1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

BÁO CÁO MÔN HỌC BẠC MÀU VÀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI

12 3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Bộ môn Tài nguyên đất đai BÁO CÁO MÔN HỌC: BẠC MÀU VÀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI Chuyên đề 1: ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG BẠC MÀU

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Bộ môn Tài nguyên đất đai

BÁO CÁO MÔN HỌC:

BẠC MÀU VÀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN

ĐẤT ĐAI

Chuyên đề 1:

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG BẠC MÀU CỦA VÙNG ĐẤT THÂM CANH TĂNG VỤ LÚA Ở ĐỒNG

BẰNG SÔNG CỬU LONG

Giảng viên hướng dẫn: Nhóm 01:

TS LÊ VĂN KHOA

Tháng 04/2013

1 Mai Linh Cảnh M000536

2 Trần Quốc Cường M000538

3 Nguyễn Minh Quân M000563

4 Lê Tấn Vũ M000575

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đất đai là yếu tố rất quan trọng và hết sức cần thiết Đất đai tự nó không làm nên giá trị nhưng khi con người tác động vào nó, đầu tư cơ sở hạ tầng, kỹ thuật sẽ làm cho phần giá trị của đất tăng lên và mang lại nguồn lợi to lớn cho con người Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu không thể thiếu được Ngoài ra đất đai còn là địa bàn xây dựng và phát triển dân sinh, kinh tế - xã hội, an ninh và quốc phòng

Ngày nay, trước sự phát triển của kinh tế xã hội ngày càng cao và quá trình đô thị hóa đang diễn ra làm cho lượng đất giảm, lượng nhu cầu sử dụng cho quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng nhiều hơn Mặt khác tình trạng tăng dân số, nhu cầu lương thực ngày càng cao nên việc khai thác sử dụng đất trong năm rất cao, nhiều nơi khai thác đất rất triệt để, trồng lúa 3 vụ/năm…Từ đó đã đưa đến sự bạc màu về mặt

lý hóa học và dinh dưỡng trong đất Người dân lạm dụng quá nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đã khiến đất bị ô nhiễm trầm trọng, mất đi độ phì nhiêu, ô nghiểm đất,

ĐBSCL là một trong những vùng sản xuất lúa gạo lớn nhất của cả nước Tuy nhiên, những năm gần đây, năng suất lúa ở những vùng thâm canh lúa 3 vụ hoặc có đê bao chống lũ có chiều hướng suy giảm Những nghiên cứu gần đây nhất của các nhà khoa học cho thấy nguyên nhân chính là do đất bị bạc màu, suy thoái dẫn đến nâng

suất trồng lúa ngày càng giảm dần do đó cần phải “Đánh giá tình trạng bạc màu của

vùng đất thâm canh tăng vụ lúa ở ĐBSCL” để thấy rõ thực trạng bạc màu đất hiện nay ở ĐBSCL.

Trang 3

Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Đất và đất đai

- Đất hay thổ nhưỡng là lớp ngoài cùng của thạch quyển bị biến đổi tự nhiên dưới tác động tổng hợp của nước, không khí, sinh vật (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009)

- Luật Đất đai 2003 của Việt Nam quy định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa,

xã hội, an ninh và quốc phòng

1.2 Bạc màu đất

1.2.1 Nguyên lý của bạc màu đất

Bạc màu đất làm cho đất mất dần các chức năng:

- Tiềm năng và sức sản xuất của đất đai

- Hoạt động của các quần thể động và thực vật

- Điều tiết chất và lượng của nguồn nước mặt cũng như nước ngầm

1.2.2 Các dạng bạc màu đất

- Bạc màu đất tự nhiên: Dạng bạc màu đất này xảy ra do:

+ Biến đổi của khí hậu

+ Các tiến trình địa chất

- Bạc màu đất do tác động của con người: Dạng bạc màu đất này được kể đến trong cả hai trường hợp: các hoạt động trong quá khứ và hiện tại

+ Quá khứ: công trình xây dựng, chiến tranh,…

+ Hiện tại: Sử dụng đất đai không hợp lý, du canh, phá rừng, phát triển công nghiệp, quản trị kém

