Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học An Giang trong thời gian qua.. Công nghệ thông tin CNTT là công cụ hỗ trợ đắc lực
Trang 1ỦY BÂN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TÔN ĐỨC THẮNG
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌCAN GIANG ĐẾN NĂM 2015
Học viên: Nguyễn Văn Hòa Lớp: B58 Năm học 2012-2013 Người hướng dẫn: CN Lê Quang Vinh
An Giang, tháng 5 năm 2013
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: 2
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 2
TRONG GIÁO DỤC 2
1.1 Một số khái niệm 2
1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin 2
1.1.2 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin 2
1.2 Quan điểm của Đảng ta về ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục 3
1.3 Chính sách, pháp luật của nhà nước ta về ứng dụng công CNTT trong giáo dục 4
CHƯƠNG 2: 7
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG 7
TRONG THỜI GIAN QUA 7
2.1 Đặc điểm tình hình của nhà trường 7
2.2 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học An Giang trong thời gian qua 8
2.2.1 Những kết quả đạt được 8
2.2.2 Những tồn tại, hạn chế 10
2.2.3 Nguyên nhân kết quả đạt được, hạn chế 12
CHƯƠNG 3: 14
MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CNTT TRONG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 14
Ở TRƯỜNG ĐH AN GIANG ĐẾN NĂM 2015 14
3.1 Mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ ở Trường ĐH An Giang đến năm 2015 14
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ ở Trường ĐH An Giang đến năm 2015 15
3.2.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập 15
3.2.2 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập 15 3.2.3 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý 16
3.2.4 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT trong hoạt động giảng dạy 17
3.2.5 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT trong hoạt động học 18
Trang 3KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 20
1 Kết luận 20
2 Kiến nghị 20
DANH MỤC TÀI LIỆU 22
Trang 4MỞ ĐẦU
Nước ta đang trong giai đoạn hội nhập quốc tế do đó nền giáo dục đại học nói riêng và hệ thống giáo dục quốc dân nói chung đã và đang bước vào giai đoạn hội nhập và cạnh tranh với thế giới Một trong bảy nhiệm vụ được nêu ra trong Nghị quyết 14/2005/NQ-CP cho ngành giáo dục là đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo Trong đó yêu cầu đổi mới phương pháp đào tạo phải đảm bảo 3 tiêu chí: trang bị cách học, phát huy tính chủ động của người học và sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập Công nghệ thông tin (CNTT) là công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động giảng dạy, học tập và quản lý đào tạo nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Trường đại học An Giang là trường đại học non trẻ trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long Nhưng sau hơn mười năm thành lập nhà được đã những thành tích trong nhiệm vụ đào tạo và chuyển giao khoa học công nghệ Ban Giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và chỉ đạo ứng dụng CNTT trong toàn bộ hoạt động của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Một trong những yếu tố dẫn đến thành công trong việc chuyển sang phương thức đào tạo theo học chế tín vào năm 2009 là nhà trường đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy
Bên cạnh những thành công bước đầu của việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong toàn bộ hoạt động của nhà trường thì cũng còn những tồn tại, hạn chế Để nâng cao hơn nữa hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lý, giảng dạy và học tập, tôi chọn đề tại tốt nghiệp lớp trung cấp chính trị - hành chính B58 là
“Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập
theo học chế tín chỉ ở Trường đại học An Giang đến năm 2015” nhằm phân
tích hiện trạng ứng dụng CNTT tại nhà trường và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập tại trường
