294 Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định đự án đầu tư tại Bình Thuận
Trang 11.1.2.Vai trò của thẩm đinh dự án đầu tư
1.1.3.Mục đích và khuôn khổ của thẩm định dự án đầu tư
1
2 1.2 CHIẾN LƯỢCTHẨM ĐỊNH CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ 3
1.2.4 Thực hiện dự án
1.2.5 Đánh giá dự án
5
5 1.3 XÂY DỰNG BIÊN DẠNG NGÂN LƯU TÀI CHÍNH 6
CHO CÁC DỰ ÁN
1.3.1 Xây dựng báo cáo ngân lưu hoạch đinh 6
1.3.2 Công thức báo cáo ngân lưu hoạch định 9 1.4 CHIẾT KHẤU VÀ CÁC TIÊU CHUẨN ĐỂ ĐÁNH GIÁ ĐẦU TƯ 9
1.4.2 Các tiêu chuẩn đánh giá đầu tư khác nhau 11 1.5 QUY MÔ VÀTHỜI ĐIỂM TRONG CHỌN LỰA DỰ ÁN 13
1.5.1 Xác định quy mô trong lựa chọn dự án 13
1.6 SỬ DỤNG GIÁ CẢ TRONG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH 15
1.6.1.Định nghĩa giá cả và chỉ số giá 15
1.6.2.Đưa lạm phát vào phân tích tài chính 17
1.7 PHÂN TÍCH RỦI RO
18
Trang 21.7.1 Phân tích độ nhạy 1.7.2 Phân tích các tình huống
18
19
1.7.3 Phương pháp phân tích rủi ro Monte Carlo 19
Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC THẨM 21
ĐỊNH DỰ ÁN DẦU TƯ TẠI TỈNH BÌNH THUẬN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH 21
BÌNH THUẬN
2.1.4 Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội 26 2.2 THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ TẠI TỈNH BÌNH THUẬN 27
2.2.1 Khái quát về đầu tư tại Tỉnh Bình Thuận từ năm 27
2001 đến 2005 2.2.2 Phân tích cụ thể các dự án đầu tư tại Bình Thuận 29
năm 2004
2.3 HIỆU QUẢ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ 33
2.3.1 Những thành tích đạt được 33
2.3.2 Một số hạn chế về đầu tư tại tỉnh Bình Thuận 34
2.4 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH 37
DỰ ÁN ĐẦU TƯ
2.4.1 Chưa xây dựng chi tiết khung phân tích dự án đầu tư 37
2.4.2 Chưa quan tâm đầy đủ việc phân tích các khía cạnh của 39
dự án đầu tư khi thẩm định dự án đầu tư 2.4.3.Hạn chế về việc phân tích rủi ro khi thẩm định dự
43
án đầu tư 2.4.4 Hạn chế về nguồn thông tin phục vụ cho công tác
45
thẩm định 2.4.5 Chưa có quy định thống nhất về các chỉ tiêu thẩm
45
định dự án 2.4.6 Chưa quan tâm tính toán các chỉ tiêu suất chiết khấu,
45
lạm phát
Trang 3Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG 46
TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
3.1 QUY TRÌNH, THỦ TỤC CẤP PHÉP ĐẦU TƯ TẠI TỈNH 46
BÌNH THUẬN 3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH BÌNH 46
THUẬN ĐẾN NĂM 2010:
3.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, và các chỉ tiêu chủ yếu 46
3.2.2 Định hướng phát triển các lĩnh vực, các ngành, các vùng 47 3.3 NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ VỀ PHÁT TRIỂN CÁC DỰ ÁN 50
ĐẦU TƯ TẠI BÌNH THUẬN
3.3.1 Công tác qui hoạch và triển khai thực hiện qui hoạch 50
3.3.2 Phối hợp giữa các cơ quan 51
3.3.3 Nguyên nhân từ phía Nhà đầu tư 51
3.4 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ THU HÚT ĐẦU TƯ NĂM 2005 52
VÀ CÁC NĂM TIẾP THEO
quả tài chính trong thẩm định dự án đầu tư
3.5.3 Cần thiết phải sử dụng tỷ lệ chiết khấu phù hợp thống 56
nhất khi thẩm định dự án đầu tư
3.5.4 Cần đưa yếu tố lạm phát vào thẩm định các dự án đầu tư 58
3.5.5 Cần xây dựng chính sách lãi vay thích hợp trong việc tài 60
trợ tín dụng đối với các dự án đầu tư
3.5.6 Tăng cường đào tạo bồi dưởng kiến thức và kỹ năng 60
thẩm định dự án đầu tư cho cán bộ thẩm định
3.5.7 Tiếp tục đổi mới công tác chuẩn bị đầu tư 61
Trang 43.5.8 Đổi mới công tác thẩm định dự án đầu tư 62 3.6 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI
PHÁP
63
3.6.1 Đào tạo và sử dụng chuyên gia 63
3.6.2 Hoàn chỉnh hệ thống pháp lý trong lĩnh vực thẩ định dự án đầu tư 63
3.6.3 Hoàn thiện và phát triển thị trường vốn 64
3.6.4 Đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính nhà nước 64
3.6.5 Tranh thủ sự hỗ trợ của chính phủ 65 3.7 CÁC GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ VÀ 65 ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ TRIỂN KHAI XÂY DỰNG DỰ ÁN NĂM
2005 VÀ CÁC NĂM TIẾP THEO:
3.7.2 Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai xây 66
dựng các dự án đã chấp thuận đầu tư:
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5
PHẦN MỞ ĐẦU
I - Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư là chìa khóa trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh nhất thiết phải đầu tư thỏa đáng Điều đó càng đúng với các quốc gia có điểm xuất phát thấp, phát triển kinh tế từ nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu Chúng ta còn thua kém các nước xung quanh về trình
độ phát triển kinh tế, công nghệ, về sức cạnh tranh Mức tăng trưởng kinh tế còn thấp hơn khả năng thực tế và chủ yếu dựa vào việc tăng đầu tư vốn, ít tiến bộ về các nhân tố phát triển theo chiều sâu, năng suất lao động thấp, hiệu quả đầu tư kém, chi phí sản xuất và lưu thông cao
Trong những năm tới, đầu tư nhà nước tiếp tục tăng, chiếm gần một nửa tổng đầu tư toàn xã hội, riêng vốn từ ngân sách và vốn tín dụng đầu tư nhà nước chiếm khoảng 30% Vì vậy “ Chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả đầu tư của nhà nước có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đầu tư chung của nền kinh tế ”, trích lời phát biểu của Thủ tướng Phan văn Khải
Tuy vậy, hàng chục ngàn tỉ đồng đã bị lãng phí trong các dự án dầu khí, điện, cầu đường …trong thời gian qua chỉ vì tiến độ thực hiện đầu tư chậm, giai đoạn chuẩn bị đầu tư kéo dài Điều này không chỉ thiệt hại gián tiếp do công trình chậm đưa vào sử dụng, mà còn gây mất mát trực tiếp vì kinh phí đầu tư tăng lên và làm sai lệch các kết quả tính toán về hiệu quả của dự án Tình trạng này hiện khá phổ biến ở những dự án của doanh nghiệp nhà nước và các công trình đầu tư bằng nguồn ngân sách Dự án càng lớn thì thiệt hại càng nhiều Dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất là một điển hình, kinh phí đầu tư tăng tới 1 tỉ đô la Mỹ, chủ yếu là do trượt giá
Bên cạnh đó, sự hời hợt khi làm nghiên cứu khả thi cũng góp phần không nhỏ vào việc kéo dài thời gian thực hiện dự án và tăng chi phí đầu tư Dành nhiều thời gian chuẩn bị kỹ dự án không có nghĩa là chấp nhận lãng phí thời gian vào các thủ tục thẩm định, xét duyệt Theo các nhà doanh nghiệp, hiện nay quy trình xét duyệt thường kéo dài Ngoài bản thân quy trình quá phức tạp còn có nguyên nhân do trình
độ của các cán bộ đảm nhiệm công tác thẩm định còn kém.Trên đây là những vấn
đề chung mà môn học “ Thẩm định dự án “ phải nghiên cứu Riêng tại Bình thuận,
để đạt mục tiêu về tăng trưởng bình quân GDP đầu người, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, để đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế như
dự báo thì vấn đề bức xúc hiện nay đặt ra cho Bình Thuận là đầu tư phát triển của tỉnh
Trang 6Hiện nay nhu cầu đầu tư vào Bình Thuận là rất cao, kể cả về mặt khách quan
lẫn chủ quan Về mặt chủ quan do tỉnh còn nghèo, cơ sở vật chất kỹ thuật, cũng như
cơ sở hạ tầng còn hạn chế, việc tăng cường đầu tư phát triển nâng cao đời sống kinh
tế xã hội là điều tất yếu, đó cũng là xu hướng chung của đất nước ta hiện nay Về mặt khách quan do tỉnh thực hiện kinh tế mở, hướng ra bên ngoài, nguồn nhân lực
dồi dào, cùng các tiềm lực sẵn có thì việc đầu tư từ bên ngoài vào để kiếm lời là điều tất yếu khách quan, tuân theo quy luật của thị trường Tuy nhiên, vấn đề đặt ra
là làm sao kết hợp giữa khách quan và chủ quan để tạo ra bước nhảy vọt làm tiền đề phát triển lâu dài cho tỉnh
Trong thời gian tới theo xu hướng chung của đất nước và sẵn có những thế mạnh riêng của mình, Bình Thuận sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư, nhưng việc tiếp nhận và hấp thụ vốn đầu tư đó theo cách nào lại là vấn đề đặt ra cần được giải quyết
Đầu tư vào tỉnh phải ngay từ bước đầu giải quyết được những mất cân đối lớn về cơ cấu, giải quyết những khó khăn về đời sống của nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng kháng chiến Phải nâng cao mức sống, trình độ dân trí và kỹ năng lao động của người dân đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa, yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động
Tóm lại, Bình Thuận đang đứng trước những cơ hội mới và thử thách mới,
tỉnh cần giải quyết những khó khăn và sử dụng lợi thế so sánh của mình, đẩy mạnh tăng cường hòa nhập kinh tế, hòa nhập vào xu thế phát triển chung của đất nước Thẩm định dự án, một môn học tuy mới ra đời nhưng đã nhanh chóng được hoàn thiện và phát triển, đã xây dựng được nền tảng cơ sở các chuẩn mực về thẩm định , góp phần vào việc nâng cao hiệu quả của việc thẩm định dự án đầu tư Với việc áp dụng môn học thẩm định dự án, công tác thẩm định dự án sẽ hạn chế được những rủi ro của dự án, đánh giá, so sánh các dự án để chọn ra các dự án có hiệu quả nhất góp phần vào việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế tỉnh nhà một cách hiệu quả nhất
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên , tôi đã chọn đề tài “ Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Bình Thuận “
Trang 7
II - Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết của môn học thẩm định dự án, xây dựng khung phân tích
và đánh giá dự án, hệ thống các chỉ tiêu thẩm định phục vụ cho cán bộ thẩm định
có chuẩn mực để đánh giá các dự án Đồng thời, căn cứ vào thực trạng của công tác thẩm dịnh dự án đầu tư hiện nay, xây dựng một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác thẩm dịnh dự án đầu tư tại tỉnh Bình Thuận
III - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình thực tế của công tác thẩm dịnh
dự án đầu tư tại tỉnh Bình Thuận
- Phạm vi nghiên cứu :
* Nghiên cứu một số nội dung cơ bản của dự án đầu tư, các chỉ tiêu phân tích trong thẩm dịnh dự án đầu tư tại tỉnh Bình Thuận Bao gồm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của chủ đầu tư và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của dự
IV – Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp đánh giá, phương pháp xác định độ rủi ro theo xác suất Trên cơ sở lý luận của khoa học thẩm định, đối chiếu với công tác thẩm dịnh dự án đầu tư tại tỉnh Bình Thuận để đề xuất ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác thẩm dịnh
dự án đầu tư tại tỉnh Bình Thuận
V – Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những cơ sở lý luận về công tác thẩm định dự án đầu tư
- Chương 2: Đánh giá thực trạng về công tác thẩm định dự án dầu tư tại tỉnh Bình Thuận
- Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án để có thể lựa chọn các dự án đầu tư hiệu quả