- Phân loại các dạng bạc màu đất:

Bạc màu đất là hậu quả của hoạt động con người và sự tương tác của hoạt động này với môi trường tự nhiên Các tiến trình của bạc màu đất có cơ nguyên tương ứng với sự suy thoái chất lượng đất Có 3 loại hình bạc màu đất chính như sau:

+ Bạc màu đất lý học

Trang 4

+ Bạc màu đất hóa học

+ Bạc màu đất sinh học

Mỗi dạng bạc màu đất có đặc tính và tiến trình riêng biệt cụ thể được thể hiện

qua sơ đồ sau:

Hình 1: Sơ đồ các dạng bạc màu đất

1.3 Bạc màu đất ở đồng bằng Sông Cửu Long

Tài nguyên đất ở ĐBSCL đã được khai thác và sử dụng qua nhiều thế hệ, cùng với thời gian con người định cư và sinh sống tại đây Với sự canh tác này, người dân địa phương đã áp dụng nhiều biện pháp và kinh nghiệm, như: làm đất thủ công, làm đất bằng cơ giới, ém phèn, rửa phèn, tưới tiêu, bón phân hoặc chỉ thuần túy dựa vào sức sản xuất tự nhiên của đất trên từng vùng đất khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất

Ngoài những tác động của con người, đất ĐBSCL vẫn phát triển theo các tiến trình lý - hóa - sinh học tự nhiên trong đất dưới ảnh hưởng của các điều kiện môi trường Kết quả của những quá trình, tiến trình này đã làm cho đất ngày càng thay đổi, phát triển có khả năng dẫn đến những suy thoái về dinh dưỡng, phèn hóa, mặn hóa, lý tính kém, nghèo về quần thể vi sinh vật và cuối cùng làm cho đất có tiềm năng bạc màu toàn diện, đưa đến sự phát triển nông nghiệp không ổn định và lâu bền trên toàn vùng

BẠC MÀU ĐẤT

Sự khô

cứng

và nén

dẽ

Sự laterite hóa

Xói mòn

và sa mạc

Nghèo kiệt dinh dưỡng

Mất cân bằng hóa học

Mất dần chất hữu cơ

Suy giảm quần thể sinh vật

Xói mòn do gió

Xói mòn do nước

Sự axit hóa

Sự sodic hóa

Tạo ra hợp chất độc

Trang 5

Theo Lê Văn Khoa (2009), đất ở đồng bằng sông Cửu Long có khả năng bạc màu theo các dạng sau đây:

- Đất có tiềm năng nén dẽ, hình thành tầng đất tích tụ sét có tính thấm và những đặc tính vật lý khác kém, làm giới hạn tầng đất canh tác đối với sự phát triển của hệ thống rễ cây trồng, xảy ra trên các loại đất thuộc nhóm đất phù sa xa sông Tiền và sông Hậu đang và đã phát triển mạnh

- Đất có khả năng xảy ra hiện tượng khô cứng trên mặt đất, đối với các nhóm đất

có thành phần cơ giới tầng mặt khá nhẹ thuộc nhóm đất phù sa ven sông Tiền và sông Hậu

- Tính cơ học của đất kém trở ngại cho việc làm đất, đất bị phèn hóa sinh ra nhiều độc chất làm cho đất trở nên thích nghi kém hay không thích nghi tạm thời trong nông nghiệp, nếu chưa được cải tạo Bạc màu đất dạng này có thể quan sát thấy ở các nhóm đất:

+ Đất phèn tiềm tàng (Dạng có tiềm năng axit hóa)

+ Đất phèn hoạt động (Dạng axit hóa hiện tại)

- Đất có thể mặn hóa (dẫn đến Sodic hóa) và úng thủy tạo điều kiện thuận lợi cho bạc màu lý - hóa học hình thành Dạng này có thể xảy ra ở các nhóm đất bị nhiễm mặn

và ngập mặn theo triều chưa phát triển hoặc phát triển yếu

- Đất bị kiệt màu thể tích đất có khả năng bị giới hạn trong tầng đất canh tác, độ sâu tầng đất hoạt động của rễ cây trồng mỏng dần và bị nước xói mòn Đây là kiểu bạc màu lý và hóa học trên nhóm đất xám bạc màu

