng

xu hướng phát triển của xã hội hiện đại, nhất là việc lựa chọn lối sống, hành vi ứng xử trong cuộc sống, học tập và các mối quan hệ xã hội Bên cạnh những học sinh có biểu hiện tư tưởng, đạo đức, lối sống tích cực, lành mạnh và hành

vi ứng xử có văn hóa chuẩn mực, lựa chọn nghề nghiệp tương lai có định hướng và rất thực tế, vẫn còn một bộ phận không nhỏ học sinh có những hành

vi ứng xử thiếu văn hóa, có biểu hiện vi phạm đạo đức, thậm chí vi phạm pháp luật, gây lo lắng, bức xúc trong dư luận xã hội; còn việc chọn lựa nghề nghiệp

Trang 5

02 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT được đề cập nhiều ở các bài viết đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành Song, ở các bài viết trên, các tác giả chỉ nêu lên những thông tin mang tính dự báo, chưa phân tích một cách sâu sắc và có tính hệ thống về những nguyên nhân cụ thể dẫn đến sự xuống cấp về phương diện đạo đức, lối sống, nhận thức thẩm mỹ của học sinh THPT hiện nay, cũng như việc lựa chọn nghề nghiệp thiếu tính định hướng của học sinh sau tốt nghiệp THPT, chưa đưa ra được các giải pháp thiết thực, hữu hiệu

để giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh

Với đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích thực trạng việc giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trong thời gian qua; trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ đưa ra những giải pháp thiết thực, hiệu quả trong việc giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trong thời kỳ toàn cầu hoá, hội nhập nhằm đào tạo một thế hệ học sinh có đủ tài, đủ đức phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần đưa đất nước ta “sánh vai với cường quốc năm châu” như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn

0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là:

Trang 6

6

(1) Thực trạng đạo đức, lối sống, thị hiếu thẩm mỹ, cảm nhận thẩm mỹ của học sinh và việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh trường THPT Chuyên Tiền Giang sau tốt nghiệp THPT; nguyên nhân của thực trạng trên

(2) Tìm ra những biện pháp / giải pháp có tính khả thi trong việc giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập; trên cơ sở đó góp phần giáo dục toàn diện học sinh

0.4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu mà chúng tôi sử dụng trong đề tài nghiên cứu là:

- Phương pháp điều tra (bằng phiếu thăm dò), phương pháp quan sát dùng

để quan sát các hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường

- Các phương pháp khác như: phỏng vấn, thống kê để thu thập và xử lý số liệu

- Phương pháp phân tích, miêu tả dùng để phân tích miêu tả thực trạng đạo đức, lối sống, cảm nhận thẩm mỹ và giáo dục hướng nghiệp cho học sinh sau tốt nghiệp THPT

0.5 Đóng góp của đề tài

Với đề tài này, chúng tôi muốn tạo nên một cái nhìn toàn cảnh về thực trạng bức tranh giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ và giáo dục hướng nghiệp ở các nhà trường THPT nói chung và ở trường THPT Chuyên Tiền Giang nói riêng Trên cơ sở đó, mỗi nhà trường, mỗi Thầy cô giáo, một mặt (1) nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong quá trình dạy học / giáo dục, mặt khác, (2) Thầy cô giáo cùng với nhà trường tìm ra những biện pháp / giải pháp thích hợp để giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh đạt hiệu quả cao nhất, góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh

Trang 7

Chương 2. Các giải pháp giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập

Trang 8

8

CHƯƠNG 1

THỰC TRẠNG VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, VỀ THỊ HIẾU THẨM MỸ, CẢM NHẬN THẨM MỸ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

VÀ VIỆC LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH

SAU TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Thực trạng về đạo đức, lối sống, về thị hiếu thẩm mỹ, cảm nhận thẩm mỹ của học sinh THPT

1.1.1 Thực trạng về đạo đức, lối sống của học sinh THPT

Một khảo sát được thực hiện ở trường THPT Chuyên Tiền Giang trong học kỳ 1, năm học 2013-2014 về những biểu hiện hành vi vi phạm đạo đức học đường của học sinh được thể hiện qua bảng sau:

Sử dụng tài liệu trong thi và KT(**) 3/100 3,0 4/100 4,0 5/100 5,0 Nói dối / thiếu trung thực 9/100 9,0 12/100 12,0 16/100 16,0

Vi phạm luật giao thông (***) 8/100 8,0 10/100 10,0 11/100 11,0 Ứng xử văn hoá thiếu chuẩn mực 5/100 5,0 7/100 7,0 15/100 15,0

Một đặc điểm nổi bật nhất của học sinh trường THPT Chuyên là phần lớn các em có học lực khá giỏi chiếm trên 85%; đa phần là chăm ngoan, biết vâng lời thầy cô và đặc biệt là có ý thức tự giác cao

Tuy nhiên, hiện tượng vi phạm đạo đức, lối sống không phải là vắng bóng

mà từng lúc, từng nơi vẫn xảy ra những biểu hiện vi phạm đạo đức Từ số liệu khảo sát trên, chúng tôi thấy rằng, một điều dễ thấy là tình hình vi phạm đạo đức của học sinh là càng học lên cao thì số lượng vi phạm đạo đức càng tăng

Trang 9

9

Trong số các hành vi vi phạm thường thấy (như bảng thống kê) thì hành vi nói dối / thiếu trung thực, hành vi ứng xử văn hoá thiếu chuẩn mực và hành vi

vô cảm là đáng quan tâm hơn cả

Về hành vi nói dối / thiếu trung thực, lúc đầu thì các em cảm thấy vô hại, vì

nó không ảnh hưởng gì cho bản thân học sinh / người khác Tuy nhiên, hành vi này được duy trì thường xuyên và cứ lặp đi, lặp lại nhằm mục đích che đậy những lỗi lầm của mình thì nó lại vô cùng tệ hại, trở thành một thói quen xấu mà

xã hội đã và đang lên án

Về hành vi ứng xử văn hoá thiếu chuẩn mực, thường được biểu hiện ở

những hành vi sau:

- Học sinh giao tiếp với nhau xưng hô mày, tao,… trước mặt thầy cô / người lớn

- Học sinh khi giao tiếp, ứng xử với thầy cô như giao tiếp với bạn bè, vào lớp trễ thì ngang nhiên vào, không cần xin phép

- Học sinh có những hành vi chưa thể hiện kính trọng những người lớn tuổi hơn mình thậm chí bằng tuổi cha, tuổi mẹ mình

- Học sinh thiếu lễ phép, lễ độ, thiếu sự tôn trọng thầy cô, coi thường việc học; thậm chí có trường hợp gọi thầy cô là ông nọ, bà kia bằng các đại từ khẩu ngữ ngôi thứ ba như “ổng”, “bả”

- Một số học sinh có biểu hiện của lối sống thực dụng, phủ nhận những giá trị đạo đức truyền thống, vi phạm giờ giấc, học tập, ứng xử chưa chuẩn mực trong môi trường sư phạm; ngôn phong, tác phong chưa chưa chuẩn làm ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử trong nhà trường

- Một biểu hiện dễ thấy là dường như văn hoá “cám ơn!”, văn hoá “xin lỗi”

ngày càng vắng bóng và trở nên xa lạ đối với học sinh

Về hành vi vô cảm, nhiều học sinh thiếu sự đồng cảm, sẻ chia với nỗi buồn,

niềm đau với những người xung quanh, sống chỉ biết mình, thờ ơ, dửng dưng với mọi người

Trang 10

trong sáng Bởi lẽ, “xã hội giống như một sới vật khổng lồ mà ở đó hầu hết các

đô vật đều không chơi đúng luật, sẵn sàng phạm luật để chiến thắng đối phương”

1.1.2 Về thị hiếu thẩm mỹ và cảm thụ thẩm mỹ của học sinh THPT

Thị hiếu thẩm mỹ, cảm thụ thẩm mỹ là một trong những hình thái ý thức xã hội, có mối quan hệ biện chứng với ý thức đạo đức Trong cuộc sống, thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu nghệ thuật có liên quan chặt chẽ với các quy phạm đạo đức Trong xã hội, những lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp trở thành nhân tố tích cực trong phát triển nhân cách con người

Đất nước đang trong thời kỳ đổi mới và sự phát triển của nền kinh tế thị trường ít nhiều đã ảnh hưởng đến quan niệm đạo đức, lối sống, thị hiếu thẩm mỹ của con người nói chung và học sinh nói riêng Vấn đề đặt ra lúc này là phải tăng cường công tác giáo dục đạo đức mới cho học sinh, kết hợp giáo dục với các môn văn hoá - khoa học khác để phát triển con người toàn diện Trong quá trình đó, chúng ta cần coi trọng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh, hình thành ở các

em tình cảm, thị hiếu, lí tưởng thẩm mỹ đúng đắn, phù hợp với những giá trị truyền thống của dân tộc, thúc đẩy học sinh vươn tới cái đẹp và hành động theo quy luật cái đẹp Tuy nhiên, trong những năm qua, công tác giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thị hiếu nghệ thuật cho học sinh còn nhiều hạn chế Điều này dẫn đến một hệ quả là học sinh có những biểu hiện lệch lạc trong thị hiếu thẩm mỹ và cảm thụ thẩm mỹ

