1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học ở trường tiểu học C Phú Hữu , huyện An Phú hiện nay- Thực trạng và giải pháp

28 1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 401,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy , học sinh được xác định là đối tượng đặc biệt quan trọng trong hoạt động dạy và học và vấn đề duy trì sĩ số, chống bỏ học là một vấn đề quan trọng không chỉ đối với nhà trư

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến mục tiêu, nhiệm vụ của ngành Giáo dục

và Đào tạo Mà nhiệm vụ của ngành Giáo dục và Đào tạo trong thời kì hiện nay vô cùng quan trọng, đó là “ Nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” Chính vì vậy , học sinh được xác định là đối tượng đặc biệt quan trọng trong hoạt động dạy và học và vấn đề duy trì sĩ số, chống bỏ học là một vấn đề quan trọng không chỉ đối với nhà trường ,với ngành giáo dục mà còn là vấn đề cần được sự quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là các bậc phụ huynh học sinh và đội ngũ nhà giáo

Công tác duy trì sĩ số, học sinh chuyên cần là công tác khả thi nhất cho việc hạn chế bỏ học ở bậc tiểu học Công tác này đóng vai trò rất quan trọng trong việc học tập của học sinh, nó là nền tảng giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt

Ở trường tiểu học công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học là công tác hàng đầu, mục đích là phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, hướng tới trường học thân thiện, trường chuẩn quốc gia Chính vì thế, làm sao cho học sinh học tốt các môn văn hóa,

có nhân cách đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, từ đó từng bước mới trở thành con người hữu ích cho mai sau, con người mới của đất nước, vấn đề cơ bản là phải đi học đều, không bỏ học giữa chừng, chất lượng học tập phải đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng và sự tiến bộ của xã hội

Nhằm thực hiện có hiệu quả Luật PCGD tiểu học, PC đúng độ tuổi, yếu tố vô cùng quan trọng, then chốt là phải đảm bảo duy trì sĩ số, chống bỏ học Trong những năm gần đây không ít trường chỉ quan tâm tập trung phấn đấu đạt chỉ tiêu, tỉ lệ lên lớp, xét hoàn thành chương trình tiểu học mà quên đi hiệu quả đào tạo Mà hiệu quả đào tạo là phải xem xét cả một bậc học , phải căn cứ số học sinh tuyển vào và số học sinh hoàn thành chương trình cuối khóa , số học sinh lưu ban, bỏ học giữa chừng, số

Trang 2

học sinh chuyển đi trường khác Số lượng học sinh bỏ học còn ở tỷ lệ khá cao, nó ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch trung hạn, dài hạn của trường, nhất là tiến đến trường đạt chuẩn quốc gia vào năm 2015

Vấn đề học sinh bỏ học là vấn đề lớn của cả nước , đây là một bài toán khó cho các nhà quản lý giáo dục nói riêng và của toàn xã hội nói chung, vấn đề này cũng ảnh hưởng đến công tác của bản thân, mang tính cấp thiết mà bản thân cần phải nghiên cứu để tìm ra các biện pháp giải quyết để đem lại hiệu quả tốt nhất cho đơn vị

Chính vì những nguyên do đó mà bản thân đã nghiên cứu, nắm rõ được thực trạng của đơn vị và đặc thù của địa phương và mạnh dạn đưa ra đề tài “ Công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học ở trường tiểu học C Phú Hữu , huyện An Phú hiện nay- Thực trạng và giải pháp”

Với những giải pháp đã trình bày trong đề tài và sẽ áp dụng từ nay cho đến năm 2015, bản thân tin rằng sẽ đem lại sự thành công và mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác duy trì sĩ số , chống bỏ học cho đơn vị

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA CÔNG TÁC DUY

TRÌ SĨ SỐ, CHỐNG BỎ HỌC

1.1 Cơ sở lý luận của công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học :

1.1.1 Quan điểm của Đảng ta :

Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê nin về con người, tại hội nghị lần thứ tư của ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII đề ra nghị quyết và thông qua nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là “ Động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” đó là “ Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Bởi lẽ, người lao động nước ta ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước theo cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì chất lượng con người lao động là nhân tố quyết định

Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định “ Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước” Thực tiễn đã chứng tỏ xã hội ta hiện nay tình trạng mất hài hòa về mặt bản thể của mỗi cá nhân là chủ yếu, là tất cả bản thể cá nhân phát triển toàn diện và hài hòa về đạo đức, trí tuệ thể lực là mục tiêu xây dựng con người trong chủ nghĩa xã hội nhưng mục tiêu cơ bản và quan trọng hơn cả là vấn đề con người phải trở thành nhân tố quyết định lịch sử xã hội

và lịch sử của chính mình

Tại Đại hội Đảng lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta đã khẳng định: “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố

Trang 4

cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện”, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính qui và không chính qui, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội

Đại hội Đảng X khẳng định: “Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” chính là nhằm tạo ra nguồn năng lực nội sinh đủ mạnh đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển tri thức Các yếu tố quyết định năng lực nội sinh chính là nền văn hóa, giáo dục và khoa học, đồng thời đó là yếu tố cơ bản để tạo nên nguồn nhân lực chất lượng cao và phát huy nhân tố con người Việt Nam trong quá trình phát triển

Tiếp tục thực hiện tốt các mục tiêu:

+ Nâng cao mặt bằng dân trí, củng cố vững chắc những thành tựu đã đạt được trong việc xóa nạn mù chữ, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở, tiến tới phổ cập trung học phổ thông để tạo mặt bằng dân trí tối thiểu cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

+ Đào tạo nguồn nhân lực Trong những năm tới cần tập trung đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, có tay nghề cao, có tri thức và có năng lực ứng dụng những kỹ thuật mới, những công nghệ mới trong quá trình sản xuất công nghiệp theo hướng ngày càng hiện đại Coi trọng việc đào tạo nghề cho nông dân và chuyển giao những công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, những kỹ thuật mới vào sản xuất công nghiệp để tăng năng suất và hiệu quả kinh tế

Trang 5

+ Bồi dưỡng nhân tài Để có nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đạo hóa, gắn với kinh tế tri thức cần coi trọng chiến lược người tài Thường xuyên chăm sóc cho tài năng sớm phát triển Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học tài năng, các nhà quản lý và các doanh nghiệp giỏi, hình thành nền khoa học tiên tiến, đủ khả năng giải quyết các vấn đề chính trị, xã hội và kỹ thuật hiện đại đặt ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước chuyển sang kinh tế trí thức

Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo toàn diện, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa định hướng xã hội chủ nghĩa

Tiến hành cải cách giáo dục theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) Tiếp tục đổi mới quản lý giáo dục, đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giáo dục,khắc phục tình trạng mất cân đối trong giáo dục, đào tạo Cùng với phát triển về số lượng, chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện , coi trọng cả 3 mặt: dạy chữ, dạy nghề, dạy làm người; đặc biệt, cần coi trọng giáo dục

lý tưởng phẩm chất đạo đức, lối sống,lịch sử,truyền thống văn hóa của dân tộc, của Đảng (trích văn kiện hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa X, trang 108)

Giáo dục và đào tạo có giá trị nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển.Đổi mới toàn diện,mạnh mẽ giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo định hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời (trích Các văn kiện Đại hội XI của Đảng, trang 10)

1.1.2 Pháp luật của Nhà nước ta về công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học :

- Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức , trí lực, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân

Trang 6

tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

- Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa,

xã hội hóa; bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ , cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền, mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng ( Trích điều 2 và điều 9 của luật giáo dục, trang 11 và 13)

- Tiêu Chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1:

+ Trẻ em được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo tiểu học đúng độ tuổi phải hoàn thành chương trình tiểu học ở độ tuổi 11 tuổi

+ Nhà trường phải huy động 95% trở lên số trẻ em ở độ tuổi 6 tuổi vào lớp 1 + Có 80% trở lên số trẻ em ở độ tuổi 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học + Đảm bảo số lượng giáo viên dạy đủ các môn theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học

+ Có 80% trở lên số giáo viên đạt trình độ chuẩn đào tạo, trong đó có 20% trở lên đạt trình độ trên chuẩn

+ Có số phòng học đạt tỷ lệ 0,5 phòng/ lớp trở lên, phòng học an toàn, có bảng,

đủ bàn ghế cho học sinh, giáo viên, đủ ánh sáng, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông; có điều kiện tối thiểu dành cho học sinh khuyết tật học tập thuận lợi

+ Trường có thư viện, phòng y tế , phòng thiết bị giáo dục, phòng truyền thống

và hoạt động Đội,có sân chơi, bãi tập an toàn, được sử dụng thường xuyên;