Do thời gian và khả năng nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, luận văn chưa thể đề cập hết các khía cạnh của vấn đề và còn nhiều sai sót nhất định Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, đồng thời xin được gởi đến quý thầy cô lời cảm ơn chân thành
Trang 8Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THẨM
ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ MỤC ĐÍCH THẨM ĐỊNH CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.1 Khái niệm về đầu tư:
Theo quan điểm của Chủ đầu tư (người chủ sở hữu vốn, người vay vốn hoặc người được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật) thì Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để từ đó thu được số vốn lớn hơn số đã bỏ ra thông qua lợi nhuận
Theo quan điểm của xã hội (Quốc gia) thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế - xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia
1.1.2 Vai trò của thẩm định dự án đầu tư:
Ở nhiều nơi trên thế giới, những khái niệm cơ bản đằng sau việc phân tích chi phí và lợi ích kinh tế và tài chính đang dần được chấp nhận Thứ nhất, tài liệu chuyên môn về thẩm định dự án đã được tăng cường trong những năm gần đây Thứ hai, các lãnh đạo nhà nước, trong nỗ lực thúc đẩy những chương trình đầy tham vọng về phát triển kinh tế và xã hội, đã cảm thấy nhu cầu phải thực hiện những chọn lựa khó khăn giữa các chiến lược chi tiêu khác nhau nhằm đạt được mục tiêu của họ Thứ ba, các nước ngày càng có khả năng hơn trong việc thỏa mãn yêu cầu cần có qui trình thẩm định dự án tốt hơn nhờ những khóa học và chương trình đào tạo do các trường đại học, các cơ quan quốc tế và chính các cơ quan nhà nước tổ chức Một số nước đã đào tạo đủ lực lượng cán bộ để khởi sự một nỗ lực cấp quốc gia nhằm phân tích một cách có hệ thống chi phí và lợi ích của những hoạt động chi tiêu đầu tư sắp đến
Việc nhận thức được bản chất của bối cảnh lựa chọn dự án cho chúng ta thấy nhu cầu cần phải thực hiện chức năng kiểm tra hoặc kiểm toán trong suốt giai đoạn thẩm định dự án Ngay cả phương pháp phân tích tinh vi nhất về lợi ích và chi phí của dự án cũng có thể dẫn tới sai lầm nếu sử dụng những ước tính căn bản sai lầm
về chi phí và lợi ích của dự án Vì vậy, chúng ta phải hết sức lưu ý để đảm bảo rằng mọi số liệu ban đầu phải được cân nhắc thỏa đáng Những ai còn nghi ngờ tầm quan trọng của vấn đề này chỉ cần nhìn lại lịch sử thực hiện các dự án thực tế Trong hầu hết các trường hợp, kinh nghiệm cho thấy chi phí của dự án bao giờ cũng cao hơn con số dự liệu ban đầu một cách đáng kể, và cũng trong rất nhiều trường hợp việc tính toán chi phí ở mức quá thấp lại thường đi đôi với việc tính toán lợi ích ở mức quá cao
Thông tin tốt hơn và không thiên lệch chỉ có thể có được khi cơ quan thẩm định dự án chịu tốn kém về thời gian và tiền của Những chi phí này sẽ được bù đắp lại bởi những nguồn lực tiết kiệm được do có thông tin tốt hơn và nhờ đó tránh được việc thực hiện những dự án tồi hoặc những dự án mà việc thiết kế và hoạt động nhằm để đáp ứng các mục tiêu của quốc gia
Để tiết kiệm tài nguyên hiếm hoi về nhân lực và tài chính có được của công tác thẩm định dự án, chúng ta có thể áp dụng một loạt các giai đoạn khác nhau
Trang 9trong qui trình thẩm định Mỗi một giai đoạn kế tiếp sẽ được thực hiện với cơ sở dữ liệu mang độ chính xác cao hơn Vào cuối mỗi giai đoạn, chúng ta sẽ đi tới quyết định chấp thuận hay bác bỏ dự án mà không cần phân tích thêm nữa Chỉ trong trường hợp triển vọng thành công của dự án biến thiên rất lớn theo mức độ chính xác của các dữ liệu hiện đang được sử dụng thì chúng ta mới dành thêm công sức cho việc cải thiện độ tin cậy chung của công việc thẩm định dự án Một sự thẩm định có ý nghĩa ở bất kỳ giai đoạn nào cũng đòi hỏi phải đánh giá từng khía cạnh tài chính, kinh tế và xã hội của dự án.Trong đó thẩm định tài chính là giai đoạn có ý nghĩa quyết định
1.1.3 Mục đích và khuôn khổ của thẩm định dự án đầu tư:
Việc đo lường lợi ích và chi phí kinh tế được xây dựng trên những thông tin xuất phát từ phần thẩm định tài chính, nhưng thêm vào đó những nguyên tắc kinh tế hình thành trong lĩnh vực kinh tế học phúc lợi ứng dụng cũng được sử dụng rộng rãi Để trở thành nhà phân tích kinh tế thành thạo trong lĩnh vực chi tiêu công, cần phải thông thạo các nguyên tắc của kinh tế học phúc lợi ứng dụng, cũng giống như nhà phân tích tài chính phải nắm vững các nguyên tắc kế toán
Những kỹ thuật thẩm định kinh tế, được căn cứ vào ba định đề căn bản của kinh tế học phúc lợi ứng dụng Đó là: (a) giá cầu cạnh tranh của một đơn vị sản phẩm đo lường giá trị của đơn vị sản phẩm đó đối với người có nhu cầu (nghĩa là mức sẵn lòng chi trả của anh ta); (b) giá cung cạnh tranh của một đơn vị sản phẩm hay dịch vụ đo lường giá trị của đơn vị sản phẩm đó trên góc độ nhà cung ứng; (c) khi định giá lợi ích hay chi phí ròng của một hoạt động nào đó (dự án, chương trình, hay chính sách), các chi phí và lợi tức phát sinh cho mỗi thành viên trong nhóm liên quan (ví dụ, một quốc gia), nếu có thể được, thì nên đo lường và nhận dạng gắn liền với người nhận, nhưng trong thẩm định kinh tế lợi ích và chi phí thường được tổng gộp mà không để ý đến ai sẽ nhận chúng
* Cầu cung và chi phí cơ hội
Trong quá trình phát triển những kỹ thuật thẩm định kinh tế dự án sử dụng các định đề (a), (b) và (c) điều quan trọng là nhận biết mức độ tinh tế và phức tạp của các khái niệm về cung và cầu liên quan Khi đường cầu của người tiêu dùng chỉ
ra số lượng tối đa mà anh ta sẵn lòng chi trả thì nó cũng cho thấy thái độ trung dung của người tiêu dùng, nghĩa là việc có trong tay đơn vị sản phẩm đó với mức giá đó hay dùng số tiền này để mua bất cứ hàng hóa và dịch vụ khác sẵn có với giá tương đương, đều là như nhau Tương tự, đường cung của một hoạt động phản ánh giá cả
mà tại đó nhà cung cấp món hàng xem việc bán một số đơn vị hàng ở địa điểm và thời gian nhất định với việc dùng những sản phẩm và dịch vụ này hoặc các nhập lượng để sản xuất ra chúng vào mục đích khác là không có gì khác biệt Hơn nữa, các phương án lựa chọn liên quan đến vấn đề này có thể rất phức tạp Sự sẵn lòng chi trả để mua một chiếc xe hơi mới có thể được quyết định bằng việc đánh đổi khả năng mua một ngôi nhà mới hoặc cho con đi học đại học Tất cả những lựa chọn này được phản ảnh trong giá cầu hay mức sẵn lòng chi trả của một người để mua chiếc xe Đối với một cá nhân, chi phí cơ hội của các khoản chi tiêu bị hoãn lại hay
từ bỏ để mua một món đồ nào đó được phản ánh bằng giá cầu hoặc mức sẵn lòng chi trả của anh ta để mua sản phẩm đó
Trang 10Tương tự, những chọn lựa có vai trò quyết định giá cung của một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ cũng có thể rất phức tạp Giá cung một lao động có tay nghề
ở nông thôn sẽ phản ảnh loại công việc và thu nhập mà anh ta sẽ từ bỏ để làm công việc này, tiện nghi sinh hoạt mất đi khi sống ở nông thôn so với thành thị, điều kiện làm việc ở nông thôn và các lựa chọn khác, chi phí sinh hoạt thấp ở vùng quê, chi phí đi lại tăng thêm để thăm viếng gia đình và bạn bè ở thành phố, chi phí vận chuyển thấp hơn khi làm việc ở vùng nông thôn, và tất cả những nhân tố khác tác động đến quyết định của một người về nơi sinh sống và làm việc Đối với hàng công nghiệp, sự phức tạp của những mối quan hệ đằng sau việc xác định giá cung của nó còn lớn hơn Giá cung của xuất lượng không chỉ phản ảnh giá cung hay phí
cơ hội của tất cả các nhập lượng dùng để sản xuất ra sản phẩm đó, mà còn phản ánh nơi chốn và cách thức hàng hóa được đưa đến điểm tiêu thụ
Ngay cả những hàng hóa và dịch vụ hiện không được sử dụng vẫn có giá cung và phí cơ hội dương Những lao động thất nghiệp sẽ tìm được việc làm vào lúc nào đó trong tương lai Có thể họ sẽ định ra một giá trị cho thời gian nhàn rỗi của mình hay đòi hỏi sự bù đắp để di chuyển từ nơi họ đang ở đến nơi có công ăn việc làm Tất cả những nhân tố này sẽ được phản ảnh trong giá cung > 0 của lao động “thất nghiệp” này
Trong một nền kinh tế không có thuế má, trợ cấp, ngoại tác hay những khiếm khuyết của thị trường, giá cung và giá cầu của đơn vị sản phẩm cuối cùng được sản xuất ra và tiêu thụ trên thị trường sẽ bằng nhau Tuy nhiên, những yếu tố gây biến dạng thị trường như vậy luôn hiện hữu trong mỗi nền kinh tế và phải được đưa vào quá trình thẩm định lợi ích và chi phí kinh tế của dự án May mắn là hầu hết nếu không nói là tất cả những yếu tố gây biến dạng này có thể được đưa vào khuôn khổ nói trên một cách hệ thống, nơi có hàm số cầu của một sản phẩm phản ánh mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng và một hàm số cung được xác định bởi các chi phí
cơ hội của việc cung ứng sản phẩm đó
Bằng cách hướng về thị trường sản phẩm hoặc dịch vụ để có những thông tin ban đầu cho việc đo lường lợi ích và chi phí kinh tế, chúng ta chú trọng đến ước muốn của người tiêu dùng và nhà sản xuất trong việc đo lường các giá trị xã hội và kinh tế
1.2 CHIẾN LƯỢC THẨM ĐỊNH CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Có năm bước để thực hiện chiến lược thẩm định các dự án đầu tư
1.2.1 Nghiên cứu tiền khả thi
Nghiên cứu tiền khả thi là nỗ lực đầu tiên nhằm đánh giá triển vọng chung của dự án Trong suốt quá trình thẩm định, đặc biệt trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, các ước lượng biến số dù thiên lệch về một hướng nào đó vẫn có giá trị hơn
là những giá trị ước tính trung bình của các biến số được biết với mức độ chắc chắn rất thấp Vì vậy, trong phân tích tiền khả thi, để tránh việc chấp thuận những dự án dựa trên các ước tính quá lạc quan về chi phí và lợi ích, chúng ta nên sử dụng những ước tính có xu hướng giảm bớt lợi ích của dự án và làm tăng mức ước tính
về chi phí Nếu dự án vẫn hấp dẫn sau khi đã tiến hành thẩm định như vậy, thì có rất nhiều khả năng dự án sẽ qua được khâu thẩm định chính xác hơn
Trang 11Nghiên cứu tiền khả thi của các dự án đầu tư thường bao gồm sáu lãnh vực được tóm tắt như sau:
(a) Phân tích thị trường hay sức cầu Nhằm ước tính, định lượng hóa và lýgiải chứng minh sức cầu hàng hóa và dịch vụ, giá cả hay các nhu cầu tương đối
về dịch vụ xã hội
(b) Phân tích kỹ thuật Xác định một cách chi tiết các thông số đầu vào của
dự án và xây dựng các ước tính về chi phí
(c) Phân tích nhân lực và quản lý Định rõ chi tiết nhu cầu về nhân lực cần thiết cho việc thực hiện cũng như vận hành dự án, xác định và định lượng cụ thể nguồn nhân lực
(d) Phân tích tài chính hay ngân sách Phân tích chi và thu tài chính cùng với việc đánh giá các phương án tài trợ khác nhau