Chẳng hạn, học sinh khi đứng trước những loại văn hóa phẩm độc hại, đồi truỵ, thậm chí phản động, nhiều em đã không tạo cho mình khả năng tự phòng ngừa, "miễn dịch" có hiệu quả Ngược lại, các em tiếp thu một cách không chọn

Trang 11

11

lọc, thậm chí còn ca ngợi nó, cổ xuý nó Một số học sinh chạy theo thị hiếu thấp hèn, lối sống thực dụng, cá nhân, vị kỷ, xem thường những giá trị văn hoá của dân tộc, có quan niệm không đúng về cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài

Qua khảo sát 150 học sinh thuộc ba khối lớp (lớp 10, lớp 11 và lớp 12, năm học 2013 - 2014, mỗi khối lớp 50 học sinh) về thị hiếu thẩm mỹ, cảm thụ thẩm

mỹ, đánh giá và sáng tạo theo quy luật cái đẹp, được biểu hiện qua bảng sau: Mức độ nhận thức

và cảm thụ thẩm mỹ

Mức độ đánh giá thẩm mỹ

Mức độ sáng tạo thẩm mỹ Cao Trung

Trung bình Thấp Cao

Trung bình Thấp

Nhìn chung, sự nhận thức thẩm mỹ, cảm thụ thẩm mỹ của học sinh dừng ở mức trung bình (chiếm tỉ lệ 67,3%), từ đó kéo theo sự đánh giá thẩm mỹ càng thấp, còn sự sáng tạo thẩm mỹ của học sinh thì rất yếu

Thực trạng này đã nói lên sự yếu kém của ngành giáo dục – đào tạo, của các nhà trường, của đội ngũ thầy cô giáo, của các bậc cha mẹ học sinh trong việc giáo dục thẩm mỹ cho các em

1.2 Việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh sau tốt nghiệp THPT

Thực trạng của việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh sau tốt nghiệp THPT được thể hiện qua bảng sau:

Theo sở thích và nguyện vọng

cá nhân

Theo sự rủ rê của bạn bè, theo phong trào và ước muốn của cha mẹ

Trên cơ sở khoa học và thực tiễn

Trang 12

12

35,5% học sinh chọn lựa nghề nghiệp tương lai có cơ sở khoa học và tính thực

tiễn cao (lựa chọn dựa vào các tiêu chí: năng lực, sở thích / hứng thú và nhu cầu

xã hội)

Riêng ở trường hợp (i) và (ii) còn nảy sinh một quan niệm là phải đỗ vào đại học bằng mọi giá, bất kể ngành đó có phù hợp với năng lực bản thân và triển vọng của nghề nghiệp đó ở tương lai Chính điều này đã tạo ra một hệ quả là không ít học sinh sau khi thi đỗ và học ở một trường đại học nào đó chỉ được một năm, sau đó cảm thấy không phù hợp với năng lực và sở thích / hứng thú, buộc phải làm hồ sơ thi vào một trường khác Không ít trường hợp làm những công việc trái với nghề nghiệp đã được đào tạo sau khi tốt nghiệp (chẳng hạn: tốt nghiệp bác sĩ đa khoa lại đi làm du lịch; tốt nghiệp ngành kỹ thuật lại làm

quản lý kinh tế; tốt nghiệp đại học kinh tế lại làm công nhân…)

1.3 Nguyên nhân của thực trạng

Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự lệch lạc về thị hiếu thẩm mỹ, cảm thụ thẩm mỹ của học sinh hiện nay là đáng báo động Còn về việc làm, sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề không tìm được việc làm Một bộ phận làm những công việc trái với nghề nghiệp được đào tạo, một

bộ phận tiếp tục “ăn bám” vào gia đình… Họ tiếp tục là gánh nặng cho gia đình

và xã hội dù đã cầm trong tay đủ thứ bằng cấp

1.3.1 Nguyên nhân của sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của học sinh

1.3.1.1 Về mặt xã hội

Trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hoá, hội nhập với thế giới đã

mở ra cho nước ta những thời cơ, vận hội mới Nền kinh tế đã có những bước phát triển vượt bậc, đời sống nhân dân được nâng lên; góp phần tích cực cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo nước nhà, tạo nên những thành quả quan trọng

trong thực hiện mục tiêu của Ngành là: “Nâng cao dân trí - Đào tạo nguồn nhân lực - Bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước

Trang 13

13

Song bên cạnh những tác động tích cực, những tác động xấu từ môi trường

xã hội của thời kỳ “mở cửa, hội nhập”, sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo nên “thế giới phẳng” đã làm cho những “tư tưởng văn hoá xấu, ngoại lai, đồi truỵ, phản động” có cơ hội lan nhanh đến với giới trẻ Phim ảnh, trò chơi

bạo lực / phim ảnh bạo lực xuất hiện nhan nhản trên mạng Internet và một số kênh truyền hình

Một tác động tiêu cực khác của cơ chế thị trường là sự lên ngôi của đồng tiền đã xâm nhập sâu vào mọi ngõ ngách của cuộc sống hàng ngày, tạo nên căn bệnh chết người – căn bệnh vô cảm ở giới trẻ nói chung và ở học sinh nói riêng Đâu đó còn có những hiện tượng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, thích chạy theo lối sống thực dụng

Những hành động phạm pháp của “người lớn” đã tác động xấu trực tiếp

đến học sinh Các tệ nạn xã hội có nơi, có lúc đã xâm nhập vào trong trường

học; tình trạng một số học sinh lún sâu vào tệ nạn xã hội, thậm chí đánh thầy, gây án, giết người, cướp của… số này tuy không phổ biến nhưng có xu hướng

gia tăng, làm băng hoại đạo đức, tha hoá nhân cách; gây nỗi đau cho các bậc cha

mẹ và cho toàn xã hội Tất cả đã tác động xấu tới các giá trị đạo đức truyền thống, ảnh hưởng không nhỏ trực tiếp đến công tác giáo dục đạo đức, lối sống học sinh trong nhà trường, đến an ninh trật tự an toàn xã hội

Mặc dù nhà trường thường xuyên giáo dục cho các em về tính trung thực, lòng bác ái, vị tha và phải biết vươn lên bằng chính đôi chân của mình Nhưng trong thực tế, các em lại tận mắt chứng kiến quá nhiều người lớn không trung thực nhưng vẫn "thành đạt"? Tệ nạn sử dụng bằng giả hay mua bằng, gian dối trong báo cáo thành tích (bệnh thành tích), sự thiếu nghiêm minh của pháp luật tác động đến các em hàng ngày làm cho các em thiếu niềm tin với những điều tốt đẹp đã học được trong nhà trường

Trang 14

14

Sự tha hoá về đạo đức của một bộ phận không nhỏ của giới trẻ trong xã hội

ta có một nguyên nhân cần nhấn mạnh là do ảnh hưởng của những tiêu cực đang diễn ra trong cuộc sống hôm nay

1.3.1.2 Về phía ngành giáo dục – đào tạo

Việc xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa của các môn học khoa học xã hội như Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý đã bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt các môn học Đạo đức (cấp tiểu học) và Giáo dục công dân (cấp THCS và THPT) đã không được quan tâm đúng mức

Mặt khác, chúng ta đã từng có một quan niệm rất sai lầm là "đi tắt đón đầu" trong ngành giáo dục – đào tạo Người ta đã hiểu nhầm chủ trương này, bởi

đi tắt đón đầu trong khoa học và kỹ thuật, trong đổi mới công nghệ thì hoàn

toàn đúng Nhưng người ta đã hiểu "đi tắt đón đầu" trong giáo dục – đào tạo là

dạy cho con trẻ thật nhiều kiến thức thì nền giáo dục Việt Nam sẽ tiến lên hàng

"top" của thế giới, mà quên đi một điều rất cơ bản là muốn làm gì làm nhưng

trước tiên là dạy các em “làm người”

Người ta đã quên rằng "dục tốc bất đạt" Thực trạng giáo dục phổ thông

hiện nay nói chung và ở cấp THPT nói riêng đã gây khó khăn cho giáo dục đại học Nhiều học sinh phổ thông khi bước vào ngưỡng cửa đại học rất giỏi các môn toán, lý, hóa, sinh nhưng khi cần viết một lá đơn xin phép nghỉ học vì đau

