Có rất nhiều định nghĩa về khủng hoảng tài chính, tiền tệ. Có sự khác nhau trong các định nghĩa định nghĩ là do các cách tiếp cân khác nhau. trong đó có một số định nghĩa có thể được coi là khá toàn diện vì nó hàm chứa được những nguyên nhân và biều hiện cũng như các hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và ngân hàng. các định nghĩa này không mâu thuẫn với quan điểm cho rằng khu vực tài chính là bức tranh phản ánh khu vực sản xuất vật chất (nhất là các doanh nghiệp) hay khu vực tài chính nhân hàng là hàn thử biểu của nền kinh tế. Điều quan trọng là các định nghĩa gần đây có thể giải thích được cho những khủng hoảng tài chính, ngân hàng mới nổ ra gần đây khi nên kinh tế thế giới đã bước sang một giai đoạn phát triển mới. Một số nhà nghiên cứu về khủng hoảng cho rằng nếu như các cuộc khủng hoảng cơ cấu bao trùm khu vực sản xuất vật chất thì các cuộc khủng hoảng chực năng liên quan đến những đổ vỡ, bất ổn định trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính, tín dụng. Các thẻ chế và định chế tài chính, tiền tệ đã không còn đủ khả năng để thực hiện các chức năng như giữ vững tỷ giá hối đoái, kiểm chế lạm phát và các khoản nợ nước ngoài ...trong những năm 7080, đó là sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ tín dụng thế giới va lạm phát qui mô toàn cầu. Hay một định nghĩa khác có nội dung tương tự:khủng hoảng kinh tế (tài chính, tiền tệ) là sự rối loạn, mất cân bằng, mất ồn định của hệ thống kinh tế quốc gia làm cho hệ thống kinh tế mất khả năng phát triển bên vửng trong một thời gian nhất định. Sự mất ồn định, mất khả năng phát triển bền vững có thể diễn ra trên thị trường tài chính, tiền tệ và cả trên thị trường sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Khủng hoảng tài chỉnh một sự đổ vỡ trầm trọng trong các thị trường tài chính được đặc trưng bởi những sụt giảm mạnh mẽ về giá tài sản và sự vỡ nợ của nhiều hãng tài chính và phi tài chính. Đối với cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực năm 19971998, người ta cho rằng khung hoảng tài chính tiền tệ này Là Tảng băng nổi biểu hiện những mâu thuẫn bên trong nền kinh tế của các nước trong khu vực Đông Nam á sau một thời gian tăng tốc và phát triển nóng của nên kinh tế. Đó là sự phát triển mất cân đối, đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở phụ thuộc vào vốn của nước ngoài trong khi những tiền đề cần thiết chưa thất ổn định, đặc biệt là hệ thống ngân hàng tiền tệ, một lĩnh vực hết sức nhậy cảm và chứa đựng rủi ro chưa được củng cố và giám sát đúng mức. Định nghĩa khủng hoảng tiền tệ của Goldstein,Kaminsky và Reinhart Khủng hoảng tiền tệ là trạng thái mà ở đó một cuộc tấn công vào đồng tiền nội tệ dẫn đến sự thâm hụt phần lớn dự trữ ngoại tệ và làm mất giá nhanh chóng đồng tiền nội tệ….
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Đối với các nước đang phát triển, cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Đông nam Á năm
1997 và năm 2008 đã cho thấy những ảnh hưởng của hành động đầu cơ tiền tệ của các công ty tài chính, chứng khoán và những khó khăn trong việc điều hành hệ thống tiền tệ
và việc sử dụng các nguồn vốn
Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền
tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo
Đây là vấn đề mang tính thời sự được các nhà kinh tế và công chúng rất quan tâm
Qua đề tài “Phân biệt các nguyên nhân trực tiếp và sâu xa mang tính cơ bản của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ Đông Nam Á năm 1997 và năm 2008.” Để làm
rõ các nguyên nhân trực tiếp và sâu xa dẫn tới khủng hoảng tài chính, tiền tệ, từ đó rút bài học kinh nghiệm
Trang 2I Khái quát chung về khủng hoảng tài chính, tiền tệ
1.Các định nghĩa khủng hoảng tài chính, tiền tệ.