Trang 5CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG GIÁO DỤC
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin, viết tắt là CNTT (Information Technology - viết tắt
là IT) là một ngành ứng dụng công nghệ vào quản lý xã hội, xử lý thông tin Có thể hiểu CNTT là ngành sử dụng máy tính và các phương tiện truyền thông để thu tập, truyền tải, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền thông tin Hiện nay, có nhiều cách hiểu về CNTT Ở Việt Nam, khái niện CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân CNTT được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện
tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá
1.1.2 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin
Trong chỉ thị 58-CT/TW, ngày 17 tháng 10 năm 2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã nêu rõ “Công nghệ thông tin là một trong các công cụ và động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân,
Trang 6đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, CNTT được ứng dụng nhằm cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời, đáp ứng mọi yêu cầu của bộ máy Nhà nước trong việc ra quyết định và điều hành công việc của Nhà nước, cải tiến việc cung ứng thông tin từ phía Nhà nước cho nền kinh tế xã hội và cho nhân dân, góp phần cải tiến tổ chức của bộ máy Nhà nước
1.2 Quan điểm của Đảng ta về ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu trong chiến lược phát triển bền vững, là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bắt đầu từ Chỉ thị 58 của Ban chấp hành Trung ương (58-TW), ngày 17 tháng 10 năm 2000, về đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa Chỉ thị cũng nhấn mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo”
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh :
"Ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra
sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế Hình thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc
tế”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dụng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản và toàn
Trang 7diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội Đại hội XI tiếp tục khẳng định CNTT là một trong những lĩnh vực nền tảng cho sự phát triển của xã hội, đặc biệt là kinh tế trí thức
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX, đề ra phương hướng đổi mới và phát triển mạnh mẽ giáo dục và đào tạo tỉnh nhà
“thực hiện giáo dục toàn diện đối với sinh viên, học sinh; đổi mới nội dụng và phương pháp giảng dạy, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động dạy và học”
1.3 Chính sách, pháp luật của nhà nước ta về ứng dụng công CNTT trong giáo dục
Nghị quyết 14/2005NQ-CP, ngày 02 tháng 11 năm 2005 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, chỉ rõ “Đổi mới nội dụng, phương pháp và quy trình đào tạo phải triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo ba tiêu chí: trang bị cách học, phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học Khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên mạng Internet Lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước”
Trong Quyết định 698-QĐTTg, ngày 01 tháng 06 năm 2009 về Phê duyệt
Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015
và định hướng đến năm 2020, nêu mục tiêu chung về ứng dụng CNTT trong giáo dục như sau: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hệ thống đào tạo nhân lực CNTT, để trình độ đào tạo nhân lực CNTT của nước ta tiếp cận trình độ và có khả năng tham gia thị trường đào tạo nhân lực CNTT quốc tế, từng bước trở thành một trong những nước cung cấp nhân lực CNTT chất lượng cao cho các nước trong khu vực và trên thế giới Từ mục tiêu chung này quyết định này cũng nêu lên các mục tiêu cụ thể như sau:
- Đảm bảo 100% học sinh trung cấp chuyên nghiệp và học nghề được đào tạo các kiến thức và kỹ năng ứng dụng về CNTT Đến năm 2010, 100% sinh
Trang 8viên đại học, cao đẳng, học sinh trung học phổ thông, 50% học sinh trung học cơ
sở và 20% học sinh tiểu học được học tin học và đến năm 2015 đạt 100% đối với học sinh trung học cơ sở, 80% học sinh tiểu học được học tin học;
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ giáo viên dạy tin học cho các cơ sở giáo dục phổ thông, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giảng dạy và trong quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học 65% số giáo viên có đủ khả năng ứng dụng CNTT để hỗ trợ cho công tác giảng dạy, bồi dưỡng;
- Đẩy mạnh việc phổ cập kiến thức và kỹ năng ứng dụng CNTT Đảm bảo
đa số cán bộ, công chức, viên chức; được đào tạo về ứng dụng CNTT trong công việc của mình
Về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm học 2007 đến này thì hàng năm
Bộ đều ban hành hướng dẫn thực nhiện vụ CNTT Trong đó Hướng dẫn 4987/BGDĐT-CNTT, ngày 2 tháng 8 năm 2012 nêu rõ đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác điều hành và quản lý hành chính tại các sở DGĐT và các trường đại học như sử dụng các phần mềm sếp thời khóa biểu, phần mềm phổ cập giáo dục, triển khai các mô hình website tiên tiến
Đặc biệt Hướng dẫn này chỉ đạo ứng dụng CNTT trong học tập và giảng dạy theo hướng người học có thể học qua nhiều nguồn học liệu; hướng dẫn cho người học biết tự khai thác và ứng dụng CNTT vào quá trình học tập của bản thân, thay vì chỉ tập trung vào việc chỉ đạo giáo viên ứng dụng CNTT trong giảng dạy, trong tiết giảng
Tạo thư viện học liệu mở: Huy động giáo viên tham gia đóng góp các bài trình chiếu, bài giảng e-Learning về sở GDĐT Sau đó, sở GDĐT tuyển chọn và gửi về Bộ GDĐT (qua Cục CNTT) để tổ chức đánh giá, trao giải thưởng toàn quốc và đưa lên mạng chia sẻ dùng chung Theo đó, học sinh có thể khai thác thư viện bài giảng e-Learning để tự học;
Về việc đổi mới đổi mới phương pháp dạy và học, Hướng dẫn này chỉ rõ phải đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng môn
Trang 9học thay vì học trong môn tin học Giáo viên các bộ môn chủ động tự soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng dụng CNTT Các giáo viên cần tích cực, chủ động tham khảo và sử dụng các phần mềm ứng dụng tích hợp vào các môn học trên website http://edu.net.vn để cùng chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi học tập Khuyến khích giáo viên chủ động tự soạn giáo án, bài giảng và tài liệu giảng dạy để ứng dụng CNTT trong các môn học
Trang 10CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Đặc điểm tình hình của nhà trường
Trường Đại học An Giang được thành lập theo quyết định số 241/1999/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Thủ tướng chính phủ và khai giảng niên học đầu tiên ngày 9 tháng 9 năm 2000 Xây dựng trên cơ sở trường Cao đẳng Sư phạm An Giang, Trường Đại học An Giang là trường đại học công lập trong hệ thống các trường đại học Việt Nam, trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang Trường có nhiệm vụ đào tạo trình độ đại học phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong vùng
Trường có 37 ngành trình độ đại học, cao đẳng Số thí sinh dự thi tuyển sinh hàng năm khá lớn, có năm hơn 11.000 người (2012) Đây là tín hiệu đáng mừng, cho thấy sự ra đời của Trường Đại học An Giang đáp ứng đúng nhu cầu thật sự ở Đồng bằng sông Cửu Long Tính đến nay, Trường có 9 khóa tốt nghiệp với 10.256 kỹ sư, cử nhân Đa số họ đều có việc làm ổn định và có đóng góp đáng kể cho đơn vị mình công tác
Từ những ngày đầu khi mới thành lập, trường chỉ có 190 cán bộ, công chức, gần 40 người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ Hiện nay, trường đã có 878 cán