(e) Phân tích hiệu quả kinh tế Điều chỉnh các dữ liệu tài chính theo ý nghĩa kinh tế, thẩm định chi phí và lợi ích của dự án trên quan điểm của cả nền kinh tế
(f) Phân tích hiệu quả xã hội Thẩm định dự án theo quan điểm của những đối tượng hưởng lợi từ dự án và những đối tượng phải chịu chi phí cho dự án Khi
có thể được, cần lượng hóa lợi ích thụ hưởng và chi phí phải chịu của các nhóm này
1.2.2 Nghiên cứu khả thi
Sau khi đã hoàn tất xong tất cả các khâu phân tích trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, chúng ta cần nghiên cứu khả năng dự án có thể đáp ứng các tiêu chí về tài chính, kinh tế và xã hội mà nhà đầu tư đề ra cho các khoản đầu tư hay không Cần phân tích độ nhạy của dự án để xác định các biến số chủ chốt quyết định kết quả của dự án
Chức năng giai đoạn nghiên cứu khả thi trong thẩm định dự án là nhằm tăng cường mức độ chính xác các tính toán những biến số chủ chốt nếu như dự án cho thấy có triển vọng thành công Để tăng cường được mức độ chính xác, cần thực hiện nhiều nghiên cứu sơ cấp và có lẽ nên xác định thêm những biến số khác
Chính vào cuối giai đoạn này là lúc mà quyết định quan trọng nhất phải được đưa ra là liệu có nên chấp thuận dự án không Sẽ rất khó để ngưng một dự án tồi sau khi công việc thiết kế chi tiết (thường là rất tốn kém) đã được thực hiện vào giai đoạn thẩm định tiếp theo
1.2.3 Thiết kế chi tiết
Sau nghiên cứu khả thi, nếu các nhà ra quyết định phê chuẩn dự án thì công việc tiếp theo là triển khai thiết kế chi tiết dự án Các tiêu chuẩn thiết kế sơ bộ phải được thiết lập khi dự án được xác định và thẩm định nhưng thông thường chi phí về những đặc điểm kỹ thuật chi tiết không được bảo đảm vào thời điểm này Một khi
đã xác định tiếp tục dự án thì công việc thiết kế phải được hoàn tất một cách chi tiết hơn Công tác này bao gồm xác định các chương trình cơ bản, phân chia nhiệm vụ, xác định tài nguyên dùng cho dự án cũng như định hình hoạt động theo các chức năng sẽ được thực hiện và những ưu tiên của chúng Giai đoạn này là lúc phải xác định rõ các yêu cầu kỹ thuật, ví dụ như nhu cầu về nhân lực phân loại theo kỹ năng lao động Sau khi hoàn tất xong phần thiết kế chi tiết và các qui cách kỹ thuật cho việc xây dựng nhà xưởng và trang thiết bị, cần lên kế hoạch và thời gian biểu vận
Trang 12hành dự án cũng như kế hoạch dự phòng bất trắc, đồng thời tổng hợp chúng để nâng lên thành kế hoạch thực hiện chính thức
Tóm lại, giai đoạn thiết kế chi tiết trong thẩm định dự án chính là thời điểm tăng cường độ chính xác của mọi dữ kiện đã được sử dụng trong các phần phân tích trước đó để có thể xây dựng kế hoạch vận hành chính thức Trong giai đoạn này, chẳng những chúng ta hoàn tất thiết kế về mặt vật chất của dự án mà còn lên kế hoạch quản lý hành chánh, vận hành sản xuất, và tiếp thị
Khi dự án sắp được hoàn thành, cần chuẩn bị để từng bước hoàn tất hoạt động thi công xây dựng và trao dự án cho ban quản lý mới Khâu hoàn thành dự án đòi hỏi phải rút dần và giải thể tổ chức thực hiện dự án Đây là lúc đòi hỏi chuyển giao nhân sự cũng như thiết bị sang các khâu vận hành khác Những hoạt động này
có thể sẽ diễn ra trong khoảng thời gian tương đối dài Tuy nhiên, khi dự án đi vào hoạt động, cần bảo đảm có đủ kỹ năng, kế hoạch và tổ chức kiểm soát để thực hiện chức năng của dự án nhằm tránh những chi phí khởi động quá lớn, mà điều này dễ dàng quyết định sự thành bại chung của dự án
án đã triển khai mang lại giá trị tối đa cho các nhà làm chính sách và các nhà phân tích dự án, hoạt động của một số nhân sự nhất định trong các nhóm thẩm định dự
án của chính quyền cần được duy trì theo thời gian
Để thực hiện được phần đánh giá này, cần tiến hành đánh giá các khâu quản
lý hành chính của dự án ngay sau khi đã hoạt động Các cán bộ quản lý giai đoạn vận hành phải được thông báo rõ là việc đánh giá chi tiết kết quả dự án sẽ được tiến hành suốt thời gian hoạt động của nó Cách này cho phép xây dựng những dữ liệu cần thiết thông qua các hoạt động tài chính và kiểm soát thông thường, tạo điều kiện thực hiện đánh giá với chi phí thấp nhất
Chức năng của phần đánh giá sau dự án để xác định xem những biến số quan trọng trong thiết kế và thực hiện dự án, góp phần vào sự thành công hoặc thất bại của dự án Phần đánh giá hậu dự án giúp phát huy kinh nghiệm thành công và tránh
Trang 13những thất bại đã gặp
1.3 XÂY DỰNG BIÊN DẠNG NGÂN LƯU TÀI CHÍNH CHO CÁC DỰ ÁN
So sánh lợi ích tài chính hay kinh tế của một dự án với các chi phí tương ứng đòi hỏi phải sắp xếp tất cả dữ liệu liên quan thành một biên dạng tổng hợp cho toàn
bộ thời gian hoạt động của dự án Trong thẩm định tài chính, biên dạng này là ngân lưu ròng của dự án, còn trong thẩm định kinh tế biên dạng này cho thấy những lợi ích kinh tế ròng do dự án sinh ra Chúng ta sẽ từng bước giải thích cách xây dựng các biên dạng ngân lưu của một dự án
1.3.1 Xây dựng báo cáo ngân lưu hoạch định
1.3.1.1 Kế hoạch đầu tư
Kế hoạch đầu tư gồm hai phần: (a) phần thứ nhất xem xét các chi tiêu cho tài sản thiết bị mới, và chi phí cơ hội của những tài sản hiện hữu, (b) phần thứ hai cân nhắc khía cạnh tài trợ cho các khoản đầu tư được đề xuất Nếu phải xét đến các qui
mô hoặc địa điểm khác nhau, thì cần phải lên kế hoạch đầu tư tương ứng cho mỗi qui mô và/hoặc địa điểm đó Điều quan trọng là kế hoạch đầu tư phải phù hợp với thời gian biểu thực tế trong điều kiện có những hạn chế về lao động, tài chính và nguồn cung ứng trong nền kinh tế, cũng như những khía cạnh kỹ thuật của dự án (a) Kế hoạch đầu tư sẽ bao gồm danh mục tất cả các khoản chi phí cần thực hiện cho đến khi công trình bắt đầu đi vào hoạt động bình thường Từng khoản chi phí này cần được xác định theo năm dự kiến sẽ xảy ra Ngoài ra, từng khoản chi phải được tách riêng thành hai phần: chi phí để trả cho hàng hóa và dịch vụ buôn bán quốc tế và phần chi phí cho hàng hóa và dịch vụ chỉ buôn bán trong nước Những loại chi phí này lại được chia thành những khoản chi trả cho các nhà cung ứng cho từng loại hàng hóa, các khoản nộp cho chính quyền (thuế doanh thu, thuế nhập khẩu v.v.), khoản trợ giá từ chính quyền và trợ cấp để mua các thiết bị đầu tư Các khoản chi phí về lao động trong khâu xây dựng dự án phải được xác định theo năm
1.3.1.2 Xử lý chi phí khấu hao
Chi phí khấu hao hay chi phí hao mòn vốn là một công cụ kế toán nhằm dàn trải chi phí của các hạng mục đầu tư ra hết chiều dài hoạt động của những khoản đầu tư này, mục tiêu là nhằm phản ánh tất cả chi phí vào thu nhập ròng của một năm bất kỳ, kể cả chi phí đầu tư cần thiết để tạo ra sản lượng dự án Tuy nhiên, chi phí khấu hao không phải là ngân lưu xuất và do đó không nên đưa vào biên dạng ngân lưu tài chính của dự án Đồng thời, toàn bộ chí phí vốn đầu tư đều được tính trong biên dạng ngân lưu tài chính kể từ khi toàn bộ các khoản chi tiêu đầu tư được khấu trừ trong năm phát sinh Nếu có thêm các khoản chi phí vốn nào khác bị khấu trừ khỏi biên dạng ngân lưu, chẳng hạn chi phí khấu hao, thì có nghĩa là chi phí đã
bị hạch toán hai lần
Trang 141.3.1.3 Xử lý kế hoạch hoạt động
Thành quả dự kiến trong tương lai của một dự án đầu tư thương mại được tóm tắt trong tập hợp các báo cáo tài chính hoạch định hay triển vọng, trong đó bao gồm các bảng cân đối kế toán, các báo cáo lỗ lãi và báo cáo ngân lưu cho từng năm trong toàn bộ thời gian hiện hữu của dự án Dựa theo mục đích thẩm định đầu tư thì báo cáo ngân lưu là liên quan trực tiếp; tuy nhiên, báo cáo ngân lưu có thể được xây dựng từ những thông tin có được trong bảng cân đối kế toán và những báo cáo thu nhập trong nhiều năm
Bảng cân đối kế toán liệt kê tất cả tài sản có giá trị cũng như các khoản vay
nợ của công ty Phần khác biệt giữa giá trị tổng tài sản thuộc sở hữu của công ty và giá trị tổng số nợ của công ty là bằng với giá trị vốn cổ phần hay giá trị ròng của chủ đầu tư
Trong khi bảng cân đối kế toán cho thấy tình trạng tài chính của công ty vào cuối mỗi giai đoạn, báo cáo về thu nhập cho thấy các hoạt động của công ty trong giai đoạn đó đã làm tăng hay giảm giá trị ròng của công ty Giá trị ròng tăng khi công ty báo cáo một khoản thu nhập ròng dương Báo cáo thu nhập đo lường thu nhập khi có doanh thu và tính toán chi phí khi mua hàng Chênh lệch giữa tổng thu
và tổng chi cho thấy mức lãi hay lỗ của công ty trước khi đóng thuế thu nhập Thuế thu nhập được đánh vào khoản này, và thu nhập ròng của công ty là phần còn lại sau khi đã nộp thuế
Mặc dù báo cáo ngân lưu chứa đựng những thông tin khác với báo cáo thu nhập, nhưng nó có thể được xây dựng từ một tập hợp các báo cáo thu nhập và bảng cân đối kế toán Trong khi báo cáo thu nhập tính toán lợi nhuận của công ty bằng hiệu số giữa tổng thu nhập (từ doanh thu) và tổng chi phí, thì ngân lưu ròng được tính bằng chênh lệch giữa tổng thu (total receipts) và tổng chi (total expenditures)
Do đó, có một số biến số phải được định nghĩa rõ ràng và quan hệ giữa chúng phải được hiểu rõ trước khi ta có thể xây dựng bảng báo cáo ngân lưu từ một tập hợp các báo cáo thu nhập và các bảng cân đối kế toán
1.3.1.4 Tính toán vốn lưu động
Để thực hiện được một hoạt động kinh tế, cần phải có đầu tư nhất định vào một số hạng mục để tạo sự thuận lợi cho công việc kinh doanh Những hạng mục này bao gồm: tiền mặt, khoản phải thu trừ đi khoản phải trả, và hàng tồn kho Chúng ta đã thấy ở trên cách thức mà những thay đổi trong khoản phải thu và khoản phải trả làm thay đổi ngân lưu của dự án Điều quan trọng cần lưu ý là những thay đổi của hàng tồn kho được tự động đưa vào ngân lưu khi sử dụng hai công thức trên
1.3.1.5 Tiền mặt dành riêng để thực hiện giao dịch
Điều quan trọng là phải nhận ra rằng cân đối tiền mặt có thể tăng lên hay giảm xuống ngay cả khi không có thay đổi gì trong các hạng mục doanh thu, khoản mua, khoản phải thu hay phải trả Việc này có thể xảy ra, chẳng hạn, khi công ty huy động thêm vốn cổ phần hay vốn vay hoặc khi công ty phải trả lãi suất hoặc chi cổ tức Khi một lượng tiền mặt được dành riêng để tạo thuận lợi cho các giao dịch, thì
có nghĩa là đang sử dụng tiền mặt nên cũng là ngân lưu ra Tương tự, lượng tiền mặt dành riêng cho giao dịch giảm đi chính là một nguồn cung cấp tiền mặt cho các
Trang 15mục đích sử dụng khác của dự án nên đó là một ngân lưu vào Do đó, nếu lượng tiền mặt dành riêng cho công việc giao dịch trong một thời kỳ nào đó tăng lên, phần tăng này là một ngân lưu ra; nếu lượng tiền mặt đó giảm đi, phần giảm đó là một ngân lưu vào
1.3.1.6 Chi phí cơ hội
Một khái niệm quan trọng rất có ích cho việc hình thành ngân lưu là chi phí
