1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)

60 885 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao hiệu suất sử dụng nước thì công trình đập hồ thuỷ điện là một trongnhững thành tựu lớn của nhân loại trong việc quản lý tài nguyên nước đồng thời cungcấp năng lượng cho con n

Trang 1

TIỂU LUẬN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Đề tài:

ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ THUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2).

Giáo viên hướng dẫn : PGS TS Vũ Chí Hiếu

Lớp Cao học : K22 – Quản lý Môi trường

Học viên thực hiện : Trần Nguyễn Cẩm Lai

TP.HCM, 12/2012

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

KHOA MÔI TRƯỜNG

- 

Trang 2

-LỜI MỞ ĐẦU

Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên trái đất.Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động côngnghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vậtsống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể con người Ðể sản xuất 1 tấngiấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.000 tấnnước

Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang nănglượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực hiệncác chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên Có thể nói sự sống của con người vàmọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước

Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọt và sạchtrên thế giới đang từng bước giảm đi Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trênthế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu nước càngtăng Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinhthái chỉ mới được lên tiếng gần đây Trong suốt thế kỷ 20, hơn một nửa các vùng đấtngập nước trên thế giới đã bị biến mất cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị củachúng Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suygiảm nhanh hơn các hệ sinh tháibiển và đất liền

Để nâng cao hiệu suất sử dụng nước thì công trình đập hồ thuỷ điện là một trongnhững thành tựu lớn của nhân loại trong việc quản lý tài nguyên nước đồng thời cungcấp năng lượng cho con người Với những ưu điểm vượt trội của mình, trong nhữngnăm gần đây, thuỷ điện đã được phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu và tại Việt Nam nóiriêng Với những vai trò và lợi ích cực kỳ quan trọng của mình, công trình đập hồ thuỷđiện đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển của ngành năng lượng nói riêng và sự pháttriển của đất nước nói chung Tuy nhiên, với sự phát triển tràn lan, xây dựng hàng loạtcác công trình thuỷ điện chạy theo lợi ích kinh tế đã làm tăng các nguy cơ, rủi ro đếnmôi trường và con người từ các công trình thuỷ điện, đe doạ sự phát triển bền vữngcủa loài người Mà hiện nay có có thể thấy một ví dụ nổi bật cho tác động tiêu cực củathuỷ điện đó chính là thực trạng ở thuỷ điện Sông Tranh 2 Đây là một vấn đề vô cùngnóng bỏng hiện nay, thu hút được sự quan tâm của nhiều thành phần xã hội và ảnhhưởng lớn đến cuộc sống người dân Thuỷ điện Sông Tranh 2 như một tiếng chuôngcảnh báo cho hiện trạng mất an toàn ở hàng loạt các công trình hồ đập trên cả nước vàphát triển không bền vững thuỷ điện của nước nhà

Nhằm tìm hiểu về quản lý tài nguyên nước bằng các công trình đập hồ thuỷ điện

để đề xuất các phương án quy hoạch khai thác, phát triển bền vững nguồn nướcvà thuỷ

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 2

Trang 3

điện một cách hợp lý, tôi đã chọn đề tài“Áp dụng các nguyên lý khoa học môi

trường vào vấn đề tài nguyên nước và thuỷ điện (TĐ Sông Tranh 2)” làm đề tài

tiểu luận môn học này

1 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu về tài nguyên nước và vấn đề sử dụng nước hiện nay

- Nghiên cứu về quản lý sử dụng tài nguyên nước bằng các công trình đập hồ thuỷđiện cùng những ưu nhước điểm của nó

- Phân tích các vấn đề môi trường nổi bật ở công trình thuỷ điện Sông Tranh 2

- Từ đó đề xuất các biện pháp phát triển bền vững đối với đập hồ thuỷ điện nóichung và thuỷ điện Sông Tranh 2 tại Quảng Nam nói riêng

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài này là tài nguyên nước và quản lý tàinguyên nước bằng công trình đập hồ thuỷ điện

- Phạm vi nghiên cứu bao gồm các công trình đập hồ thuỷ điện nói chung và nghiêncứu sâu vào công trình đập hồ cụ thể là thuỷ điện Sông Tranh 2

3 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập, nghiên cứu các thông tin và tài liệu về tài nguyên nước, công trình đập

hồ và thuỷ điện Sông Tranh 2

- Tổng hợp và phân tích các tài liệu đã thu thập được

- Sử dụng phần mềm Microsoft Office

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 3

Trang 4

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

1 Một số khái niệm về nước và tài nguyên nước

* Nước là một hợp chất hóa học của oxy và hidro, Phân tử

nước bao gồm hai nguyên tử hiđrô và một nguyên tử ôxy Về

mặt hình học thì phân tử nước có góc liên kết là 104,45° Do

các cặp điện tử tự do chiếm nhiều chỗ nên góc này sai lệch đi

so với góc lý tưởng của hình tứ diện Chiều dài của liên kết

O-H là 96,84 picômét Có công thức hóa học là O-H2O Với các tính

chất lí hóa đặc biệt (ví dụ như tính lưỡng cực, liên kết hiđrô và

tính bất thường của khối lượng riêng) nước là một chất rất

quan trọng trong nhiều ng ành khoa học và trong đời sống 70% diện tích của Trái Đất

được nước che phủ nhưng chỉ 0,3% tổng lượng nước trên Trái Đất nằm trong cácnguồn có thể khai thác dùng làm nước uống

* Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụngvào những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp,

công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trên đều cần

- Độ đục: Độ đục do các chất lơ lửng ở trong nước như cát, sét, bùn và các hợp chấthữu cơ có trong nước

- Độ màu và mùi vị: Nước tự nhiên có thể có màu do chứa các chất vô cơ hay hữu

cơ ở dạng hợp chất hoà tan hay chất keo gây ra Chẳng hạn như nước nước chứa nhiềusắt có màu vàng nâu Acid humic hay funvic làm cho nước có màu đen

Nước có thể có mùi bùn, mùi mốc do các thực vật thối rữa gây

ra hay mùi thối do H2S và một số hợp chất hoà tan có thể làm cho nước có vị đặc biệtmặn, chát, chua… Ví dụ nước chứa nhiều Magie có vị chát, chứa nhiều muối ăn có vịmặn…

b) Thành phần hoá học

Các hợp chất vô cơ và hữu cơ trong nước tự nhiên có thể tồn tại ở dạng ion hoà tan,khí hoà tan, dạng rắn và lỏng Chính sự phân bố các hợp chất này quyết định tính chấtcủa nước tự nhiên: ngọt, mặn, cứng hoặc mềm, nghèo dinh dưỡng hay giàu dinhdưỡng…

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 4

Hình 1: Mô hình phân

tử nước

Trang 5

- Các ion hoà tan: Nước tự nhiên là dung môi để hoà tan hầu hết các acid, bazơ vàmuối vô cơ Vì thế trong nước tự nhiên có các ion hoà tan như: Cl-, Na+, Mg2+, Ca2+,

K+, SO42-, Br-, Fe2+, Fe3+, HCO3-,

- Các khí hoà tan:

+ Ôxy là loại khí ít hoà tan trong nước và không tác dụng với nước về mặt hoáhọc Oxy cần cho quá trình trao đổi chất Độ hoà tan của oxy trong nước phụ thuộc chủyếu vào nhiệt độ, áp suất của môi trường…

+ Khí CO2 chỉ chiếm 0,03% trong khí quyển nhưng đóng vai trò cực kỳ quan trọngtrong nước vì nó phản ứng với nước tạo thành bicacbonat (HCO3-) và cacbonat (CO3- ).Nồng độ khí CO2 trong nước phụ thuộc vào độ pH

+ Khí NH3 tồn tại trong nước có pH > 10 Trong môi trường trung tính và acidchủ yếu ở dạng ion NH4

+ Khí H2S tạo ra do quá trình phân huỷ các chất hữu cơ có ở trong nước

Dựa vào khả năng bị phân huỷ do sinh vật trong nước, chất hữu cơ có thể phân

thành 2 loại: dễ bị phân huỷ sinh học như đường, chất béo, protein,… và khó bị phân huỷ sinh học như ĐT, Lindan, aldrine, dioxin, naphtalen

c) Thành phần sinh học

Thành phần và mật độ các cơ thể sống trong nguồn nước phụ thuộc chặt chẽ vàođặc điểm, thành phần hoá học của nguồn nước, chế độ thuỷ văn và địa hình nơi cư trú.Các loại sinh vật tồn tại trong nguồn nước tự nhiên chủ yếu là vi khuẩn, nấm, siêu vitrùng, tảo, nguyên sinh động vật, động vật đa bào, các loài động vật có xương sống,các loại nhuyễn thể và các loại tôm cá hải sản

Trong nước còn có các lợi thực vật lớn như rong, lục bình là các thực vật chỉ thịđánh giá chất lượng nước tự nhiên

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 5

Trang 6

2 Vòng tuần hoàn nước

- Nước trên Trái Đất luôn vận động và chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác.Chu trình nước là sự vận động của nước trên Trái Đất và trong khí quyển một cách tựnhiên theo năm dạng cơ bản: mưa – dòng chảy – thấm – bốc hơi – ngưng tụ và thànhmưa

- Vòng tuần hoàn nước đã và đang diễn ra từ hàng tỉ năm và tất cả cuộc sống trênTrái Đất đều phụ thuộc nó Chính quá trình này là nguyên nhân tạo ra nước ngọt TráiĐất chắc hẳn sẽ là một nơi không thể sống nếu không có nước

