Tình trạng nguồn cung lao động Việt Nam...12 2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng giáo dục không đáp ứng được nhu cầu ngày nay...15 Chương 3: Tăng học phí là biện pháp quan trọng nhưng không
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1: Giới thiệu nền giáo dục của Việt Nam và thế giới 5
Đồ thị 1: Số trường cao đẳng của Việt Nam 8
Đồ thị 2: Số trường đại học của Việt Nam 8
Đồ thị 3: Số lượng sinh viên 9
Đồ thị 4: Giảng viên cao đẳng 9
Đồ thị 5: Giảng viên đại học 10
Đồ thị 6: Số lượng số sinh viên/Số giảng viên 10
Đồ thị 7: Chi phí cho giáo dục 11
Đồ thị 8: % GDP cho giáo dục 11
Chương 2: Thực trạng nguồn cung lao động tại Việt Nam và nguyên nhân dẫn đến tình trạng giáo dục không đáp ứng được nhu cầu ngày nay 12
1) Thực trạng nguồn cung lao động tại Việt Nam 12
1.1 Quy mô nguồn cung lao động Việt Nam 12
1.2 Tình trạng nguồn cung lao động Việt Nam 12
2) Nguyên nhân dẫn đến tình trạng giáo dục không đáp ứng được nhu cầu ngày nay 15
Chương 3: Tăng học phí là biện pháp quan trọng nhưng không phải biện pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng giáo dục và đề xuất của nhóm nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đại học 18
1) Tăng học phí không phải biện pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng giáo dục 18
1.1 Tăng học phí làm giảm khả năng đến trường của sinh viên nghèo 18
1.2 Học phí cao không đồng nghĩa với chất lượng đào tạo 19
1.2.1 Tiền chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ để làm giáo dục thành công 20
1.2.2 Không tăng học phí mà cần tăng năng lực quản lý 21
2) Đề xuất của nhóm nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đại học 22
Trang 2Chương 1: Giới thiệu nền giáo dục của Việt Nam và thế giới
Từ hơn 100 năm nay, vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế là làm thế nào để một nước nghèo đuổi kịp nước giàu về trình độ phát triển mà trước hết là về thu nhập bình quân đầu người Báo cáo phát triển công nghiệp năm 2005 của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc UNIDO chỉ
ra rằng, cách thức mà các nước dùng để thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế với các nước đi trước là rất đa dạng Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là bắt chước các quy định, định chế, công nghệ của các nước phát triển; cũng không thể chỉ trông cậy vào động lực của kinh tế thị trường mà muốn phát triển lâu dài và bền vững, những nước chậm và đang phát triển chỉ có một lựa chọn duy nhất là phát triển giáo dục Một thực tế là tất cả hệ thống giáo dục của các nước chậm và đang phát triển trên thế giới đều rất lạc hậu, và hiện đang tụt hậu so với các nước phát triển hàng thập kỷ Hệ thống giáo dục không tương thích và tách khỏi cuộc sống mặc dù đã tiến hành không ít các cuộc cải cách Đầu ra các trường đại học thường không thể đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, yêu cầu của nền kinh tế chuyển đổi Ở một
số nước, do ảnh hưởng của chính trị, người lao động được giáo dục quá nhiều về nhận thức chính trị thay vì được giáo dục về năng lực chuyên môn và khả năng thích ứng