cơ hội Chi phí cơ hội của việc sử dụng một nguồn lực trong dự án là những lợi ích
bị bỏ qua khi không sử dụng nguồn lực này vào một hoạt động khác Ví dụ, chi phí
cơ hội của một ngư dân nghèo khi tham gia dự án tăng trọng gia súc do chính phủ tài trợ là khoản thu nhập mất đi từ nghề cá Chi phí cơ hội này phải được đưa vào khi hình thành ngân lưu của các dự án tăng trọng gia súc
1.3.1.7 Chi phí chìm và chi phí tăng thêm
Nhiều dự án đầu tư là phần mở rộng thêm từ những hoạt động hiện hữu đang diễn ra, và vì thế lợi ích và chi phí liên quan đến dự án mới chỉ là phần tăng thêm ngoài những gì sẽ vẫn diễn ra nếu không có thêm dự án mới Những chi tiêu trước đây tạo ra các trách nhiệm tài chính trong tương lai không được đưa vào khâu thẩm định dự án mới, cũng như những trách nhiệm tài chính trong tương lai đối với các khoản chi tiêu trước đây (hay các khoản thanh toán tương lai trên cơ sở những chi tiêu này) không được tính đến khi lập kế hoạch thanh toán tài chính của dự án mới Những chi tiêu đã thực hiện trước đây được gọi là “chi phí lịch sử” hay “chi phí chìm” và không được tính tới nữa khi thẩm định các khoản đầu tư tăng thêm
Trường hợp duy nhất mà tài sản từ những khoản chi tiêu trước đây được cân nhắc trong lúc thẩm định dự án mới là khi các tài sản này lẽ ra có thể được đem bán nếu như dự án mới không được thực hiện, nhưng vì có dự án nên chúng được ghép vào các công trình mới khi dự án được triển khai Khi đó, thông số thích hợp không phải là chi phí lịch sử của các khoản chi tiêu quá khứ, mà là giá trị thanh lý của những tài sản hiện hữu này Nên nhớ rằng giá trị thanh lý của các tài sản thường thể hiện một phần đáng kể chi phí lịch sử ban đầu của công trình cũ, do đó không thể
bỏ qua Vì vậy, nếu các tài sản được giữ lại, thì giá trị thanh lý của chúng phải được tính vào chi phí của dự án Nếu không, tổng chi phí đầu tư cần thiết cho dự án mới
sẽ bị ước tính thấp đi một cách đáng kể Tuy nhiên, nếu các tài sản hiện hữu có thể được đem bán với tư cách là những đơn vị đang hoạt động chứ không phải thuộc diện thanh lý, phần chi phí nguồn lực của các công trình hiện hữu dự kiến sẽ đưa vào chi phí dự án mới chính là phần giá trị đang được sử dụng của các tài sản đó
1.3.1.8 Đất đai
Giống như những tài sản khác, đất đai cũng có chi phí cơ hội kinh tế khi được
sử dụng cho dự án Ngay cả trong trường hợp chính quyền cấp đất miễn phí cho dự
án, nó vẫn phải được tính vào tổng chi phí đầu tư của dự án theo giá thị trường đất đai trong khu vực Đất đai còn là một loại tài sản đặc biệt ở chỗ trong hầu hết mọi trường hợp, đất đai không có khấu hao Ngược lại, do những cải thiện trong hệ thống cơ sở hạ tầng, giá trị của đất đai còn có thể tăng nhanh hơn mức tăng của lạm phát trong suốt vòng đời của dự án Khi đó, điều quan trọng là không được đưa phần giá trị đất gia tăng vượt quá mức tăng chung của lạm phát vào giá trị thanh lý của dự án Trong đa số trường hợp, mức tăng giá trị thanh lý của đất đai (đặc biệt
Trang 16đất đô thị) không có liên quan gì tới loại hình dự án đang sử dụng mảnh đất đó Thông thường, giá đất thật sự tăng lên là nhờ có những đầu tư vào cơ sở hạ tầng công cộng mà kết quả đầu tư công cộng này lại không được chào bán một cách cạnh tranh Do đó, điều quan trọng là không được quy sự gia tăng giá trị thực của đất đai cho bất kỳ dự án nào nhằm tránh được xu hướng thiên lệch chỉ chọn các dự
án sử dụng nhiều đất Trường hợp ngoại lệ duy nhất đối với nguyên tắc này là khi
dự án đã sử dụng (hay sẽ sử dụng) đất và sẽ cải thiện hay gây phương hại chất lượng đất Trong những trường hợp như vậy, giá trị cải thiện ròng của đất phải được cộng vào giá trị thực của mảnh đất như đã được xác định vào lúc bắt đầu dự
án, từ đó tính giá trị thanh lý của đất nhằm phục vụ cho mục tiêu phân tích khi dự
án kết thúc
1.3.2 Công thức báo cáo ngân lưu hoạch định
Trong khi không có một công thức trình bày tiêu chuẩn nào cho báo cáo ngân lưu hoạch định của một dự án đầu tư, điều quan trọng là những dữ liệu đưa ra phải được chi tiết hóa đầy đủ, tạo điều kiện dễ dàng để phần thẩm định kinh tế và phân phối thu nhập có thể đưa ra những điều chỉnh cần thiết đối với ngân lưu tài chính Các khoản thu và chi phải được phân loại như đã phác họa trong phần thảo luận về
kế hoạch đầu tư và vận hành của dự án Các khoản thu phải được xác định tùy theo chúng là doanh thu từ hàng ngoại thương hay phi ngoại thương Những khoản chi thanh toán cũng phải được trình bày theo cách thức tương tự trong đó phân định riêng biệt tất cả các loại thuế, thuế quan và trợ giá Chi phí lao động phải được phân loại theo kỹ năng sử dụng Cuối cùng, mọi chi phí tài chính, ví dụ như tiền lãi, phải được tách thành một hạng mục riêng mà không được tính chung vào chi phí của nhập lượng
Để minh họa việc xây dựng báo cáo ngân lưu tài chính, chúng ta xét ví dụ
mỏ khoáng sản ( Xem Phụ lục 1 : Gồm có kế hoạch đầu tư dự án , những thông tin hoạt động cơ bản cần thiết để xây dựng được các báo cáo ngân lưu hoạch định cho
dự án này và minh họa rõ bản chất của các thông tin cần có cũng như trình bày một báo cáo ngân lưu phục vụ cho thẩm định tài chính.Báo cáo ngân lưu này làm cơ sở cho phân tích tài chính và kinh tế của dự án )
1.4 CHIẾT KHẤU VÀ CÁC TIÊU CHUẨN ĐỂ ĐÁNH GIÁ ĐẦU TƯ
Tiêu chuẩn giá trị hiện tại ròng hay hiện giá ròng (NPV) của một dự án thường được các nhà phân tích tài chính và kinh tế chấp nhận rộng rãi vì nó cho kết quả đánh giá tốt hơn so với các tiêu chuẩn hiện hữu khác Tuy nhiên, một số nhà đầu tư tư nhân cũng dựa vào những tiêu chuẩn khác như suất sinh lợi nội tại của dự
án (IRR), tỉ số lợi ích - chi phí, và tiêu chuẩn về thời gian thu hồi vốn Chúng ta sẽ xem xét các điểm mạnh và yếu của những tiêu chuẩn này nhằm chứng minh tại sao NPV là tiêu chuẩn đáng tin cậy nhất trong thẩm định dự án đầu tư
1.4.1 Suất chiết khấu
Bản chất của các dự án đầu tư là lợi ích và chi phí của chúng thường xảy ra vào những giai đoạn khác nhau Bởi vì một khoản tiền vào thời điểm hiện tại được coi là có giá trị cao hơn số tiền tương đương trong tương lai, các chi phí và lợi ích đến sớm hơn về mặt thời gian phải được xem có trọng lượng lớn hơn so với các chi phí và lợi ích đến muộn hơn Lợi ích và chi phí hiện tại được đánh giá cao hơn lợi
Trang 17ích và chi phí tương lai bởi vì tiền có ngay lúc này sẽ được sử dụng để đầu tư hay tiêu dùng một cách có lợi ngay từ nay cho đến tương lai Do đó, người đi vay sẵn sàng trả lãi suất dương để có vốn sử dụng, còn người cho vay đòi phải có lãi
Hiện giá ròng của một chuỗi lợi ích ròng trong tương lai, (B - C ), (B1 -
C1), (B - C ), , (Bn- C ) có thể được diễn tả bằng đại số như sau:
o o
r
C B r
C B r
C B
+
−+
++
−+
r
C B
1trong đó n là thời gian hoạt động của dự án Biểu thức 1/(1+r) thường được gọi là
hệ số chiết khấu cho năm t
t
Trong phương trình (1.4.2), lợi ích ròng phát sinh trong suốt tuổi thọ của dự
án được chiết khấu về giai đoạn 0 Tuy nhiên, điều quan trọng phải lưu ý là trong khi việc chiết khấu các lợi ích ròng từ những giai đoạn khác nhau và độ lớn của suất chiết khấu là hai yếu tố quan trọng trong việc xếp hạng các dự án, thì thời điểm
cụ thể mà ta chiết khấu tất cả các lợi ích ròng, tức là lợi ích sau khi đã trừ đi chi phí, của từng giai đoạn thì không quan trọng
* Suất chiết khấu biến đổi
Giả sử, có khả năng suất chiết khấu sẽ thay đổi theo tuổi thọ của dự án Nếu
có thể dự đoán trước được, thì hiện giá ròng của một dự án bốn năm nên tính như sau:
NPV = 0 ( ) ( ( ) ) ( ( )( ) ) ( ( )( )( ) )
3 2
1
3 3 2
1
2 2 1
1 1 0
C B r
r
C B r
C B C
B
++
+
−+
++
−+
+
−+
t t
r
C B C
B
1 0
0 0
1
Cũng như trong trường hợp suất chiết khấu không đổi, giai đoạn thực tế để tính chiết khấu các dự án là không quan trọng với điều kiện là NPV của các dự án đang được so sánh phải được chiết khấu về cùng thời điểm
Trang 181.4.2 Các tiêu chuẩn đánh giá đầu tư khác nhau
1.4.2.1 Tiêu chuẩn hiện giá ròng (NPV)
(i) Khi nào thì bác bỏ dự án
Bước đầu tiên để tính hiện giá của dự án đầu tư là phải trừ tất cả các chi phí
ra khỏi tổng lợi ích của mỗi giai đoạn để có được lợi ích ròng Thứ hai là chọn một suất chiết khấu thể hiện được chi phí cơ hội của vốn khi dùng vào mục đích khác trong nền kinh tế, từ đó hình thành một loại chi phí vốn cho mỗi dự án tương đương với lợi ích phải từ bỏ Khi hiện giá ròng của một dự án được tính theo các tiêu chuẩn kinh tế, thì hiện giá ròng dương có nghĩa là dự án này sẽ làm cho nền kinh tế tốt hơn, ngược lại hiện giá ròng âm có nghĩa là dự án sẽ làm cho nền kinh tế tệ hơn Chính ý nghĩa này của tiêu chuẩn hiện giá ròng sẽ đưa chúng ta đến phiên bản thứ nhất của nó, là cách diễn tả luôn luôn đúng trong mọi hoàn cảnh
Quy tắc: “Không chấp nhận một dự án nào trừ khi dự án đó có hiện giá ròng
dương khi được chiết khấu bằng chi phí cơ hội của vốn.”
(ii) Ràng buộc về ngân sách
Thông thường nhà đầu tư không thể có đủ vốn với chi phí cố định để thực hiện tất cả các dự án có hiện giá ròng dương Khi tình thế này xảy ra, cần phải lựa chọn giữa các dự án để quyết định một nhóm các dự án có thể tối đa hóa hiện giá của các gói đầu tư mà vẫn nằm trong giới hạn của ngân sách Do đó, cách diễn tả thứ hai của tiêu chuẩn hiện giá ròng là:
Quy tắc: “Trong phạm vi giới hạn của một ngân sách cố định, phải chọn trong số
các dự án hiện có nhóm dự án nào có thể tối đa hóa hiện giá ròng.”
Bởi vì ràng buộc ngân sách không đòi hỏi tất cả kinh phí phải được sử dụng hết, nên quy tắc này sẽ ngăn chặn việc thực hiện một dự án có hiện giá ròng âm Ngay cả khi tất cả vốn trong ngân sách không được sử dụng hết, NPV do số vốn ngân sách này mang lại sẽ tăng lên nếu dự án có NPV âm bị loại bỏ
(iii) So sánh các dự án thay thế nhau
Trong công tác thẩm định dự án, nhiều khi chúng ta gặp những tình huống phải lựa chọn giữa các dự án thay thế nhau Vì lý do kỹ thuật, không thể nào thực hiện cả hai dự án cùng lúc Ví dụ, khi làm một con đường nối hai thị trấn, có nhiều mức chất lượng khác nhau của con đường này; tuy nhiên người ta chỉ có thể làm một con đường Tương tự như vậy, một địa điểm xây dựng không thể dùng cho hai mục đích khác nhau cùng một lúc Do đó, vấn đề mà nhà phân tích đầu tư gặp phải
là lựa chọn trong những dự án thay thế lẫn nhau dự án nào mang lại hiện giá ròng lớn nhất Điều này có thể diễn tả bằng quy tắc sau:
Quy tắc: “Trong tình huống không có giới hạn ngân sách, nhưng phải chọn một
trong số các dự án thay thế nhau, ta phải luôn chọn dự án tạo ra hiện giá ròng lớn nhất.”