Hình 2: Vòng tuần hoàn nước

Vòng tuần hoàn nước không có điểm bắt đầu nhưng chúng ta có thể bắt đầu từ cácđại dương Mặt trời điều khiển vòng tuần hoàn nước bằng việc làm nóng nước trênnhững đại dương, làm bốc hơi nước vào trong không khí Hơi nước bốc lên bị ngưng

tụ thành mây Những phân tử mây va chạm vào nhau, kết hợp với nhau, gia tăng kích

cỡ và rơi xuống thành giáng thủy (mưa) Giáng thuỷ dưới dạng tuyết được tích lạithành những núi tuyết Khi khí hậu ấm lên, tuyết tan và chảy thành dòng trên mặt đất,đôi khi tạo thành lũ Phần lớn lượng giáng thuỷ rơi trên các đại dương hoặc rơi trênmặt đất và trở thành dòng chảy mặt 90% giáng thuỷ trở lại biển 1 phần dòng chảymặt, và nước thấm được tích luỹ và được trữ trong những hồ nước ngọt Một lượng lớnnước thấm xuống dưới đất Trong đó một lượng nhỏ nước được giữ lại ở lớp đất sátmặt và được thấm ngược trở lại vào nước mặt (và đại đương) dưới dạng dòng chảyngầm, một phần tạo ra các dòng suối nước ngọt Nước ngầm tầng nông được rễ câyhấp thụ rồi thoát hơi qua lá cây Một lượng nước tiếp tục thấm vào lớp đất dưới sâu

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 6

Trang 7

hơn tạo ra nguồn nước ngầm nơi mà một lượng nước ngọt khổng lồ được trữ lại trongmột thời gian dài Tuy nhiên, lượng nước này vẫn luân chuyển theo thời gian, có thểquay trở lại đại dương, nơi mà vòng tuần hoàn nước “kết thúc”… và lại bắt đầu.

- Nước cứ tuần hoàn theo chu kì như vậy với tổng lưu lượng khoảng 1.386.000.000

km3, trong đó 97,2 % trên các đại dương, 2,2% trên các cực và 0,6% trên các lục địa.Các đại dương chiếm khoảng 70% diện tích của Trái Đất và chứa khoảng1.338.000.000 km3 nước

+ Lượng nước bốc hơi từ các đại dương: 450.000 km3/năm

+ Lượng nước mưa rơi xuống các đại dương: 410.000 km3/năm

+ Lượng nước chứa trong khí quyển: 13.000 km3/năm

+ Lượng nước mưa rơi xuống các lục địa: 110.000 km3/năm

+ Lượng nước bốc hơi từ các lục địa: 70.000 km3/năm

+ Lượng nước thấm: 12.000 km3/năm

+ Lượng nước chảy bề mặt: 28.000 km3/năm

Bảng 1: Các chu kỳ tuần hoàn nước trong thuỷ quyển

3 Phân bố nước trên Trái Đất

Hình 3: Phân bố

nước trên Trái Đất

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 7

Trang 8

Trong 1.386 triệu km3 tổng lượng nước trên Trái Đất thì trên 97% là nước mặn Vàtrong tổng lượng nước ngọt trên Trái Đất thì 68% là băng và sông băng, 30% là nướcngầm, nguồn nước mặt như là nước trong các sông hồ chỉ chiếm khoảng 93.100 km3,bằng 1/150 của 1% của tổng lượng nước trên Thế giới

Bảng 2: Ước tính phân bố nước toàn cầu

(km3)

Thể tích nước (dặm khối)

Phần trăm của nước ngọt

Phần trăm của tổng lượng nước

Đại dương, biển và

4 Vai trò của nước

Cũng như không khí và ánh sáng, nước không thể thiếu được trong đời sống conngười Trong quá trình hình thành sự sống trên Trái đất thì nước và môi trường nướcđóng vai trò quan trọng Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người vàsinh vật trên trái đất Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lítnước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp Nước chiếm99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể conngười Để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấnchất bột cần 1.000 tấn nước

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 8

Trang 9

- Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ăn được vàingày, nhưng không thể nhịn uống nước Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể,65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng xương Nước tồn tại ởhai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào Nước ngoài tế bào có trong huyếttương máu, dịch limpho, nước bọt… Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng dịchngoài tế bào của cơ thể (3-4 lít)

- Nước tham gia vào hầu hết các quá trình chuyển hoá (đồng hoá, dị hoá) trong các

cơ thể sống Nước tham gia vào vai trò tái sinh thế giới hữu cơ ( tham gia quá trìnhquang hợp) Trong quá trình trao đổi chất nước đóng vai trò trung tâm Những phảnứng lý hóa học diễn ra với sự tham gia bắt buộc của nước Nước là một dung môi, nhờ

đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được chuyển vào máu dướidạng dung dịch nước

- Trong khu dân cư, nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt, nâng cao đời sống tinhthần cho dân ( một ngôi nhà hiện đại không có nước khác nào một cơ thể không cómáu)

- Nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sản xuất công nghiệp: Lượng nước sửdụng trong công nghiệp chiếm 3,8%

- Đối với cây trồng nước là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều tiếtcác chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất…Lượng nước tưới tiêu chiếm 93,4% tổng lượng nước sử dụng

- Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang nănglượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực hiệncác chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên Có thể nói sự sống của con người vàmọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước

5 Quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam

5.1 Tài nguyên nước ở Việt Nam

5.1.1 Tài nguyên nước mặt

- Về nước mặt, trung bình hàng năm lãnh thổ Việt Nam nhận được 1.944 mm nướcmưa, trong đó bốc hơi trở lại không trung 1.000 mm, còn lại 941 mm hình thành mộtlượng nước mặt khoảng 310 tỷ m3 Tính bình quân, mỗi người dân Việt, có thể hứngđược một lượng nước bằng 3.870 m3 mỗi năm; hoặc 10,6 m3 tức 10.600 lít nước mỗingày Trong lúc tại các nước công nghiệp phát triển nhất, tổng nhu cầu về nước trongmột ngày bình quân theo đầu người, bao gồm cả nước sinh hoạt, nước cung cấp chonông nghiệp và công nghiệp cũng chỉ vào khoảng 7.400 lít/người.ngày; bao gồm 340lít cho sinh hoạt, 2.540 lít cho nông nghiệp và 4.520 lít cho công nghiệp Ở nước ta, tạicác đô thị lớn, lượng nước sinh hoạt cấp cho mỗi người/ngày hiện nay chỉ mới vào

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 9

Trang 10

khoảng 100 - 150 lít Mục tiêu của Chính phủ Việt Nam là cung cấp cho nhân dânnông thôn khoảng 70 lít/người.ngày vào năm 2010 và 140 lít/người.ngày vào năm

2020 Ở một số vùng đặc biệt khan hiếm nước vào mùa khô, như vùng Lục Khu thuộctỉnh Cao Bằng, mục tiêu phấn đấu hiện nay là cung cấp cho mỗi người, mỗi ngày 15 lítnước Chỉ riêng nguồn nước ngọt từ mưa tiềm năng đã vượt khá xa yêu cầu về cấpnước

- Ngoài nguồn nước mặt từ

mưa, Việt Nam hiện còn có

nguồn nước rất lớn do các con

sông xuyên biên giới đem từ

lãnh thổ các nước ngoài vào như

sông Hồng, sông Mã, sông Cả,

sông Mê Công Lượng nước này

ước tính bằng 520 tỷ m3, gấp 1,7

lần lượng nước ngọt hình thành

trong nước Một số sông xuyên

biên giới như sông Kỳ Cùng ở

Lạng Sơn, Bằng Giang ở Cao

Bằng, chuyển một lượng nước từ Việt Nam qua lãnh thổ Trung Quốc Tuy nhiên lượngnày không đáng kể so với tổng lượng nước hình thành trên lãnh thổ Việt Nam Cácphụ lưu của sông Mê Công, như Nậm Rốm, Sê Kông, Sê Băng Hiêng, Sê San, Srê Pokchuyển một lượng nước khá lớn từ lãnh thổ Việt Nam vào các nước láng giềng nhưCộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Lào, Campuchia, nhưng rồi từ các nước nàylượng nước đó lại chảy trở lại vào Đồng bằng sông Cửu Long

- Tổng hợp hai nguồn nước mặt: nguồn hình thành trên lãnh thổ quốc gia và nguồn

từ nước ngoài chảy vào, nói một cách khái quát, Việt Nam có tổng lượng nước mặttrung bình năm bằng khoảng 847 tỷ m3 Trong đó phần hình thành trong nước là 340

tỷ, chiếm 40%; phần từ nước ngoài vào là 507 tỷ, chiếm 60%

Tài nguyên nước nói trên tồn tại dưới những dạng thức khác nhau như sông, hồ,

kênh, rạch, đầm phá, vừa lưugiữ, vận chuyển, chuyển hóanước, vừa tạo nên tài nguyên

đa dạng sinh học và nguồncảnh sắc thiên nhiên vô cùngphong phú và đa dạng

+ Về sông, nước ta có2.360 con sông với chiều dài

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 10

Hình 4: Sông Hồng và vùng Đồng bằng Bắc Bộ

Hình 5: Kênh rạch sông Cửu Long với hàng dừa nước

Trang 11

từ 10 km trở lên và 26 phân lưu của các sông lớn Trong đó, có 9 sông có lưu vực lớnhơn 10.000 km2 là sông Hồng, sông Thái Bình, sông Kỳ Cùng - Bằng Giang, sông Mã,sông Cả, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Srê Pok - Sê San, sông Đồng Nai và sông CửuLong Theo lưu vực và yêu cầu quản lý nguồn nước, có thể phân chia các sông ViệtNam thành ba nhóm: nhóm thượng nguồn ở nước ngoài, hạ nguồn ở Việt Nam nhưsông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Đồng Nai; nhóm thượng nguồn ở Việt Nam, hạnguồn ở ngoài nước như sông Kỳ Cùng, sông Bằng Giang; nhóm có một số sôngnhánh thượng nguồn ở Việt Nam, trung nguồn ở nước ngoài và hạ nguồn sông chính ởViệt Nam như sông Mê Công.