So sánh nền giáo dục bậc đại học tại Việt Nam với người láng giềng Trung Quốc, có thể thấy, sau 25 năm tiến hành đổi mới về giáo dục, Trung Quốc đã đạt được những thành quả to lớn Trong quá trình cải cách, bên cạnh hệ thống trường công lập, Trung Quốc còn chú trọng phát triển hệ thống trường dân lập, hình thành cục diện mới song song với việc phát triển trường công lập và dân lập Đây là một con đường tất yếu để một nước còn nhiều khó khăn có thể đại chúng hóa giáo dục Đại học, biến gánh nặng về dân số thành nguồn nhân lực dồi dào có trình độ cao như Trung Quốc Trong khi đó, Việt Nam cũng tiến hành cải cách hệ thống trường
Trang 3công lập và dân lập nhưng kết quả lại chưa được như mong đợi Ngoài ra, Trung Quốc còn chủ trương phát triển nhiều hình thức trường đại học đào tạo không chính quy như đại học qua truyền hình, đại học nông dân, đại học viên chức, học viện giáo dục và bồi dưỡng giáo viên, học viện quản lý cán bộ, Phương thức đào tạo này, nếu được áp dụng vào Việt Nam sẽ mở ra nhiều cơ hội học đại học cho nhiều người, góp phần vàp thực hiện mục tiêu giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài
So sánh Việt Nam với Mỹ - một đất nước có nền giáo dục bậc đại học hàng đầu trên thế giới với các chương trình đào tạo xuất sắc hầu như trong mọi lĩnh vực,
có bằng cấp được công nhận trên toàn thế giới Theo thống kê, thời gian học tập trên lớp của một sinh viên Việt Nam trong vòng 4 năm là khoảng 2.183 giờ trong khi ở Mỹ là khoảng 1.380 giờ Như vậy chương trình học ở Việt Nam dài hơn gần 60% Với thời gian ngồi trên lớp như vậy, sinh viên sẽ còn ít thời gian để tự học và nghiên cứu hơn Ngoài ra, các chương trình về Chủ nghĩa Marx - Lenin, chính trị chủ nghĩa xã hội, lịch sử Đảng, chiếm 203 giờ, tương đương với 9% tổng thời gian học trên lớp Đây cũng là một trong những lý do làm tăng số giờ giảng dạy trên lớp tới 2.183 giờ Hơn nữa, trong khi ở đại học Việt Nam, hầu như tất cả các môn học đều có tính bắt buộc, sinh viên không có quyền lựa chọn thì ngược lại, ở
Mỹ, sinh viên có quyền lựa chọn đến 1/3 thời gian học dù học bất cứ ngành chính nào Việc hiểu biết liên ngành như vậy cho phép sinh viên hợp tác nghiên cứu liên ngành, phân tích và nhìn nhận vấn đề không bị bó hẹp trong chuyên môn của mình
Do đó, sau khi ra trường, họ có thể làm việc ở nhiều chuyên môn khác nhau chứ không bị bó vào ngành chuyên môn duy nhất
Một số bảng số liệu liên quan đến giáo dục đại học:
Trang 4Đồ thị 1: Số trường cao đẳng của Việt Nam
2007-20080 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012 50
100
150
200
250
Đồ thị 2: Số trường đại học của Việt Nam
2007-20080 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012
20
40
60
80
100
120
140
160
Trang 5Đồ thị 3: Số lượng sinh viên
2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012 0
200,000
400,000
600,000
800,000
1,000,000
1,200,000
1,400,000
1,600,000
Đồ thị 4: Giảng viên cao đẳng
2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012 0
2,000
4,000
6,000
8,000
10,000
12,000
14,000
16,000
18,000
Trang 6Đồ thị 5: Giảng viên đại học
2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012 0
5,000
10,000
15,000
20,000
25,000
30,000
Đồ thị 6: Số lượng số sinh viên/Số giảng viên
2007-20080 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012 5
10
15
20
25
30
35
Trang 7Đồ thị 7: Chi phí cho giáo dục
- 20,000 40,000 60,000 80,000 100,000 120,000 140,000 160,000
Đồ thị 8: % GDP cho giáo dục
-
1.00
2.00
3.00
4.00
5.00
6.00
7.00
Trang 8Chương 2: Thực trạng nguồn cung lao động tại Việt Nam và nguyên nhân dẫn
đến tình trạng giáo dục không đáp ứng được nhu cầu ngày nay.