1.4.2.2 Tiêu chuẩn tỷ số lợi ích-chi phí
Đây là quy tắc được các nhà phân tích đầu tư áp dụng rộng rãi nhất Nhưng tiếc thay, nếu không được sử dụng một cách cẩn thận, tiêu chuẩn này sẽ đưa ra lời khuyên sai lệch về sự hấp dẫn tương đối của các cơ hội đầu tư Tỷ số lợi ích-chi phí được tính bằng cách đem chia hiện giá các lợi ích cho hiện giá chi phí, sử dụng chi phí cơ hội của vốn làm suất chiết khấu
Trang 19Tỷ số lợi ích-chi phí (R) = Hiện giá của các lợi ích
Hiện giá của các chi phí
Sử dụng tiêu chuẩn này, ta sẽ yêu cầu một dự án muốn được chấp nhận phải
có giá trị tỷ số R lớn hơn 1 Đối với các dự án loại trừ lẫn nhau, quy tắc lựa chọn là lấy dự án có tỷ số lợi ích-chi phí lớn nhất
Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhìn thấy rằng tiêu chuẩn này có khả năng khiến chúng ta xếp hạng sai các dự án, nếu chúng khác nhau về qui mô
Vấn đề thứ hai liên quan đến việc sử dụng tỷ số lợi ích-chi phí, và có thể đây
là khiếm khuyết nghiêm trọng nhất của tiêu chuẩn này, là tỷ số lợi ích-chi phí nhạy cảm với cách thức định nghĩa chi phí để tính ngân lưu của các kế toán viên
Khi đã có chi phí hiện hành của dự án, có nhiều cách khác nhau để ghi nhận những chi phí này Tỷ số lợi ích-chi phí cũng sẽ bị thay đổi theo cách thức ghi nhận những chi phí này Do đó chúng ta thấy rằng việc xếp hạng hai dự án có thể trái ngược nhau tùy theo cách xử lý chi phí hiện hành Ngược lại, hiện giá ròng của một
dự án không nhạy cảm với cách xử lý chi phí của các kế toán viên Tiếc thay, trong thẩm định dự án có rất nhiều quyết định tùy tiện về cách cân đối lợi ích với chi phí
và mỗi quyết định như vậy đều ảnh hưởng đến tỷ số lợi ích-chi phí Vì thế, hiện giá ròng là một tiêu chuẩn lựa chọn dự án đáng tin cậy hơn nhiều so với tỷ số lợi ích-chi phí
1.4.2.3 Thời gian hoàn vốn
Ở hình thức đơn giản nhất, thời gian hoàn vốn đo lường số năm cần thiết để lợi ích ròng chưa chiết khấu (ngân lưu ròng dương) hoàn lại vốn đầu tư Người ta thường ấn định một cách tùy tiện giới hạn số năm tối đa được phép hoàn vốn và chỉ những khoản đầu tư có đủ lợi ích để bù lại chi phí đầu tư trong thời gian này mới
có thể phát sinh sau thời điểm đã được ấn định đó, ví dụ như chi phí dọn dẹp địa điểm và chi phí trồng lại cây phát sinh sau khi kết thúc khai thác một vùng mỏ Mặc dù không ai tranh cãi với ý kiến tương lai sẽ bất trắc hơn hiện tại, nhưng
sẽ không thực tế khi cho rằng sau một thời điểm cụ thể nào đó thì giá trị kỳ vọng trung bình của các lợi ích ròng là zero Điều này hoàn toàn đúng đối với các dự án đầu tư dài hạn như cầu, đường, cao ốc Đối với các tổ chức tồn tại lâu dài như các công ty lớn hay chính quyền, không có lý do gì để cho rằng tất cả dự án nhanh chóng mang lại lợi ích là tốt hơn các dự án đầu tư lâu dài
1.4.2.4 Tiêu chuẩn suất sinh lợi nội tại
Suất sinh lợi nội tại (Internal Rate of Return, IRR) là con số thống kê đã được các nhà đầu tư ở cả khu vực tư nhân và nhà nước sử dụng rất nhiều để nói lên sự hấp dẫn của một dự án Tuy nhiên, nó không phải là một tiêu chuẩn đầu tư đáng tin cậy, cho dù trong một số trường hợp đây là một con số thống kê hữu ích để tóm tắt
Trang 20khả năng sinh lời của một dự án
Suất sinh lợi nội tại của một dự án (K) được tính bằng cách giải phương trình sau:
K
C B
là một giai đoạn có lợi ích ròng luôn luôn dương, thì chỉ có một lời giải duy nhất cho suất sinh lợi nội tại
Mặt khác, nếu ta có một dự án mà biên dạng các lợi ích ròng theo thời gian cắt trục hoành qua mức zero nhiều hơn một lần, ta có thể không xác định được một suất sinh lợi nội tại duy nhất
Ngay cả khi suất sinh lợi nội tại được tính toán một cách rõ ràng cho từng dự
án đang được xem xét, việc sử dụng nó như một tiêu chuẩn quyết định đầu vẫn tư gây ra nhiều khó khăn khi một số dự án đang xét mang tính loại trừ nhau Điều này
có thể xảy ra theo 3 hướng: (i) Các dự án loại trừ nhau nhưng đòi hỏi quy mô đầu
tư khác nhau; (ii) Các dự án loại trừ nhau nhưng có tuổi thọ khác nhau; (iii) Các dự
án loại trừ nhau nhưng chúng thể hiện thời điểm khác nhau của một dự án Khi đó,
suất sinh lợi nội tại có thể dẫn đến những lựa chọn dự án sai lầm
1.5 QUY MÔ VÀ THỜI ĐIỂM TRONG CHỌN LỰA DỰ ÁN
1.5.1 Xác định quy mô trong lựa chọn dự án
Các dự án hiếm khi bị những yếu tố kỹ thuật ràng buộc vào một năng suất hay một qui mô duy nhất Do đó một trong những quyết định quan trọng nhất đối với nhà phân tích dự án là phải chọn qui mô sẽ xây dựng Việc chọn lựa qui mô thường xuyên được xem như một quyết định kỹ thuật thuần túy, bỏ qua các khía cạnh kinh
tế và tài chính của nó Khi các cân nhắc kinh tế bị bỏ qua trong giai đoạn thiết kế, qui mô dự án được xây dựng sẽ không thể là qui mô cho NPV tối đa Tuy nhiên, toàn bộ dự án vẫn phải được thẩm định về mặt kinh tế để bảo đảm có NPV dương
Mục tiêu của chúng ta là chọn qui mô có NPV lớn nhất Nếu hiện giá của (B1 - C1) là dương, thì đó là dự án tốt Tiếp theo, chúng ta cần xét xem hiện giá của (B - C ) có dương hay không Nếu NPV tăng thêm là dương, thì dự án ở qui
mô 2 tốt hơn ở qui mô 1 Qui trình này lập lại cho đến khi đạt được một qui mô mà nếu tăng hơn nữa thì NPV của lợi ích và chi phí tăng thêm tương ứng trở thành âm
Qui mô tối ưu của dự án cũng có thể xác định bằng cách sử dụng suất sinh lợi nội tại (Internal Rate of Return, IRR ), giả thiết rằng mỗi phần đầu tư gia tăng kế tiếp nhau có một nội suất thu hồi vốn riêng Nếu điều kiện này được thỏa, thì qui
mô tối ưu của dự án sẽ là qui mô mà ở đó IRR của lợi ích và chi phí tăng thêm bằng với suất chiết khấu được dùng để tính NPV của dự án IRR đối với phần đầu
Trang 21tư cần phải tăng thêm để thay đổi qui mô dự án sẽ được gọi là nội suất thu hồi vốn biên (MIRR - Marginal Internal Rate of Return) ứng với một qui mô của dự án Mối quan hệ giữa IRR, nội suất thu hồi vốn biên MIRR, và NPV của một dự án được trình bày ở hình 1.5.1
Hình 1.5.1: Mối quan hệ giữa MIRR, IRR và NPV
Nguyên tắc: “Luôn luôn gia tăng qui mô dự án đến khi nội suất thu hồi vốn trên
phần đầu tư tăng thêm cần để tăng qui mô dự án (MIRR) vừa bằng suất chiết khấu dùng để tính toán NPV của dự án”
1.5.2 Thời điểm đầu tư
Một trong những quyết định quan trọng nhất của quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án là xác định thời điểm thích hợp để khởi công dự án Quyết định này đặc biệt trở nên khó khăn đối với những dự án lớn không thể chia nhỏ được chẳng hạn như đầu tư vào cơ sở hạ tầng đường sá, các hệ thống cung cấp điện nước Nếu những dự án này được xây dựng quá sớm thì sẽ có một lượng lớn công suất dư thừa Trong những trường hợp đó, lợi tức bị bỏ qua (lẽ ra đã thu nếu số tiền này được đầu tư nơi khác) có thể lớn hơn giá trị lợiích đạt được trong những năm đầu hiện hữu của dự án Mặt khác, nếu dự án bị hoãn lại quá lâu thì sự khan hiếm hàng hoá và dịch vụ sẽ xảy ra và thiệt hại về lợi ích lẽ ra đã có của dự án sẽ lớn hơn lợi ích tạo ra do số tiền được đầu tư nơi khác
Mỗi khi dự án được thực hiện quá sớm hoặc quá muộn, NPV của nó sẽ thấp hơn những gì có thể đạt được nếu triển khai đúng thời điểm NPV của các dự án này có thể vẫn dương nhưng đó không phải là giá trị tối đa
Việc xác định thời điểm đúng đắn cho dự án đầu tư sẽ phụ thuộc vào cách thức dự báo lợi ích và chi phí tương lai sẽ thay đổi ra sao liên quan đến hiện giá
Trang 22của chúng Có bốn trường hợp tổng quát mà thời điểm của các dự án đầu tư trở thành vấn đề quan trọng, như sau:
(a) Lợi ích của dự án là một hàm số tăng liên tục theo thời gian thực, nhưng không tăng theo tuổi thọ của dự án Chẳng hạn, lợi ích của một con đường tăng do tăng cầu đi lại giữa hai hay nhiều nơi Do đó, ta có thể dự kiến rằng vì dân số và thu nhập gia tăng, nhu cầu sử dụng con đường cũng sẽ tăng theo thời gian
(b) Lợi ích tiềm năng của dự án được xác định bởi thời gian thực chứ không phải tuổi thọ của dự án Thêm vào đó, những lợi ích này được dự kiến sẽ tăng trong thời gian vài năm nhưng sau đó sẽ giảm
(c) Chi phí đầu tư của dự án cũng tùy thuộc vào thời gian thực và do đó dự kiến hoặc tăng hoặc giảm nếu thời điểm khởi công dự án bị trì hoãn
(d) Khi một dự án bị hoãn lại, cả chi phí đầu tư và các hình thức lợi ích mà dự án
tạo ra đều có thể thay đổi
1.6 SỬ DỤNG GIÁ CẢ TRONG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH
1.6.1 Định nghĩa giá cả và chỉ số giá
1.6.1.1 Giá danh nghĩa
Giá danh nghĩa của hàng hóa và dịch vụ là các mức giá mà chúng ta thấy trên thị trường mỗi ngày, và thường được gọi là giá cả hiện hành
- Pt i= giá của hàng hóa hay dịch vụ tại một thời điểm
- W = tỷ trọng ấn định cho giá của một hàng hóa hay dịch vụ i i
∑W i = 1
1.6.1.3 Giá thực
Các giá thực (PtjR) là một tập hợp con đặc biệt của các mức giá tương đối, ở
đó giá danh nghĩa của một mặt hàng được chia cho chỉ số mặt bằng giá tại cùng thời điểm Chúng diễn đạt giá hàng hóa và dịch vụ so với mặt bằng giá chung Điều này được trình bày qua đẳng thức (1.8.3)
Pt iR = P / P Trong đó: t i t I
P = giá danh nghĩa của hàng hóa và dịch vụ tại thời điểm (t) t i
Trang 23Pt I = chỉ số mặt bằng giá tại thời kỳ (t)
1.6.1.4 Giá cố định
Như tên gọi, giá cố định không thay đổi theo thời gian Chúng đơn giản là một tập hợp giá danh nghĩa quan sát được vào một thời điểm, được sử dụng cho mỗi thời kỳ tiếp theo trong thẩm định dự án Trong khi giá danh nghĩa chịu ảnh hưởng bởi những thay đổi trong giá thực cũng như thay đổi trong mặt bằng giá, giá
cố định không phản ánh bất kỳ xung lực kinh tế nào
1.6.1.5 Thay đổi mặt bằng giá (Lạm phát)
Lạm phát được đo bằng sự thay đổi mặt bằng giá chia cho mặt bằng giá đầu
kỳ Mặt bằng giá đầu kỳ trở thành mốc quy chiếu để xác định tỷ lệ lạm phát trong suốt thời kỳ đó Như thế, lạm phát của một thời kỳ có thể biểu diễn như trong phương trình sau:
(1.6.5) gPe L = ((P - Pt L t L−n)/ Pt L−n)*100
Lạm phát khó dự báo hơn rất nhiều so với thay đổi trong giá tương đối, bởi
vì lạm phát chủ yếu được xác định bởi cung tiền trong nền kinh tế so với mức độ hiện diện của hàng hóa và dịch vụ để mua Kế đến, cung tiền thường được xác định bởi qui mô thâm hụt của khu vực công và cách thức tài trợ cho khu vực này Khi các chính quyền phải tài trợ thâm hụt của họ bằng cách vay mượn rất nhiều từ Ngân hàng Trung ương, lạm phát là kết quả sau cùng không thể tránh khỏi
1.6.1.6 Lãi suất danh nghĩa
Đặc điểm quan trọng nhất khi đưa những kỳ vọng về tỉ lệ lạm phát tương lai
( e ) vào thẩm định dự án là phải đảm bảo những kỳ vọng này là nhất quán với
những dự báo về lãi suất danh nghĩa (i) Trong trường hợp không có những thỏa thuận vay nợ với lãi suất danh nghĩa cố định, bên cho vay sẽ tăng lãi suất danh nghĩa trên vốn vay để bù cho những mất mát dự kiến đối với giá trị thực của khoản vay do lạm phát gây ra Khi tỷ lệ lạm phát gia tăng, lãi suất danh nghĩa sẽ được gia tăng để đảm bảo hiện giá của các khoản thanh toán tiền lãi và vốn gốc sẽ không giảm xuống thấp hơn giá trị ban đầu của khoản vay