ốm (hay vì một lý do chính đáng nào đó) lại không biết bắt đầu như thế nào Kiến thức về lịch sử, địa lý Việt Nam thì đã “trả hết” cho thầy cô khi vừa tốt

nghiệp THPT Những "bài thi kinh khủng" mà báo chí thời gian qua đã cho mọi

người thấy điều đó

Một nguyên nhân không kém phần quan trọng, đó chính là chương trình giảng dạy đạo đức ở các cấp học phổ thông Chương trình đạo đức được thực hiện xuyên suốt, từ bậc Mầm non là giáo dục lễ giáo, bậc Tiểu học là môn Đạo đức, bậc Trung học là môn Giáo dục công dân Thế nhưng, chương trình nặng tính lý thuyết, thiếu giáo dục kỹ năng sống, lại không tạo được dấu ấn để tác động đến việc hình thành nhân cách học sinh Những bài học ý nghĩa, gần gũi với đời sống không được chú trọng mà thay bằng những bài học quá trừu tượng,

Trang 15

15

khô cứng; không dạy cho học sinh những giá trị đạo đức cơ bản của con người (dạy học sinh làm người) mà đưa vào đó quá nhiều kiến thức triết học, kinh tế chính trị học mang tính hàn lâm, thiếu vắng việc rèn luyện và hình thành những thói quen đạo đức và kỹ năng sống phù hợp với những chuẩn mực xã hội

1.3.1.3 Về phía nhà trường

Trong nhà trường, tính cưỡng chế, áp đặt của giáo dục quá nhiều Chúng ta hướng đến giáo dục con người có tư duy độc lập nhưng thầy lại muốn học trò theo Nếu học trò nói và làm chệch ra ngoài ý thầy thì sẽ bị phê bình

Mặt khác, như đã nói trên, cả xã hội đang chạy theo bằng cấp, thành tích và lao vào cuộc đua mà quên mất những điều đơn giản nhất của đạo đức truyền thống như biết thưa gửi, cám ơn, chào hỏi…, đặc biệt là việc dạy và hình thành

“tư đức” (đạo đức cá nhân để các em hình thành được bản lĩnh, tính tự chủ trong

cuộc sống sau này) cho học sinh bị bỏ quên Thầy cô dạy những điều quá lớn lao

mà quên đi những điều nhỏ nhất Đó là dạy cho học sinh về nhân cách

Nhà trường hiện nay cũng đang đi theo chiều hướng nhồi nhét kiến thức, đề

cao việc “đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu nhân lực của nền kinh tế” Việc giáo dục đạo đức, giáo dục ý thức công dân cho người học sinh gần

như bị bỏ quên hoặc bị xem là thứ yếu Trong khi đó, vai trò của trường học đâu

chỉ bó hẹp trong việc “dạy chữ”, “dạy nghề” mà còn phải truyền tải cho người

học những giá trị, chuẩn mực của xã hội để họ trở thành những con người toàn diện, biết sống vì mọi người và biết tôn trọng người khác

Chính vì chỉ quan tâm đến việc nhồi nhét kiến thức nên trường học chỉ có thể đào tạo ra những con người đầy tri thức, thông thạo các kỹ năng mang tính công cụ nhưng không phải là những người trí thức thật sự Vì không phải là

người trí thức nên những “sản phẩm giáo dục” ấy rất “hồn nhiên” gây tổn hại

đến người khác và vi phạm pháp luật

Có lúc, có nơi uy tín người thầy bị sa sút, các giá trị truyền thống “Tôn sư trọng đạo” bị nhìn nhận một cách méo mó, vật chất hoá, thực dụng; có trường

Trang 16

16

hợp người thầy không giữ được tư thế đáng kính trọng trong quan hệ thầy trò, thiếu gương mẫu; tình trạng vi phạm dạy thêm, học thêm tràn lan đã tác động xấu đến uy tín của người thầy trong suy nghĩ học sinh và không ít phụ huynh Một nguyên nhân cơ bản khác là môn Giáo dục công dân – môn học góp phần khá quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh bị xem là môn phụ, không được coi trọng và thậm chí bị xem thường Học sinh học theo kiểu chiếu lệ để lấy điểm

Nói tóm lại, nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến sự xuống cấp về

đạo đức, lối sống của học sinh hiện nay là chúng ta quá chú trọng đến việc “dạy chữ” (dạy kiến thức) mà quên dạy cho học sinh “làm người” Từ lâu, dạy chữ

được coi trọng hơn dạy làm người; việc dạy làm người cho học sinh đôi lúc được xem là thứ yếu

1.3.1.4 Về phía Thầy cô giáo

a) Về phía giáo viên chủ nhiệm lớp

Công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh không được giáo viên chủ nhiệm lớp quan tâm đúng mức, mà thay vào đó là công việc quản lý mang tính hành chính là chủ yếu Nội dung sinh hoạt lớp trong giờ sinh hoạt thì nghèo nàn

và thường thực hiện theo lập trình định sẵn và được thực hiện từ tuần này sang tuần khác Việc lồng ghép các chuyên đề có tác dụng giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục ý thức công dân cho học sinh ít được thực hiện Nội dung sinh hoạt thì nghèo nàn, và thậm chí đôi lúc mang tính chiếu lệ

Điều này làm cho công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên chủ nhiệm nói chung và giờ sinh hoạt chủ nhiệm nói riêng không phát huy tác dụng trong giáo dục đạo đức, lối sống và ý thức công dân cho học sinh

b) Về phía giáo viên giảng dạy các bộ môn văn hoá - khoa học

Đa phần giáo viên giảng dạy bộ môn văn hoá – khoa học đều cho rằng, việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh là nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm, của giáo viên giảng day môn Giáo dục công dân, của các đoàn thể nhà trường,

Trang 17

17

còn họ là “những người ngoài cuộc” Từ quan niệm trên, cho nên, giáo viên khi

lên lớp, đơn thuần chỉ truyền thụ kiến thức cho học sinh mà không hề quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh thông qua môn dạy / tiết dạy / bài dạy Việc lồng ghép chủ đề tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh dường như ít khi được giáo viên thực hiện

Mặt khác, việc phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm trong công tác giáo dục học sinh chưa được thực hiện một cách thường xuyên

1.3.1.5 Về phía cha mẹ học sinh

Một bộ phận cha mẹ học sinh sống không gương mẫu, buông lỏng giáo

dục, phó mặc cho xã hội, cho nhà trường với quan niệm “trăm sự nhờ thầy”; có những bậc cha mẹ lại quá nuông chiều con cái theo kiểu “muốn gì được nấy”

Phần lớn gia đình chỉ suy nghĩ một cách giản đơn là có tiền cho con đi học và chỉ quan tâm đến một việc duy nhất là con mình học giỏi là được, chứ không quan tâm đến những hành vi đạo đức, hành vi ứng xử, lối sống của con cái

Để cho đạo đức, nhân cách, lối sống của học sinh xuống cấp nghiêm trọng như hiện nay cũng là hệ quả của một phần trách nhiệm của gia đình, quá trình giáo dục lâu dài trong nhà trường (trong đó có một phần trách nhiệm của gia đình học sinh)

1.3.1.6 Về phía bản thân học sinh

Một bộ phận không nhỏ học sinh hiện nay thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sống thiếu ý thức, sống buông thả, bon chen, đua đòi Đặc biệt là các em lạm dụng tự

do để làm những chuyện phi đạo đức Và các em đã hiểu sai cái tự do đó, tự do không phải là làm những gì mình thích, tự do phải là một giá trị để đảm bảo

hạnh phúc cho mình và cho người khác Nói như Jean Cocteau: “Cái thảm kịch của giới trẻ, chính là giới trẻ bị đặt vào tình trạng không thể không vâng lời vì

sự tự do quá đáng”

Trang 18

Ở lứa tuổi trung học phổ thông, các em dù chưa thực sự trở thành người lớn nhưng có những chuyển biến mạnh mẽ và thay đổi về tâm sinh lý đặc biệt là việc hình thành và phát triển của sự tự ý thức Nó đem đến cho học sinh những tri giác, cảm nhận về đặc điểm cơ thể, cử chỉ, thái độ, cách hành xử, nghĩa là các

em bắt đầu quan tâm đến yếu tố thẩm mỹ của bản thân và của thế giới xung quanh Ngay tại trường học, việc thực hiện trang phục, lễ phục và nghi thức học đường như đồng phục, bảng tên, nề nếp sinh hoạt, học tập,… đúng quy định, nghiêm túc cũng là những biểu hiện của việc các em đã bộc lộ xu hướng vươn đến sự thẩm mỹ cho bản thân và nhà trường theo khuynh hướng thẩm mỹ chung Bên cạnh đó, trong các hoạt động ngoại khóa như văn nghệ, hội trại truyền thống, thể dục thể thao, thi cắm hoa… qua trang phục, nội dung, hình thức thể hiện, trang trí, phong cách trình bày, học sinh trung học phổ thông luôn hướng

về một sự hoàn thiện, sống có hoài bão, lý tưởng, thích khám phá, làm chủ các giá trị nghệ thuật, làm chủ cái đẹp Cái đẹp, cái thẩm mỹ trở thành những đề tài quan trọng trong các diễn đàn, trao đổi của học sinh THPT