+ Nước ta có nhiều hồ tự nhiên như hồ Ba Bể ở Bắc Kạn với diện tích khoảng 5

km2; Hồ Tây ở Hà Nội: 4,5 km2; Biển Hồ ở Gia Lai: 8 km2; hồ Lắk ở Đắk Lắk: 10 km2

Về hồ nhân tạo, có 750 hồ lớn và trung bình và hàng nghìn hồ nhỏ Trong đó có 7 hồvới dung tích trên 500 triệu m3: Hòa Bình 5.680 triệu m3; Trị An 2.547 triệu m3; Thác

Bà 2.160 triệu m3; Thác Mơ 1.311 triệu m3; Dầu Tiếng 1.111 triệu m3; Yaly 779 triệu

m3; Hàm Thuận - Đa Mi 535 triệu m3 Một số đập và hồ lớn hiện đang được xây dựng

và chuẩn bị xây dựng trên sông Đà, sông Gâm, sông Sê San, sông Đồng Nai

+ Nước ta đã xây dựng khoảng 75 hệ thống thủy lợi vừa và lớn với diện tích tướitiêu của mỗi hệ thống từ 10.000 ha đến 200.000 ha, như các hệ thống: Bắc Hưng Hải,sông Nhuệ, Thác Huống, Bắc Thái Bình, Đồng Cam, Ayun Hạ, Dầu Tiếng

+ Ven biển có nhiều đầm, phá, bàu, trằm Nổi tiếng là đầm phá Tam Giang - CầuHai (Thừa Thiên - Huế), có diện tích bằng 216 km2 mặt nước; Thị Nại (Bình Định), 45

km2; Trường Giang (Quảng Ngãi), 36,9 km2; Cù Mông (Phú Yên), 30,2 km2; NướcNgọt (Bình Định), 26,5 km2; Thủy Triều (Khánh Hòa), 25,5 km2; Ô Loan (Phú Yên),18,0 km2; Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế), 16,0 km2; Trà Ổ (Bình Định), 14,4 km2; ĐầmNại (Ninh Thuận), 12,0 km2

5.1.2 Tài nguyên nước ngầm

- Về nước ngầm, tiềm năng của nước ta cũng tương đối lớn Tổng trữ lượng có tiềmnăng khai thác được trên cả nước của các tầng trữ nước trên toàn lãnh thổ, chưa kểphần hải đảo, ước tính gần 2000 m3/s, tương ứng khoảng 60 tỷ m3/năm Trữ lượng nàythay đổi nhiều theo các vùng: dồi dào nhất ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sôngCửu Long, Đông Nam Bộ; khá nhiều ở Tây Nguyên và ít hơn tại các vùng núi TâyBắc, Đông Bắc và duyên hải Bắc và Nam Trung Bộ

- Trữ lượng ở giai đoạn tìm kiếm và thăm dò sơ bộ mới đạt khoảng 8 tỷ m3/năm, tứckhoảng 13% tổng trữ lượng Theo kết quả điều tra, khảo sát và nghiên cứu đã có đến

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 11

Trang 12

năm 1999 thì trữ lượng nước ngầm thuộc loại có thể khai thác ngay với độ tin cậy cao(cấp A) vào khoảng 736.205 m3/ngày; thuộc loại có thể khai thác với độ tin cậy khá(cấp B) vào khoảng 939.625 m3/ngày; thuộc loại đã được dự báo là có khả năng khaithác (cấp C1), 2.007.165 và (C2), 10.848.451 m3/ngày Tổng lượng đã khai thác chỉmới vào khoảng 5% tổng trữ lượng Trong các năm tới lượng khai thác có thể lên tớikhoảng 12 tỷ m3/năm So sánh với thế giới trữ lượng nước ngầm của Việt Nam ở vàomức trung bình.

Bảng 3: Trữ lượng nước ngầm đã được đánh giá ở các vùng khác nhau trên nước ta (1995)

(Nguồn: Nguyễn Kim Ngọc, Nguyễn Thượng Hùng, 2003)

- Việt Nam cũng có tài nguyên nước nóng và nước khoáng phong phú, đa dạng vềloại hình Tài nguyên này được đánh giá có chất lượng tốt, có khả năng và một phần

đã được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như: sản xuất nước khoáng đóng chai;thủy lý trị liệu trong y học, khai thác khí CO2; khai thác năng lượng địa nhiệt Theo sốliệu điều tra tới năm 1999, cả nước có khoảng 400 nguồn nước khoáng và nước nóng

đã được khảo sát, trong đó 287 nguồn đã được công nhận

* Xét theo những số liệu như đã nêu trên có thể nói rằng Việt Nam là một quốc giatương đối giàu tài nguyên nước Theo tài liệu của Viện Tài nguyên thế giới công bốnăm 2002 - 2003, thì hiện nay hàng năm lượng tài nguyên nước ngọt tái tạo được trênmặt trái đất là 40.594 km3, trung bình cho mỗi đầu người là 6.538 m3 Trị số trungbình tương ứng của nước ta là 11.189 m3, gấp 1,7 lần trung bình của thế giới Tuynhiên với lượng nước này nước ta cũng chỉ thuộc vào loại tương đối phong phú về tàinguyên nước ngọt trên đầu người Các nước nhiều nước như Lào có tới 68.318

m3/người; Campuchia, 30.561 m3/người; Mianma 21.358 m3/người Các quốc gia ítnước như Trung Quốc chỉ có 2.185 m3/người, Hàn Quốc 1.471m3/người Nhiều nướcnghèo tài nguyên nước chỉ có khoảng 500 m3, thậm chí 50 m3/người.năm

Cũng như tại nhiều nơi khác trên thế giới, ở nước ta tài nguyên nước không chỉ cógiá trị về cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, mà còn là nguồn năng lượng sạch,nguồn vật liệu của rất nhiều ngành công nghiệp, thủ công nghiệp, cơ sở thiên nhiên

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 12

Trang 13

của các ngành thủy sản, giao thông, du lịch, giải trí, điều dưỡng, là nhân tố quan trọngcủa sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái, quyết định chất lượng của cuộc sốngvật chất và tinh thần của con người.

5.2 Những khó khăn và thách thức trong việc quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam

5.2.1 2/3 tổng lượng nước mặt của Việt Nam phụ thuộc vào nước ngoài

- Theo số liệu của Viện Khí Tượng Thuỷ Văn (2007):

Tổng lượng tài nguyên nước mặt của nước ta là 847 km3 Trong đó:

+ Dòng chảy từ ngoài vào là 507km3 (chiếm 60%)

+ Dòng chảy nội địa là 340km3 (40%)

- 60% tổng lượng dòng chảy nước mặt trên lãnh thổ Việt Nam là từ các nước lánggiềng: Trung Quốc, Thái Lan, Mianma, Lào và Campuchia chảy vào Các nước nàyđều đang ở trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển nôngnghiệp, dịch vụ một cách nhanh chóng Quá trình phát triển này, dù bằng cách nàocũng sẽ đặt ra cho các nước nói trên yêu cầu tận dụng hợp lý tài nguyên nước sản sinhtrên lãnh thổ của họ Chế độ thủy văn của các dòng sông xuyên biên giới chảy vàonước ta sẽ thay đổi Dòng chảy nước sẽ được điều tiết theo những chiều hướng có khikhông phù hợp với yêu cầu kinh tế và sinh thái của ta Khối lượng nước cần cho sinhhoạt, canh tác, đẩy mặn, giao thông thủy vào mùa khô có thể sẽ không còn như trước.Chất lượng nước của một số dòng sông sau khi đã tiếp nhận xả thải từ nhiều đô thị,khu dân cư, khu nông nghiệp trên các vùng thượng lưu sẽ không thể còn độ trong sạchnhư hiện nay

- Lấy sông Mê Công làm thí dụ Mê Công là một con sông xuyên biên giới quantrọng ở châu Á có tiềm năng rất lớn về các dạng tài nguyên nước Từ những năm cuốithập kỷ 50 của thế kỷ XX đã được các nước trong lưu vực và các tổ chức quốc tế hếtsức quan tâm việc quản lý hợp lý tài nguyên nước cùng các tài nguyên thiên nhiên liênquan khác và các hoạt động phát triển trên lưu vực Việc hợp tác quản lý dòng sôngquan trọng này được thực hiện trong khuôn khổ tổ chức hợp tác quốc tế về phần hạ lưusông Mê Công, cụ thể là của Ủy ban quốc tế về hạ lưu sông Mê Công trước từ năm

1957 đến năm 1975, Ủy ban lâm thời hạ lưu sông Mê Công từ năm 1975 đến năm

1995 và Ủy ban sông Mê Công (Mekong River Commission, MRC) hiện nay Quanhiều đổi thay của lịch sử, thành viên của các Ủy ban này là Thái Lan, Lào,Campuchia và Việt Nam Địa phận quản lý của các Ủy ban chỉ là phần "hạ lưu" sông

Mê Công Trung Quốc và Mianma không phải là thành viên chính thức của Ủy ban vàchỉ tham gia một cách không chính thức vào một số cuộc họp của Ủy ban Với đặcđiểm như trên, sông Mê Công là một dòng sông liên quốc gia Theo thỏa thuận đã có

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 13

Trang 14

giữa bốn quốc gia thuộc phần hạ lưu lưu vực sông Mê Công là Thái Lan, Lào,Campuchia và Việt Nam, không nước nào được xây dựng công trình trên dòng sôngchính, việc xây dựng các công trình quan trọng trên các sông nhánh lớn cũng cầnthông báo và tham khảo ý kiến của nhau.