Lãi suất danh nghĩa (i), như được xác định bởi các thị trường tài chính, được tạo nên bởi 3 thành phần chính: a) lãi suất thực (r) phản ánh giá trị thực về mặt thời gian của tiền tệ mà bên cho vay đòi hỏi phải có để sẵn lòng bỏ qua việc tiêu thụ và các cơ hội đầu tư khác, b) hệ số rủi ro (R) đo lường mức đền bù mà bên cho vay đòi hỏi để đề phòng khả năng vỡ nợ của bên đi vay, và c) thừa số (1+r+R)gP là khoản đền bù cho do tổn thất dự kiến trong sức mua mà nguyên nhân được quy cho lạm phát Tỉ lệ lạm phát kỳ vọng gP làm giảm giá trị tương lai của cả các khoản trả nợ vay lẫn các khoản thanh toán lãi suất thực Kết hợp các yếu tố này, lãi suất danh nghĩa (thị trường) (i) có thể diễn đạt như sau:
e e
(1.6.6) i = r + R + (1 + r + R) gPe
Nhìn chung, lãi suất thực sẽ là một giá trị tương đối cố định bởi vì nó được xác định chủ yếu bởi năng suất của đầu tư và mong muốn tiêu thụ và tiết kiệm trong nền kinh tế Ngoài ra, giá trị của khoản phí rủi ro đối với các ngành và nhà đầu tư khác nhau cũng thường được biết trước Trong điều kiện lãi suất thực, phí
Trang 24đền bù rủi ro và lãi suất danh nghĩa được cho trước, thì tỷ lệ lạm phát kỳ vọng ngầm ẩn trong lãi suất danh nghĩa có thể được ước tính bằng cách biến đổi phương trình ở trên như sau:
(1.6.7) gP = (i- r - R)/(1 + r + R) e
1.6.2 Đưa lạm phát vào phân tích tài chính
Đa số các tài liệu về thẩm định dự án đều đề nghị loại trừ lạm phát khỏi qui trình thẩm định Theo huớng tốt nhất, những phương pháp trước đây chỉ tính đến những thay đổi dự báo về giá tương đối của các yếu tố đầu vào và đầu ra trong tuổi thọ của dự án Tuy nhiên, kinh nghiệm của những dự án gặp phải khó khăn về khả năng thanh toán tài chính và khả năng trả nợ đã chứng minh rằng lạm phát cũng có thể là một yếu tố quan trọng đối với sự thành bại của các dự án Việc thiết kế một cách chính xác dự án để thích ứng được với những thay đổi của giá tương đối lẫn những thay đổi của tỉ lệ lạm phát có thể rất quan trọng đối với sự tồn tại của dự án
dễ để phân tích giá danh nghĩa hay ngân lưu ròng danh nghĩa vì người ta có khuynh hướng bị cuốn vào việc tìm hiểu giá trị của các biến số vốn phản ảnh hai thay đổi: thay đổi giá thực và thay đổi mặt bằng giá chung Phần liệt kê dưới đây là phương pháp đưa lạm phát vào khâu thẩm định tài chính của một dự án một cách thống nhất
Khi chuẩn bị báo cáo ngân lưu, một số biến số nhất định như nợ thuế, yêu cầu tiền mặt, các khoản trả lãi và và nợ vay cần phải được ước tính theo giá hiện hành của năm mà chúng phát sinh Sự xử lý lạm phát một cách chính xác đòi hỏi phải chuẩn bị các bảng biểu sử dụng giá danh nghĩa, sau đó khử lạm phát các báo cáo ngân lưu danh nghĩa để đạt được báo cáo ngân lưu thể hiện giá thực Xây dựng phân tích tài chính theo cách này, chúng ta đảm bảo rằng tất cả những tác động thay đổi giá thực cũng như lạm phát sẽ được phản ảnh một cách nhất quán trong các biến số dự báo
Khi phân tích tài chính được thực hiện theo giá thực, điều thiết yếu là các chi phí cơ hội của vốn tư nhân hay tỉ suất lợi nhuận tài chính được sử dụng làm suất chiết khấu phải được thể hiện theo giá trị ròng, có nghĩa là đã bỏ đi bất kỳ khoản
bù đắp nào cho tỷ lệ lạm phát kỳ vọng Nói cách khác, các suất chiết khấu này phải
là biến số thực chứ không phải danh nghĩa Nếu lãi suất hay tỉ suất lợi nhuận danh
Trang 25nghĩa được sử dụng, sẽ đưa đến kết quả điều chỉnh hai lần cho những thay đổi dự kiến trong mặt bằng giá chung Cách làm như vậy sẽ bóp méo đáng kể các kết quả phân tích liên quan đến tính khả thi về tài chính của dự án
Cần chu ý rằng giá cả tài chính thực đối với các biến số đầu vào và đầu ra được hình thành ở trên được sử dụng như là cơ sở để ước tính các giá trị kinh tế của lợi ích và chi phí dự án Một khi các chi phí và lợi ích kinh tế này đã được ước tính, ta sẽ xây dựng một báo cáo lưu chuyển nguồn lực kinh tế (economic resource flow statement) Cấu trúc của báo cáo này phải tương tự như cấu trúc của báo cáo ngân lưu tài chính Cuối cùng, chênh lệch giữa hai báo cáo này sẽ được phân tích
để xác định những tác động phân phối của dự án đang xem xét
1.7 PHÂN TÍCH RỦI RO
Các khoản lợi nhuận của dự án rải ra theo thời gian Mỗi biến số có ảnh hưởng tới hiện giá thuần ( NPV ) đều có mức độ không chắc chắn cao Việc thu nhập thông tin và số liệu cần thiết cho các dự báo chính xác đều rất tốn kém Cần giảm bớt xu hướng thực hiện một dự án “tồi” trong khi không bác bỏ một dự án “tốt”
Do đó việc xảy ra các rủi ro cho dự án là khó tránh khỏi, vì vậy chúng ta phải tìm cách để có thể xác định, phân tích và giải thích tính biến đổi dự kiến của kết quả dự
án
1.7.1 Phân tích độ nhạy
- Kiểm tra độ nhạy của kết quả của dự án ( hiện giá thuần NPV ) theo biến động của từng thông số một
- Phân tích “ cái gì sẽ xảy ra nếu như “
- Cho phép kiểm tra xem thông số nào là quan trọng
- Một biến số được coi là quan trọng phụ thuộc vào :
a/ Tỉ lệ của nó trong tổng lợi ích hoặc chi phí
* Những ghi chú đáng lưu ý trong việc phân tích độ nhạy
1 Phạm vi và phân phối xác suất của các biến số
- Phân tích độ nhạy không đại diện cho dãy các giá trị có khả năng
- Phân tích độ nhạy không đại diện cho các xác suất cho mỗi phạm vi Nhìn chung xác suất nằm ở các cực là nhỏ
2 Hướng của những tác động
Đối với phần lớn các biến số , hướng tác động có thể nhận thấy
Trang 26a/ Thu nhập tăng hiện giá thuần tăng
b/ Chi phí tăng hiện giá thuần giảm
c/ Lạm phát không rõ ràng lắm
3 Kiểm tra theo từng biến số là không thực tế
Kiểm tra theo từng biến số là không thực tế bởi mối quan hệ qua lại giữa các biến số
a/ Nếu lượng bán ra Q tăng , chi phí cũng sẽ tăng
* Lợi nhuận = Q (P – UC )
b/ Nếu lạm phát thay đổi , toàn bộ giá cả thay đổi
c/ Nếu tỉ giá hối đoái thay đổi , giá cả của tất cả hàng hóa ngoại thương và nợ nước ngoài tăng
Một phương pháp xử lý những tác động hỗn hợp hoặc tương quan này là phương pháp phân tích các trường hợp
1.7.2 Phân tích các tình huống
Việc phân tích các tình huống dựa trên nhận thức rằng các biến số nhất định
có quan hệ qua lại với nhau Do vậy , một số ít các biến số có thể thay đổi theo một kiểu nhất định tại cùng một thời điểm
- Đâu là tập hợp các điều kiện có xu hướng kết hợp nhằm tạo ra những “tình huống “ khác nhau ?
a/ Trường hợp xấu nhất / bi quan nhất
b/ Trường hợp dự kiến / trường hợp dự tính tốt nhất
c/ Trường hợp tốt nhất / trường hợp lạc quan nhất
Chú ý : Phân tính tình huống trường hợp không tính tới xác suất của những tình huống xuất hiện
- Việc giải thích trở nên đơn giản khi có các kết quả rõ ràng dứt khoát :
a/ Chấp nhận dự án khi hiện giá thuần ( NPV ) > 0 ngay cả trong trường hợp xấu nhất
b/ Từ bỏ dự án nếu NPV < 0 ngay cả trong trường hợp tốt nhất
c/ Nếu NPV đôi lúc dương , đôi lúc âm , thì kết qủa không rõ ràng
1.7.3 Phương pháp phân tích rủi ro Monte Carlo
- Việc triển khai mở rộng tự nhiên của phân tích độ nhạy và phân tích các tình huống
- Cùng một lúc tính tới các phân phối xác suất và các phạm vi khác nhau của các giá trị có thể của các biến số quan trọng trong dự án
- Cho phép phân tích sự tương quan giữa các biến số
Trang 27- Tạo ra một phạm vi phân phối xác suất các kết quả của dự án thay cho việc tính toán chỉ một giá trị
- Phân phối xác suất các kết quả dự án có thể giúp cho những người ra quyết định thực hiện việc lựa chọn, nhưng nó cũng có thể là những vấn đề về giải thích
và sử dụng
Các bước xây dựng mô phỏng tính toán Monte Carlo
1.Mô hình tính toán : Chương trình bảng kê ( Spreadsheet ) dùng để đánh giá
dự án
2 Xác định các biến số nhạy cảm và không chắc chắn
3 Định nghĩa về tính không chắc chắn
- Lập ra một phạm vi các phương án lựa chọn ( Tối thiểu và tối đa )
- Phân bổ phân phối xác suất
• Phân phối chuẩn (normal )
• Phân phối tam giác (triangular )
• Phân phối đều ( uniform )
• Phân phối bậc thang (step )
4 Xác định và định nghĩa các biến số tương quan
- Tương quan dương và âm (đồng biến hoặc nghịch biến)
Trang 28Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC THẨM
ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI TỈNH BÌNH THUẬN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH BÌNH THUẬN
2.1.1 Vị trí địa lý
Bình Thuận là tỉnh thuộc vùng kinh tế miền Đông Nam Bộ, có mối liên hệ chặt chẽ với vùng Đông Nam Bộ và nằm trong khu vực ảnh hưởng của khu Kinh tế trọng điểm phía Nam Phía Bắc giáp Lâm Đồng và Ninh Thuận, phía Tây giáp Tỉnh Đồng Nai, Tây Nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu, Đông và Đông Nam giáp biển Đông với đường bờ biển dài 192 km Ngoài khơi có đảo Phú Qúy cách thành phố Phan Thiết 120 km
Tỉnh nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km, cách Thành phố Nha Trang
250 km, có quốc lộ I, đường sắt Thống nhất chạy qua nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước; quốc lộ 28 nối liền thành phố Phan Thiết với các tỉnh Nam Tây Nguyên; quốc lộ 55 nối liền với trung tâm dịch vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu
Với vị trí địa lý như trên, bên cạnh mối quan hệ kinh tế truyền thống với địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Thuận sẽ có điều kiện mở rộng mối quan
hệ giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh Tây nguyên và cả nước Sức hút của các thành phố và trung tâm phát triển như thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Nha Trang tạo điều kiện cho tỉnh đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, tiếp thu nhanh khoa học
kỹ thuật Đồng thời cũng là một thách thức lớn đặt ra cho Bình Thuận phải phát triển nhanh nền kinh tế nhất là những lĩnh vực, những sản phẩm đặc thù để mở rộng liên kết, không bị tụt hậu so với khu vực và cả nước
* Địa hình:
Đại bộ phận lãnh thổ là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp Địa hình hẹp ngang, kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, phân hoá thành 4 dạng địa hình sau:
- Đồi cát và cồn cát ven biển chiếm 18,22% diện tích tự nhiên phân bố dọc ven biển từ Tuy Phong đến Hàm Tân; rộng lớn nhất là ở Bắc Bình: dài khoảng 52
km, rộng 20 km Địa hình chủ yếu là những đồi lượn sóng
Trang 29- Đồng bằng phù sa chiếm 9,43% diện tích tự nhiên, gồm: Đồng bằng phù sa ven biển ở các lưu vực từ sông Lòng Sông đến sông Dinh nhỏ hẹp độ cao từ 0-12m Đồng bằng thung lũng sông La Ngà, độ cao từ 90 - 120 m
- Vùng đồi gò chiếm 31,66% diện tích, độ cao 30 - 50 m kéo dài theo hướng Đông Bắc Tây Nam từ Tuy Phong đến Đức Linh
- Vùng núi thấp chiếm 40,7% diện tích Đây là những dãy núi của khối Trường Sơn chạy theo hướng Đông Bắc -Tây Nam từ phía bắc huyện Bắc Bình đến Đông Bắc huyện Đức Linh
Đặc điểm địa hình trên tạo điều kiện cho tỉnh phát triển kinh tế đa dạng
2.1.2 Nguồn tài nguyên
2.1.2.1 Tài nguyên biển:
Bình Thuận có chiều dài bờ biển 192km, ngoài khơi có đảo Phú Quý cách Phan Thiết 120 km, diện tích vùng lãnh hải 52.000km2 là một trong những vùng biển giàu nguồn lợi về các loại hải sản; nhiều tiềm năng để phát triển diêm nghiệp,
du lịch và khai thác khoáng sản biển
Tổng trữ lượng cá vùng biển ven bờ của Bình Thuận 220-240 nghìn tấn, khả năng khai thác 100-120 nghìn tấn/năm, trong đó 60% cá nổi tập trung ở 3 ngư trường Phan Thiết, Hàm Tân và đảo Phú Quý; sản lượng mực 10.000-20.000 tấn;
sò, điệp trữ lượng 50.000 tấn, khả năng khai thác hàng năm 25 - 30 nghìn tấn, tập trung ở các bãi Lai Khế, Hòn Rơm, Cù Lao Câu, Phan Rí cửa