Trang 19

19

Tuy nhiên, sự thiếu chín chắn và non nớt trong nhận thức khiến lứa tuổi

học sinh trung học phổ thông có chiều hướng “đánh giá thấp cái tích cực, tập trung phê phán cái tiêu cực; hoặc là đánh giá quá cao nhân cách của mình, tỏ

ra tự cao, coi thường người khác” Thêm vào đó, sự tương tác giữa nhận thức

thiếu chín chắn, tâm lý chưa phát triển hoàn thiện và sự lôi cuốn của các phương tiện truyền thông mà chủ yếu là sự tác động tiêu cực của các loại hình giải trí bạo lực như game online, internet với những website thiếu lành mạnh Sự lan tỏa của những tác động đó đã mang đến những hệ quả không nhỏ trong xu hướng phát triển chung của nhân cách, năng lực cảm thụ thẩm mỹ của lứa tuổi trung học phổ thông Do đó, năng lực thẩm mỹ của một bộ phận học sinh có sự thiên lệch theo hướng tiêu cực với những biểu hiện:

Thứ nhất, các em tiếp nhận nghệ thuật một cách lệch lạc, chắp vá, thiếu cân

nhắc, lựa chọn, chạy theo những thị hiếu thẩm mỹ tầm thường, không lành mạnh Hầu hết, những hình thức, loại hình nghệ thuật được các em tiếp nhận chủ yếu thông qua công cụ internet và không ít học sinh ở lứa tuổi này khai thác những thông tin không đúng, tiêu cực đi trái lại những nội dung, quan điểm, mục đích giáo dục mà chúng ta đang hướng đến Cho nên, khi thị hiếu của các

em được hình thành không được phát triển toàn diện, đi vượt ra khỏi quỹ đạo phát triển chung của xã hội

Thứ hai, sự yếu kém về năng lực và trình độ để cảm nhận giá trị thẩm mỹ

của các tác phẩm, công trình thẩm mỹ mà sự cảm nhận chủ yếu xuất phát từ yếu

tố trực quan của bản thân học sinh Dưới tác động và sức lôi cuốn của trí tò mò,

óc khám phá của học sinh, các trò chơi trên internet, các hình thức giải trí nhanh

đã khiến học sinh ít có điều kiện và càng không quan tâm đến những vấn đề xung quanh Các em chỉ nặng và thích những vấn đề liên quan đến việc khẳng định bản thân mình đã lớn như chơi game hành động, nghe hay thưởng thức các tác phẩm âm nhạc của người lớn mà ít chú trọng đến các phương diện khác của

Trang 20

20

nghệ thuật Thái độ và sự am hiểu của các em còn quá hạn chế so với trình độ thẩm mỹ mà xã hội quy định đối với lứa tuổi của các em

Thứ ba, năng lực sáng tạo của học sinh còn hạn chế ở nhiều mặt Học sinh

phổ thông không tìm ra được hướng đi đúng cho mình trên con đường khám phá, giải mã các giá trị thẩm mỹ Hành trình khám phá đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng Chúng ta không thể phủ nhận một điều rằng chính công nghệ và phương tiện truyền thông đã trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình sáng tạo của học sinh Tuy nhiên, có một thực tế rằng, học sinh THPT còn phụ thuộc quá nhiều vào truyền thông cho nên chưa tìm ra được con đường khám phá cái đẹp, cái tốt cho bản thân mình

Thứ tư, Những nét đẹp trong lối sống, giao tiếp học đường, giao tiếp xã hội

có xu hướng cực đoan hoá so với chuẩn mực giá trị chung của xã hội Ở lứa tuổi này, học sinh thường xuất hiện các hiện tượng gây mất trật tự trong trường học, bạo lực học đường, sự thay đổi trong quan hệ thầy trò, quan hệ bạn bè Đó chính

là xu thế của sự tác động từ game hành động, bạo lực, từ phim, video trên mạng internet Tất cả làm cho các em hành động giao tiếp thiếu chuẩn mực và quy phạm, ảnh hưởng không nhỏ đến đạo đức, nhân cách của học sinh

Một thực tế đang tồn tại là phương diện giáo dục thẩm mỹ bị coi nhẹ nhất trong trường THPT, thậm chí các môn nghệ thuật không được tiếp tục giảng dạy

ở cấp THPT Do không được học các môn nghệ thuật ở cấp THPT, cho nên học sinh vào đời mang theo những khiếm khuyết của tuổi trẻ về tình cảm, tâm hồn

và nhân cách, về tri thức và thị hiếu thẩm mỹ – nghệ thuật, đó là chưa nói đến việc năng khiếu nghệ thuật không có điều kiện nuôi dưỡng

Giáo viên giảng dạy các bộ môn văn hoá – khoa học chỉ chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức, rèn luyện kĩ năng về môn mình đang dạy nhằm giúp học sinh đạt kết quả tốt trong các kỳ thi mà không tích hợp giáo dục thẩm mỹ cho các em (thậm chí môn học vừa có tính khoa học, vừa có tính thẩm mỹ cao được dạy và học ở THPT – môn Ngữ văn / môn Ngoại ngữ)

Trang 21

21

Các hoạt động ngoại khoá (chủ yếu là các hoạt động Văn Thể Mỹ) được tiến hành theo thời vụ và ngày càng xa dần mục tiêu giáo dục thẩm mỹ, chưa chú ý nhiều đến năng lực cảm thụ thẩm mỹ và sáng tạo thẩm mỹ của học sinh

1.3.3 Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong công tác hướng nghiệp ở trường THPT

Theo tôi, sự yếu kém trong công tác hướng nghiệp ở nhà trường THPT xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Trước hết là do việc định hướng nghề nghiệp cho các em ở các nhà trường phổ thông là chưa tốt, thậm chí là yếu kém Việc phân luồng học sinh ở cuối cấp THCS chưa được thực hiện một cách khoa học và có tính liên thông với cấp THPT

Bản thân giáo viên (giáo viên chủ nhiệm lớp, cả giáo viên giảng dạy bộ môn văn hoá – khoa học) chưa thực hiện được chủ đề tích hợp hướng nghiệp trong giảng dạy và giáo dục Bản thân các em không thể hình dung ra nghề nghiệp sau này của mình như thế nào Vì thế, việc lựa chọn trường và nghề nghiệp của các em thì rất cảm tính Đa phần các em vào đại học là lựa chọn đầu tiên Nhiều em năng lực có hạn mà vẫn cố cho bằng được để vào đại học Điều này gây ra sự lãng phí, cả về tiền của, công sức và thời gian

Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là sức ép từ phía cha mẹ và bệnh sính bằng cấp tạo nên Có nhiều cha mẹ học sinh ép buộc con em mình phải vào đại học cho bằng được mà không cần biết đến năng lực, sở thích / hứng thú và cả nhu cầu xã hội về nghề nghiệp đó

Một phần trách nhiệm nữa là thuộc về phía các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề là chưa làm tốt công tác hướng nghiệp cho học sinh THPT Trong những buổi tư vấn tuyển sinh, các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề chủ yếu là quảng bá trường / ngành nghề mà trường mình đang đào tạo để cho học sinh thi vào (càng đông, càng tốt) mà chẳng giúp cho học sinh có một cái nhìn về một

Trang 22

22

bức tranh tổng thể về các ngành nghề mà nhu cầu xã hội cần, cũng như triển vọng trong tương lai của những nghề nghiệp đó

1.4 Tiểu kết

Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ học sinh

trong thời gian qua là dễ nhận thấy Nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc “nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước Thực trạng này chịu chi phối từ nhiều nguyên nhân – chủ quan lẫn khách quan (như trình bày ở tiểu mục 1.2.1.) Nhưng theo chúng tôi, một trong những nguyên nhân cơ bản nhất là chúng ta quá chú trọng việc “dạy chữ” hơn “dạy người” Còn trong việc dạy học sinh “làm người” thì chúng ta lại quên hẳn và dường như không hề

quan tâm đến việc định hướng thị hiếu thẩm mỹ, cảm thụ thẩm mỹ và sáng tạo thẩm mỹ cho các em, nhằm góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh

Về công tác hướng nghiệp, trong thời gian qua trường THPT nào cũng thực

hiện hoạt động này nhưng theo kiểu “đến hẹn lại lên”, làm theo kiểu thời vụ

Công tác hướng nghiệp không được tiến hành xuyên suốt cả cấp học, chưa được quan tâm một cách đúng mức Học sinh thì luôn trong trạng thái cảm thấy “chơi vơi” giữa biển trời nghề nghiệp Thậm chí có học sinh, đến hết hạn đăng ký dự thi vào các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề mà vẫn chưa quyết định được là chọn ngành nào hoặc thi vào trường nào