Cho tới nay, ở phần hạ lưu trên dòng sông chính không có công trình nào, nhưng ởphần thượng lưu thuộc địa phận lãnh thổ Trung Quốc, một loạt công trình thủy điện,với đập cao, hồ chứa lớn đã được hoàn thành, vận hành phát điện, điều tiết nước, hoặcđang được xây dựng và chuẩn bị xây dựng Thủy điện Manwan, công suất lắp máy1.500MW, đập cao 126m, đã hoàn thành và phát điện năm 1996 là một thí dụ Trêncác sông nhánh, Thái Lan, Lào và ở nước ta cũng đã và đang xây dựng nhiều côngtrình phục vụ thủy điện và cấp nước cho nông nghiệp

- Vì vậy, nhìn một cách lâu dài, không thể khẳng định là nước ta sẽ luôn luôn có tàinguyên nước phong phú với tổng lượng là 847 tỷ m3/năm, hay 10.375 m3/người.năm.Phần chắc chắn là phải dựa chủ yếu vào lượng nước hình thành trên lãnh thổ là 340 tỷ

m3/năm Lượng nước có thể có trên đầu người sẽ phải tính theo dân số ổn định xungquanh 100 triệu người

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 14

Trang 15

5.2.2 Tài nguyên nước phân bố rất không đồng đều theo không gian và thời gian

- Lượng mưa, nhân tố chủ yếu hình thành tài nguyên nước trên lãnh thổ nước ta,phân bố rất không đều theo không gian và thời gian Bình quân toàn lãnh thổ lượngmưa năm là 1.944 mm Tuy nhiên, lượng mưa này phân bố rất không đều theo khônggian Có những nơi lượng mưa này đạt 8.000 mm/năm như ở Bạch Mã thuộc ThừaThiên - Huế; 5.000 mm/năm như ở Bắc Quang thuộc Hà Giang; Nam Châu Lĩnh thuộcQuảng Ninh Trong lúc có những nơi lại chỉ có 700 mm/năm như ở thị xã Phan Rang,Ninh Thuận, thậm chí chỉ có 400 mm/năm như ở thị xã Phan Rí thuộc Bình Thuận.Trong từng phạm vi lãnh thổ nhỏ hơn như tỉnh, huyện lượng mưa phân bố cũng rấtkhông đều Trong năm 2002, nhiều tỉnh ở Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ vàĐồng bằng sông Cửu Long trong 3 - 4 tháng hầu như không có giọt mưa nào Trongnăm 2003, nhiều tỉnh ở Tây Nguyên, duyên hải miền Trung đều có tình trạng không cómưa suốt trong 3 tháng mùa hè

- Tại tất cả các vùng trong nước, hàng năm lượng nước trong khoảng ba tháng mùa

lũ chiếm 75 - 85% tổng lượng nước trong năm Cùng với đó là mùa khô kéo dài từ 5đến 6 tháng Trong mùa này, lượng dòng chảy trên rất nhiều con sông chỉ vào cỡ 15 -20% tổng lượng dòng chảy năm

- Lượng dòng chảy trong sông, tổng

hợp cả dòng chảy hình thành trong và

ngoài lãnh thổ, cũng phân bố rất

không đều Lấy theo số liệu của "Hồ

sơ nguồn nước, 2002" thì suất dòng

chảy năm bình quân của cả nước ta là

2,642 triệu m3/km2.năm Vùng Đông

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 15

Hình 6: Phân bố dung lượng nước hình thành ở trong và ngoài lãnh thổ Việt

Nam ở một số sông chính

Hình 7: Hạn hán ở miền Trung

Trang 16

Bắc với diện tích bằng 65.327 km2, có lượng dòng chảy năm bằng 15,4 tỷ m3/năm,suất dòng chảy năm chỉ là 0,236 triệu m3/km2 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long vớidiện tích bằng 39.706 km2 có lượng dòng chảy năm bằng 507,9 tỷ m3/năm, suất dòngchảy năm khoảng 12,79 m3/km2, gấp 54 lần suất dòng chảy của vùng Đông Bắc Khácbiệt giữa các vùng khác cũng tương đối lớn.

- Trong bối cảnh chung cả nước như vậy, sự phân bố nước không đều theo khônggian và thời gian làm cho tình trạng thiếu nước về mùa khô và lũ lụt với lưu lượng lớn,

có sức tàn phá mạnh mẽ trở nên đặc biệt trầm trọng tại một số nơi Tỷ lệ giữa lưulượng tối đa và lưu lượng tối thiểu của một số con sông lên tới 1.000, thậm chí 10.000lần

5.2.3 Chất lượng nước đang giảm sút ở nhiều nơi

Theo Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) thì tỷ lệ tiếp cận với nướcsạch của nhân dân Việt Nam đã tăng 13% trong giai đoạn 1998 - 2000 Việt Nam làmột trong những nước có tốc độ tăng nhanh nhất về tỷ lệ này trên thế giới So sánh vớimột số nơi trên thế giới thì nước sông ngòi phần thượng lưu và tại một số hồ lớn ởViệt Nam còn tương đối sạch Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh của công nghiệp hóa,

đô thị hóa, gia tăng dân số ở nông thôn cũng như thành thị, chất lượng nước mặt cũngnhư nước ngầm đã có những biểu hiện suy thoái khá nghiêm trọng

- Mức độ ô nhiễm nước ở một số khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệptập trung đã rất lớn Thí dụ tại Cụm Công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ ChíMinh, ước tính mỗi ngày có khoảng hàng trăm nghìn m3 nước thải công nghiệp từ cácnhà máy giấy, hóa chất, dệt nhuộm thải ra, tuy đã có những cố gắng khắc phục, nhưngnước kênh Tham Lương vẫn còn mầu đen, mùi hôi thối, hàm lượng chất độc hại cao.Ởthành phố Thái Nguyên nước thải từ các cơ sở luyện gang, thép, kim loại mầu, sảnxuất giấy, khai thác than chưa được xử lý vẫn đổ ra sông Cầu và chuyển về vùng hạlưu là nơi dân cư đông đúc sản xuất nông, công nghiệp phát triển Hàng trăm làngnghề về sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, dệt nhuộm, giấy với lượng nước thải hàng ngànm3/ngày không qua xử lý cũng góp phần gây ô nhiễm nguồn nước tại nhiều địaphương ở đồng bằng và trung du

- Ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và

nhiều đô thị lớn và vừa vẫn còn tình trạng

nước thải sinh hoạt, lẫn lộn với nước thải

công nghiệp không qua xử lý tập trung,

mà trực tiếp thải ra các sông, hồ, kênh,

mương lộ thiên đi qua các khu dân cư và

sản xuất Nước thải từ phần lớn các bệnh

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Hình 8: Ô nhiễm nước nghiêm trọng tại Trang 16

TP.HCM

Trang 17

viện và cơ sở y tế cũng còn được thải chung vào hệ nước thải công cộng Độ ô nhiễmcủa phần lớn các vực nước tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép.

- Ô nhiễm nước ở nông thôn và các khu vực sản xuất nông nghiệp cũng rất nghiêmtrọng Ở đây chưa có cơ sở hạ tầng tốt cho thoát nước thải, phần lớn chất thải của conngười và gia súc không được xử lý, bị rửa trôi theo dòng mặt, hoặc thấm xuống đất,làm cho nguồn nước mặt cũng như nước ngầm bị ô nhiễm về mặt hữu cơ và vi sinh.Môi trường nước nông thôn còn bị ô nhiễm do sử dụng không hợp lý và đúng quy cáchcác hóa chất nông nghiệp, trong đó có không ít hóa chất độc hại Tỷ lệ số hộ ở nôngthôn được dùng nước hợp vệ sinh chỉ mới đạt khoảng 30 - 40% Chỉ khoảng 28 - 30%

số hộ có công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn

5.2.4 Nhu cầu về nước đang tăng nhanh

- Ở nước ta với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển nôngnghiệp và nâng cao đời sống nhân dân ở nông thôn yêu cầu về nước đang tăng lên vớigia tốc Theo tài liệu nghiên cứu về tài nguyên nước của Việt Nam do Viện Quy hoạchthủy lợi hợp tác với Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á thực hiện năm

1996 thì năm 1990 lượng tài nguyên nước được sử dụng ở nước ta mới chỉ có 50 tỷ

m3/năm, chỉ mới bằng khoảng 6% tổng tài nguyên Trong đó 92% được dùng cho nôngnghiệp, 5% cho công nghiệp và 4% cho cấp nước đô thị Tài liệu này dự báo rằnglượng nước sử dụng sẽ tăng lên tới khoảng 65 tỷ m3/năm vào năm 2000; 72 tỷ m3/nămvào năm 2010 (tức tăng khoảng 11%); 80 tỷ m3/năm vào năm 2020 và 87 m3/năm vàonăm 2030 Tỷ lệ nước dùng cho nông nghiệp giảm xuống còn 75%, cho công nghiệptăng lên 16% và cho sinh hoạt là 9%

- Những tài liệu nghiên cứu gần đây hơn đã đưa ra những yêu cầu cao hơn nhiều vềgia tăng dùng nước ở nước ta So sánh với năm 2000 tổng lượng nước sử dụng trongnăm 2010 sẽ tăng 14%; năm 2020, 25% và năm 2030, 38% Riêng cho nông nghiệp,đến năm 2010, với diện tích tưới là 12 triệu ha, lượng nước cần dùng đã là 88,8 tỷ

m3/năm Tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch hiện nay là 60%, dự kiến sẽ đạt 80%năm 2005 và 95% năm 2010 Nhu cầu nước cho sinh hoạt đương nhiên phải tăng theo.Với đà gia tăng được dự báo trên đây đến năm 2030 lượng nước sử dụng sẽ có thể lêntới gần 90 tỷ m3/năm, tức bằng khoảng 11% tổng tài nguyên nước, hoặc 29% tàinguyên nước hình thành trên lãnh thổ quốc gia

5.2.5 Có nhiều thiên tai gắn liền với nước

- Lũ lụt là thiên tai phổ biến nhất và ác liệt nhất ở nước ta Theo tài liệu ghi chépcủa các cơ quan quản lý nước thì trong thế kỷ XIX, chỉ riêng ở Đồng bằng sông Hồng

đã có khoảng 30 năm lụt rất lớn, trong đó 26 năm vỡ đê tả ngạn sông Hồng, 18 năm đêhữu ngạn bị vỡ Mỗi lần vỡ đê có thể gây thiệt hại cho hàng chục vạn ha mùa màng,

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 17

Trang 18

cuốn trôi hàng ngàn làng xóm với hàng ngàn sinh mệnh người và gia súc, hủy hoạinhiều công trình công ích, gây dịch bệnh trên nhiều vùng.