Có rất nhiều định nghĩa về khủng hoảng tài chính, tiền tệ Có sự khác nhau trong các định nghĩa định nghĩ là do các cách tiếp cân khác nhau trong đó có một số định nghĩa có thể được coi là khá toàn diện vì nó hàm chứa được những nguyên nhân và biều hiện cũng như các hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và ngân hàng các định nghĩa này không mâu thuẫn với quan điểm cho rằng khu vực tài chính là bức tranh phản ánh khu vực sản xuất vật chất (nhất là các doanh nghiệp) hay khu vực tài chính nhân hàng là hàn thử biểu của nền kinh
tế Điều quan trọng là các định nghĩa gần đây có thể giải thích được cho những khủng hoảng tài chính, ngân hàng mới nổ ra gần đây khi nên kinh tế thế giới đã bước sang một giai đoạn phát triển mới
Một số nhà nghiên cứu về khủng hoảng cho rằng nếu như các cuộc khủng hoảng cơ cấu bao trùm khu vực sản xuất vật chất thì các cuộc khủng hoảng chực năng liên quan đến những đổ vỡ, bất ổn định trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính, tín dụng Các thẻ chế và định chế tài chính, tiền tệ đã không còn đủ khả năng để thực hiện các chức năng như giữ vững tỷ giá hối đoái, kiểm chế lạm phát và các khoản nợ nước ngoài trong những năm 70-80, đó là sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ tín dụng thế giới va lạm phát qui mô toàn cầu Hay một định nghĩa khác có nội dung tương tự:khủng hoảng kinh tế (tài chính, tiền tệ) là sự rối loạn, mất cân bằng, mất ồn định của hệ thống kinh tế quốc gia làm cho hệ thống kinh tế mất khả năng phát triển bên vửng trong một thời gian nhất định Sự mất ồn định, mất khả năng phát triển bền vững có thể diễn ra trên thị trường tài chính, tiền tệ và
cả trên thị trường sản xuất hàng hoá và dịch vụ
Khủng hoảng tài chỉnh- một sự đổ vỡ trầm trọng trong các thị trường tài chính được đặc trưng bởi những sụt giảm mạnh mẽ về giá tài sản và sự vỡ nợ của nhiều hãng tài chính và phi tài chính Đối với cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực năm 1997-1998, người ta cho rằng " khung hoảng tài chính tiền tệ này Là Tảng băng nổi biểu hiện những mâu thuẫn bên trong nền kinh tế của các nước trong khu vực Đông -Nam á sau một thời gian tăng tốc và phát triển nóng của nên kinh tế Đó là sự phát triển mất cân đối, đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở phụ thuộc vào vốn của nước ngoài trong khi những tiền đề cần thiết chưa thất ổn định, đặc biệt là hệ thống ngân hàng -tiền tệ, một lĩnh vực hết sức nhậy cảm và chứa đựng rủi ro chưa được củng cố và giám sát đúng mức
Định nghĩa khủng hoảng tiền tệ của Goldstein,Kaminsky và Reinhart "Khủng hoảng tiền tệ là trạng thái mà ở đó một cuộc tấn công vào đồng tiền nội tệ dẫn đến sự thâm hụt phần lớn dự trữ ngoại tệ và làm mất giá nhanh chóng đồng tiền nội tệ"…
2 Các lý thuyết phân tích nguyên nhân khủng hoảng
Các cuôc khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng ở châu Mỹ La tinh, châu Âu và châu
á gần đây đã dấy lên là sóng nghiên cứu về những nghuyên nhân gây nên khung hoảng Nghiên cứu về khủng hoảng tiền tệ bắt đầu với việc xây dựng những mô hình để giải thích những cuộc khủng hoảng xảy ra ở một số nước châu Mỹ La tinh vào những năm cuối thập kỷ 70 Những mô hình này cho rằng khủ ng hoảng tiền tệ có nguyên nhân do những yếu kém của nền kinh tế Cùng với sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ châu Âu và năm 1992, đã xuất hiện các mô hình thuộc thế hệ thứ hai Những mô hình này giải thích nghuyên nhân suất hiên khung hoảng là do hành động chính sách của chính phủ, và các hoạt đông tự điều chỉnh kỳ vọng của các thành viên thị trường và các khả năng tồn tại cân băng nhiều chiều, thậm chí khung hoảng có thể xảy ra khi không có những yếu kém cơ bản của nền kinh tế Các nghiên cứu về khung hoảng trong kinh tế sôi động kể từ cuộc khung hoảng tài chính châu á năm 1997 Những
mô hình thuộc thế hệ thứ ba này cho rằng khủng hoảng tiền tệ xảy ra do sự suy sụp của nền kinh tế hoặc do những hoảng sợ về tài chính
Trang 3Lý thuyết về khủng hoảng tiền tệ
Cách tốt nhất để tông hợp lý thuyết về khung hoảng tiền tệ là tập trung vào mô hình của ba thế hệ Mô hình thuộc thế hệ thứ nhất được Krugman (1979) Flood và Garber (1984) trên cơ sở các nghiên cứu của Salant và Henderson (1978) Trong tâm của các nghiên cứu này là ở pham vi rộng các chính sách kinh tế vĩ mô với tỷ giá hối đoái cố định dẫn đến những tình huống không ổn định với hệ quả là sự điều chỉnh về tỷ giá Nguyên nhân vĩ mô của khung hoảng kinh tế có thể là tăng trưởng kinh tế quá lớn, yếu kém của