Trang 6

Chương 2:

THỰC TRẠNG BẠC MÀU ĐẤT TRÊN VÙNG ĐẤT THÂM CANH TĂNG VỤ

LÚA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển, cơ giới hóa nông nghiệp mạnh mẽ, hệ thống đê bao, tưới tiêu đảm bảo góp phần mạnh mẽ thâm canh tăng vụ lúa Thâm canh

là cần thiết để có thể gia tăng sản lượng tuy nhiên nếu không kèm theo những biện pháp hợp lý để bảo vệ đất thì đây sẽ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nên bạc màu đất Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay phải đối mặt với các hiện tượng bạc màu đất do thâm canh tăng vụ ngày càng nghiêm trọng

2.1 Nén dẽ và suy thoái cấu trúc đất

Do dân số tăng nhanh, nhu cầu lương thực là một vấn đề cấp thiết được đặt ra Ở Đồng bằng Sông Cửu Long, mô hình canh tác thâm canh lúa đang phát triển rất nhanh chóng, đặc biệt là trên nhóm đất phù sa ven sông Tiền và sông Hậu Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong canh tác lúa thâm canh như cày ướt, gia tăng cơ giới hóa và bón phân vô cơ,… làm cho đặc tính vật lý của đất thay đổi đáng kể Phẫu diện đất ở các vùng đất phù sa thâm canh 3 vụ lúa dẫn đến sự xuất hiện của tầng canh tác (Ap) và tầng đế cày bị nén dẽ (Bg) (Nguyễn Minh Phượng, Hubert Verplancke, Lê Văn Khoa

và Võ Thị Gương, 2009)

- Hai loại hình bạc màu vật lý chủ yếu trên đất thâm canh lúa là sự nén dẽ và suy thoái cấu trúc của tầng bên dưới tầng canh tác do:

+ Sự trực di của sét

+ Thâm canh lúa trong thời gian dài, cày xới nhiều lần cùng độ sâu

+ Gia tăng cơ giới hoá trong cày ướt

+ Suy giảm hàm lượng chất hữu cơ

- Đặc điểm của đất bị nén dẽ:

+ Độ sâu xuất hiện tầng đế cày từ 40 - 55cm, chiều dày từ 15 - 40cm

+ Tầng đất này chứa nhiều sét, nén dẽ chặt hơn tầng canh tác và tầng đất dưới nó + Đất có màu xám sáng đến xám nâu

+ Giảm khả năng trao đổi chất dinh dưỡng và nước

Trang 7

Hình 2: Đất bị nén dẽ

- Một vài ảnh hưởng do đất nén dẽ gây ra ở ĐBSCL:

Ở ĐBSCL, do cơ giới hóa trong nông nghiệp và thâm canh tăng vụ nên diện tích đất bị nén dẽ ngày càng mở rộng, riêng ở tỉnh Vĩnh Long chiếm khoảng 22 nghìn

ha, giảm chất lượng đất, làm tăng nguy cơ xói mòn, rửa trôi và bạc màu đất và giảm năng suất cây trồng (Lệ Thu, 2007)

Một thí nghiệm trên ruộng ở Cai Lậy (Tiền Giang) trong vụ Thu - Đông cho thấy: mô hình trồng lúa 3 vụ năng suất khoảng 3,3 tấn/ha, khi năng suất lúa ở mô hình luân canh lúa - bắp - lúa đạt gần 4,1 tấn/ha, mô hình lúa - đậu xanh - lúa đạt trên 4,5 tấn/ha Thí nghiệm trong vụ đông xuân 2006 ở Cầu Kè, Trà Vinh cũng có kết quả: thâm canh lúa chỉ đạt năng suất 2,9 tấn/ha, trong khi năng suất lúa ở mô hình luân canh lúa - bắp - lúa đạt 4,3 tấn/ha, mô hình lúa - đậu nành - lúa đạt 3,2 tấn/ha (Lệ Thu, 2007)