1) Thực trạng nguồn cung lao động tại Việt Nam
Nhận thức về nguồn nhân lực của Việt Nam đang còn có những ý kiến khác nhau Trên phương tiện thông tin đại chúng, người ta thường nói đến thế mạnh của Việt Nam là nguồn nhân công rẻ mạt và kêu gọi các nhà đầu tư hãy đầu tư vào Việt Nam Tại sao lại nói như vậy? Chúng ta cùng tìm hiểu thực trạng nguồn cung lao động ở Việt Nam hiện nay để có câu trả lời cho câu hỏi trên
1.1 Quy mô nguồn cung lao động Việt Nam
Trong hàng chục năm trở lại đây, nguồn cung lao động luôn chiếm tỉ trọng cao trong dân số và có xu hướng tăng mạnh trong tương lai Đây là một điều vô cùng thuận lợi bởi nước ta có một nguồn lực lượng lao động dồi dào, là tiềm lực cho nền kinh tế đất nước trong thời kỳ hội nhập
Dân số ( triệu người) 52,742 64,37
5
76,32 5
857,89 5
87,84
Số dân trong độ tuổi lao động (triệu
người)
26,63 34,76 44,58 56,62 45,14
1.2 Tình trạng nguồn cung lao động Việt Nam
Tính đến nay, số dân trong độ tuổi lao động là khoảng 56,62 triệu người, trong đó nông dân chiếm khoảng 73% lao động cả nước và lực lượng công nhân chiếm khoảng 6% Số liệu trên đây phản ánh một thực tế là nông dân nước ta chiếm tỷ lệ rất cao về lực lượng lao động trong khi lực lượng công nhân và trí thức chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ
Trang 9Theo báo cáo của ngành lao động, mỗi năm nước ta có hơn 1 triệu lao động qua đào tạo, cộng với những người tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng
và đại học (khoảng 500 ngàn người) Nếu kể cả các doanh nghiệp cũng tham gia đào tạo người lao động nữa thì tổng số lao động qua đào tạo đạt trên 1,5 triệu người
Tính từ năm 2000 đến năm 2006 có khoảng 9 triệu người được đào tạo trong tổng số 45 triệu người trong độ tuổi lao động - tức là khoảng 20% lao động đã qua đào tạo Nếu cộng thêm số lao động đã qua đào tạo trước năm 2000 và hiện tại vẫn đang tham gia lao động thì tỉ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm khoảng 37%
Bên cạnh đó, thống kê nguồn nhân lực cho thấy, hiện vẫn còn khoảng 80% số công chức, viên chức đã qua đào tạo chưa hội đủ những tiêu chuẩn của một công chức, viên chức như trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, ảnh
hưởng nhiều đến chất lượng công việc Có 63% tổng số sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa có việc làm; không ít đơn vị nhận người vào làm phải mất 1 - 2 năm đào tạo lại Trong số 37% sinh viên có việc làm thì cũng có một số không đáp ứng được công việc Bằng cấp đào tạo ở Việt Nam thì chưa được thì trường lao động quốc tế thừa nhận Năm 2007, số sinh viên tốt nghiệp đại học là 161,411 Theo ước tính, mỗi tấm bằng đại học, người dân bỏ ra 40 triệu đồng, còn Nhà nước đầu tư khoảng 30 triệu Như vậy, với tỷ lệ 63% số sinh viên ra trường chưa có việc làm cho thấy kinh phí đầu tư của sinh viên thất nghiệp (161,411 sinh viên x 63% x 70 triệu), ít nhất thất thoát 7,117 tỷ đồng (trong đó có 4,067 tỷ đồng của dân và 3,050
tỷ đồng của Nhà nước)
Theo điều tra của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2005: Nguồn nhân lực Việt Nam về chất lượng được xếp hạng 53 trên 59 quốc gia được khảo sát, song mất cân đối nghiêm trọng:
Trang 10 Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1,16 cán bộ tôt nghiệp trung cấp và 0,92 công nhân kỹ thuật; trong khi đó tỉ lệ này của thế giới là 4 và 10
Ở Việt Nam cứ 1 vạn dân có 181 sinh viên đại học, trong khi đó của thế giới
là 100 và của Trung Quốc là 140 mặc dù mức thu nhập quốc dân tính theo đầu người của Trung Quốc khoảng gấp đôi nước ta
Kết quả chung là: Nhìn nhận theo góc độ đánh giá nguồn nhân lực, chất lượng con người Việt Nam thấp về nhiều mặt so với các nước ASEAN và Trung Quốc, có nhiều ưu thế không được nuôi dưỡng và phát huy đúng hướng
Ở Việt Nam, do ngành giáo dục không đào tạo được một lực lượng lao động thỏa mãn yêu cầu của thị trường hiện nay, nhiều công ty, đặc biệt là các công ty có vốn đầu tư nước ngoài buộc phải tự đào tạo lấy người lao động của mình Lý do đơn giản là chất lượng đội ngũ lao động Việt Nam, bao gồm cả đội ngũ kỹ sư và công nhân kỹ thuật, chưa đáp ứng được những đòi hỏi về tiêu chuẩn văn hóa, chuyên môn - nghiệp vụ của thị trường Chúng ta trang bị cho người lao động những kiến thức mà hệ thống chính trị cần nhưng tiếc thay, những kiến thức này không phù hợp, hay nói đúng hơn là lạc hậu so với thời đại Chính điều này đã giải thích tại sao người lao động Việt Nam thường bị đánh giá thấp hơn và do đó, bị trả lương thấp hơn trên thị trường lao động so với lao động nước ngoài có cùng trình
độ chuyên môn và cùng thời gian đào tạo
Nói tóm lại, nguồn nhân lực từ trí thức ở Việt Nam, nhìn chung, còn nhiều bất cập Sự bất cập này ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế Trong những năm đổi mới, kinh tế đất nước tuy có tăng từ 7,5 - 8% nhưng so với kinh tế thế giới thì còn kém xa Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) và tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) công bố ngày 26/9/2007, kinh tế Việt Nam xếp thứ 91/178 thế giới
Trang 112) Nguyên nhân dẫn đến tình trạng giáo dục không đáp ứng được nhu cầu ngày nay.