+ Trong thế kỷ XX, mặc dầu hệ thống đê điều đã được tu bổ, kiên cố hóa nhưng

do lũ lớn, đã có 23 năm có sự cố vỡ đê lớn gây tai họa và tổn thất nghiêm trọng Trận

lũ vỡ đê năm 1971 trên Đồng bằng sông Hồng đã gây thiệt hại khoảng 7 triệu tấn thóc,

số dân bị ảnh hưởng lên tới 2,71 triệu người Lũ do bão gây ra ở miền Trung từ năm

1992 đến năm 1999 đã làm chết 2.716 người, bị thương 1.655 người, gây thiệt hại kinh

tế trên 8.000 tỷ đồng Việt Nam Mười năm gần đây, từ năm 1986 đến năm 2002, đãlần lượt xảy ra 30 trận lũ đặc biệt lớn trên nhiều lưu vực sông trong cả nước

+ Những trận lụt lớn này là hậu

quả của những trận mưa cực lớn

Lượng mưa ngày lớn nhất trong nhiều

trường hợp lên tới 500 - 800mm

Trong một số trường hợp đặc biệt lên

tới 1.422 mm/ngày (Huế), 1630

mm/ngày (Truồi), 1138,5 mm/ngày

(Tà Lương), 830,0 mm/ngày (Can

Lộc), 779,6 mm/ngày (Thác Muối),

788,4 mm/ngày (Đô Lương), 723,2

mm/ngày (Giác Vực), 716,4 mm/ngày

(Trà My), 722,0 mm/ngày (Phú Thọ), 731,5 mm/ngày (Đông Sơn), 758,0 mm/ngày(Ngọc Lạc), 735,0 mm/ngày (Lang Chánh), 760,4 mm/ngày (Bàu Nước), 767,0mm/ngày (Sơn Giang), 753,0 mm/ngày (A Lưới), 721,6 mm/ngày (Phú Ốc)

- Hạn hán cũng là thiên tai gây tác hại hết sức lớn, trên diện rộng cho sản xuất nông,công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân Vào mùa khô tất cả các vùng sinh thái trênnước ta từ đồng bằng, trung du đến miền núi đều có thể bị hạn nặng

+ Trong những năm gần đây ở Tây Nguyên đã liên tiếp có 6 năm bị hạn 1994,

1995, 1996, 1997, 1998 và 2003 Đặc biệt năm 1998 diện tích cây công nghiệp, cây ănquả bị hạn là 111.000ha, bị chết là 19.300 ha, riêng cà phê bị hạn là 74.400ha, bị chết

là 13.800ha và hơn 770.000 người thiếu nước sinh hoạt

+ Tại vùng Lục Khu thuộc tỉnh Cao Bằng nhân dân địa phương cho biết trong cácnăm 1978, 1998 mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tận tháng 5 năm sau, nước cho trồngtrọt và chăn nuôi cạn kiệt, nước ăn uống, sinh hoạt cho nhân dân vô cùng khan hiếm.Nhân dân phải bỏ hết mọi việc để đi tìm nước, "cõng" nước về nhà phục vụ ăn uốngvới mức tối thiểu Nhiều hộ hàng ngày phải đi xa 4 - 8km, vượt núi cao, đèo sâu để

“cõng” nước, nhưng cũng chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu tối thiểu Trong

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 18

Hình 9: Miền Tây mùa nước lũ

Trang 19

những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, hàng trăm hộ dân vùng này đã phải rời bỏquê hương, di dân tự do vào Tây Nguyên để kiếm sống.

+ Tại các đô thị, thậm chí đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế vàmột số thành phố duyên hải miền Trung về mùa khô cũng có nạn thiếu gay gắt nước

ăn uống sinh hoạt cho nhân dân, cũng như nước cho sản xuất công nghiệp

5.3 Khủng hoảng nước tại Việt Nam và vấn đề quản lý hiệu quả tài nguyên nước

Qua phần trên, ta có thể thấy Việt Nam hiện đang phải đối mặt với cuộc khủnghoảng nước trầm trọng gồm các vấn đề:

- Tăng nhu cầu sử dụng nước:

- Giảm nguồn cung cấp nước:

- Nước bị ô nhiễm

Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi một nguồn nước mặt khá phong phú, nhưng đã vàđang đối mặt với những thách thức to lớn: Nguy cơ cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước dẫnđến khan hiếm nước Nguy cơ đó sẽ càng trầm trọng nếu không có các biện pháp quản

lý tốt

* Một trong những vấn đề đáng lo ngại hiện nay là “suy giảm tài nguyên nước” mànguyên nhân chủ yếu là do “mất nước” Nước ta có tiềm năng rất lớn về tài nguyênnước (gần 900 km3/năm) nhưng thật tế mỗi năm chỉ sử dụng được khoảng 150 km3, tỷ

lệ thụ hưởng rất thấp (< 20%) Nguyên nhân là do sự phân bố nước không đều theokhông gian, thời gian và do địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn (ba phần tư diện tíchcủa Việt Nam là đất đồi núi) làm cho nước dễ dàng thất thoát ra Biển

=> Cần phải quản lý tốt tài nguyên nước, giữ nước để tăng tỷ lệ nước được sử dụng

- Để tránh nguy cơ thiếu nước, phải xét đến những lợi ích toàn cục, quản lý tổng hợptài nguyên nước Các cấp ngành cần phối hợp đồng bộ trong điều tiết nguồn nước hợp

lý, không nên vì các lợi ích cục bộ trước mắt Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về bảo

vệ tài nguyên nước ở nước ta còn bộ lộc những hạn chế, cần phải được sửa đổi, bổsung cho phù hợp với yêu cầu quản lý Xây dựng các chương trình, kế hoạch hànhđộng quốc gia về quản lý, bảo vệ tài nguyên nước nhằm phục vụ các yêu cầu phát triểnkinh tế, xã hội của đất nước

- Ông Lã Văn Chú, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu thuỷ văn và tài nguyên nước chorằng: Cần có các hồ chứa nước để điều hoà dòng chảy và tích luỹ nước hiệu quả Chútrọng việc trồng rừng nhằm lưu giữ nguồn nước trên thượng lưu Bên cạnh đó, tăngcường công tác tuyên truyền cho người dân sử dụng tiết kiệm nước Bố trí thời vụ gieotrồng hợp lý Đồng thời có các giải pháp nâng cao chất lượng, bảo vệ nguồn nước sạchkhông bị ô nhiễm, cạn kiệt

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 19

Trang 20

Hình 10: Xây dựng công trình đập hồ chứa để điều hoà dòng chảy

Chương 2: TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ THUỶ ĐIỆN

*Công trình đập hồ thuỷ điện là một trong những thành tựu lớn của nhân loại trongviệc quản lý tài nguyên nước đồng thời cung cấp năng lượng cho con người

1 Giới thiệu đập hồ thuỷ điện

- Đập hồ thủy điện có thể được xem là một trong những phương pháp sản xuất điện

cổ xưa nhất: tận dụng dòng nước chuyển động để sản xuất điện Đồng thời hồ thuỷđiện còn có vai trò rất quan trọng là trữ nước, điều tiết, quản lý nguồn nước phục vụcho nhu cầu cuộc sống

- Các thành phần của một công trình đập hồ thủy điện bao gồm:

Trang 21

7.Cửa xả đáy

8.Các tháp điều áp

9.Trạm biến áp -truyền tải

- Thuỷ điện là nguồn điện có được từ năng lượng nước Đa số năng lượng thuỷ điện

có được từ thế năng của nước được tích tại các đập nước làm quay một tuốc bin nước

và máy phát điện Kiểu ít được biết đến hơn là sử dụng năng lượng động lực của nướchay các nguồn nước không bị tích bằng các đập nước như năng lượng thuỷ triều Thuỷđiện là nguồn năng lượng có thể hồi phục

Năng lượng lấy được từ nước phụ thuộc không chỉ vào thể tích mà cả vào sự khácbiệt về độ cao giữa nguồn và dòng chảy ra Sự khác biệt về độ cao được gọi là áp suất.Lượng năng lượng tiềm tàng trong nước tỷ lệ với áp suất Để có được áp suất cao nhất,nước cung cấp cho một turbine nước có thể được cho chảy qua một ống lớn gọi là ốngdẫn nước có áp (penstock)

2 Hiện trạng và tiềm năng thuỷ điện trên thế giới và Việt Nam

2.1 Thế giới

* Hiện nay, tất cả các quốc gia trên thế giới ít hay nhiều đều sử dụng điện năng từthủy điện Thủy điện là nguồn năng lượng dễ khai thác và không mấy tốn kém Trênthế giới hiện có 45.000 đập hồ thủy điện lớn Thuỷ điện được coi là một nguồn nănglượng không thể thiếu, góp phần vào công cuộc phát triển của mọi quốc gia trên thếgiới Nhờ lợi thế có được, trong vòng 50 năm, cộng đồng quốc tế đã xây dựng trên 40vạn đập, tạo hệ thống hồ chứa nước trên diện tích rộng hơn 400.000 km2 Đập thủyđiện lớn nhất hành tinh là Akasombo xây dựng trên sông Volta ở Gana, hình thành hồchứa nước rộng tới 4% diện tích của đất nước này