2.2 Suy giảm dưỡng chất trong đất

Sự thâm canh quá độ làm cạn kiệt dinh dưỡng đất, đặc biệt là giảm dần lượng hữu cơ trong đất Những vùng canh tác độc canh lúa, đất ngập nước thường xuyên, vòng quay của đất cao từ 3 vụ/năm và 7 vụ/2 năm và nhất là những khu vực bao đê ngăn lũ nguy cơ suy thoái đất rất cao Trồng lúa liên tục trong năm không có thời gian phơi khô đất hay cày phơi ải làm mất dần cấu trúc đất và lý tính của đất bị suy thoái

Qua nghiên cứu, khảo sát những vùng thâm canh lúa ở huyện Vĩnh Ngươn, Vĩnh Mỹ, Châu Phú, Tịnh Biên (An Giang), huyện Cầu Kè (Trà Vinh), huyện Cai Lậy (Tiền Giang) và huyện Mộc Hóa (Long An), các nhà khoa học nhận định: đất ở những vùng này đang bị suy thoái, bạc màu dẫn đến năng suất lúa bị sụt giảm Nguyên nhân

là do canh tác lúa 3 vụ liên tục trong năm, đất bị ngập nước từ 8 - 10 tháng, dẫn đến

Trang 8

giảm sự phân hủy chất hữu cơ, giảm khả năng cung cấp dưỡng chất từ đất, giảm hoạt động của vi sinh vật có lợi Những diện tích canh tác lúa có đê bao ngăn lũ không còn phù sa bồi đắp nên độ phì nhiêu, màu mỡ của đất bị giảm đáng kể (Lệ Thu, 2007)

Ngoài ra, việc đốt rơm, rạ trực tiếp ngay trên đồng ruộng gây bất lợi cho đồng ruộng lớn hơn nhiều lần so với việc làm phân bón Các chất hữu cơ trong rơm rạ và trong đất biến thành các chất vô cơ do nhiệt độ cao Đồng ruộng bị khô, chai cứng, một lượng lớn nước bị bốc hơi do nhiệt độ hun đốt trong quá trình cháy rơm, rạ Quá trình đốt rơm, rạ ngoài trời không kiểm soát được, lượng dioxit cacbon CO2, phát thải vào khí quyển cùng với cacbon monoxit CO; khí metan CH4; các oxit nitơ Nox; và một ít dioxit sunfua SO2

Theo nghiên cứu, với khoảng 4 triệu hecta đất trồng lúa, hàng năm lượng rơm

rạ thải ra lên tới 76 triệu tấn Con số này tương đương 20 triệu tấn dầu, nếu đốt bỏ sẽ gây lãng phí nguồn chất hữu cơ có thể sử dụng làm phân bón Việc sử dụng rơm rạ đúng mục đích, không chỉ giúp cải tạo đất, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp mà còn hạn chế ô nhiễm môi trường Phân bón hữu cơ từ rơm rạ góp phần gia tăng độ mùn, bổ sung chất dinh dưỡng, nâng cao chất lượng cây trồng (Trần Đình Mấn, 2012)

Hình 3: Hiện tượng đốt rơm rạ trên đồng ruộng (http://nongnghiep.vn)

2.3 Nguy hại do xì phèn

Một ảnh hưởng tai hại khác của hệ thống thủy lợi hiện nay ở ÐBSCL là đất đai bên trong đê bao không còn màu mỡ như trước, mà báo chí trong nước gọi là “hệ lụy

đê bao” Theo người dân ở ÐBSCL, đất bạc màu là vì không được bón phù sa do nước

Trang 9

lũ mang về Nhận xét này rất đúng, nhưng có một yếu tố khác quan trọng hơn, đó là hiện tượng xì phèn Vì đất bên trong đê bao tiếp xúc với không khí lâu hơn nên phèn

xì nhiều hơn Do đó, độ pH trong đất càng ngày càng thấp hơn Ðộ pH thấp chẳng những làm giảm hoặc ngừng sự tăng trưởng của cây lúa mà còn có ảnh hưởng đến sự hấp thu chất đạm, và đây chính là nguyên nhân khiến cho năng suất lúa trong vùng có