Trong những năm qua, đào tạo ĐH tăng rất nhanh về quy mô, cơ sở, số lượng người học để tạo cơ hội cho những người muốn học ĐH, nhất là ở vùng sâu, xa, kinh tế khó khăn và đáp ứng sự phát triển của đất nước cũng như sự hội nhập quốc
tế Có thể nói đào tạo ĐH hiện nay được “phủ” rất rộng trên toàn quốc và theo tôi đây là thành tựu, nỗ lực rất lớn của ngành giáo dục Nhưng nói như vậy, không có nghĩa số lượng trường ĐH là yếu tố quan trọng nhất mà còn phải dựa trên chất lượng đào tạo Nếu anh đào tạo có chất lượng, bảo đảm các tiêu chí của Bộ
GD&ĐT đặt ra, anh sẽ tồn tại, phát triển Còn không, anh sẽ tự loại mình khỏi guồng quay đào tạo của giáo dục ĐH Như năm học 2010-2011, các trường CĐ có đào tạo hệ ĐH có 226 trường thì đến năm học 2011-2012 chỉ còn 215 trường Nguyên nhân là do không bảo đảm chất lượng đào tạo thì Bộ buộc những cơ sở này phải dừng tuyển sinh
Quan điểm của ngành là nếu bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, về giảng viên, nội dung đào tạo thì vẫn cho mở trường ĐH Vì là tạo cơ hội học tập cho nhiều người và thực tế nhiều vùng, miền vẫn chưa có trường ĐH Nhưng từ năm 2010 đến nay, Bộ đã hạn chế rất nhiều việc thành lập mới các cơ sở đào tạo
ĐH Tính đến nay cả nước đã có tổng số 419 cơ sở đào tạo ĐH cả trong và ngoài công lập, cả của trường CĐ và ĐH Có thể nói đây là con số phát triển “nóng” trong thời gian vừa qua Và vì “nóng” nên chất lượng đào tạo cũng chưa được bảo đảm do “sức” chỉ đảm bảo được 15kg nhưng lại phải gánh đến 20kg Đặc biệt là đội ngũ giảng viên - yếu tố then chốt quyết định chất lượng đào tạo ĐH Hiện nay,
hệ CĐ có gần 25 nghìn giảng viên, hệ ĐH gần 60 nghìn giảng viên Với số lượng giảng viên như vậy phải là không đủ để giảng dạy Và không những thiếu về số lượng, đội ngũ giảng viên còn thiếu cả về cơ cấu hành nghề, chất lượng Như hệ đào tạo ĐH, hiện mới chỉ có 14% giảng viên là tiến sĩ, rất thấp so với nhu cầu thực
Trang 12tế Theo quy định 0830 của Bộ GD&ĐT, khi thành lập trường, hệ đào tạo ĐH đội ngũ giảng viên ít nhất phải bảo đảm được 70% kiến thức giảng dạy Thế nhưng việc tăng trưởng về quy mô đã bị nói nhiều nên từ 2011 đến nay, nhằm thực hiện đổi mới về công tác quản lý, giáo dục ĐH nên Bộ đã quản lý, giám sát sát sao việc này Trường nào không đủ điều kiện là bị đình chỉ ngay hoặc không được cấp phép
Như năm 2012, tính đến thời điểm tháng 3, đã có 5 trường ĐH, CĐ bị dừng tuyển sinh như ĐH Đông Đô, ĐH Văn Hiến, ĐH Hùng Vương 4 trường ĐH gồm
ĐH Chu Văn An, ĐH Lương Thế Vinh, ĐH Kiến trúc Đà Nẵng bị đình chỉ một số ngành nghề tuyển sinh như: Kỹ thuật xây dựng công trình, kinh tế, Việt Nam học, quản trị kinh doanh
Thấy rõ vấn đề của giáo dục ĐH, đồng thời xác định đây là nền tảng căn bản