hệ thống ngân sách và kinh tế hoạt đông nghèo nàn Trong trường hợp xảy ra khung hoảng dự trữ ngoại hối sẽ sut giảm nhanh chóng khi những thành viên của thị trường có khả năng dự báo rằng cơ chế tỷ giá hối đoái hiện hành sẽ không còn tồn tại lâu
Thế hệ thứ nhất của lý thuyết khủng hoảng tiền tệ có thể hiểu theo một cách tổng quan hơn: khủng hoảng xảy ra khi sự không đồng nhất về tỷ giá hối đoái cố định có thể tạo ra những yếu kém về mặt cơ cấu Chẳng hạn năng suất lao động không cải thiện dẫn đến giảm tính cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá làm cho mục tiêu tỷ giá không còn phù hợp Giá xuất khẩu giảm
do những cạnh tranh mới có thể làm cho các chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách tỷ giá trở nên không đồng nhất Mô hình khung hoảng thế hệ đầu tiên coi khung hoảng tiền tệ xuất phát
từ vấn đề thuộc nên tảng của nên kinh tế
Các mô hình thế hệ thứ hai của khủng hoảng tiền tệ bắt đầu bằng các nghiên cứu của Obsbteld (1986 và 1996) Khủng hoảng trong các mô hình này xảy ra do sự dịch chuyển từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác như từ tỷ giá hối đoái cố định sang tỷ giá hối đoái thả nổi hay từ tỷ giá cố định này sang tỷ giá cố định khác với tỷ giá thấp hơn Thí dụ như lạm phát và thất nghiệpcó phải đối đầu với đường cong truyền thống của Phillíp Chính phủ có thể không quan tâm đến việc duy trì một trạng thái nào
và khả năng của trạng thái cân bằng đa phương sẽ xẩy ra đồng thời với điều chỉnh tiền tệ bất ngờ Một thí dụ khác của khung hoảng loại này liên quan đến thâm hụt tài chính của chính phủ dẫn đến các nhà cho vay thu hồi lại vốn và do đó gây ra sư sụp đổ của tiền tệ Tức là một nước có thể tự tạo ra khung hoảng sau một số hành động của các nhà đầu cơ, trạng thái cân bằng có thể chuyển từ cơ chế hói đoái cố định sang tỷ giá thả nổi hoạc tỷ giá cố đinh nhưng với tỷ giá thấp hơn
Một số tác giả khác như Blanchard và Watson (1982) nghiên cưứ khả năng khung hoảng do hoạt động đâù cơ Khung hoảng tiền tệ trong trường hợp này tương tự như khung hoảng tại thị trường chứng khoán Một minh chứng cho lý thuyết này là khung hoảng ở Nga vào mùa hè năm 1998 khi tỷ giá hối đoái và chính sách ngân sách được hỗ trợ bởi một luồng vốn vào lớn, theo đó tất cả những yếu tố liên quan dường như có khả năng sụp đổ lớn
Lý thuyết về khủng hoảng tiền tệ nhận được một bước phát triển nữa sau khủng hoảng châu á năm 1997 Khủng hoảng xẩy ra khi đất nước bị giảm sụt nhanh chóng về nguồn vốn do những hoảng sợ về tài chính trong một số trường hợp, một số nước là đối tượng sự rút vốn ồ ạt ra khỏi ngân hàng với tỷ giá hối đoái cố định hoạt động như là chức năng của hợp đồng tiền gửi Một cách tổng quan, các mô hình thuộc thế hệ thứ ba xác định nguyên nhân khủng hoảng là do cơ cấu của các khoản nợ của một nước sự ra đi ồ ạt của các khoản vay ngân hàng làm cho đất nước bị thiếu hụt trầm trọng dự trữ ngoại tệ và khả năng thanh toán Các mô hình thuộc thế hệ thứ ba cho rằng khủng hoảng có thể do sự mất cân đối ngoại tệ của các ngân hàng, doanh nghiệp chính sự mất cân đối này có thể dẫn đến phát sinh nhu cầu về ngoại tệ tổng hợp các nhu cầu về ngoại tệ có thể dẫn đến sức ép lên tỷ giá Tỷ giá hối đoái giảm làm lái suất của các nhà đầu tư nước ngoài giảm dẫn đến dòng chẩy ngoại tệ ra ngoài và hệ quả là khủng hoảng tiền tệ
Trang 4Một dạng của khủng hoảng thế hệ thứ ba là do "rủi ro về hành vi dẫn đến khủng hoảng" Đầu tư quá mức, đặc biệt là những khoản đầu tư rủi ro của các ngân hàng, các tổ chức tài chính khác xẩy ra do những hành động hoặc chính sách của chính phủ Nguyên nhân khung hoảng ở đây là những khoản đầu tư rủi ro của các ngân hàng, các tổ chức tín dụng có thể xẩy ra do chính sách của nhà nước Việc bảo lãnh của nhà nước làm ra tăng tính mạo hiểm trong hoát đông của các ngân hàng, đặc biệt đối với các ngân hàng không có vốn đầy đủ và quản lý yếu kém Mô hình của Akerlof và Romer đưa ra khái niệm về hành động cướp bóc trong khung hoảng nợ và tiết kiệm tại Mỹ vào đầu những năm 80 Mô hình này được mở rộng thành tình hình khủng hoảng tiền tệ, mặc dù không phải lúc nào cũng chính thức Thêm vào đó, các nhà đầu tư đều chấp nhân những hành động rủi ro của các tổ chức tài chính hoặc doanh nghiệp bởi vì họ biết rằng chính phủ hoặc các tổ chức tài chính quốc tế sẽ