+ Trường học xanh, sạch, đẹp; an toàn; có nguồn nước sạch; có hệ thống thoát nước; có khu vệ sinh dành cho nam, nữ, học sinh, giáo viên, đảm bảo sạch sẽ sử dụng thuận tiện ( Thông tư 36/2009/TT-BGDĐT, ngày 4/12/2009 )

Trang 7

- Chỉ thị 06/2006/CT- UBND của UBND tỉnh An Giang về công tác huy động học sinh đến trường, lớp và hạn chế học sinh bỏ học ;

+ Chọn tháng 8 hàng năm là “ Tháng hành động vì sự nghiệp giáo dục” , tiến tới đợt vận động cao điểm là ngày 5 tháng 9 – “ Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”

nhằm tập trung các hoạt động đa dạng, thiết thực , phong phú để nâng cao ý thức học tập trong nhân dân , tổ chức huy động học sinh đến trường, lớp đạt chỉ tiêu kế hoạch ngay từ những ngày đầu khai giảng năm học mới

+ Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, nhà trường, hội khuyến học phải làm cho các tầng lớp nhân dân nhận thức được trách nhiệm trong việc vận động trẻ trong

độ tuổi đến trường, lớp, tạo điều kiện cho con em đi học đến nơi đến chốn Phải xem việc huy động học sinh đến trường, lớp, hạn chế tình trạng học sinh bỏ học là nhiệm

vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn dân

+ Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các phường, xã, thị trấn phải có trách nhiệm trong việc huy động học sinh và chống bỏ học đối với học sinh đến học ở các trường thuộc các phường, xã, thị trấn lân cận để bảo đảm việc thực hiện chỉ tiêu huy động học sinh đến trường, lớp và chống bỏ học chung trên địa bàn huyện, thị, thành phố + Phân công trách nhiệm cụ thể cho các ban ngành, đoàn thể, đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên tham gia công tác huy động học sinh đến trường, lớp và chống

bỏ học tại địa phương Tổ chức sơ, tổng kết, kiểm điểm, phê bình và khen thưởng kịp thời Thực hiện các biện pháp phối hợp như đưa tiêu chí huy động học sinh đến trường, lớp và chống bỏ học vào việc xét công nhận gia đình, xóm ấp văn hóa, đảng

bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh

+ Các tổ chức chính trị, xã hội phối hợp với các cấp chính quyền, ngành giáo dục thực hiện tốt công tác tuyên truyền, trực tiếp vận động học sinh đến trường theo phân công; vận động giúp đỡ về vật chất, tinh thần để những gia đình khó khăn, gia đình có con em có nguy cơ bỏ học có điều kiện tiếp tục cho con em đi học

Trang 8

- Kế hoạch số 15/ KH- UBND của UBND tỉnh An Giang về triển khai thực hiện chỉ thị 30- CT/TU của Ban thường vụ tỉnh ủy An Giang về việc “Hạn chế tình trạng học sinh bỏ học”:

+ Đẩy mạnh hơn nữa công tác huy động học sinh đến trường để tăng tỷ lệ dân

số trong độ tuổi đi học; tích cực phòng chống học sinh bỏ học giữa chừng, nhất là cấp trung học sơ sở, trung học phổ thông, nhằm thực hiện bền vững phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và tăng hiệu quả đào tạo

+ Nâng cao chất lượng dạy và học, đặc biệt là ở bậc tiểu học và các khối lớp đầu cấp, để phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng bền vững, góp phần nâng cao trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập

+ Các cấp chính quyền, đoàn thể không tổ chức vận động học sinh bỏ học như phát động phong trào một cách chung chung; cần có kế hoạch, giao nhiệm vụ cụ thể, phù hợp với chức năng của ngành, đoàn thể chính trị - xã hội; phân công cán bộ phụ trách địa bàn, đối tượng cụ thể; nắm chặt tình hình, kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thường xuyên Thực hiện khen thưởng kịp thời đối với tổ chức,

cá nhân thực hiện tốt, sáng tạo, đạt hiệu quả trong các đợt huy động học sinh đến trường, vận động học sinh bỏ học trở lại trường; đồng thời phê phán các tổ chức, cá nhân thực hiện chưa tốt, kém hiệu quả

+ Phát huy việc tổ chức các cuộc vận động hỗ trợ gia đình khắc phục hoàn cảnh khó khăn, biểu dương gương vượt khó Vận động phong trào hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống ở cộng đồng dân cư