đê bao càng ngày càng giảm, mặc dù vẫn bón phân như trước Theo một nghiên cứu của Khoa Nông nghiệp thuộc Trường Ðại học An Giang, khi đê bao hoàn tất thì sau 2 năm, năng suất lúa giảm 7,2 tạ/ha trong vụ Đông Xuân và 3,2 tạ/ha trong vụ Hè -Thu; sau 4 năm, năng suất lúa giảm 10,9 tạ/ha trong vụ Đông - Xuân và 2,4 tạ/ha trong

vụ Hè - Thu; và sau 6 năm, năng suất lúa giảm 10,9 tạ/ha trong vụ Đông - Xuân và 3,9 tạ/ha trong vụ Hè - Thu (Hồ Vỹ, 2006)

Hình 4: Hiện tượng xì phèn ở Cà Mau (http://www.baoanhdatmui.vn)

2.4 Ô nhiễm đất do thuốc bảo vệ thực vật

Theo Phương Liễu (2006): Ở Việt Nam, theo thống kê của Viện Bảo Vệ Thực Vật Việt Nam, năm 1990 lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ở Việt Nam từ 10.300 tấn lên 33.000 tấn đến năm 2003 tăng lên 45.000 tấn và năm 2005 đã là 50.000 tấn Bên cạnh đó, có nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật nằm trong danh mục cấm nhưng vẫn lưu hành trên thị trường ước còn khoảng 15 - 20% tổng lượng BVTV đang được sử dụng Sự lạm dụng hóa chất và sử dụng những loại thuốc BVTV cực độc đã làm cho

độ màu mỡ của đất sụt giảm, các loài sinh vật có ích bị ảnh hưởng, dần dần đất cạn kiệt chất dinh dưỡng và trở thành đất hoang hóa

Trang 10

Hình 5: Ô nhiễm đất lúa do thuốc BVTV

(http://www.baobacninh.com.vn/resources/upload/vobaothuoctrusau.jpg&imgrefurl)

ĐBSCL là vùng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp cao nhất nước, kết quả điều tra cho thấy các xã ở Đồng Bằng Sông Hồng chỉ sử dụng 9 - 16 loại trong khi đó ĐBSCL có đến 16 - 35 loại, kể cả các loại thuốc cấm như Wofatox, Monitor… được nhập lậu từ nước ngoài vào cũng được sử dụng

Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế người nông dân chỉ chú trọng đến năng xuất, sử dụng bao đê khép kín đã làm cho dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tích trữ trên đồng ruộng, thâm canh tăng vụ chạy theo lợi nhuận nên đã sử dụng phân bón thuốc bảo vệ thực vật ngày càng tăng, mặc dù hiện nay đã có những chương trình như:

ba giảm ba tăng, biện pháp phát trừ dịch hại tổng hợp… nhưng tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không giảm Đối với các đối tượng như ốc bưu vàng, cỏ dại người nông dân hiện nay đều sử dụng các loại thuốc để phòng trừ và các loại đều có tính lưu tồn trên đồng ruộng, khi nước trên đồng đổ ra ngoài sông hòa theo dòng chảy

đã làm nguồn nước tại nơi đó bị ô nhiễm

Nguyên nhân ô nhiễm do sử dụng thuốc BVTV gây ra:

- Do sử dụng thuốc quá liều so với hướng dẫn

- Ý thức của người dân chưa cao trong vệ bảo vệ môi trường: vỏ bọc, chai đựng thuốc còn vứt bừa bải, rửa dụng cụ phun thuốc còn đem xuống dòng sông