để phát triển đất nước, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng đề án 911 để đào tạo đội ngũ giảng viên cho ĐH và CĐ với mục tiêu đến năm 2020, tuyển sinh, đào tạo được hơn 20 nghìn tiến sĩ Đề án này theo tôi là một đề án hoàn toàn khả thi và thực tế chứ không “lãng mạn”, hay “tham vọng” như nhiều người nghĩ Vì nó nằm trong khả năng của chúng ta nếu chúng ta nỗ lực và thay đổi một cách đồng bộ hệ thống giáo dục ĐH Mà điều này, chúng ta đang bắt đầu thực hiện Bắt đầu từ năm nay, Bộ đã triển khai theo hình thức đưa đi đào tạo tại nước ngoài những giảng viên, sinh viên có tâm huyết, tài năng, yêu nghề Con số đào tạo trên là 10 nghìn sinh viên Cùng với đó 10 nghìn sinh viên khác sẽ được giao cho những trường trong nước có điều kiện, khả năng để đào tạo tiến sĩ và khoảng 3.000 sinh viên đào tạo theo mô hình liên kết giữa Việt Nam và nước ngoài
Đại học: Vào khó - ra dễ
Trang 13Đây cũng là điểm yếu trong đào tạo ĐH mà xác định phải thay đổi một cách tích cực Mặc dù so với trước đây, nó có tiến bộ hơn nhưng trong thời kỳ khoa học
kỹ thuật, công nghệ, kinh tế phát triển như hiện nay thì đúng là chương trình chưa đáp ứng được, tụt hậu so với thế giới Vì vậy phải thay đổi Trước hết đối với những trường thành lập mới: nội dung, chương trình đào tạo sẽ là các yếu tố then chốt để đưa đến quyết định có cho phép thành lập trường hay không Chương trình
đó không những đảm bảo về khoa học gồm cả kết cấu lẫn nội dung mà còn phải phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam và đặc biệt phải cập nhật những kiến thức mới, tiến bộ của thế giới Nhưng quan trọng nhất của chương trình, nội dung đào tạo đó là phải chuyển giao được công nghệ tiên tiến của những quốc gia phát triển cho nước ta, của thế hệ trước cho thế hệ sau và làm cho công nghệ ấy phải phát triển lan tỏa một cách rộng rãi Còn đối với những trường đã thành lập, hậu kiểm là phương pháp tối ưu để kiểm soát chương trình, nội dung đào tạo của họ Nếu kiểm tra, giám sát, nội dung chương trình đào tạo của anh không đạt mục tiêu như đã đặt ra, nhất là mục tiêu chuyển giao công nghệ (đối với ngành khoa học kỹ thuật ) thì hoặc là bị đình chỉ ngành nghề đào tạo hoặc là bị dừng tuyển sinh Hiện nay, chúng tôi đã xây dựng được 35 chương trình tiên tiến dựa trên chương trình đào tạo của những nước đứng trong “top đầu” thế giới về một số ngành nghề để làm nền tảng cho chương trình giảng dạy của các trường Đặc biệt là đối với những trường đào tạo ngành mũi nhọn như: khoa học công nghệ, tài chính, ngân hàng, kinh tế quản lý
Vấn đề này tùy theo từng hình thức đào tạo Nếu đào tạo theo hình thức tín chỉ như nhiều trường ĐH hiện nay thì tỷ lệ sinh viên ra trường đúng thời hạn rất ít Bạn đã nghe câu: “Không thi lại không là sinh viên rồi đúng không?” Hay đào tạo tiến sĩ cũng thế Những người không ở trong nghề ai cũng tưởng đã làm nghiên cứu, bảo vệ luận án là sẽ đỗ Nhưng thực tế không phải vậy, ví dụ như Trường ĐH