Trang 23

23

CHƯƠNG 2

CÁC GIẢI PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG,

GIÁO DỤC THẨM MỸ, GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP

2.1 Giải pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh THPT

2.1.1 Đối với ngành Giáo dục – Đào tạo

Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có (i) một cuộc tổng rà soát lại nội dung chương trình học tập của cấp THPT, để từ đó cân đối giữa việc dạy kiến thức và dạy ý thức công dân cho con em trước khi chúng bước qua tuổi 18; (ii) thay đổi nội dung chương trình và phương pháp dạy và học môn Giáo dục công dân cho phù hợp và thiết thực; (iii) khắc phục và triệt tiêu căn bệnh thành tích, bệnh sính bằng cấp trong giáo dục – đào tạo; (iv) đổi mới hình thức và nội dung thi cử, nội dung chương trình các môn học; (v) khắc phục có hiệu quả việc dạy thêm, học thêm tràn lan như hiện nay; đặc biệt là (vi) đổi mới phương pháp giảng dạy – giáo dục, phát huy được tính năng động tích cực của học sinh; tăng cường dự án dạy học theo chủ đề tích hợp

Mặt khác, Bộ cần có chủ trương nhất quán trong việc đưa các chuyên đề về

“Tấm gương tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh” và các chuyên đề

về giáo dục pháp luật vào nộị dung sinh hoạt ngoài giờ lên lớp cho học sinh hoặc tích hợp trong giảng dạy của giáo viên Có thể nói, đây là những chuyên đề

khá thú vị và hết sức quan trọng, có tác dụng góp phần “chữa trị” căn bệnh

xuống cấp về đạo đức, lối sống của học sinh hiện nay

2.1.2 Đối với các nhà trường

Tăng cường công tác chỉ đạo của Chi bộ Đảng, Ban lãnh đạo nhà trường trong việc quản lý, giáo dục đạo đức học sinh; triển khai kịp thời sâu rộng mọi Chỉ thị của Đảng và Nhà nước, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng thông qua các buổi chào cờ hay các buổi sinh hoạt chủ điểm nhân ngày lễ kỷ niệm lớn của đất nước và dân tộc (mỗi tháng cần lấy một chủ điểm để sinh

Trang 24

24

hoạt); phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đảng viên phụ trách các hoạt động quan trọng của nhà trường như: công tác chủ nhiệm, công tác đoàn thể, tổ chuyên môn, công đoàn trường, quản lý học sinh nội trú (nếu có)… để các đảng viên phát huy vai trò tiên phong của mình trong các hoạt động quản lý, giáo dục đạo đức học sinh

Chi bộ Đảng, Ban lãnh đạo nhà trường đã đưa ra kế hoạch gắn liền với việc giáo dục đạo đức học sinh từng tháng, từng tuần theo các chủ điểm và giao cho Đoàn Thanh niên phối hợp với giáo viên chủ nhiệm triển khai thực hiện

Mặt khác, để giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, nhà trường cần ban hành quy tắc ứng xử đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh, dựa trên

sự hướng dẫn của ngành Giáo dục và Đào tạo Quy tắc ứng xử văn hoá được thực hiện thường xuyên trên cơ sở tinh thần tự phê bình, phê bình trung thực, thẳng thắn và gắn với các tiêu chí đánh giá, xếp loại, khen thưởng giáo viên, nhân viên và học sinh Nhà trường cần tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên

và học sinh ký cam kết việc thực hiện tốt quy tắc đó nhằm hướng tới một lối sống trong sáng lành mạnh, có văn hoá

2.1.3 Đối với nhà giáo

2.1.3.1 Đối với giáo viên chủ nhiệm

Giáo viên chủ nhiệm lớp là người trực tiếp thay mặt nhà trường giáo dục học sinh, là người thực hiện sự phối hợp, liên kết bền chặt với giáo viên bộ môn,

các đoàn thể trong nhà trường, giữa “Gia đình - Nhà trường - Xã hội” Giáo dục

đạo đức học sinh là một công việc đòi hỏi sự kiên trì, cần phải có tâm huyết với nghề; có phương pháp chủ nhiệm tốt với một kế hoạch toàn diện, hợp lý

Từ việc tìm hiểu, nắm bắt hoàn cảnh gia đình, năng lực từng học sinh, những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, đến việc xử lý các tình huống, đòi hỏi cần có sự nghiêm khắc của người thầy đồng thời phải có tấm lòng yêu thương, thể hiện trách nhiệm, lòng vị tha như cha mẹ đối với con cái; thông cảm chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, giúp đỡ các em vượt qua khó khăn, dành thời gian để tâm sự

Trang 25

25

và cho các em những lời khuyên bảo chân tình; tạo được niềm tin và động lực cho học sinh phấn đấu để hoàn thiện bản thân Hình ảnh người thầy ảnh hưởng không nhỏ đến học sinh, chính vì vậy giáo viên chủ nhiệm không những cần năng lực chuyên môn, mà còn đòi hỏi phải thật sự là tấm gương sáng về tác phong, tư cách đạo đức; chuẩn mực trong trang phục, lời nói, cách ứng xử… như vậy lời nói của giáo viên chủ nhiệm mới có trọng lượng với học sinh

2.1.3.2 Đối với giáo viên giảng dạy các bộ môn văn hoá – khoa học

Mỗi một giáo viên bộ môn, hãy phấn đấu dạy tốt môn học của mình, chú ý đến mọi đối tượng học sinh, giúp đỡ các em tiếp thu tốt nhất kiến thức mình truyền đạt Tích cực nâng cao chất lượng giờ dạy, chú trọng yêu cầu tích hợp nội dung giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh trong môn học / bài học / giờ học Trong đó, giáo viên dạy các môn Khoa học xã hội và nhân văn như: Ngữ văn, Lịch sử, Điạ lý, Sinh học và đặc biệt là môn Giáo dục công dân có vị trí quan trọng đối với việc trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về phẩm chất, đạo đức về quyền và nghĩa vụ công dân sẽ giúp học sinh có thái độ tích cực và thực hiện những hành vi phù hợp chuẩn mực đạo đức

2.1.4 Đối với cha mẹ học sinh

Gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người Gia đình là ngôi trường đầu tiên của con người, từ đó những đứa trẻ học được nhân cách làm người Vì thế, muốn cho con cái trở nên tốt, gia đình phải là nơi mọi người sống yêu thương, nâng đỡ và đùm bọc lẫn nhau Các thế

hệ cùng chung sống phải biết quan tâm tới nhau, thì con cái sẽ có nền tảng đạo đức tốt Hay nói cách khác, giới trẻ sống trong gia đình đó sẽ rập theo nếp sống của cha ông chúng Đồng thời, gia đình phải sống hạnh phúc, nơi đó cha mẹ và con cái sống hài hoà với nhau, người trẻ sẽ cảm nhận được những giá trị cao đẹp như: hạnh phúc, lắng nghe, yêu thương, tha thứ, nâng đỡ và chấp nhận những khác biệt của nhau

Trang 26

26

Bên cạnh đó, trong một thế giới đang đề cao sự thỏa mãn tức thời, với những ham muốn có tính bản năng, thì gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc khơi dậy ý thức về cái tốt và cái xấu, về cái đáng làm và không nên làm Trong đó, cha mẹ đóng vai trò rất lớn trong việc giáo dục con cái cũng như dạy con cách sống, cách làm người

2.1.5 Đối với học sinh

Mỗi học sinh không ngừng tu dưỡng và tự tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, phải sống đúng chuẩn mực đạo đức của con người, trau dồi, học hỏi những bài học trong cuộc sống về sự công bằng, bác ái với những người xung quanh và phải có quyết tâm muốn thay đổi chính bản thân mình

Ngoài ra, học sinh cần phải học hỏi những tấm gương đạo đức trong xã hội hiện tại

2.1.6 Tiểu kết

Trước thực trạng đạo đức, lối sống của của một bộ phận không nhỏ học sinh THPT xuống cấp nghiêm trọng như hiện nay, việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh trở thành mối bận tâm của toàn xã hội, của ngành giáo dục – đào tạo, của các nhà trường, của thầy cô giáo và của các bậc cha mẹ học sinh

Và để xây dựng hoàn thiện những giá trị cơ bản của con người Việt Nam cho học sinh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong sự phát triển nền kinh tế tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập Chúng ta cần chú trọng đến những vấn đề cơ bản về giáo dục đạo đức, lối sống cho học học sinh:

Thứ nhất, trong đổi mới cơ bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam cần chú trọng đến triết lý giáo dục Việt Nam theo quan niệm “Tiên học lễ, hậu học văn” – tức là quan tâm nhiều hơn nữa việc dạy học sinh “làm người”

Thứ hai, giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh cần được thực hiện bằng

nhiều con đường khác nhau như (i) con đường dạy học các môn học trong và ngoài nhà trường, nhất là việc dạy và học các môn khoa học xã hội, đặc biệt là