hỗ trợ tài chính cho các tổ chức và doanh nghiệp này Các nghiên cứu cho thấy một khuôn khổ thể chế yếu kém về quản trị doanh nghiệp có thể là nguyên nhân gây ra khủng hoảng tiền tệ trong điều kiện các công ty bị tấn công chỉ với các cú sốc nhỏ Quan điểm này cũng được kiểm chứng bởi các nghiên cứu thực nghiệm và cho thấy mức độ giảm giá của đồng tiền phụ thuộc vào chất lượng của khuôn khổ thể chế
Một hình thức khác của mô hình khủng hoảng tiền tệ gần đây nhất liên quan đến hiện tượng tác động dây chuyền của thị trường bất động sản và thị trường tài chính.Khủng hoảng cũng có thể xẩy ra do những cú sốc toàn cầu, chẳng hạn như sự gia tăng của lãi suất và giá dầu thế giới có thể làm tác động đến tất cả các đối tượng của các nước và vì vậy gây nên khủng hoảng ở phạm vi rộng Điều này cho một giải thích khác đối với những khủng hoảng có vẻ như là do tác động lan truyền nhưng thực chất là do những yếu tố nên tảng Cũng có những hình thức khác mà khủng hoảng tại một nước hay một khu vực có thể lan truyền đến một nước hay một khu vực khác của thế giới Chẳng hạn, đó có thể là do các mối quan hệ thương mại bị suy giảm bởi cạnh tranh Đó có thể là những mối quan hệ về tài chính có liên quan đến những vân đề về đầu tư nước
ngoài (FDI), chẳng hạn như sự kiện tại Thái Lan có thể gây nên khung hoảng ở Indonéia vì các nhà đầu tư Thái Lan rút vốn ra khỏi Indonesia Kênh cho vay phỏ thông là một trong những hình thức cuả loại tác động dây chuyền Trong khung hoảng tài chính ở châu á, Nhật Bản được coi là nước truyền những tác động dây chuyền này, trong khi Mỹ đóng vai trò trong khung hoảng ở châu Mỹ La tinh Khủng hoảng ở một nước có thể làm cho các nhà đầu tư hiều một số vấn đề cơ bản của những nước tương tự Điều đó không nhất thiết
là tác động của dây chuyền mà có thể là sự hiểu thực tế mô hình của rủi ro
Tuy nhiên, các thị trường tài chính cũng có thể chứa đựng các yếu tố gây nên khủng hoảng tài chính và thị trường tài chính cũng có thể đóng vai trò độc lập trong khung hoảng tiền tệ Điều này có thể do những vấn đề về điều phối trên thị trường tài chính -từng thị trường có thể hành động theo quan điểm riêng nhưng tổng thể lại gây nên những phản ứng gây nên khung hoảng như rút vốn ồ ạt khỏi ngân hàng Mức độ của những hành động này có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố thể chế Sự không cân xứng về thông tin
có thể làm vấn đề thêm trầm trọng khi các nhà đầu tư hành động theo các nhà đầu tư nội gián dường như có thông tin tốt hơn
II Diễn biến và nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính, tiền tệ
1 Diễn biến và nguyên nhân khủng hoàng tài chinh năm 1997
A-Diễn biến cuộc khủng hoảng ở một số quốc gia
Thái Lan
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 9% Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh
Trang 5báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi
Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu cơ quy
mô lớn Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi baht vào ngày 2 tháng 7 Baht ngay lập tức mất giá gần 50% Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ Chỉ
số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997 Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar
Philippines
Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng trung ương Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ 15% lên 24% Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng
Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới các vụ bê bối của tổng thống Joseph Estrada Do khủng hoảng chính trị, vào năm 2001, Chỉ số Tổng hợp PSE của thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn khoảng
1000 điểm từ mức cao khoảng 3000 điểm hồi năm 1997 Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá
Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm tổng thống
Hong Kong
Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ Đồng tiền này vốn được neo vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở
Mỹ Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đó tương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quan Tiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình Các thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ Từ ngày 20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ
số Hang Seng đã giảm 23%
Ngày 15 tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lên thành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500% Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong bắt đầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để giảm áp lực giảm giá cổ phiếu Cơ quan này và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ trưởng Tài chính và sau này làm Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong, đã công khai tuyên chiến với giới đầu cơ
Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷ Dollar Hong Kong (tương đương 15 tỷ Dollar Mỹ) các loại chứng khoán Sau này, vào năm 2001, chính quyền đã bán ra số chứng khoáng này và thu lời khoảng 30 tỷ Dollar Hong Kong (khoảng 4 tỷ Dollar Mỹ)
Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứng khoán của nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhà đầu cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chính phủ Malaysia và bởi sự sụp đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở mức 7,8 : 1
Hàn Quốc
Trang 6Hàn Quốc được xếp hạng thứ 11 trong số những nền kinh tế lớn trên thế giới Khi khủng hoảng xảy ra, với tình trạng kém cỏi sẵn có của hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ những khoản nợ kém hiệu quả rất lớn, Moody's đã hạ bậc tín dụng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3 vào tháng 11/1997 và tiếp tục hạ xuống B2 vào tháng 12
Sự kiện này góp phần làm thị TTCK Hàn Quốc sụt giảm mạnh hơn, giảm 4% vào 7/11/1997, giảm tiếp 7% vào ngày 8/11 và 7.2% vào ngày 24/11/2997 khi có tin IMF yêu cầu Hàn Quốc thực hiện cải tổ hệ thống tài chính
Năm 1998, Hyundai Motor mua lại Kia Motors Quỹ đầu tư mạo hiểm trị giá 5 tỉ USD của Samsung cũng giải thế do tác động quá mạnh của cuộc khủng hoảng, tiếp đó Daewoo Motors phải bán lại cho General Motors
Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra Khi thị trường châu Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở quy mô lớn Ngày 28 tháng 11 năm 1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống B2 Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4% Ngày 24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ
Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD
Malaysia
Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng Ringgit của Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm giá mạnh Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar Phần lớn sức ép giảm giá đối với Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở nước ngoài Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sử giảm giá của đồng Ringgit trong tương lai Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy ra nước ngoài Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997
Trước khủng hoảng, tài khoản vãng lai của Malaysia thâm hụt 5% Malaysia là quốc gia nhận được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, điều này phản ánh qua việc KLSE (sàn giao dịch chứng khoán chính thức của Malaysia) được coi là sàn giao dịch có hoạt động mạnh nhất trên thế giới (tổng giá trị giao dịch thậm chí vượt qua cả NYSE mặc dù có mức vốn hóa thị trường thấp hơn rất nhiều) Ở thời điểm đó, mọi người đều kỳ vọng quốc gia này tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng và trở thành nước phát triển vào năm 2020 Vào thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng, KLSE Index đang ở mức 1.200, đồng ringgit được giao dịch ở tỉ lệ 2.5:1 so với USD, lãi suất qua đêm dưới 7% Lãi suất qua đêm tăng từ dưới 8% lên 40%, làm cho mức đánh giá tín dụng tụt xuống và xảy ra làn sóng bán chứng khoán và tiền tệ ồ ạt
Cuối năm 1997, mức đánh giá tín dụng tụt xuống dưới mức bình quân cho các khoản đầu tư không đảm bảo, KLSE mất 50% điểm, tụt xuống dưới 600, đồng ringgit cũng mất 50% giá trị, còn 3.8 đồng đổi 1 USD Năm 1998, GDP giảm 6,2%, đồng ringgit mất thêm 4,7% giá trị và KLSE tụt xuống dưới 270 điểm
Indonesia
Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của Indonesia đã