- Có nhiều quốc gia phát triển đã khai thác hết nguồn thủy năng và có sản lượnglớn, chẳng hạn như Na Uy (gần 99% sản lượng điện toàn quốc là thủy điện), Thụy Sĩ,

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 21

Hình 11: Các thành phần của công trình đập hồ thuỷ điện

Hình 12: Tuốc bin nước và máy

phát điện

Trang 22

Italia, Áo,… Một số nước phát triển khác như Hoa Kỳ, Canada, tuy đã có sản lượngthủy điện lớn song do nguồn thủy năng còn dồi dào nên vẫn tiếp tục đẩy mạnh xâydựng thủy điện Các nước đang phát triển ở châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, ThổNhĩ Kỳ,… và ở Nam Mỹ như Brazil, Argentina, Venezuela,… đã và đang đạt những

kỷ lục thế giới về sản lượng cũng như về qui mô các nhà máy thủy điện Chỉ có châuPhi có tiềm năng dồi dào nhưng sản lượng thủy điện hiện rất nhỏ bé

- Thời gian gần đây, mối quan ngại về những tác động tiêu cực hiện hữu cũng nhưtiềm ẩn về xã hội và môi trường của các đập thủy điện đã được nhiều nhà khoa họccũng như các nhà chức trách ở một số quốc gia lên tiếng và hành động Hiện nay, một

số nước đã chấm dứt việc xây đập làm thủy điện, thậm chí có nơi còn chấp nhận tốntiền để phá bỏ như trường hợp của Mỹ, Nhật Một nhà lãnh đạo Mỹ đã nhận ra cái giáphải trả do tác động xấu của các đập thủy điện gây ra, không chỉ làm mất đi những hệsinh thái quan trọng mà còn mất nguồn sinh kế của nhiều cộng đồng dân cư Dự kiếnđến năm 2020, các đập nước khổng lồ của Mỹ sẽ được phá bỏ để trả lại dòng sông nhưnguyên trạng lịch sử của nó Đây là dự án phá bỏ đập thủy điện lớn nhất thế giới vớitổng chi phí lên tới 450 triệu đô la Mỹ Tại Nhật Bản, vào tháng 9/2009, chính quyềncủa tân Thủ tướng Yukio Hatoyama đã ngừng ngay 48 trong số 56 Dự án xây đập thủyđiện, thủy lợi trên toàn nước Nhật Trong số các dự án bị hủy bỏ, nổi bật nhất là Dự ánxây đập Yamba có chi phí dự kiến lên đến 5 tỷ đô la Mỹ và hiện đã hoàn tất 70%

Bảng 4: 10 nhà máy thủy điện lớn nhất thế giới (xếp loại theo công suất nhà máy)

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 22

Hình 13: Đập Tam Hiệp - “Vạn Lý Trường Thành” trên sông Dương Tử

Trang 23

* Theo Ủy ban Năng lượng Thế giới (WEC): Thủy điện cung cấp 19% nhu cầu nănglượng toàn cầu và hiện vẫn chưa được khai thác hết, đặc biệt tại các quốc gia đangphát triển WEC dự báo, để khai thác được 2/3 tiềm năng còn lại của thủy điện, cầnxây dựng thêm 20.000 nhà máy thủy điện với tổng công suất lên tới 1400 kW và chiphí 1500 tỉ USD

2.2 Việt Nam

* Số liệu tổng hợp tại 51 địa phương của bộ

Xây dựng cho thấy, tính đến ngày 22/8/2012

cả nước có gần 7.000 công trình thủy lợi,

thủy điện, trong đó có: 30 công trình thủy

điện và 2 hồ thủy lợi có đập cao trên 30m; 61

công trình thủy điện có đập cao từ 15m đến

dưới 50m hoặc dung tích hồ trên 3 triệu m3;

479 công trình thủy lợi có đập cao từ 15m

đến dưới 50m hoặc có dung tích hồ chứa trên

3 triệu m3; và hơn 6.000 công trình thủy lợi,

thủy điện có đập cao dưới 15m và có dung

tích hồ chứa dưới 3 triệu m3 Đến nay, cả

nước đã xây dựng hơn 2.100 hồ chứa có dung

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 23

Hình 14: Hồ TĐ lớn nhất nước ta

– Hồ TĐ Hoà Bình

Trang 24

tích mỗi hồ từ 0,5 triệu m3 trở lên với tổng dung tích trữ nước gần 41 tỷ m3 Hiện đangxây dựng khoảng gần 240 hồ, tổng dung tích hơn 21 tỷ m3 và trên 500 hồ đã có quyhoạch sẽ được xây dựng trong vài năm tới với tổng dung tích gần 4 tỷ m3…

Bảng 5: Một số đập hồ thuỷ điện lớn của nước ta:

10 6 (m 3 )

1 Hoà Bình TĐ Hoà Bình Thị xã Hoà Bình 9450.0

2 Yên Bái TĐ Thác Bà Hán Đà - Yên Bình 2940.0

3 Đồng Nai TĐ Trị An Trị An - Vĩnh Cửu 2765.0

4 Bình Phước TĐ Thác Mơ Phước Tín - Phước Long 1360.0

5 Gia Lai TĐ YaLy Ia Mơ Nông - Chư Pah 1037.0

* Việt nam có khí hậu nhiệt đới, nóng, ẩm và mưa nhiều do vậy chúng ảnh hưởng rấtnhiều đến khối lượng và sự phân bổ nước Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng

2000 mm Lượng mưa rơi nhiều nhất đạt tới 4000 - 5000 mm, nơi mưa thấp nhất cũngđạt trên 1000 mm Mùa mưa trong năm thường từ 3 - 5 tháng Lượng mưa hầu hết tậptrung vào tháng 5 đến tháng 11, trong thời gian này lưu lượng dòng chảy năm đạt từ70% đến 75% Ở miền Bắc, miền Nam và Tây Nguyên, mùa mưa thường bắt đầu từtháng 5, 6 và kết thúc vào tháng 10, 11 Ở khu vực Đông Trường Sơn và vùng duyênhải miền Trung mùa mưa bắt đầu chậm hơn 2, 3 tháng và vùng khu 4 cũ (từ Quy Nhơn

- Nghệ Tĩnh), mùa mưa bắt đầu chậm hơn 1, 2 tháng Lượng mưa tập trung vào 3tháng có mưa nhiều nhất, chiếm khoảng 70 - 80% tổng lượng mưa trong năm Hệthống sông ngòi Việt Nam có mật độ cao Việt Nam có 2360 con sông với chiều dài từ

10 km trở lên, trong đó có 9 hệ thống sông có diện tích lưu vực trên 10.000 km Mật

độ sông suối trung bình trên toàn lãnh thổ là 0,6 km/km2 Hàng năm, mạng lưới sôngsuối Việt Nam vận chuyển ra biển lượng nước 870 km3/năm, tương ứng với lưu lượngdòng chảy bình quân khoảng 37.500 m3/s Địa hình đồi núi và tài nguyên nước dồi dào

là tiềm năng lớn để phát triển thủy điện ở nước ta, đáp ứng nhu cầu điện năng cho việcphát triển bền vững của đất nước

+ Tổng kết các nghiên cứu về quy hoạch thủy điện ở nước ta cho thấy tổng trữnăng lý thuyết của các con sông đựơc đánh giá đạt 300 tỷ kWh/năm, công suất lắp máyđựợc đánh giá khoảng 34.647 MW

+ Trữ năng kỹ thuật xác định khoảng 123 tỷ kWh Tương đương với công suấtlắp máy khoảng 31.000 MW

+ Hiện nay các công trình thuỷ điện đã khai thác được khoảng 8.075 MW vàmới khai thác được trên 26% tiềm năng kỹ thuật

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 24

Trang 25

- Theo tài liệu quy hoạch các dòng sông do các công ty tư vấn xây dựng điện 1,2 đãđược phê duyệt và Quy hoạch thủy điện Quốc gia do hãng SWECO - STATKRAFTlập cho 9 hệ thống sông chính (năm 2005), trữ năng kinh tế kỹ thuật của các hệ thốngsông chính theo thứ tự từ Bắc vào Nam như sau:

Bảng 6: Trữ năng kinh tế kỹ thuật của các hệ thống sông chính theo thứ tự từ Bắc vàoNam

(MW)

Điện lượng TB hằng năm (E0 năm) (triệu kWh)

1 Sông Lô - Gâm – Chảy 1.089 4.025

- Trong quy hoạch đến năm 2025, Việt Nam vẫn phải tiếp tục xây dựng thêm cácnhà máy thủy điện mới để tăng gấp đôi sản lượng so với năm 2010 Như vậy, nếucác nhà máy thủy điện đưa vào vận hành đúng tiến độ thì đến năm 2020 sẽ khai tháchết khoảng 90% tiềm năng kinh tế kỹ thuật thủy điện

3 Sơ lược về thuỷ điện Sông Tranh 2

* Vị trí địa lý:

- Thủy điện sông Tranh 2 là một tổ

hợp các công trình gồm hồ chứa nước,

đập thuỷ điện và nhà máy phát điện

được xây dựng trên thượng nguồn Sông

Tranh, một nhánh sông thượng lưu sông

Thu Bồn thuộc địa phận các xã: Trà

Đốc, Trà Bui, Trà Tân (huyện Bắc Trà

My) và Trà Dơn, Trà Leng, Trà Mai,

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Hình 15: Đập thuỷ điện Sông Tranh 2 Trang 25

Trang 26

Trà Tập (huyện Nam Trà My) – tỉnh Quảng Nam Nam tại miền Trung Việt Nam Bờđập chính của hồ chứa nước xây dựng nằm sát tỉnh lộ 616