+ Phối hợp chặt chẽ giữa đoàn vận động và nhà trường, theo dõi học sinh đã

bỏ học trở lại trường, hạn chế tình trạng “tái bỏ học”, làm lãng phí công sức

Trang 9

1.2 Cơ sở thực tiển của công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học hiện nay ở nước ta :

Theo số liệu thống kê của Bộ GD-ĐT thì mỗi năm số học sinh bỏ học có khoảng 200 000 cháu Năm học 2009 - 2010 số lượng học sinh bỏ học cả nước là 229

000 cháu , năm học 2010-2011 bỏ học cả nước là 212 800 cháu

Riêng ở tỉnh An giang theo Hội nghị tổng kết 05 năm thực hiện chỉ thị 30- CT/

TU của Ban thường vụ tỉnh ủy về “ Hạn chế tình trạng học sinh bỏ học” ngày 5/6/2013 thì số liệu học sinh tiểu học bỏ học năm đầu (2007-2008) là 2,45% đến năm học 2011-2012 tỷ lệ bỏ học giảm còn 1,6 %

Học sinh bỏ học do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân trực tiếp, chủ yếu là

do học sinh học yếu kém, theo không kịp chương trình, dẫn đến chán học và bỏ học;

do gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trình độ văn hóa của cha mẹ học sinh còn thấp nên nhận thức chưa tốt, không có quyết tâm vượt khó cho con đi học

Theo phân tích số liệu học sinh bỏ học chia theo các nguyên nhân sau :

+ Gia đình rời bỏ địa phương : 34,04 %

+ Học kém chán học : 15,3 %

+ Nhà nghèo : 14,02 %

+ Lao động sớm : 13,7 %

+ Gia đình không cho đi học : 6,04 %

Như vậy , ở bậc tiểu học tỷ lệ học sinh theo gia đình làm ăn xa là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bỏ học, kế đến là do học yếu kém và đồng thời nguyên nhân nầy đã

có chiều hướng tăng hơn trước

Có một số học sinh chưa ý thức được lợi ích của việc học, còn lười biếng trong học tập, thiếu ý chí vươn lên và tự tìm cho mình phương pháp học tốt

Học sinh bỏ học thường tập trung trong thời điểm hè; một số vùng, học sinh nghỉ học gián đoạn theo mùa vụ

Các huyện còn có tỷ lệ bỏ học cao là An Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, thấp là Châu Đốc, Chợ Mới, Long Xuyên

Trang 10

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DUY TRÌ SĨ SỐ ,

CHỐNG BỎ HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC “C” PHÚ HỮU

TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 Đặc điểm tình hình của trường tiểu học “C” Phú Hữu :

- Xã Phú Hữu là một xã thuộc vùng sâu , biên giới , một xã nghèo của huyện An

Phú , nằm dọc theo dòng sông Hậu, hàng năm phải gánh chịu nước lũ đổ về làm ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của người dân, tỉ lệ người dân thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo khá cao, thiếu đất canh tác phải đi làm ăn xa (TPHCM ,Bình Dương… ),

mật bằng dân trí thấp

* Đặc điểm tình hình của Trường :

Trường được tách ra từ trường tiểu học B Phú Hữu năm 1996 và có tên là trường tiểu học C Phú Hữu

Trang 11

- Bảo vệ : 02, trình độ tốt nghiệp THCS

Chi bộ nhà trường sinh hoạt độc lập có 18 đảng viên, nữ 08

Cơ sở vật chất hiện có của trường có 10 phòng học, 01 phòng BGH ,01 phòng thư viện và thiết bị, 01 phòng cho mẫu giáo mượn, 01 nhà để xe và 02 nhà vệ sinh (

01 cho giáo viên, 01 dành học sinh nhưng đã xuống cấp).Trường chỉ có một điểm chính nằm trên địa bàn Ấp Phú Lợi- xã Phú Hữu,có tổng diện tích đất 2709,9 m2,bình quân 6,37 m2/HS Chịu trách nhiệm quản lí giáo dục ấp Phú Lợi và một phần của ấp Phú Quới Các phòng học đều có đủ ánh sáng và quạt mát, bàn ghế và các trang thiết

bị tạm đủ cho công tác dạy và học Sân trường mới thổi cát chưa được bằng phẳng ,bụi bay vào phòng làm mất vệ sinh ảnh đến chất lượng học tập cuả học sinh ,có một

số ít cây xanh chưa che phủ bóng mát sân trường cho các em vui chơi Chưa có các phòng chức năng , chưa có sân chơi bãi tập an toàn