Bình Thuận có các bãi biển cát trắng mịn như Phan Thiết - Mũi Né, Đồi Dương (Hàm Tân), Mũi điện - Kê gà (Hàm Thuận Nam) có bãi biển nằm cạnh sườn núi với bờ đá nhấp nhô như Vĩnh Hảo, Bình Thạnh (Tuy Phong) có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển
Ngoài ra thềm lục địa Bình Thuận có các mỏ dầu khí đang hoạt động Hiện nay, dầu khí đang được xem là thế mạnh kinh tế mới của Bình Thuận với nhiều mỏ dầu trữ lượng lớn đã được phát hiện cách đất liền 60km trong đó có 3 mỏ đang khai thác là Ruby, Sư Tử Đen và Rạng Đông, hai mỏ chuẩn bị khai thác là Sư Tử Trắng
và Sư Tử Vàng, một mỏ mới được phát hiện là mỏ Sư Tử Nâu Phát triển công nghiệp dầu-khí tại Bình Thuận đang được Chính Phủ và các bộ, ngành Trung Ương quan tâm
Trang 30hộ - kết hợp trồng cây ăn quả và các loại hoa màu như dưa hạt, đậu các loại Trên đất mặn có thể làm muối hoặc nuôi tôm nước lợ
- Đất phù sa với diện tích 75.400 ha (9,43% diện tích tự nhiên) phân bố ở các đồng bằng ven biển và vùng thung lũng sông La Ngà Hầu hết diện tích đất này đã được khai thác đưa vào trồng lúa nước, hoa mầu, cây ăn quả
- Đất xám có diện tích 151.000 ha (18,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết trên địa bàn các huyện Khả năng sử dụng loại đất này vào nông lâm nghiệp và mặt bằng công nghiệp còn lớn Trong đó 85% diện tích có thể phát triển cây điều, cao su, cây ăn quả và các loại cây có giá trị kinh tế cao
- Diện tích còn lại chủ yếu là tổ hợp đất đồi núi, đất đỏ vàng, đất nâu vùng bán khô hạn Trên các loại đất này có thể sử dụng vào các mục đích nông lâm nghiệp
Đến năm 2000, đã đưa vào sử dụng nông nghiệp khoảng 169.165 ha (21,53% diện tích), sử dụng lâm nghiệp 408.663 ha (52,07% diện tích); đất thổ cư, chuyên dùng 22,6 nghìn ha (2,8% diện tích) Diện tích đất chưa sử dụng 126.918 ha (16,15% diện tích); trong đó đất có khả năng mở rộng để phát triển nông nghiệp thời kỳ 2001 - 2010 khoảng 63.000 ha
2.1.2.3 Tài nguyên rừng:
Kết quả kiểm kê hiện trạng rừng năm 1999, diện tích đất có rừng của tỉnh là 368.319 ha (năm 1992 là 391.815 ha - giảm 23.496 ha), trữ lượng gỗ 19,508 triệu m3 gỗ (giảm 4,47 triệu m3) và 95,6 triệu cây tre nứa (tăng 70 triệu cây)
Diện tích rừng tự nhiên hiện có 344.385 ha, giảm 37.084 ha so với năm 1992 (381.469 ha) Đây là xu thế xấu do quá trình khai thác quá mức làm cho chất lượng tài nguyên rừng giảm sút
2.1.2.4 Tài nguyên nước và thủy điện:
Bình Thuận có 7 lưu vực sông chính là: sông Lòng Sông, sông Lũy, sông Cái Phan Thiết, sông Cà Ty, sông Phan, sông Dinh và sông La Ngà Tổng diện tích lưu
Trang 31vực 9.880 km2 với chiều dài sông suối 663 km Nguồn nước mặt hàng năm của tỉnh khoảng 5,4 tỉ m3 nước trong đó lượng dòng chảy bên ngoài đưa đến 1,25 tỉ m3, riêng sông La Ngà chiếm 2,1 tỉ m3 Nguồn nước phân bố mất cân đối theo không gian và thời gian Lưu vực sông La Ngà thừa nước thường bị ngập úng nhưng vùng Tuy Phong, Bắc Bình, ven biển (lưu vực sông Phan, Sông Dinh), thiếu nước trầm trọng, có những nơi như vùng Tuy Phong, Bắc Bình, dấu hiệu báo động tình trạng hoang mạc hoá đã xuất hiện
- Nguồn nước ngầm ít, bị nhiễm mặn, phèn; rất ít có khả năng phục vụ nhu cầu sản xuất, chỉ đáp ứng được phần nhỏ cho sinh hoạt và sản xuất trên một số vùng nhỏ thuộc Phan Thiết và đồng bằng sông La Ngà
- Nguồn thủy năng khá lớn, tổng trữ năng lý thuyết khoảng 450.000 KW, tập trung chủ yếu trên sông La Ngà Riêng 4 bậc thủy điện La Ngà với công suất lắp máy 417.000 KW, sản lượng điện dự kiến khai thác 1,8 tỷ KWh Khả năng khai thác nguồn thủy năng trên các lưu vực từ sông Dinh đến sông Lòng Sông rất nhỏ, chủ yếu là các công trình thủy điện nhỏ (tổng cộng có 15 công trình) với công suất lắp máy 1.900KW
2.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản:
Bình Thuận có nhiều tích tụ khoáng sản đa dạng về chủng loại: vàng, wolfram, chì, kẽm, nước khoáng và các phi khoáng khác Trong đó, có giá trị thương mại và công nghiệp là nước khoáng, sét, đá xây dựng
- Nước khoáng: có nhiều điểm nước khoáng như Vĩnh Hảo (Tuy Phong), Đa Kai (Đức Linh), Đồng Kho (Tánh Linh) Văn Lâm, Hàm Cường, Tà kóu (Hàm Thuận Nam), Phong Điền (Hàm Tân)
- Trữ lượng sa khoáng Ilmenit 1,08 triệu tấn, Zicon 193 nghìn tấn, đi cùng với Zicon còn có nhiều Monazit và đất hiếm Hàm lượng TiO2 43- 45%, hàm lượng ZrO2 48, 6 - 59, 5%
Sa khoáng Ilmenit - Zicon phân bố ở mũi Kê Gà (Hàm Thuận Nam), mũi
Né (Phan Thiết), Tân Thiện (Hàm Tân), Thiện Ái (Bắc Bình) Nguồn khoáng sản lớn nhất của Bình Thuận là cát trắng thủy tinh với tổng trữ lượng 496 triệu m3 cấp P2, hàm lượng SiO2 97- 99%, phân bố ở Dinh Thầy, Tân An, Tân Thắng (Hàm Tân), Cây Táo, Long Thịnh, Hồng Sơn (Hàm Thuận Nam), Nhơn Thành, Phan Rí
và Phan Rí Thành (Bắc Bình)
Khoáng vật liệu xây dựng có cát kết vôi 3,9 triệu m3 cấp P2 phân bố ở Vĩnh Hảo và Phước Thể (Tuy Phong), đá vôi san hô (Tuy Phong) Sét gạch ngói
Trang 32phân bố ở nhiều nơi (Hàm Thuận Nam, Đức linh, Tánh Linh, Bắc Bình) Đá xây dựng và trang trí ở Tà Kóu (Hàm Thuận Nam) trữ lượng 45 triệu m3, Núi Nhọn
(Hàm Tân) trữ lượng cấp P là 30 triệu m3
2.1.3 Dân số và nguồn nhân lực:
2.1.3.1 Dân số:
Qua 10 năm từ 1989 đến 1999, dân số Bình Thuận có sự phát triển khá nhanh, tăng 1,55 lần và tốc độ tăng bình quân hàng năm là 2,99% (bình quân cả nước 1,72%), đứng hàng thứ 6 trên 61 tỉnh, thành phố
Bên cạnh việc tăng dân số của Bình Thuận như trên, cũng trong thời gian qua công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh và đạt được những kết quả khá tích cực: Nếu thời kỳ 1992-1995 tỷ lệ sinh 3,18%, tỷ lệ chết 0,41%, tỷ lệ phát triển dân số bình quân 2,77%; bước sang thời kỳ 1996-2000: tỷ lệ sinh 2,61%,
tỷ lệ chết 0,41%, tỷ lệ tăng dân số bình quân 2,18% - đến năm 2000 tỷ lệ phát triển dân số còn 2,04% Như vậy tỷ lệ tăng dân số của Bình Thuận vẫn còn khá cao
2.1.3.2 Cơ cấu và chất lượng dân số:
- Nhìn chung dân số của tỉnh có cơ cấu trẻ, sự biến động cơ cấu tuổi có xu hướng ngày càng hợp lý, tỷ lệ dân số phụ thuộc giảm dần từ 0,96% năm 1992 xuống còn 0,94% năm 1999 và 0,93% năm 2000 Tuy nhiên nếu so với vùng Đông Nam Bộ và cả nước thì tỷ lệ dân số phụ thuộc cao hơn và tỷ lệ dân số trong tuổi lao động lại thấp hơn (năm 1995 tỷ lệ dân số phụ thuộc vùng Đông Nam Bộ là 0,74 và
cả nước là 0,8; tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tương ứng là 55,6% và 55,1%) Đây là một thuận lợi về nguồn nhân lực cho thời kỳ quy hoạch tới, song cũng gây những khó khăn trong việc xóa đói giảm nghèo, giáo dục đào tạo và các vấn đề xã hội khác
- Cơ cấu giới tính: năm 1992 dân số nữ của tỉnh chiếm 51,69%; năm 1995
là 51,61%; năm 1999 là 50,64% Như vậy cơ cấu giới tính của tỉnh đã tiến dần và đạt sự cân bằng và hợp lý hơn so cơ cấu giới tính trung bình của vùng Đông Nam
Bộ và cả nước
- Cơ cấu dân tộc và cơ cấu thành thị, nông thôn: Kết quả điều tra dân số 1/4/1999 toàn tỉnh có 37 dân tộc, trong đó: Kinh 93,04%, Chăm 2,84%; Racglay 1,21%, Hoa 1,07%, còn lại 1,84% là 33 dân tộc khác Về cơ cấu dân số thành thị và nông thôn thời kỳ 1992-1999 nhìn chung không thay đổi: dân số thành thị từ 23,4% (1992) tăng lên 23,51% (1999), dân số nông thôn 76,6% (1992) giảm xuống còn 76,49% (1999) Mật độ dân số năm 1999 là 132 người /km2, trong đó cao nhất
Trang 33là huyện đảo Phú quý (1.310 người/km2) và Phan Thiết (924 người/km2), thấp nhất
là huyện Bắc bình (60 người /km2) So vùng Đông Nam Bộ cơ cấu xã hội của dân
số còn nặng sắc thái nông nghiệp nông thôn và mật độ dân số còn mức thấp
2.1.3.3 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực
Tổng nguồn lao động năm 2000 là 456.745 người tỷ lệ 42,8% dân số, trình
độ học vấn trong lực lượng lao động của tỉnh đang có xu hướng nâng lên và có khả năng tăng nhanh trong các năm sau Tuy nhiên thực trạng vẫn còn thấp, năm 1999
cơ cấu trình độ văn hóa trong lực lượng lao động của tỉnh: chưa biết chữ: 8,32%; tốt nghiệp cấp I: 41,05%; tốt nghiệp cấp II: 17,27%; tốt nghiệp cấp III: 6,89%
- Về trình độ kỹ thuật chuyên môn: Năm 1999, số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật so số lao động đang làm việc của tỉnh chiếm 5,0%, trong đó đại học và trên đại học 0,87%; cao đẳng 0,45%; công nhân kỹ thuật 1,49%; trung học chuyên nghiệp 2,19% Thực trạng cơ cấu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật của tỉnh còn thấp, cơ cấu các loại lao động kỹ thuật không hợp lý thể hiện qua
tỷ lệ đại học/trung học chuyên nghiệp/ công nhân kỹ thuật: 1/1,67/1,14 Tình trạng này đã và sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Vì vậy, để nâng cao chất lượng lực lượng lao động với một cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế- xã hội của tỉnh, trong định hướng quy hoạch tới cần chú ý cơ cấu lại hệ thống giáo dục và đào tạo để nâng cao trình độ kỹ thuật chuyên môn và có một cơ cấu hợp lý
2.1.4 Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
Giao thông vận tải: Đường bộ: nằm trên trục giao thông trọng yếu Bắc
-Nam Quốc lộ 1A xuyên Việt đã nâng cấp mở rộng hoàn chỉnh từ đầu năm 2000 Quốc lộ 55 đi Bà Rịa-Vũng Tàu và Quốc lộ 28 Phan Thiết đi Di Linh đang được nâng cấp, mở rộng và hoàn chỉnh vào năm 2001 Các tuyến đường đến các trung tâm huyện, xã, vùng núi và các vùng kinh tế quan trọng khác cũng đang được chính quyền địa phương huy động các nguồn vốn để đầu tư đảm bảo cho sản xuất, lưu thông hàng hóa và đi lại của nhân dân Đường sắt: Bắc – Nam qua tỉnh với chiều dài 190 km và 11 nhà ga Đường biển: là một tỉnh duyên hải có vùng biển rộng, bờ biển dài 192 km, có hải đảo và nằm cạnh đường hàng hải quốc tế Hiện tại cảng biển Phú Quí đã xây dựng xong, tiếp nhận tàu 10.000 tấn ra vào, cảng Phan Thiết đang được xây dựng tiếp nhận tàu 2.000 tấn
- Thông tin liên lạc: hệ thống đã được hiện đại, được nối mạng với hệ thống
thông tin quốc gia và quốc tế Các dịch vụ điện thoại di động, internet được sử dụng rộng rải, đảm bảo các yêu cầu của khách hàng
Trang 34- Điện năng: Nguồn điện có khả năng đáp ứng phần lớn nhu cầu về điện
Nguồn điện nhận từ: Nhà máy thủy điện Đa Nhim qua đường dây 110 KV Phan Rang – Phan Thiết, Nhà máy thủy điện Hàm Thuận-Đa Mi qua đường dây 110 KV Hàm Thuận – Phan Thiết, Nhà máy điện Bà Rịa qua đường dây 110KV Xuyên Mộc – Hàm Tân – Phan Thiết Hệ thống lưới điện tỉnh Bình Thuận cũng đang được nâng cấp cải tạo, đáp ứng đủ các nhu cầu khu dân cư và các khu công nghiệp trong tỉnh
- Nước: nhà máy nước Phan Thiết có công suất 25.000 m3/ngày đêm, hiện đang nâng cấp và mở rộng hệ thống đường ống bằng nguồn vốn ADB, đảm bảo đáp ứng đủ các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất Tại các huyện đều có trạm cấp nước quy
mô nhỏ 500-2000 m3/ngày đêm, và các trạm nước sạch nông thôn tại các xã và thị trấn
- Hệ thống dịch vụ khác: hệ thống ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục, khám chữa bệnh, dịch vụ pháp lý, công chứng nhà nước, nhà đất, xây dựng, vận tải, dịch thuật, dạy nghề, giới thiệu việc làm… đang phát triển đáp ứng hầu hết các nhu cầu của nhân dân