- Sông Tranh bắt nguồn từ khối núi Ngọc Linh cao 2,598m thuộc huyện Nam Trà

My, tỉnh Quảng Nam phần thượng lưu này được gọi là Đak Di Sông chảy ngược lênphía Bắc qua các huyện trung du của tỉnh Quảng Nam như Nam Trà My, Bắc Trà My,

Tiên Phước, Hiệp Đức Khi đi qua đây, sông nhận thêm nhiều chi lưu là các sông, suối

nhỏ Đoạn chảy qua Trà My, Tiên Phước và Hiệp Đức được gọi là sông Tranh Bắtđầu khi đi qua địa phận Nông Sơn, Duy Xuyên, sông bắt đầu được gọi là sông ThuBồn

* Mục tiêu công trình:

- Thuỷ điện Sông Tranh 2 được xây dựng nhằm cung cấp điện cho khu vực miềnTrung và hòa vào lưới điện quốc gia

- Hạn chế lũ lụt và đẩy mặn cho vùng hạ lưu

- Ngoài ra, hồ thủy điện còn bổ sung nguồn nước tưới vào mùa kiệt và cung cấpnước sinh hoạt cho vùng hạ lưu

* Đầu tư và quy mô công trình:

- Công trình có tổng vốn hơn 5.194 tỷ đồng do Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN)làm chủ đầu tư Đại diện Chủ đầu tư là Ban QLDA thủy điện 3, tư vấn thiết kế là Công

ty Cổ phần tư vấn xây dựng Điện 1, tư vấn thẩm tra thiết kế kỹ thuật là Liên danhNippon Koei - J.Power (Nhật Bản), tổng thầu thi công là TCT XD Thủy lợi 4

- Công trình có công suất lắp máy 190 MW (02 tổ máy), trung bình mỗi năm cungứng hơn 679 triệu KWh

- Công trình có diện tích lưu vực 1.100km2, dung tích hồ chứa đến 733,4 triệu métkhối nước Hiện dung tích hồ chứa nước của thủy điện Sông Tranh 2 thuộc hàng lớnnhất miền Trung, được thiết kế cao hơn vùng hạ lưu khoảng 100 m Kết cấu đập là bêtông trọng lực sử dụng công nghệ đầm lăn; chiều cao lớn nhất của đập dâng là 96m,mực nước chết là 140 m

- Công trình được khởi công xây dựng ngày 05/3/2006 Ngày 29/11/2010 công trìnhđược tích nước đợt 1 đến cao trình ngưỡng tràn 161m Ngày 19/10/2011, công trìnhđược tích nước đợt 2 đến cao trình mực nước dâng bình thường 175m Cuối năm 2010

cả hai tổ máy này đều chính thức phát điện

* Các thành phần của công trình

Những hạng mục công trình được xây dựng bao gồm:

- Một đập trên sông Tramh để tạo ra hồ chứa;

- Tuyến năng lượng để chuyển nước từ hồ chứa qua nhà máy;

- Nhà máy với những thiết bị cần thiết để phát điện;

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 26

Trang 27

- Đường dây truyền tải điện từ nhà máy đấu nối với lưới điện quốc gia;

- Đường xá nối khu vực dự án với các khu tái định cư và hệ thống đường giao thôngquốc gia;

- Các khu vực phụ trợ cho công tác xây dựng và vận hành công trình

* Đặc điểm nổi bật của công trình:

- Đập thủy điện Sông Tranh 2 được xây dựng trên một khu vực địa tầng rất xấu vàphức tạp Cấu trúc địa chất dưới móng công trình được hình thành bởi diorit,granodiorit, granit với tổ hợp khoáng vật kém bền vững khi bị nước tác động Có khảnăng trượt lở đất mạnh, nứt đất khi

động đất mạnh xảy ra

- Ngoài ra, khu vực xây dựng thuỷ

điện Sông Tranh 2 có tình hình địa

chất rất phức tạp với với nhiều đới

đứt gãy TS Cao Đình Triều, cho

biết có tới 12 đứt gãy hoạt động

trong khu vực xây dựng đập thủy

điện Sông Tranh 2 Trong đó đới

đứt gãy bậc 2 Hưng Nhượng – Tà

Vi là lớn nhất Động đất xảy ra ở

đây sẽ tác động trực tiếp tới vùng hồ

và đập thủy điện Đới này có chiều dài 5km, cách tuyến đập khoảng 2km, nằm ởthượng lưu hồ chứa là đứt gẫy phân đới, phân chia hai đới cấu trúc Ngọc Linh, TràBồng – Khâm Đức, có đới phá hủy rộng trên 10m, đới ảnh hưởng có thể lên tới 100m.Trong vùng còn có 4 đới đứt gãy bậc 3 Một số đứt gãy bậc 4 cắt qua hai vai đập, khuphụ Ngoài ra, ở khu vực lòng hồ từng có điểm nước nóng do có đứt gãy và rãnh rấtsâu đi ra từ lòng đất mang tên đới đứt gãy Trà My Đới đứt gãy Trà My rất phức tạp,

có bề rộng 10-30km và dài 6-7 km

- Bên cạnh đó, không giống như các công trình thuỷ điện thông thường, Sông Tranh

2 trong quá trình xây dựng đã bỏ qua nguyên tắc mà một dự án thủy điện nào cũngphải có đó là xây dựng cửa xả đáy Của xả đáy đảm nhiệm hai nhiệm vụ: cấp nước đểnuôi dưỡng dòng sông bên dưới chân đập không bị chết khô sau khi ngăn đập, cáiquan trọng hơn cả là trong trường hợp sự cố thì người ta vẫn tháo được nước tronglòng hồ ra để xử lý Đập thuỷ điện Sông Tranh 2 không có cửa xả đáy, vì vậy hồ luônchứa tối thiểu 230 triệu m3 ở mực nước chết là 140 m

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 27

Hình 16: Bản đồ đứt gãy kiến tạo khu vực

Bắc Trà My.

Trang 28

- Đập Sông Tranh 2 được xây dựng theo công nghệ đập bê tông đầm lăn – là đập bêtông trọng lực, được thi công bằng công nghệ đầm lăn (Roller-Compacted ConcreteDam, viết tắt là RCCD)

+ Việc xây dựng đập RCCD

là một thành tựu mới về khoa học

và công nghệ Nếu đập bê tông

thường đã có lịch sử từ vài trăm

năm thì đập RCCD chỉ xuất hiện

cách nay khoảng 30 năm (ở Mỹ,

Nhật) Công nghệ thi công bê tông

đầm lăn (RCC) với tính kinh tế và

tốc độ đổ nhanh tương tự như đập

đắp đã nhanh chóng được công

nhận trên toàn thế giới Tại Việt

Nam bắt đầu năm 2003 hàng loạt

các công trình đập dâng với công nghệ thi công bê tông đầm lăn đã và đang được triểnkhai áp dụng cho các công trình thuỷ điện lớn như Sơn La, Pleikrông, A Vương, ĐồngNai 3, Đồng Nai 4, Sê San 4, Bản Chát, Bản Vẽ, Sông Tranh 2, Huội Quảng…

+ Bê tông đầm lăn khác bê thông thường (xây nhà cao tầng, xây cầu cống, v.v.): a) Bê tông thường có 350 kg ximăng cho 1 mét khối Bê tông đầm lăn chỉ có từ 60 -

100 kg ximăng cho 1 mét khối, thay vào đó là hỗn hợp gồm: cát tự nhiên hoặc cátnghiền; đá dăm; xi măng và phụ gia hoạt tính nghiền mịn như tro bay nhiệt điện (chấtthải ở các NM nhiệt điện) hoặc bột đá puzolan thiên nhiên; nước và phụgia khác b) Bê tông thường được đông cứng bằng phản ứng hóa học (phản ứng nhiệt thủyhóa giống như vôi tôi), cường độ chịu lực cao Bê tông đầm lăn được đông cứng bằngđầm lăn (dùng đầm có bánh lăn để nén chặt), cần một thời gian dài để gắn kết vật liệu

và đòi hỏi việc thi công và giám sát phải cực kỳ chặt chẽ nếu không thân đập sẽ dễ bịthấm Để khắc phục nhược điểm này, người ta phải đổ dựng đứng một bức tường chắnbằng bê tông cốt thép dày khoảng 2,5 m chạy dọc thân đập ở phía mái thượng lưu đểngăn thấm vào thân đập Tuy nhiên sau này, vì lí do tiết kiệm hay những nguyên nhânkhác mà hầu hết các công trình RCC khác đều bỏ qua khâu này

c) Việc lựa chọn phương án thi công đập RCC thường đem lại hiệu quả kinh tế caohơn so với đập bê tông thường vì tốc độ thi công nhanh, giá thành vật liệu hạ, giảmđược chi phí cốp pha, giảm chi phí cho công tác vận chuyển, đổ, đầm bê tông Giảm chi phí cho các kết cấu phụ trợ và cho biện pháp thi công

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 28

Hình 17: Công trường thủy điện thi công

bê tông đầm lăn

Trang 29

+ Tuy công nghệ xây dựng RCCD còn nhiều vấn đề phức tạp trong quá trình thicông và giám sát, nhưng vì lợi ích kinh tế, EVN đã áp dụng công nghệ này cho hàngloạt các đập thuỷ điện mà không lường được hậu quả nghiêm trọng của nó.