Địa bàn trường nằm cách xa ấp Phú Quới , các em đi học còn phải qua một con

đò nên việc đi học của các em gặp rất nhiều khó khăn , thường xuyên đến lớp muộn Tổng số học sinh của nhà trường năm học 2012-2013 là 425 em ,trong đó tỉ lệ học nghèo chiếm tỉ lệ khá cao ( khoảng 140 em) , đa số các em này chưa có đủ dụng cụ học tập ,thường xuyên nghỉ học

2.2 Thực trạng bỏ học bỏ lớp của học sinh trong thời gian qua:

* Kết quả thực hiện đạt được trong các năm qua:

Trang 12

*Nhìn lại số liệu học sinh ra lớp qua các năm:

Năm

Khối

2008 -2009

2009 -2010

2010 -2011

2011 -2012

2012 -2013

2009 -2010

2010 -2011

2011 -2012

2012 -2013

Trang 13

* Số liệu duy trì sĩ số, bỏ học của nhà trường trong 5 năm:

Năm

Khối

2008 -2009

2009 -2010

2010 -2011

2011 -2012

2012 -2013

Lưu ban ,

bỏ học , chuyển đi

2.3 /Quá trình triển khai công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học ở trường tiểu học

“C” Phú Hữu trong thời gian qua :

Qua số liệu thống kê cho thấy đã từng bước được sự chuyển biến nhưng vẫn

còn số liệu cần phải quan tâm Qua các năm thực hiện bản thân đã tìm ra được những nguyên nhân, hạn chế bất cập trong công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học như sau :

- Về lãnh đạo quản lý :

Xây dựng kế hoạch đầu năm chưa khả thi, chưa đề cập cụ thể rõ ràng về công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học , kế hoạch còn mang tính chung chung ,thiếu tính phối hợp với các ngành , các đoàn thể , các thành viên trong nhà trường

Chưa chỉ đạo sát sao các giáo viên chủ nhiệm trong công tác duy trì sĩ số , chưa

tổ chức tốt “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường ”

Việc kiểm tra đôi lúc chưa thường xuyên, đôn đốc kịp thời; chưa tạo môi trường hài hòa để kích thích học sinh học tập ( về cảnh quan trường ,lớp vv…); Chỉ

Trang 14

đạo phối hợp với công tác ngoài giờ chưa linh hoạt sáng tạo, hình thức hoạt động chưa phong phú nên chưa kích thích học sinh

- Về giáo viên chủ nhiệm:

+ Một số giáo viên còn mang tính chất hành chính sự vụ , nội dung sinh hoạt lớp còn mang tính đối phó, tháo quát những học sinh vi phạm mắc các lổi thông thường

+ Chưa phối kết hợp chặt chẽ với tổ chức đoàn , đội, giáo viên dạy chuyên và ban đại diện cha mẹ học sinh để nắm bắt kịp thời tình hình học tập cũng như tình hình nghỉ học của học sinh

+ Còn một vài giáo viên mặc dù có trình độ chuyên môn trên chuẩn nhưng đôi lúc còn chưa thích ứng theo kịp nhu cầu phát triển xã hội nhất là việc thực hiện đổi mới phương pháp phù hợp với điều kiện giảng dạy và năng lực học tập của học sinh

+ Tinh thần trách nhiệm trong giảng dạy đôi lúc chưa thể hiện được “ Cái tâm, cái tầm” còn lơ là với học sinh cá biệt, học sinh yếu

+ Phương pháp dạy còn dàn trãi đều chưa chú trọng đến học sinh yếu nhiều, còn bỏ học sinh bên lề lớp học, chưa mạnh dạn tự chủ đưa ra nhiều về nội dung chương trình phù hợp với học sinh yếu

+ Hình thức dạy học chưa linh hoạt sáng tạo để kích thích học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, đôi lúc còn gò ép nên học sinh tiếp thu không kịp

+ Đa số giáo viên của trường phần lớn là người từ địa phương khác chuyển về nên công tác vận động gặp rất nhiều khó khăn cũng như việc nắm bắt điều kiện hoàn cảnh gia đình của từng học sinh chưa kịp thời, khi học sinh bỏ học mới đến vận động thì kết quả không cao

- Về học sinh :

+ Thiếu sự quan tâm của gia đình

+ Thái độ học tập chưa đúng đắng , còn chốn học chơi game

Ngày đăng: 15/03/2015, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w