bộ, công chức, trong đó, trình độ thạc sĩ, tiến sĩ là 317 người (1 phó giáo sư, 17 tiến sĩ), 113 người đang theo học sau đại học trong và ngoài nước, 56 giảng viên chính Hiện tại trường có 6 khoa: Sư phạm, Nông nghiệp và Tài nguyên thiên nhiên, Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Công nghệ Kỹ thuật Môi trường, Văn hóa nghệ thuật, Lý luận chính trị
Hiện tại, trường có 11.857 sinh viên Cũng đến năm 2015, trường phấn đấu đạt chỉ tiêu 70% giảng viên có trình độ sau đại học Trường đang tập trung
Trang 11đào tạo nguồn nhân lực các ngành nghề mà tỉnh nhà và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang cần như kỹ sư nông nghiệp, công nghệ sinh học, kinh tế, công nghệ sau thu hoạch, dịch vụ hỗ trợ sản xuất
Nhà trường đã và đang nỗ lực đổi mới, nâng cao phương thức, chất lượng đào tào Từ năm học 2009-2010, nhà trường đã chuyển toàn bộ các ngành đào tạo đại học, cao đẳng chính quy sang đào tạo theo học chế tín chỉ Đây là phương thức đào tạo tiên tiến mà các nước phát triển đã áp dụng từ lâu, song ở Việt Nam còn khá mới mẻ, nhưng phương thức đào tạo này có nhiều ưu điểm so với phương thức đào tạo theo niêm chế, bởi tính mềm dẻo của chương trình đào tạo như sinh viên có thể lựa chọn các học phần để học trước, học theo tiến độ nhanh để tốt nghiệp sớm Một ưu điểm nữa của phương thức đào tạo này là giảm thời gian lên lớp nhưng tăng thời gian tự học của sinh viên (một tiết lên lớp bắt buộc sinh viên phải tự học 2 tiết)
Đến cuối năm học 2012-2013 nhà trường sẽ có khóa đào tạo đầu tiên theo học chế tín chỉ tốt nghiệp Một trong những yếu tố yếu tố quyết định sự thành công của việc chuyển từ phương thức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ
là ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý, hoạt động giảng dạy
và quản lý đào tạo đóng vai trò ngày càng quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng đạo tạo của nhà trường
2.2.1 Những kết quả đạt được
Trang 12Thư viện điện tử của nhà trường ngày càng lớn mạnh về qui mô và chất lượng phục vụ Thư viện hiện nay được trang bị hơn 500 máy tính cá nhân có kết nối Internet; phòng nghe nhìn Đặc biệt, thư viện đã và đang xây dựng kho học liệu điển tử, lớp học ảo, hệ thống E-learning, phần mềm học liệu (Dspace), thiết lập liên kết với các trung tâm thông tin, dữ liệu quốc gia cho phép sinh viên, giảng viên tự học, tự nghiên cứu phục vụ tốt việc học tập và giảng dạy
Nhà trường đã triển khai xây dựng hệ thống mạng nội bộ đến tất cả các phòng làm việc của các bộ giảng viên và khu thí nghiện Trung tâm, đồng thời phủ sóng Wifi kết nối Internet tại tất cả các phòng bộ môn, phòng học và giảng đường ở khu A và khu Trung tâm nhằm phục vụ hiệu quả trong học tập, giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên và sinh viên Việc giảng viên và sinh viên có thế kết nối Internet mọi lúc mọi nơi trong khuôn viên của nhà trường giúp cho giảng viên và sinh viên dễ dàng kết nối và khai thác các nguồn tri thức khổng lồ của nhân loại Từ đó giúp cho giảng viên và sinh viên có cơ hội tiếp cận tri thức mới của nhân loại và thu hẹp khoảng cách về địa lý đối với các trường lớn trong khu vực Đây là một trong những điều kiện tiên quyết dẫn của việc chuyển đổi thành công từ phương thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo phương thức học chế tín chỉ Vì ứng dụng CNTT giúp sinh viên chủ động hơn trong tự học như tìm hiểu sâu hơn hoặc mở rộng khối kiến thức trên lớp thông qua công cụ tìm kiếm trên Internet
Công nghệ thông tin cũng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động giảng dạy, học tập nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ Nhà trường thấy được điều này nên ngay từ lúc thành lập trường đã tiến hành lặp đặt các máy chiếu (Projector) Đến nay có khoảng tám mươi phần trăm (80%) các giảng đường, phòng học tại khu trung tâm được trang bị LCD Các giảng viên đều soạn bài giảng (slides) bằng cách sử dụng hình ảnh, âm thanh, bảng biểu, lưu đồ, mô hình, thí nghiệm ảo Những tư liệu trực quan này làm sáng tỏa những kiến thức trừu tượng từ đó kích thích