Trang 7nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar Mỹ từ 8% lên 12% Tháng 8, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14 thì chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn toàn Đồng Rupiah liên tục mất giá IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài chính khẩn cấp cho Indonesia lên tới 23 tỷ Dollar, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá do đồng Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượng cầu Dollar
Mỹ ở Indonesia tăng vọt Tháng 9, cả giá Rupiah lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử.Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên Trước tình hình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán Rupiah ra) khiến cho nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt
Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMF khiến chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng này tăng lên Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát Riêng ở Jakarta đã có tới 500 người bị chết do bạo động Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội đã dẫn tới khủng hoảng chính trị Giữa năm 1998, Suharto buộc phải từ chức tổng thống
Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa đồng Rupiah và đồng Dollar vào khoảng 2000 : 1
Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000 : 1
Do thay đổi tỷ giá hối đoái và do nhiều nhân tố khác, GDP theo Dollar Mỹ của Indonesia
đã giảm đi
Khủng hoảng tài chính Đông Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là "những con Hổ Đông Á" Cuộc khủng hoảng này còn thường được gọi là Khủng hoảng tiền tệ Đông Á
Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình Còn Đại lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài hạn của chính bản thân mình
Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ
B.Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng
Những nguyên nhân chủ quan
a-Thâm hụt tài khoản vãng lai(THTKVL), nền kinh tế phát triển mất cân đối, nền
tảng kinh tế vĩ mô yếu kém Xét về mức độ, tuy có khác nhau nhưng nhìn chung kinh tế
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á, tăng trưởng nóng tạo nên tốc độ phát triển kinh
tế cao trung bình từ 7,5-8% trong những năm qua đã ngấm ngầm báo hiệu những sự mất cân đối dẫn đến khủng hoảng tài chính.Trước hết thể hiện sự mất cân đối bên trong đó là mâu thuẩn giữa tốc độ tăng trưởng quá nhanh tạo nên sức ép đối với giá cả do chi phí sản xuất kinh doanh ngày một tăng Đối với Thái Lan chỉ số giá tiêu dùng tăng nhanh, đạt mức 5,6% năm 1996 so với 3,4% năm 1993 Chính phủ vì thế phải tăng mức lương tối thiểu, trung bình 8,5%/năm, trong khi đố năng suất lao động chỉ tăng trung bình 3% Đặc điểm này diển ra tương tự như ở Malaysia, Indonesia và Philippines Mặt khác các nước phải tăng vốn vay từ bên ngoài để bù đắp cho việc thiếu hụt trong nước nhằm đẩy nhanh tốc độ hiện đại hóa sản xuất, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng
Bên cạnh đó trừ Indonesia phần nào dựa vào nguồn dầu mỏ xuất khẩu, còn Thái
Trang 8Lan, Malaysia rơi vào tình trạng THTKVL ở mức báo động Theo phân tích của IMF, nếu thâm hụt trên mức 5% so với GDP sẻ đẩy nước này vào tình trạng khủng hoảng THTKVL còn có nghĩa là kinh tế đông Nam Á đã mất cân đối nghiêm trọng đối với bên ngoài Từ năm 1995 trở lại đây, THTKVL ở Thái Lan là 8,1%GDP năm1995 và 8,2%GDP năm1996 Tương tự, ở Malaysia là 9,7%GDP năm 1996 Đây là mức độ thâm hụt bằng với mức mà Mexico gặp phải khi bùng nổ khủng hoảng 1994 Trong khi đó thâm hụt ở Indonesia là 4% và Philippin là 3,2% GDP năm 1996 Các nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng thâm hụt đó là:
+ Do kim ngạch xuất khẩu của các nước từ năm 1995 đến nay giảm mạnh
+ Do THTKVL và thâm hụt cán cân thanh toán ngày càng nghiêm trọng đã buộc các nước trong khu vực phải vay nóng từ các khoản vay ngắn hạn của nước ngoài để bù đắp cho những khoản chi tiêu trong nước
*Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các nước phát triển Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bắt chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro (Hiện tượng thông tin phi đối xứng dẫn tới lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.)
b- Tỷ giá hối đoái dồn nén một cách khiên cưỡng.