Trang 27

27

môn Giáo dục công dân; (ii) con đường hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường, các hoạt động ngoài giờ lên lớp

Thứ ba, để giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh cần phải có sự tham gia,

sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa nhà nước, nhà trường, nhà giáo, cha mẹ học sinh và bản thân học sinh

Thứ tư, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò của đạo đức, lối sống

của thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng (trong đó chủ yếu là lứa tuổi học sinh THPT)

và con người Việt Nam nói chung trong việc xây dựng hình con người Việt Nam truyền thống và hiện đại

2.2 Giải pháp giáo dục thẩm mỹ cho học sinh THPT

2.2.1 Một số vấn đề chung về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

Nhà sư phạm lỗi lạc Nga V.A.Xu-khôm-lin-xki (1918-1970) đã viết: “Cái đẹp là nguồn gốc hùng hậu của sự trong sáng về đạo đức, sự phong phú của tâm hồn và sự hoàn thiện về thể chất Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục thẩm mỹ là dạy cho học sinh nhìn thấy trong cái đẹp của thế giới xung quanh (tự nhiên, xã hội, nghệ thuật, đặc biệt là mối quan hệ giữa người và người), sự cao thượng của tâm hồn, lòng nhân hậu, sự chân thành và trên cơ sở đó khẳng định cái đẹp trong bản thân mình…Sự phát triển sâu sắc của con người về mặt trí tuệ là một trong những điều kiện quan trọng của sự phong phú về các nhu cầu tình cảm và cảm xúc thẩm mỹ Vì vậy giáo dục thẩm mỹ cần chú ý giới thiệu cho học sinh những thành tựu của văn hoá thế giới, những giá trị văn hoá của loài người”

Như vậy giáo dục thẩm mỹ là giáo dục nhân cách toàn diện bằng cái đẹp, bằng cách cho học sinh nhận biết, hiểu rõ, thưởng thức, đánh giá cái đẹp, biết

sống và sáng tạo “theo những quy luật của cái đẹp” (Mác)

Giáo dục thẩm mỹ rộng hơn giáo dục nghệ thuật (giáo dục bằng cái đẹp trong nghệ thuật), rộng hơn giáo dục mỹ học (dạy khoa học về cái đẹp) Giáo dục thẩm mỹ không biệt lập với các mặt giáo dục khác, ngược lại nó có mặt trong mọi hoạt động giáo dục, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả của chúng

Trang 28

28

Giáo dục thẩm mỹ có liên quan đến toàn bộ hiện thực và tất cả các hình thức hoạt động của con người Nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ là hình thành ở học sinh quan hệ thẩm mỹ đối với hiện thực (thái độ thẩm mỹ), nhu cầu thẩm mỹ, và đẩy mạnh chúng lên đến mức độ hoạt động sáng tạo theo những quy luật của cái đẹp Giáo dục thẩm mỹ là một quá trình nhằm đến một mục tiêu rõ rệt, được tổ chức và được kiểm tra cẩn thận

2.2.2 Vai trò của ngành Giáo dục – Đào tạo, của gia đình, nhà trường và

xã hội trong giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

Với chức năng là cái nôi nuôi dưỡng, gia đình giữ một vị trí quan trọng không thể thiếu trong việc phối hợp để giáo dục học sinh Tuy nhiên, chức năng

gia đình không đơn thuần “chỉ biết nuôi con một cách khoa học để chúng được khỏe mạnh và thông minh” mà phải phát huy hết vai trò của gia đình nhằm thực

hiện việc quản lý học sinh, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ khi mà khả năng cảm nhận thẩm mỹ ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông đang có vấn đề Gia đình phải tạo nên tâm lý và làm nền tảng vững chắc cho các em, phải chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của bản thân các em, quan tâm đến hoạt động

và những chuyển biến của học sinh để nhận thấy được sự thay đổi trong bản thân của các em để có sự điều chỉnh cho phù hợp Không những thế, cha mẹ và những người thân có kinh nghiệm trong gia đình cũng chính là những người quan trọng nhất định hướng con đường cảm nhận giá trị thẩm mỹ của học sinh Thực tế cho thấy rằng, yếu tố gia đình và mức độ quan tâm của gia đình đến con cái càng lớn thì tình trạng học sinh tham giả vào các trò giải trí thiếu lành mạnh trên công nghệ truyền thông càng ít hơn và khả năng cảm thụ thẩm

mỹ của học sinh thúc đẩy nhanh chiều hướng vận động theo hướng tích cực hay tiêu cực trong cách cảm nhận các giá trị thẩm mỹ của học sinh phổ thông

Ngăn chặn những chuyển biến, tác động xấu đến sự hình thành nhân cách, đạo đức cho học sinh là hoạt động mang tính xã hội cao vì thế giáo dục không chỉ bao gồm nhà trường, gia đình mà cần phải huy động sự hưởng ứng của cả xã

Trang 29

29

hội Đảng và Nhà nước cùng các cơ quan quản lý giáo dục cần nhanh chóng có các biện pháp quản lý mang tính pháp chế đối với những loại hình giải trí thiếu lành mạnh, không phù hợp với lứa tuổi trung học phổ thông Bên cạnh đó cần đưa các chuẩn mực văn hóa truyền thống trở thành một nội dung quan trọng của giáo dục học đường Ngoài ra, đẩy mạnh các cuộc vận động theo hướng đòi hỏi

sự sáng tạo trong suy nghĩ, cảm nhận để hướng học sinh phổ thông có thể tham gia xây dựng, đóng góp Nhà trường cùng kết hợp với nhiều cơ quan, tổ chức tham gia giáo dục học sinh như đoàn thanh niên, hội học sinh, các tổ chức đoàn thể Việc xã hội hoá này vừa mang tính định hướng cho học sinh và đồng thời nâng cao trong nhận thức thẩm mỹ cho học sinh, vừa đấu tranh loại bỏ những tác động của các loại hình giải trí thiếu lành mạnh do mạng truyền thông mang lại ở học sinh phổ thông trước khi nó thực sự ảnh hưởng xấu đến bản thân các

em và xã hội

Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng để khắc phục được tình trạng đó và nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ phụ thuộc rất lớn vào bản thân học sinh nhưng nó lại nảy nở và phát triển trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội, chịu sự thụ hưởng của xã hội Do đó trong giáo dục thẩm mỹ cho học sinh phổ thông cần có sự gắn kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội để đạt được hiểu quả cao nhất của việc giáo dục

Nhìn về thực trạng và năng lực cảm thụ trước các giá trị thẩm mỹ của học sinh trung học phổ thông trong môi trường chịu sự chi phối của nhiều nhân tố bên ngoài càng nhận thức rõ được vị trí và tầm quan trọng của việc phát huy, giáo dục năng lực thẩm mỹ cho học sinh Những nhà giáo dục, bậc cha mẹ, toàn

xã hội với những trách nhiệm và vai trò quan trọng của mình đối với quá trình hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ của học sinh phải không ngừng chăm lo phối kết hợp với nhau trong việc thực hiện trọng trách giáo dục Thực hiện được những giải pháp đó chính đã góp phần giáo dục toàn diện đối với học sinh trung

Trang 30

2.2.3.1 Tổ chức các hoạt động giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường

Những chiều hướng vận động tích cực, hạn chế trong năng lực cảm thụ thẩm mỹ ở học sinh trung học phổ thông trước sự tác động của truyền thông chính là tấm gương phản chiếu về việc cần phải đổi mới phương pháp, nội dung giáo dục, về yêu cầu không ngừng đổi mới, nâng cao những năng lực thẩm mỹ cho học sinh trung học phổ thông Giáo dục và thực hiện được điều đó phải kết

hợp chặt chẽ tam giác giáo dục “nhà trường - gia đình - xã hội” để cùng thực

hiện mục tiêu chung là giáo dục sự phát triển toàn diện cho lứa tuổi học sinh trung học phổ thông, để khi tiếp cận với cái mới, cái đẹp, cái thẩm mỹ các em có

sự nhìn nhận, tiếp thu, đánh giá đúng

Nhà trường phổ thông giữ một vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục năng lực thẩm mỹ, hình thành và hoàn thiện nhân cách của học sinh Bởi vì, nhà trường là nơi các em được thụ hưởng nền giáo dục một cách hệ thống, hoàn chỉnh và toàn diện nhất Để thực hiện nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ cho học sinh, nhà trường phổ thông cần:

[1] Có kế hoạch quản lý các hoạt động ngoài giờ lên lớp đối với học sinh, ngăn chặn tình trạng học sinh bỏ trường, bỏ lớp tham gia chơi game online và các loại hình trò chơi bạo lực khác Đồng thời thực hiện tổ chức giáo dục thẩm

mỹ cho học sinh trong trường một cách hài hoà trong kế hoạch hoạt động chung của nhà trường Thông qua từng môn học và chương trình hoạt động ngoài giờ, nhà trường phổ thông phải có kế hoạch chi tiết gắn kết và thực hiện mục tiêu, nội dung thẩm mỹ cần giáo dục Tuy nhiên, giáo dục là một nghệ thuật đòi hỏi người giáo viên phải có sự sáng tạo, linh hoạt ngay cả trong quản lý cho nên

Trang 31

[3] Tổ chức trang trí trường, lớp cho phù hợp với yêu cầu thẩm mỹ

[4] Giáo dục thẩm mỹ trong các giờ học tự nguyện về các loại hình nghệ thuật [5] Giáo dục thẩm mỹ trong các giờ học ngoại khoá dưới hình thức câu lạc bộ [6] Giáo dục thẩm mỹ thông qua các hoạt động có liên quan đến việc lĩnh hội các loại hình nghệ thuật và được tiến hành một cách có hệ thống

[7] Vận động học sinh thực hiện tốt phong trào “xanh – sạch – đẹp” kết hợp với cuộc vận động “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”

2.2.3.2 Tổ chức bồi dưỡng giáo viên

Do giáo viên giảng dạy ở các trường THPT không được trang bị những kiến thức cơ bản về cảm thụ thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ, vì vậy việc tổ chức các hội nghị chuyên đề hoặc các buổi họp tổ bộ môn về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh phổ thông trong giảng dạy là cần thiết

Những đề tài có thể đưa ra để bàn bạc, thảo luận:

[1] Bản chất mác-xít lê-nin-nít của giáo dục thẩm mỹ - những nhiệm vụ và biện pháp tiến hành

[2] Những tiền đề tâm lí học và giáo dục học của việc giáo dục thẩm mỹ cho học sinh phổ thông

Trang 32

[7] Giáo dục cách ứng xử có văn hoá cho học sinh

2.2.3.3 Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh thông qua các hoạt động dạy học các bộ môn không thuộc nhóm nghệ thuật

Việc giáo dục thẩm mỹ trong giờ lên lớp của giáo viên thuộc các môn khoa học nhân văn và các môn khoa học tự nhiên theo chủ đề tích hợp được quy định bởi các yếu tố sau:

(i) Những khả năng riêng của môn học trong việc bồi dưỡng năng lực nhận thức hiện thực một cách sáng tạo và hình thành các nhân tố cảm xúc – ý chí của nhân cách

(ii) Nội dung và các hình thức hoạt động học tập – nhận thức của học sinh trong giờ học Người thầy cần phải giúp đỡ hoạt động này của học sinh bằng cách nhấn mạnh tư liệu có nội dung thẩm mỹ của quá trình dạy học và sử dụng các tác phẩm nghệ thuật với tư cách là những vật tải đặc thù với đối tượng nhận thức

Căn cứ vào mức độ bộc lộ nội dung thẩm mỹ của đối tượng học trong nhà trường, có thể xếp chúng thành các nhóm sau:

[1] Các đối tượng nhận thức không có những thuộc tính thẩm mỹ rõ rệt (ví dụ: cấu tạo của con giun đất, sự diễn biến của các quá trình sinh học)

Trang 33

33

[2] Các đối tượng có những yếu tố rõ rệt của các thuộc tính thẩm mỹ trong diện mạo bề ngoài hoặc có thể bộc lộ khi được đưa ra phân tích (ví dụ: cấu tạo của các cây hoa; bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hoá học Men-đê-lê-ép; những công thức toán học và những giả thuyết vật lí học đẹp)

[3] Các đối tượng nhận thức dễ tự bộc lộ những thuộc tính thẩm mỹ (ví dụ: các môn học vật lí, địa lí)

[4] Các đối tượng nhận thức nhờ những thuộc tính giàu sức biểu hiện có thể được lĩnh hội như những hiện tượng thẩm mỹ (ví dụ: màu sắc tự nhiên của thế giới vô cơ, hữu cơ; các hiện tượng tự nhiên (cầu vồng)…)

[5] Hình ảnh các đối tượng nhận thức có những thuộc tính thẩm mỹ, bộc lộ

lô gích của các quá trình (ví dụ: các bức ảnh, bức vẽ, hình ảnh điện ảnh, truyền hình…)

[6] Các tác phẩm miêu tả bằng nghệ thuật những đối tượng nhận thức (ví dụ: hội hoạ, điêu khắc,…)

[7] Các tác phẩm nghệ thuật (hoặc đoạn trích) có liên quan đến đề mục bài học với tư cách là biện pháp kích thích trí tưởng tượng, thái độ cảm xúc – thẩm

mỹ với đối tượng nhận thức, thức tỉnh sự sáng tạo (ví dụ: văn chương, âm nhạc,

vẽ mĩ thuật…)

Nhận thức được sự phân cấp các đối tượng nhận thức như trên, thầy cô giáo

sẽ lựa chọn những phương pháp thích hợp để giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tuỳ theo khả năng thẩm mỹ của nội dung quá trình dạy học; mặt khác, không nên giáo dục thẩm mỹ một cách gượng ép, khi không có những điều kiện cần thiết Việc tận dụng các yếu tố thẩm mỹ và các tác tác phẩm nghệ thuật trong giờ lên lớp những môn học không thuộc nhóm nghệ thuật, một mặt giúp cho sự phát triển hài hoà các thành tố của nhân cách (tư duy, cảm xúc), các nhu cầu và hứng thú nhận thức, sáng tạo, thẩm mỹ – nghệ thuật; mặt khác, nó có khả năng nâng cao tính hiệu quả và chất lượng dạy và học các môn học trong nhà trường

Trang 34

Mặt khác, qua các hoạt động ngoài giờ cần lồng ghép nhiều hơn nữa nội dung tuyên truyền, giáo dục thẩm mỹ Đồng thời các hoạt động tập thể mà đặc trưng của nó là nhận được sự nhiệt tình đông đảo tham gia của các em học sinh cho nên nhà trường phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để học sinh tham gia rèn luyện và thể hiện hết khả năng, năng lực thẩm mỹ của bản thân mình

2.2.4 Tiểu kết

Kinh nghiệm giáo dục thẩm mỹ rất đa dạng và phong phú nhưng do nhà trường không điều kiện để phát triển khả năng nhận thức, cảm thụ thẩm mỹ và phát triển tài năng của học sinh

Học sinh Việt Nam vốn dĩ rất thông minh và nhạy bén Chính đặc điểm này đòi hỏi các nhà giáo dục cần lưu tâm nhiều hơn nữa đến việc cố gắng tạo ra những điều kiện cần thiết để cho các em tự bộc lộ những tinh hoa của mình và định hướng thị hiếu thẩm mỹ, phát triển năng lực nhận thức, cảm thụ và sáng tạo thẩm mỹ cho học sinh

2.3 Giải pháp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông là hình thức hoạt động của thầy và trò, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các

em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích có khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội

Trang 35

35

2.3.1 Hướng nghiệp là gì ?

Hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường

và xã hội nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho học sinh sẵn sàng đi vào các ngành nghề ở những nơi xã hội đang cần phát triển; phù hợp với hứng thú, năng lực và hoàn cảnh cá nhân

Trên phạm vi toàn xã hội, hướng nghiệp có ba nhiệm vụ liên quan mật thiết với nhau: (1) định hướng nghề nghiệp, (2) tư vấn nghề nghiệp, và (3) tuyển chọn nghề nghiệp Mối quan hệ trên được thể hiện qua sơ đồ sau:

(1) Công việc của định hướng nghề nghiệp là thông tin cho học sinh biết về

sự phát triển của các nghề trong xã hội, làm cho các em hiểu rõ yêu cầu, đặc điểm của từng nghề, nhu cầu về nhân lực của nghề, nơi đào tạo và nơi có thể đến làm việc sau khi ra trường Đồng thời giúp cho học sinh tự kiểm nghiệm hứng thú / sở thích, năng lực bản thân để tự định hướng xem mình chọn nghề nào là phù hợp nhất

(2) Công việc chủ yếu của tư vấn nghề nghiệp là đem đối chiếu giữa những

đặc điểm cá nhân học sinh với yêu cầu của nghề nghiệp, trên cơ sở đó người làm

Định hướng nghề nghiệp

Đặc điểm (1) Thị trường yêu cầu của hệ lao động thống nghề nghiệp cần (yêu cầu về nhân lực) phát triển

Tư vấn nghề nghiệp Tuyển chọn (2) nghề nghiệp (3) Đặc điểm cá nhân

Trang 36

những người có đặc điểm nhân cách phù hợp, là tuyển chọn nghề nghiệp có cơ

sở khoa học, mở đường cho việc sử dụng hợp lý lực lượng lao động trẻ phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