4 Vai trò của công trình đập hồ thuỷ điện

4.1 Vai trò Thuỷ lợi

Những hồ chứa dung tích lớn được xây dựng trong hệ thống đập hồ thuỷ điện sẽ tíchnước vào các tháng mùa mưa để có thể dùng để phát điện trong mùa khô Như vậy,thủy điện giúp đồng bằng hạ du chống lũ về mùa mưa và hạn hán vào mùa khô; cảithiện dòng chảy kiệt và xâm nhập mặn

- Thiên tai lũ lụt ở nước ta biểu hiện ngày một thường xuyên, ác liệt, bất bìnhthường hơn Vai trò thuỷ lợi của công trình đập hồ càng đóng vị trí quan trọng trongviệc cắt lũ, hạn chế lũ lụt vào mùa mưa, chế ngự một phần nào đó những thiên tai này

- Bên cạnh đó, hồ chứa trong công trình đập hồ còn có vai trò cực kỳ quan trọngtrong việc cấp nước vào mùa khô Đảm bảo cung cấp nước phục vụ sinh hoạt, côngnghiệp, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở khu vực hạ lưu công trình, đồng thờiđảm bảo nước tưới cho cây trồng, từ đó tạo điều kiện cho việc phát triển các khu vựcthâm canh, chuyên canh, các trang trại…hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu sản xuất

- Ngoài ra, một lợi ích không kém phần quan trọng của đập hồ là xả nước cải thiệndòng chảy kiệt và đẩy mặn để tránh xâm nhập mặn ngược vào sông, cải thiện môitrường, chất lượng nguồn nước vùng hạ lưu Bảo vệ môi trường cho hạ du sông, tránhđược những sự cố do sụt lở bờ và lòng sông

4.2 Vai trò Thuỷ điện

Thủy điện xuất hiện cách đây hơn 70 năm và trở thành niềm hy vọng của nhân loại

- Trong cung cấp điện năng, Thủy điện còn là nguồn năng lượng rất linh hoạt, tức làchúng ta có thể tăng giảm sản lượng điện theo yêu cầu phụ tải bằng cách đóng, mở vannước vào nhà máy thủy điện Giúp cho việc điều chỉnh lượng điện lúc thấp điểm và lúccao điểm Nếu phải làm việc này ở các nhà máy nhiệt điện hay điện hạt nhân thì mấtnhiều thời gian hơn và rất tốn kém.

- Do không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, các nhà máy thủy điện không phát thải racác chất khí, chất rắn gây ô nhiễm môi trường, không tiêu thụ ôxygen, không phát sinhnhiệt, không thải ra các khí gây hiệu ứng nhà kính (chỉ trừ trường hợp đáy hồ thủyđiện có cấu tạo địa chất rất đặc biệt làm phát sinh một lượng nhỏ khí methal) Do đó,

so với nhiệt điện, thuỷ điện có thể được coi là một dạng năng lượng sạch

- Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là giá thành nhiên liệu, đây là một nguồn nănglượng tái tạo được (tính bền vững): những trận mưa rào làm hồi phục lượng nước

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 29

Trang 30

trong hồ chứa, vì vậy không bao giờ sợ cạn kiệt Các nhà máy thuỷ điện không phảichịu cảnh tăng giá của nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, khí thiên nhiên hay than đá,

và không cần phải nhập nhiên liệu Chúng ta hiện đang sống trong TK21, khi cácnguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm và đi đến nguy cơ cạn kiệt (đặc biệt là tàinguyên hoá thạch) hầu hết các cuộc chiến tranh trên Thế giới hiện này cũng chỉ đểgiành giật tài nguyên, thì thuỷ điện cũng có thể được coi là một giải pháp năng lượngtrong thế kỷ này

- Các nhà máy thuỷ điện cũng có tuổi thọ lớn hơn các nhà máy nhiệt điện, một sốnhà máy thuỷ điện đang hoạt động hiện nay đã được xây dựng từ 50 đến 100 nămtrước Chi phí nhân công cũng thấp bởi vì các nhà máy này được tự động hoá cao và

có ít người làm việc tại chỗ khi vận hành thông thường Ở Mỹ, giá thành sản xuất thủyđiện là 0,85 cent/kWh, bằng 50% giá điện hạt nhân, 40% giá điện nhiên liệu hóa thạch

và 25% giá điện khí tự nhiên

* Ngoài ra, Những hồ chứa được xây dựng cùng với các nhà máy thuỷ điện thường

là những địa điểm thư giãn tuyệt vời, là nơi tổ chức các hoạt động thể thao dưới nước,Trở thành điểm thu hút khách du lịch, tổ chức các đội tàu, thuyền phục vụ khách dulịch tham quan, dã ngoại ngắm cảnh ven hồ Bên cạnh đó, hồ chứa còn là nơi cung cấpnguồn thuỷ sản lớn, tạo nguồn thu hữu ích trong việc điều hành đập, tăng thu nhập chongười dân xung quanh công trình, cải tạo một cách đáng kể môi trường trong khu vực

và quảng bá hình ảnh của địa phương

Chương 3: CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN

1 Tác động tiêu cực của công trình đập hồ thuỷ điện

Do hiệu quả đầu tư thủy điện mang lại khá cao, người ta thường ít chú ý đến hiểmhọa môi trường Ngân hàng Thế giới (WB) cảnh báo, trên 58% số dự án thủy điệnđược xây dựng đã không tính hết tác động môi trường Gần đây, các nhà nghiên cứu

đã làm rõ tác động bất lợi của thủy điện trên các mặt sinh thái, giảm thiểu đa dạng sinhhọc và hiệu quả kinh tế đảo ngược từ việc cải tạo môi trường tự nhiên

1.1 Khu vực trên đập

* Đối với môi trường:

1) Nhấn chìm rừng đầu nguồn, gia tăng nạn phá rừng; giảm lượng CO 2 trong không khí được hấp thụ

HVTH: Trần Nguyễn Cẩm Lai – QLMT K22 Trang 30

Ngày đăng: 15/03/2015, 20:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Cục Quản lý tài nguyên nước - Báo cáo tổng kết nhiệm vụ: Thống kê, điều tra, thu thập bổ sung thông tin dữ liệu các hồ chứa có dung tích từ 500.000 m 3 trở lên trên toàn quốc. - Cục QLTNN, Bộ TN&amp;MT, 2009 Khác
[2]. Lê Bắc Huỳnh - Thực trạng suy giảm nguồn nước ở hạ lưu các lưu vực sông và những vấn đề đặt ra đối với quản lý - Tạp chí TNMT số 4, 2008 Khác
[3]. Lê Diên Dực, Hàn Tuyết Mai - Đập thủy điện-nhân tố tác động đến biến đổi khí hậu - Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
[4]. PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng – Biến đổi thuỷ văn các sông vùng ven biển miền Trung những năm gần đây và những vấn đề đặt ra cho phát triển bền vững – Viện Thuỷ văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu, Đại học Thuỷ lợi Khác
[4]. Nguyễn Đình Huấn – Kỹ thuật môi trường – Đại học Bách Khoa Đà Nẵng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Vòng tuần hoàn nước - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Hình 2 Vòng tuần hoàn nước (Trang 6)
Hình 3: Phân bố nước trên Trái Đất - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Hình 3 Phân bố nước trên Trái Đất (Trang 7)
Hình 4: Sông Hồng và vùng Đồng bằng Bắc Bộ - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Hình 4 Sông Hồng và vùng Đồng bằng Bắc Bộ (Trang 10)
Bảng  3: Trữ lượng nước ngầm đã được đánh giá ở các vùng khác nhau trên nước ta (1995) - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
ng 3: Trữ lượng nước ngầm đã được đánh giá ở các vùng khác nhau trên nước ta (1995) (Trang 12)
Hình 6: Phân bố dung lượng nước hình thành ở trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam ở một số sông chính - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Hình 6 Phân bố dung lượng nước hình thành ở trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam ở một số sông chính (Trang 15)
Hình 9: Miền Tây mùa nước lũ - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Hình 9 Miền Tây mùa nước lũ (Trang 18)
Hình 13: Đập Tam Hiệp - “Vạn Lý Trường Thành” trên sông Dương Tử - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Hình 13 Đập Tam Hiệp - “Vạn Lý Trường Thành” trên sông Dương Tử (Trang 22)
Hình 14: Hồ TĐ lớn nhất nước ta  – Hồ TĐ Hoà Bình - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Hình 14 Hồ TĐ lớn nhất nước ta – Hồ TĐ Hoà Bình (Trang 23)
Bảng 5: Một số đập hồ thuỷ điện lớn của nước ta: - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Bảng 5 Một số đập hồ thuỷ điện lớn của nước ta: (Trang 24)
Bảng 6: Trữ năng kinh tế kỹ thuật của các hệ thống sông chính theo thứ tự từ Bắc vào Nam - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Bảng 6 Trữ năng kinh tế kỹ thuật của các hệ thống sông chính theo thứ tự từ Bắc vào Nam (Trang 25)
Hình 15: Đập thuỷ điện Sông Tranh 2 - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Hình 15 Đập thuỷ điện Sông Tranh 2 (Trang 25)
Hình 17: Công trường thủy điện thi công  bê tông đầm lăn - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Hình 17 Công trường thủy điện thi công bê tông đầm lăn (Trang 28)
Hình 19: Các yếu tố chính ảnh hưởng phát thải khí nhà kính của đập nước  (Đồ họa: International Rivers) - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Hình 19 Các yếu tố chính ảnh hưởng phát thải khí nhà kính của đập nước (Đồ họa: International Rivers) (Trang 33)
Bảng 8: Ước tính tổng diện tích đất - rừng bị mất do các hồ chứa thủy điện trên các lưu vực sông ở Bắc Trung Bộ - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Bảng 8 Ước tính tổng diện tích đất - rừng bị mất do các hồ chứa thủy điện trên các lưu vực sông ở Bắc Trung Bộ (Trang 35)
Hình 20: - Nhà xây san sát như nhà phố không phù hợp với tập quán của đồng bào dân tộc - ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔITRƯỜNG VÀO VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀTHUỶ ĐIỆN (THUỶ ĐIỆN SÔNG TRANH 2)
Hình 20 - Nhà xây san sát như nhà phố không phù hợp với tập quán của đồng bào dân tộc (Trang 36)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w