Nếu vấn đề nêu trên là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng thì các chính sách “neo giá” giữa các đồng tiền khu vực với đồng USD, tạo nên một hệ thống tỷ giá khiên cưỡng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc phá giá hàng loạt các đồng tiền khu vực Mặc dù khởi phát từ việc thả nổi đồng baht Thái Lan dấn đến hiệu ứng lan tỏa sang các đồng Peso, Ringgit và Rupiah, nhưng trong thực tế trong chừng mực nào đó,các đồng nội tệ này đã bị giảm giá trước xu hướng ngày càng tăng của đồng USD
Xét về phương diện lý thuyết, chế độ tỷ giá hối đoái cố định theo hệ thống Bretton Woods, có ý nghĩa tích cực trong việc ổn định hóa đòng tiền nội tệ và hỗ trợ cho quá trình tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nếu lạm dụng quá nhiều vào tỷ giá cố định trong điều kiện đồng nội
tệ trên thực tế bị giảm giá so với đồng tiền mạnh khác cũng như cơ cấu kinh tế mất cân đối lớn dẫn đến nguy cơ khủng hoảng Đáng nhẽ ngay từ năm 1996, khi những triệu chứng thâm hụt tài khoản vảng lai xuất hiện, Thái Lan và các nước Đông Nam Á khác phải thực hiện chính sách thả nổi đồng nội tệ, trả lại giá đích thực của nó, kết hợp với chính sách thắt chặt tài chính, chác chắn nguy cơ khủng hoảng bị dập tắp Thay vì chính chính sách kìm giữ một cách giả tạo đồng nội tệ để thu hút vốn nước ngoài nhằm bù đắp lỗ hỏng của tài khoản vảng lai và kiềm chế lạm phát
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn) Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo
ra sức ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam
Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm
Trang 9phát Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế
Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ từ sau năm 1987 Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro
c Hệ thống tài chính yếu kém và vấn đề niềm tin bị tổn thương
Bài học đắt giá nhất cho kinh tế mỗi nước là nếu chỉ quan tâm đến tăng trưởng nóng
mà không chú ý kiện toàn hệ thống tài chính, hệ ủa tất yếu là ngân sách nhà nước bị thâm hụt, lạm phát tăng, nền kinh tế sớm muộn gì củng lâm vào khủng hoảng Hệ thống ngân hàng tài chính là một lĩnh vực hết sức nhậy cảm và chứa đựng nhiều rủi ro, chỉ cần một tổn thương cũng gây nên những xáo trộn lớn trong quá trình điieù tiết kinh tế Việc duy trì quá lâu tỷ gia hối đoái cố định đã tạo nên kẻ hở trong hệ thống ngân hàng của các nước này Hệ thống ngân hàng hoạt động yếu kém dấn đến kẻ hở cho nhà đấu cơ tiền tệ vay vốn để mua ngoại tệ kiếm lời Sự tăng giá của đồng Yên Nhật so với USD khiến cho các ngân hàng đổ xô mua nhau mua sau đó bán lại để mua USD hưởng chênh lệch giá Hiện tượng thất thoát vốn do đầu cơ tiền tệ ngày càng trở nên nghiêm trọng Để duy trì tốc độ tăng trưởng và tỷ giá hối đoái cố định ngân hàng tiếp tục vay nóng ngân hàng nước ngoài dẫn đến giới hạn nguy hiểm khi tỷ lệ nợ vượt xa dự trữ ngoại tệ trong nước Các chuyên gia IMF cho biết tỷ lệ nợ /dự trữ ngoại hối ở Thái Lan, Indonêsia xấp xỉ 3 lần, Philippin gấp 4 lần, hấp nhất là Malaysia là 10 tỷ USD Nguy hiểm hơn khi nhà đầu tư nước ngoài khẩn trương rút vốn khi thấy có sự bất ổn
Do thất thoát và khê đọng vốn ở thị trường bất động sản dấn đến hàng loạt ngân hàng trong khu vực tuyên bố vỡ nợ Điển hình như ở Thái Lan, 10 ngân hàng lớn nhất đứng trước nguy cơ phá sản Các Nhà đầu tư trong và ngoài nước bắt đầu có hội chứng mất dần niềm tin, hàng loạt khách hàng rút vốn ra khỏi ngân hàng-tài chính đã làm suy giảm thị trường chứng khoán ở các nước này
Sau lời tuyên bố từ chức của Bộ trưởng Tài chính A Vinavan vào cuối tháng 6/1997 khi khủng hoảng xảy ra, giới kinh doanh đầu tư mất niềm tin làm thị trường chứng khoán Băngkok giảm xuống ở mức thấp nhất với chỉ số 482,97 điểm, giảm 14,75 điểm so với giữa tháng 6/1997 Các nhà đầu cơ bán hạ giá các cổ phiếu và chuyển tiền ra nước ngoài để mua USD
Những nguyên nhân khách quan
a-Thị trường thương mại toàn cầu giảm sút, những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới.