- Sử dụng thuốc nằm trong danh mục cấm và có tính bền vững với môi trường

Trang 11

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN

Trước thực trạng bạc màu đất trên các vùng đất thâm canh tăng vụ lúa như hiện nay, các nhà khoa học đã tập trung điều tra nghiên cứu tính chất hóa, lý, sinh học của đất ở ĐBSCL để làm cơ sở khoa học khuyến cáo ngành nông nghiệp và nông dân quản

lý và sử dụng đất một cách hợp lý, hiệu quả

- Nên bố trí mùa vụ và loại cây trồng khác nhau để cải thiện độ phì của đất và có thể sử dụng tiềm năng phì nhiêu của đất được lâu dài (Lê Văn Khoa, 2009), ví dụ như:

2 lúa - 1 màu, 2 lúa - cá

- Nên khuyến cáo người dân không nên đốt rơm rạ trực tiếp trên đồng ruộng, nhằm hạn chế đất bị khô, chai cứng và làm chết các sinh vật có lợi trong đất

- Thủy lợi là biện pháp kỹ thuật quan trọng trong việc cải tạo lại đất bạc màu Việc tưới tiêu nước chủ động, khoa học bằng một hệ thống kênh mương hoàn chỉnh nhằm cải thiện độ phì đất bạc màu, tăng độ ẩm, cải thiện được các đặc tính lý hoá trong đất, làm cho đất tơi xốp hơn, khả năng kết dính tốt hơn, giữ nước tốt hơn, giúp

hệ vi sinh vật trong đất hoạt động tốt hơn tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt hơn

Hình 6: Hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất Lúa (http://environment.mard.gov.vn/upload/18/tinbai/thuy_loi(43).jpg&imgrefurl)

- Biện pháp làm đất: Đặc điểm của đất bạc màu thường là khô, cứng do đó hạn chế xới xáo để tránh mất nước do bốc hơi, nhất là vào thời kỳ khô hạn Tiến hành các biện pháp làm đất thích hợp, không nên xếp ải dễ làm đất mất thêm nước, hệ vi sinh vật còn sót lại trong đất sẽ bị chết, đất càng trở nên chai cứng hơn, nên sử dụng các loại máy cày nhỏ trong khâu chuẩn bị đất để hạn chế tác động nén dẽ trong điều kiện làm đất ướt

- Chú ý đẩy mạnh công tác xã hội và khuyến nông để giúp người nông dân từng vùng hiểu nhiều hơn về mảnh đất của chính mình, từ đó sử dụng và quản trị đất đai đúng hướng

Ngày đăng: 14/03/2015, 15:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ các dạng bạc màu đất - BÁO CÁO MÔN HỌC BẠC MÀU VÀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
Hình 1 Sơ đồ các dạng bạc màu đất (Trang 4)
Hình 2: Đất bị nén dẽ - BÁO CÁO MÔN HỌC BẠC MÀU VÀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
Hình 2 Đất bị nén dẽ (Trang 7)
Hình 3: Hiện tượng đốt rơm rạ trên đồng ruộng (http://nongnghiep.vn) - BÁO CÁO MÔN HỌC BẠC MÀU VÀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
Hình 3 Hiện tượng đốt rơm rạ trên đồng ruộng (http://nongnghiep.vn) (Trang 8)
Hình 4: Hiện tượng xì phèn ở Cà Mau (http://www.baoanhdatmui.vn) - BÁO CÁO MÔN HỌC BẠC MÀU VÀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
Hình 4 Hiện tượng xì phèn ở Cà Mau (http://www.baoanhdatmui.vn) (Trang 9)
Hình 5: Ô nhiễm đất lúa do thuốc BVTV - BÁO CÁO MÔN HỌC BẠC MÀU VÀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
Hình 5 Ô nhiễm đất lúa do thuốc BVTV (Trang 10)
Hình 6: Hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất Lúa (http://environment.mard.gov.vn/upload/18/tinbai/thuy_loi(43).jpg&imgrefurl) - BÁO CÁO MÔN HỌC BẠC MÀU VÀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
Hình 6 Hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất Lúa (http://environment.mard.gov.vn/upload/18/tinbai/thuy_loi(43).jpg&imgrefurl) (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w