2.3.2 Con đường hướng nghiệp ở trường THPT và giải pháp thực hiện

2.3.2.1 Hướng nghiệp thông qua hoạt động dạy và học các bộ môn văn hoá - khoa học

Các môn học đều có trách nhiệm nghiên cứu khả năng làm nhiệm vụ hướng nghiệp cho học sinh và thực hiện tốt nhiệm vụ đó Trước hết là phải dạy tốt kiến thức cơ bản Song như thế thì chưa đủ, giáo viên trong quá trình lên lớp, tuỳ theo đặc trưng bộ môn, của từng bài học mà xây dựng và thực hiện dự án theo chủ đề tích hợp hướng nghiệp cho các em Trên cơ sở đó, giáo viên tìm hiểu nguyện vọng và theo dõi sự phát triển năng lực, năng khiếu của từng học sinh để tham vấn cho các em trong việc lựa chọn ngành nghề tương lai sau khi tốt nghiệp THPT; tránh gò bó và gượng ép

Chẳng hạn, khi giảng dạy bài Nhìn về vốn văn hoá dân tộc (Trích Đến

hiện đại từ truyền thống – Trần Đình Hượu) chương trình Ngữ văn lớp 12, giáo

viên có thể thực hiện nội dung tích hợp hướng nghiệp như sau:

1 Giới thiệu 1 Ngành đào tạo : Văn hoá học / Việt Nam học

Mã ngành : 52.22.01.05 (K: C, D1)

2

Đào tạo cử nhân khoa học có trình độ lý luận về văn hoá học và văn hóa Việt Nam, nắm vững phương pháp, kỹ năng nghiên cứu văn hoá học, văn hoá Việt Nam và ứng dụng văn hoá học vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội

2 Mô tả

3

Cử nhân văn hoá học có thể hoạt động trong các lĩnh vực:

- Nghiên cứu văn hóa tại các viện hoặc trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn;

Trang 37

37

- Giảng dạy khoa học văn hoá tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, các trường nghiệp vụ về văn hoá – thông tin, chính trị – hành chính, các trường nghiệp vụ của các tổ chức chính trị – xã hội (Đoàn Thanh niên, Công đoàn,…);

- Quản lý nghiệp vụ tại các tổ chức, cơ quan thuộc ngành văn hoá – thông tin, du lịch (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Phòng Văn hóa hoá – Thông tin; Trung tâm Văn hoá; Nhà Văn hoá; công ty du lịch, quảng cáo,…);

- Hoạt động trong các ngành nghề truyền thông, ngoại giao, văn hoá du lịch;

- Hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh văn hoá

4

- Trường Đại học Văn hoá Hà Nội;

- Trường Đại học Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh;

- Trường Đại học KHXH và Nhân văn TP.Hồ Chí Minh

- Trường Đại học sư phạm TP.Hồ Chí Minh

2.3.2.2 Hướng nghiệp qua hoạt động dạy và học môn Công nghệ

Môn công nghệ ở trường THPT là môn học có tính thực tế rất cao, có quan

hệ khăng khít với thực tiễn lao động sản xuất và dạy nghề phổ thông Đây là con đường cơ bản nhất để rèn luyện hứng thú, năng lực kỹ thuật để học sinh được

“thử sức” với nghề nghiệp trong lao động sản xuất

Trong giảng dạy, giáo viên cần triệt để khai thác và tổ chức ứng dụng thực hành, tạo mối liên hệ trực tiếp giữa kiến thức kỹ thuật phổ thông với kỹ thuật chuyên ngành, thông qua đó mà hướng nghiệp cho học sinh

2.3.2.3 Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp ngoài giờ lên lớp

Sinh hoạt hướng nghiệp được xem như là một buổi học giới thiệu một cách

có hệ thống những ngành nghề cần phát triển của cả nước và địa phương, hướng dẫn học sinh biết cách lựa chọn nghề nghiệp có cơ sở khoa học Giáo dục hướng nghiệp giúp học sinh trả lời đúng đắn ba câu hỏi sau trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai:

(i) mình muốn làm nghề gì ? (sở thích / hứng thú)

(ii) mình có thể làm nghề gì ? (năng lực)

(iii) mình cần phải làm nghề nào ? (nhu cầu xã hội)

Trang 38

38

Có thể nói, đây là ba tiêu chí giúp học sinh chọn nghề đúng đắn

2.3.2.4 Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khoá trong và ngoài nhà trường

Hình thức hoạt động ngoại khoá về hướng nghiệp rất phong phú: tham quan các cơ sở sản xuất, kinh doanh; trao đổi nghề nghiệp với các chuyên gia, người sản xuất giỏi; tham quan các ngành nghề đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; tổ chức các câu lạc bộ hướng nghiệp; tổ chức các buổi tư vấn hướng nghiệp…

2.3.3 Tiểu kết

Có thể nói, hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng xây dựng được những bản họa

đồ nghề mà mình lựa chọn, những yêu cầu về năng lực nghề hoặc nhóm nghề

đó Hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT rất đa dạng, bằng nhiều hình thức phong phú; song thường được tổ chức theo lớp, theo nhóm dưới

sự hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên giảng dạy các môn văn hoá – khoa học, giáo viên giảng dạy hướng nghiệp

Nâng cao năng lực nhận thức nghề nghiệp cho học sinh THPT phù hợp với trình độ phát triển tâm lý và lứa tuổi, đây là nhiệm vụ khởi đầu mà khi giải quyết

nó, chúng ta sẽ phải sử dụng các hình thức: thông tin nghề, tuyên truyền nghề

Xã hội có bao nhiêu dạng hoạt động thì tồn tại bấy nhiêu nghề Số nghề là rất đa dạng, biến động theo sự phát triển của sản xuất, có ở khắp mọi địa bàn, tồn tại một cách khách quan, do đó khi đem đến cho học sinh những tri thức nghề nghiệp, cần thiết phải có sự lựa chọn số lượng nghề tiêu biểu, dung lượng về nội dung mỗi nghề cũng như yêu cầu của nghề đặt ra cho chủ thể lựa chọn

Tuỳ thuộc vào lứa tuổi và giới tính, nhiệm vụ này được triển khai theo nhiều hình thức khác nhau để học sinh có thể lĩnh hội được Việc mở rộng nhãn quan nghề nghiệp của học sinh sẽ mở ra cho các em một thế giới động các hướng đi trong tương lai của đời mình, giúp các em khắc phục tình trạng hạn

Trang 39

39

hẹp thông tin nghề do nhiều nguyên nhân khách quan mang lại như hoàn cảnh địa bàn cư trú xa các trung tâm thông tin, điều kiện kinh tế eo hẹp của gia đình, trình độ kém phát triển về nghề nghiệp ở khu vực nơi trường đóng

Tuy nhiên, không phải học sinh nào cũng lựa chọn cho mình được nghề hoặc nhóm nghề phù hợp với sở thích, khí chất, năng lực cá nhân, đáp ứng yêu cầu xã hội, Để lựa chọn được nghề hoặc nhóm nghề phù hợp nhất với từng em học sinh, lựa chọn được trường học, bậc học phù hợp thì các em phải nhờ đến các chuyên gia tư vấn hướng nghiệp Tư vấn hướng nghiệp nhằm giúp từng em

học sinh lựa chọn cho mình được nghề nghiệp phù hợp với sở thích cá nhân, phù hợp với năng lực nghề và đáp ứng được nhu cầu của xã hội

Trang 40

40

KẾT LUẬN

1 Trong điều kiện đất nước đang trên đà đổi mới sâu sắc và toàn diện, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chũ nghĩa dưới sự quản lý của Nhà nước Trong công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục

Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế mới cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp giáo dục, trong đó sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn tác động đến đại đa số học sinh như: lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài bão, lập thân, lập nghiệp; những tiêu cực trong thi cử, bằng cấp, chạy theo thành tích Thêm vào đó, sự du nhập văn hoá phẩm đồi truỵ thông qua các phương tiện như phim ảnh, games online, mạng Internet… làm ảnh hưởng đến những quan điểm

về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh, nhất là các em chưa được trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này

Trước mắt và trong những năm tiếp theo, chúng ta cần có những giải pháp thiết thực và hiệu quả trong việc tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống,

ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng, đạo đức, phong cách và lối sống Hồ Chí Minh… tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh Bởi lẽ, triết lý dạy làm người đã trở thành nền tảng sâu sắc, lâu đời trong đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam

2 Bên cạnh việc tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng đạo đức, phong cách

và lối sống Hồ Chí Minh…, chúng ta phải đồng thời tăng cường giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, cảm thụ thẩm mỹ và sáng tạo thẩm mỹ cho học sinh

Giáo dục nhận thức thẩm mỹ, cảm nhận thẩm mỹ (trong đó có cả thị hiếu thẩm mỹ) cho học sinh vì mục đích phát triển hài hoà cho mỗi cá nhân về nhân cách Vì vậy, nó được xem như là một bộ phận quan trọng, không thể thiếu,

Ngày đăng: 15/03/2015, 20:56

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w