Từ năm 1995 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước công nghiệp phát triển giảm sút dẫn đến lượng cầu cũng suy giảm Đặc biệt, những nước này là bạn hàng chủ yếu, là đối tác kích thích quá trình tăng trưởng nóng hướng về xuất khẩu của các nước Đông Nam Á Những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của khu vực (điện tử, sợi, dệt) đang đứng trước nguy cơ bảo hòa của thị trường thế giới Năm 1996, thị trường bán dẫn quốc tế suy thoái mạnh, giá vi mạch giảm hơn 80% Các mặt hàng điện tử dân dụng của Nhật, các nước NICs Đông Nam Á giảm lượng bán hơn 40% trên thị trường thế giới Mặt khác tính hấp dẫn của thị trường Đông Nam Á trước các đối tác Mỹ và Tây Âu đã giảm sút trước thị trường Trung Quốc, SNG-Đông
Âu và Mỹ Litinh Nhật Bản củng đang lúng túng về những đồng vốn cho vay quá lớn trước những biến động xấu của thị trường tài chính khu vực Theo báo cáo của ngân hàng D M
Trang 10Green Fell thì hơn một nửa số 70 tỷ USD Thái Lan nợ ngân hàng là của Nhật Bản và chủ yếu
là do vay nóng Do vậy, khi lãi suất tăng thì không chỉ chi phí vay nợ tăng mà đồng vốn vào Thái Lan cũng sẻ giảm đi hoặc đổi chiều và dẫn đến khủng hoảng về thanh khoản của Thái Lan đồng thời gây áp lực với đồng Peso và Rupiah
Nhật Bản, một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các nước châu Á bị trì trệ từ đầu thập niên 1990 Nhân dân tệ được định giá thấp so với Dollar Mỹ từ năm 1994 cùng nhiều nhân tố khác làm cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc rẻ hơn so với hàng xuất khẩu cùng loại của Đông Nam Á Trong khi đó, nền kinh tế của Mỹ đang được khôi phục lại sau tình trạng suy thoái đầu những năm 1990, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Alan Greenspan bắt đầu nâng lãi suất của Mỹ lên để ngăn chặn lạm phát Việc này làm cho Mỹ trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tư hơn so với các nước
ở Đông Á, và do đó hấp dẫn những luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông qua lãi suất ngắn hạn cao và làm tăng giá đồng Đô La Mỹ Và do đồng tiền của các nước Đông Nam Á được neo vào Dollar Mỹ, nên xuất khẩu của các nước này trở nên kém cạnh tranh Từ mùa Xuân năm 1996, tăng trưởng trong xuất khẩu của Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng, làm suy yếu tài khoản vãng lai của họ
b Hoạt động tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á Khi phát hiện những dấu hiệu suy thoái của
hệ thống ngân hàng- tài chính khu vực, nhiều nhà đầu cơ nước ngoài đã tăng cường hợt động đầu cơ tiền tệ Theo nguồn tin nước ngoài thì rất nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300 quỹ tín dụng tư nhân
ở Mỹ, với tài sản trên 100 tỷ USD đã nhảy vào thị trường khu vực này trong 2 tháng 7-8/1997 Ngoài các quỹ do Soros kiểm soát còn có các quỹ tín dụng lớn như Tiger, Orbis, Pumar, Panther và Jaguar Họ mua đồng Baht sau đó Peso, Ringgit, Rupiah kể cả SGD ước tính 10-15 tỷ USD để đầu
cơ, cả dự trữ ngoại hối nhà nước cạn kiệt càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài
Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ Thị trường bất động sản của Thái Lan đã vỡ Một số thể chế tài chính bị phá sản Người ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định Khi phát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á [4] Các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra
Ngoại trưởng 10 nước ASEAN lúc đó tin rằng, việc liên kết các hệ thống tiền tệ chặt chẽ
là một nỗ lực thận trọng nhằm củng cố vững chắc các nền kinh tế ASEAN Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 30 diễn ra tại Subang Jaya, Malaysia đã thông quan một Tuyên bố chung vào ngày 25 tháng 7 năm 1997 nêu rõ mối quan ngại sâu sắc và kêu goi các nước ASEAN cần hợp tác chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ và tăng cường lợi ích của ASEAN trong giai đoạn này.[6] Ngẫu nhiên là trong cùng ngày này, các Ngân hàng Trung ương của hầu hết các nước chịu tác động của khủng hoảng đã gặp nhau tại Thượng Hải trong Hội nghị cấp cao Đông Á Thái Bình dương EMEAP, và thất bại trong việc đưa ra một biện pháp Dàn xếp cho vay mới Trước đó một năm, Bộ trưởng Tài chính của các nước này cũng đã tham dự Hội nghị
Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 3 tại Kyoto, Nhật Bản vào ngày 17 tháng 3 năm 1996, và theo như Tuyên bố chung, các bên đã không thể nhân đôi được Quỹ tài chính phục vụ cho Hiệp định chung về cho vay và Cơ chế Tài chính trong tình trạng khẩn cấp Vì vậy, cuộc khủng hoảng có thể xem như một thất bại trong việc xây dựng năng lực phù hợp kịp thời, thất bại trong việc ngăn chặn sự lôi kéo tiền tệ
Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF được áp dụng
ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng
2 Diễn biến và nguyên nhân khủng hoảng tài chính năm 2008