Tóm lại, trong thời gian qua Bình Thuận đã sẵn sàng và tham gia tốt tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Bình thuận phát triển khá, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 12%, trong đó lĩnh vực nông-lâm-thủy sản tăng 6-7%, công nghiệp-xây dựng tăng 14-16%, dịch vụ tăng 13-15% Trong giai đoạn 2000-2005, tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh tương đối ổn định, kinh tế tiếp tục duy trì và phát triển với tốc độ khá, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của một
số lĩnh vực và sản phẩm có chuyển biến Giá trị sản xuất của các ngành tăng nhanh
Cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát huy được lợi thế từng vùng, từng ngành, từng sản phẩm Kinh tế đối ngoại được mở rộng, chủ động hòa nhập kinh tế quốc tế tuy rằng chưa đạt như mong muốn Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được đầu tư có phát huy hiệu quả Các mặt xã hội đều được cải thiện, đời sống nhân dân đã được nâng lên
Bên cạnh những thành tích đạt được thì vẫn còn tồn tại, trong đó vấn đề đầu tư
là một trong những nguyên nhân chính: chưa khai thác tốt mọi tiềm năng để phát triển kinh tế, đầu tư chưa tập trung cho các công trình trọng điểm, các nhiệm vụ trọng tâm Công tác quản lý đầu tư chưa chặt chẽ, môi trường đầu tư chưa thật sự hấp dẫn, một số vướng mắc trong khâu chuẩn bị đầu tư chậm được tháo gỡ, hạ tầng
kỹ thuật và dịch vụ còn yếu kém, chưa đồng bộ Đặc biệt là khâu thẩm định dự án đầu tư chưa tốt, dẫn đến đã phê duyệt một số dự án kém hiệu quả gây thiệt hại cho nền kinh tế tỉnh nhà, thí dụ như Nhà máy đường …
Trang 352.2 THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ TẠI TỈNH BÌNH THUẬN
2.2.1 Khái quát về đầu tư tại tỉnh Bình Thuận từ năm 2001 đến 2005
Trong giai đọan 2001 - 2005, lĩnh vực đầu tư phát triển ở tỉnh đã có những
2
TH 2003
BQ thời
kỳ 2001-
2005 (%)
1 Tổng đầu tư toàn xã hội Tỷ đồng 1.086 1.406 1.600 2.425 3.389 9.906
a Vốn đầu tư trong nước:
Tỷ đồng
Qua bảng cho thấy, trong 5 năm qua tổng đầu tư toàn tỉnh là 9.906 tỷ đồng,
trong đó vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh không đáng kể 257 tỷ đồng chiếm
không quá 3%, chủ yếu vốn trong nước, toàn tỉnh đã huy động được 9.649 tỷ đồng
Trong đó vốn đầu tư NSNN là 2.956 tỷ đồng chiếm 30% tổng đầu tư toàn xã hội,
năm 2002-2005 có xu hướng tăng dần từ 21% lên 35% Vốn tín dụng đầu tư phát
triển nhà nước là 884 tỷ đồng chiếm 9% tổng đầu tư toàn xã hội, xu hướng ngược
với vốn đầu tư NSNN Vốn đầu tư doanh nghiệp nhà nước quá nhỏ, năm 2001 là
Trang 369% nhưng các năm sau đó không tới 1%; trong khi đó đầu tư dân cư và ngoài doanh nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất 5.694 tỷ đồng đạt 57% tổng đầu
tư toàn xã hội
• Đầu tư theo lĩnh vực ngành kinh tế: Trong 5 năm (2001-2005) vốn đầu tư
phát triển tỉnh Bình Thuận như sau:
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2001-2005 của UBND tỉnh)
Qua bảng cho thấy, lượng vốn đầu tư phát triển (phân theo ngành) của tỉnh Bình Thuận tăng đều qua các năm Năm 2005 tổng vốn đầu tư tăng mạnh nhất cả
về số tương đối và tuyệt đối, tăng 1.174 tỉ đồng tức tăng 50% so với năm 2004, năm 2003 tốc độ tăng chậm nhất 14% so với năm 2002, còn các năm còn lại tốc độ tăng tương đối khá từ 30%-45% so với năm trước, trong những năm này tỉnh có tốc
độ tăng trưởng cao do tỉnh đã thu hút đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, khu du lịch đi vào hoạt động Lượng vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp-xây dựng, dịch vụ du lịch và kết cấu hạ tầng kỹ thuật Trong đó lĩnh vực công nghiệp được chú trọng nhất, vốn tập trung nhiều do tỉnh định hướng chuyển dịch theo hướng công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp Tỷ trọng vốn đầu tư cho nông lâm thủy sản có xu hướng giảm dần từ năm 2003, với năm 2003 là 18% thì năm 2005 là 15% do tỉnh đã có biện pháp thích hợp để giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
Trang 372.2.2 Phân tích cụ thể các dự án đầu tư tại Bình Thuận năm 2004
2.2.2.1 Tiếp nhận và xử lý các hồ sơ dự án:
Trong năm 2004, Sở Kế họach và Đầu tư đã tiếp nhận 518 hồ sơ dự án cộng
100 hồ sơ chuyển tiếp từ năm 2003, tổng tiếp nhận mới và chuyển tiếp là 618 hồ
sơ dự án Trong đó:
+ Du lịch: 83 hồ sơ dự án: chờ qui hoạch (43 hồ sơ), thông báo cho chủ đầu tư lập và chỉnh sửa dự án (16 dự án), lấy ý kiến các ngành (2 dự án), trình UBND Tỉnh (5 hồ sơ đơn, dự án) và các vấn đề khác 17 hồ sơ
+ Nuôi trồng thủy sản: 08 hồ sơ đơn, dự án Trong đó, chờ quy hoạch (4 dự án), thông báo cho chủ đầu tư chỉnh sửa dự án (03 dự án) và các vấn đề khác 01 hồ
sơ
+ Nông lâm nghiệp: 19 hồ sơ dự án Trong đó, chờ quy hoạch (01 hồ sơ), thông báo cho chủ đầu tư lập và chỉnh sửa dự án (14 dự án), đang lấy ý kiến các ngành (2 dự án), và đang trình UBND tỉnh (02 dự án)
+ Công nghiệp: 14 hồ sơ dự án Trong đó chưa khảo sát (01 hồ sơ), chờ quy hoạch (05 hồ sơ), thông báo cho chủ đầu tư lập và chỉnh sửa dự án (04 dự án), đang lấy ý kiến các ngành (1 dự án), đang trình UBND tỉnh (02 dự án) và các vấn đề khác 01 dự án
+ Thương mại - dịch vụ (xăng dầu): 28 hồ sơ dự án Trong đó chưa khảo sát (02 hồ sơ) chờ quy hoạch (08 hồ sơ), thông báo cho chủ đầu tư lập và chỉnh sửa dự
án (07 dự án), đang lấy ý kiến các ngành (04 dự án), đang trình UBND tỉnh (03 dự án) và các vấn đề khác (04 dự án)
2.2.2.2 Về chấp thuận dự án đầu tư:
Trong năm 2004, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã tiếp nhận, xem xét trình UBND tỉnh chấp thuận đầu tư cho 184 dự án (có biểu kèm theo), tăng 61% so với năm
2003 (184/114), tổng diện tích đất đăng ký là 6.968 ha, tổng vốn đăng ký đầu tư là 5.575 tỷ đồng tăng 3 lần so với năm 2003 (5.596/1.852) Trong đó, du lịch là 125
dự án, nuôi trồng thủy sản là 08 dự án, nông lâm nghiệp là 13 dự án, khu dân cư, công trình cơ sở hạ tầng là 03 dự án, công nghiệp là 11 dự án, thương mại - dịch vụ
(xăng dầu) là 24 dự án, cụ thể như sau:
a Dự án du lịch:
Số lượng dự án du lịch được chấp thuận đầu tư là 125 dự án tăng gấp đôi so với năm 2003 (125/59), tổng diện tích đất 1.317 ha, vốn đăng ký 4.899 tỷ đồng
Trang 38(trong đó có 05 dự án đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư là 928 tỷ đồng) tăng gần 3 lần
so với năm 2003 (4.899/1.325);
b Dự án nuôi trồng thủy sản:
Số lượng dự án nuôi trồng thủy sản được chấp thuận đầu tư là 08 dự án thấp hơn 01 dự án so với năm 2003 (8/9), tổng diện tích đất 62 ha, vốn đăng ký 53 tỷ đồng (trong đó có 01 dự án đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư là 17,3 tỷ đồng) bằng 46% so với năm 2003 (53/116);
c Dự án nông lâm nghiệp:
Số lượng dự án được chấp thuận đầu tư là 13 dự án, không thay đổi so với năm 2003 (13/13), tổng diện tích đất 5.490 ha, vốn đăng ký 216 tỷ đồng tăng gần
4 lần so với năm 2003 (216/56);
d Dự án công nghiệp:
Số lượng dự án được chấp thuận đầu tư là 11 dự án, đạt 68,8% so với năm
2003 (11/16), tổng diện tích 13 ha, vốn đăng ký 29 tỷ đồng bằng 54,7% so với năm
2003 (29/53);
e Thương mại - dịch vụ:
Số lượng dự án được chấp thuận đầu tư là 24 dự án, tăng 6 lần so với cùng kỳ (24/4), tổng diện tích 09 ha, vốn đăng ký 40 tỷ đồng, tăng 13 lần so với năm 2003 (40/2,9);
f Dự án khu dân cư:
Số lượng dự án được chấp thuận đầu tư là 03 dự án bằng 42,9% so với cùng
kỳ (3/7), tổng diện tích 77 ha, vốn đăng ký 338 tỷ đồng, tăng gần 1,2 lần so với cùng kỳ (338/299);
* Nhìn chung kết quả thu hút đầu tư trong năm 2004 có nhiều chuyển biến tích cực; thể hiện qua một số dự án được chấp thuận đầu tư trong năm có quy mô lớn, loại hình dịch vụ đa dạng
- Lĩnh vực du lịch có dự án của Công ty Shasi Development (600 ha) tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình; dự án Khu vui chơi giải trí Hố Lỡ của Công ty Đại Thành Quang (86 ha) tại xã Tiến Thành, Thành phố Phan Thiết; dự án Khu du lịch Tân Thắng của Công ty cổ phần Dịch vụ thương mại Đại Cát Hoàng Long (64 ha) tại xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân
Trang 39- Lĩnh vực nông lâm thủy sản có: dự án nông lâm kết hợp Thành Bưởi tại xã Hồng Phong, huyện Bắc Bình (2.120 ha), dự án trồng rừng của doanh nghiệp tư nhân Tân Cẩm Xương tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình (230 ha), dự án trồng rừng của Công ty Lâm nghiệp tại xã La Dạ, huyện Hàm Thuận Bắc (1.512 ha)
2.2.2.3 Kết quả thu hút đầu tư đến nay ( 2000 – 2004 )
Tổng số dự án được chấp thuận đầu tư còn hiệu lực đến cuối năm 2004 là 631
dự án, tổng diện tích đất đăng ký là 46.509 ha, tổng vốn đăng ký đầu tư là 10.913,8
tỷ đồng; Trong đó:
a Phân theo lĩnh vực đầu tư:
+ Du lịch: 362 dự án, tổng diện tích đất 2.538 ha, vốn đăng ký đầu tư 8.470
b Phân theo nguồn vốn:
+ Vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong nước: 595 dự án, tổng diện tích đất đăng ký là 46.285 ha, tổng vốn đăng ký đầu tư là 8.294 tỷ đồng
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài: 35 dự án (có 05 dự án đầu tư trong khu công nghiệp); tổng diện tích đất đăng ký là 224 ha, tổng vốn đăng ký đầu tư là 2.619 tỷ đồng Trong năm 2004, đã trình UBND Tỉnh xem xét cấp 06 Giấy phép đầu tư, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 62,61 triệu USD Ngoài ra, còn tham mưu điều chỉnh Giấy phép đầu tư tăng vốn cho 03 doanh nghiệp với mức 1,95 triệu USD
Như vậy, tổng số vốn đăng ký đầu tư mới và vốn bổ sung trong năm 2004 là
64,56 triệu USD tăng 3,7 lần so với cùng kỳ năm 2003 (64,56/17,35)
Trang 402.2.2.4 Tình hình triển khai dự án sau chấp thuận đầu tư:
a Số dự án đã đi vào hoạt động kinh doanh là 235 dự án (bao gồm cả 22 dự
án vừa xây dựng vừa kinh doanh), cụ thể:
+ Số dự án đã đi vào hoạt động kinh doanh là 235 dự án, trong đó:
- Lĩnh vực du lịch 80 dự án
- Lĩnh vực nông lâm thủy sản 74 dự án
- Lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ thương mại 81 dự án
+ Số dự án đang xây dựng là 95 dự án (bao gồm cả 26 dự án đang san ủi mặt bằng, trồng cây), trong đó:
- Lĩnh vực du lịch 68 dự án (bao gồm cả 17 dự án đang san ủi trồng cây)
- Lĩnh vực nông lâm thủy sản 13 dự án (bao gồm cả 8 dự án đang san ủi)
- Lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ thương mại 11 dự án (bao gồm cả 01 dự án đang san ủi, trồng cây)
- Lĩnh vực khu dân cư 03 dự án
b Số dự án đang đền bù 77 dự án, trong đó:
- Lĩnh vực du lịch 45 dự án
- Lĩnh vực nông lâm thủy sản 22 dự án
- Lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ thương mại 4 dự án
- Lĩnh vực khu dân cư 6 dự án
c Dự án chậm triển khai: Trong 631 dự án được chấp thuận đầu tư còn hiệu
lực có 118 dự án chậm triển khai theo quy định Trong đó:
- Lĩnh vực du lịch 94 dự án
- Lĩnh vực nông lâm thủy sản 15 dự án
- Lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ thương mại 5 dự án
- Lĩnh vực khu dân cư 4 dự án
2.2.2.5 Về rà soát, dự án đầu tư chậm triển khai:
Qua theo dõi tình hình triển khai đầu tư dự án sau khi được chấp thuận đầu tư thì hầu hết các dự án đều khởi công xây dựng trên 12 tháng kể từ ngày được UBND tỉnh chấp thuận đầu tư dự án, thời gian kéo dài ở những công đoạn chuẩn bị đầu tư như: Lập hồ sơ thuê đất, giao đất; Đền bù giải tỏa; Lập thiết kế xin giấy phép xây dựng; Có giấy phép xây dựng nhưng không triển khai hoặc triển khai cầm chừng